1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BG Tap tinh dong vat 8-2015

130 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Tập tính của động vật Animal Behavior là môn học nghiên cứu mối quan hệ giữađộng vật với môi trường xung quanh và với các cơ thể sống khác và các hoạt động tậptính của động vật

Trang 1

Phần 1 TẬP TÍNH ĐỘNG VẬT Chương 1 KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH

1.1 Khái niệm

Tập tính của động vật (Animal Behavior) là môn học nghiên cứu mối quan hệ giữađộng vật với môi trường xung quanh và với các cơ thể sống khác và các hoạt động tậptính của động vật như tìm kiếm và bảo vệ các nguồn lợi, lẩn tránh kẻ thù, chọn bạn, sinhsản và chăm sóc cho những con non của chúng

Tập tính là chuỗi phản ứng của động vật trả lời kích thích từ môi trường (bên tronghoặc bên ngoài cơ thể) nhờ đó giúp động vật thích nghi với môi trường sống và ổn định.Tập tính động vật là những hoạt động của động vật mà chúng ta có thể quan sát được(Hurnik và cộng sự, 1995)

Các hoạt động tập tính phải bắt đầu bằng một kích thích và kết thúc bằng một đápứng Các thay đổi về môi trường có khả năng gây ra 1 phản ứng hay đáp ứng ở một cơthể sống

1.2 Phân loại tập tính

Tập tính gồm tập tính bẩm sinh (tập tính di truyền) và tập tính học được

Bảng 1 Các loại tập tính của động vật

Tập tính bẩm sinh hay tập tinh di truyền Tập tính học được

Do gen quy định Do kinh nghiệm và học tập quy định

Có đặc trưng loài Có đặc trưng cá thể nhiều hơnChủ yếu bị ảnh hưởng bởi gen Chủ yếu bị ảnh hưởng bởi môi trường

Ngoài cách phân loại trên người ta còn phân loại tập tính thành: Tập tính bình thường

gà có thể mô tả dưới nhiều mức độ như:

- Sự co của mỗi cơ

- Sự co của một nhóm cơ

- Sự chuyển động của một phần của cơ thể cánh mở ra, chân vận động và chạy

- Sự vận động của cơ thể hoặc một phần của cơ thể

- Ảnh hưởng đến môi trường xung quanh: làm mỏng lớp rơm độn chuồng vì bước lên

đó, gõ vào thùng chứa thức ăn…

- Ảnh hưởng đến cá thể khác: làm cho gà khác cũng di chuyển

Việc mô tả tập tính phụ thuộc vào mục đích của người quan sát, nghiên cứu

Các tập tính liên quan đến duy trì đời sống và sinh sản của động vật

Tập tính khám phá Tập tính đáp ứng tình dụcTập tính chăm sóc cơ thể Tập tính phối giống

Sự kết hợp và Tập tính xã hội Tập tính sau khi đẻ

Trang 2

Tập tính ngủ nghỉTập tính giao tiếp xã hôi (thông tin)

Các tập tính này thường đi kèm với các ghi chép về thời gian cho các tập tính đó

ý kiến chủ quan của người quan sát về những gì đã quan sát được

- Lựa chọn thời gian và lịch theo dõi tập tính Điều này vô cùng quan trọng vì nó sẽảnh hưởng đến loại số liệu thu thập: các quan sát có thể tập trung vào một cá thể (hoặcmột cặp, một lứa đẻ hoặc một đơn vị chăn nuôi) cho một số lượng thời gian nhất địnhhoặc là một ghi chép về tập tính của một cá thể hoặc toàn bộ các bằng chứng tập tínhtrong toàn bộ một nhóm động vật được quan sát tại một thời điểm cố định mỗi ngày, 1lần 1 tuần

- Một vài yếu tố cần xem xét khi quan sát tập tính bao gồm:

Khi dùng may quay cần lưu ý:

+ Máy quay có thể sử dụng trong các điều kiện chiếu sáng bình thường tuy nhiên sẽcần thêm các camera hồng ngoại nếu muốn theo dõi tập tính trong 24 giờ, vì nếu dùngthêm ánh sáng đèn sẽ ảnh hưởng đến các biểu hiện tập tính

+ Cần phải ghi âm cả âm thanh

1.3.3 Định lượng tập tính

Khi chuỗi các tập tính đã được ghi chép bằng 1 hay nhiều phương pháp, các số liệucần được phân tích Việc phân tích các số liệu về tập tính có thể tiến hành bằng các cáchsau đây:

- Tần số và độ lớn của tập tính được ghi chép thống nhất hay không thống nhất Vídụ: thải phân, thải nước tiểu, lắc,

- Thời gian của tập tính được ghi chép theo dõi: con lợn uống nước hết bao lâu, mộtcon gà tắm bụi bao lâu, hai con dê đá nhau bao lâu ? tần số và thời gian của mỗi tập tínhphải được ghi chép trong một thời gian thí nghiệm nhất định

- Nếu các mối quan hệ xã hội trong 1 nhóm động vật được nghiên cứu, cần phải ghichép khi nào thì một động vật bắt đầu tập tính và tập tính đó tập trung hướng vào động

Trang 3

vật nào (con nhận) Động vật nào kết thúc tương tác với các động vật khác Điều này đặcbiệt quan trọng trong các tương tác có tính thi đấu giữa hai động vật tham gia vào mộtcuộc chiến (Đánh nhau, đe dọa, lẩn tránh hay khoe khoang tại một điểm nào đó).

- Các thông tin từ các thiết bị có thể lấy ra và phân tích

- Khi một tập tính đã được phân tích, các quan sát cần phải được nhắc lại và kiểm tra

1.3.4 Đề cương nghiên cứu và báo cáo khoa học về tập tính

1 Đặt vấn đề

- Mục tiêu nghiên cứu hoặc các giả thiết nghiên cứu

2 Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng loài động vật nào, số lượng, giống gì, tuổi, tính biệt

- Môi trường nghiên cứu: nhiệt độ ẩm độ, gió bản đồ nơi nghiên cứu cảnh quan

- Kỹ thuật quan sát, cách quan sát, thời gian quan sát

- Phương pháp thống kê xử lý kết quả thí nghiệm

4 Kết quả và thảo luận

- Các số liệu thực quan sát (rõ ràng, chính xác, phù hợp)

- Nhận xét về các kết quả thu được

- Thảo luận theo thứ tự, so sánh kết quả với các nghiên cứu khác

- Giải thích các kết quả thu được

- Bình luận kết quả đã đóng góp gì cho kiến thức về tập tính

- Nêu các hạn chế của nghiên cứu

- Các ý tưởng mới từ nghiên cứu

5 Kết luận và đề nghị

6 Tài liệu tham khảo

7 Tóm tắt

1.3.5 Đo đạc tập tính khi khám bệnh cho gia súc

Tập tính thường được sử dụng trong đánh giá lâm sàng để đánh giá định tính Sự cómặt hoặc không của loại tập tính nào đó là bước khởi đầu để chẩn đoán bệnh

Thiết kế thí nghiệm và các thủ tục quan sát tập tính

Trước khi bắt đầu một nghiên cứu về tập tính điều quan trọng là các thiết kế thínghiệm có đủ cho phép có được những kết luận đáng tin cậy được rút ra từ kết quả thínghiệm Việc quan tâm đầu tiên là ảnh hưởng của sự có mặt của người quan sát đến tậptính của động vật Khi có mặt hoặc vắng mặt của người quan sát, tập tính của động vật cóthể biểu hiện rất khác nhau

Các thí nghiệm về tập tính cần có đối chứng, các nghiên cứu tập tính cần có lặp lại,động vật cần được đánh dấu

Lấy mẫu và đo đạc

Các thông tin về một loại tập tính nào đó có thể thu được từ quan sát và ghi hìnhgồm:

- Sự có mặt hoặc vắng mặt của một hoạt động nào đó

- Tần số xuất hiện của mỗi hoạt động trong quá trình theo dõi

- Thời gian của mỗi hoạt động

- Cường độ (độ mạnh) của hoạt động ở mỗi lần xuất hiện

- Tiềm năng xuất hiện của hoạt động sau một vài kịch thích hoặc các hành độngtrước

- Thời gian và bản chất của các hoạt động tiếp theo

- Thời gian và bản chất của các thay đổi tập tính trong mối quan hệ với các thay đổisinh lý

Trang 4

Lấy mẫu tập tính

Là quan sát động vật liên tục, tuy nhiên chỉ ghi chép một vài tập tính nhất định

Ví dụ: có một nhóm bò cái được theo dõi và trong tất các các trường hợp khi bò cáinhảy lên lưng con khác thì theo dõi và ghi chép Cách lấy mẫu này rất hữu dụng chonhững tập tính hiếm gặp

Lấy mẫu từng điểm

Là cách quan sát động vật tại những thời điểm đã xác định, lặp lại, đều đặn và ghichép các tập tính biểu hiện vào thời điểm quan sát Về nguyên tắc, nếu thời gian quan sátcàng dài và khoảng cách giữa hai lần quan sát không quá dài thì số liệu sẽ tốt hơn Vớiphương pháp này thường không quan sát được các tập tính hiếm gặp Đồng thời nhiềuhoạt động chúng ta đưa vào thí nghiệm sẽ không quan sát được vì các hoạt động nàykhông xẩy ra vào thời điểm chúng ta quan sát Một vấn đề khác nữa của phương phápnày là một số hoạt động cần thời gian để nhận biết Ví dụ: khi một con bò nhai lại, cầnphải vài giây để chắc chắn là bò đang nhai lại và bò phải nuốt thức ăn xuống Lợi ích lớnnhất của phương pháp này là nó có thể sử dụng để quan sát nhiều động vật một lúc nênngười quan sát sẽ có nhiều thông tin hơn

Ghi chép một sự kiện theo cả một thời kỳ

Ở đây một sự kiện đã xuất hiện trong một thời kỳ đã định trước về mặt thời gianđược ghi chép ở cuối thời kỳ Một vài động vật có thể được quan sát cùng một lúc Ưuđiểm của phương pháp này là các sự kiện kể cả các sự kiện hiếm gặp cũng không bị bỏqua Nhược điểm của phương pháp là số liệu thu được không đại diện cho thời gian thựccủa mỗi một tập tính

Nghiên cứu tập tính khá phức tạp nên tùy thuộc vào mục đích của nghiên cứu đểchọn phương pháp phù hợp hay phối hợp các phương pháp

Nghiên cứu tại môi trường tự nhiên

Nghiên cứu động vật trong môi trường tự nhiên hay bán tự nhiên cung cấp các thôngtin có giá trị về hàng loạt các tập tính và về cách mà động vật phân bổ các nguồn lợi Tuynhiên, sự có mặt của con người sẽ làm cho tập tính của chúng thay đổi Vì vậy, nếu quansát thú hoang hoặc vật nuôi chăn thả tự do cần phải có ống nhòm, camera, dụng cụ ghiâm Nếu quan sát gần thì con người phải ẩn nấp

Các tình huống thử nghiệm.

Có rất nhiều các thử nghiệm tập tính có thể tiến hành Một trong những loại thửnghiệm cung cấp các thông tin về các nhu cầu sinh học của động vật là: thử nghiệm sự ưathích – sở thích Các nghiên cứu về động vật trong nhiều môi trường khác nhau hay trongmột môi trường biến động cho chúng ta cơ hội để phát hiện xem động vật chọn làm cái

gì Chúng ta có thể có các yếu tố thí nghiệm khác nhau như các loại thức ăn, các loại sàn,các loại chuồng, các nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, tốc độ gió khác nhau Các thử nghiệm sự

ưa thích có thể là đồng thời hoặc kế tiếp Thử nghiệm sự ưa thích đồng thời cần đượcthiết kế cẩn thận vì động vật có thể nhầm lẫn Một sự lựa chọn có thể là kết quả của sựđịnh hướng ban đầu hoặc một động vật có thể hình như thích một sự lựa chọn nào đó khi

mà sự lựa chọn đó đã được rút ra bởi người quan sát hoặc đã được thay thế Sự có mặtcủa các kích thích kế tiếp nhau cũng có thể cho ra những kết quả nhầm lẫn vì động vậtnhanh chóng trở nên ít đáp ứng với tất cả các kích thích Thứ tự có mặt của các kích thíchcần phải thay đổi một cách có hệ thống Tất cả các thử nghiệm sự ưa thích cần phải kiểmsoát tốt

Một cách khác cũng rất hữu ích trong nghiên cứu tập tính là lấy đi một số nguồn lợihoặc khả năng của động vật một cách có kiểm soát sau đó theo dõi tập tính của động vật

Trang 5

khi việc lấy đi này kết thúc (Lấy nước khỏi máng) Các thử nghiệm kiểu này có thể làm ởcác trang trại vì bình thường đôi khi cũng xẩy ra

Ví dụ: thức ăn, các mối liên hệ xã hội, hoặc khoảng không gian để vỗ cánh trong mộtthời gian dài, ngắn có thể đánh giá thông qua ghi chép các biến đổi về tập tính ngay lậptức và lâu dài Việc thiếu một cái gì đó thường được sử dụng như là sự mở đầu cho cácnghiên cứu về sự học tập Vật nuôi học rất nhanh nếu chúng được cung cấp đầy đủ cáctín hiệu và nếu các đáp ứng là thích đáng

Trang 6

Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TẬP TÍNH

2.2 Kinh nghiệm, sự học tập và hình thành tập tính

2.2.1 Kinh nghiệm

Tập tính được kiểm soát bởi hệ thống thần kinh và bị ảnh hưởng bởi cơ, xương trong cơ thể Môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển và tiếp tục ảnh hưởng đến các chứcnăng của cơ thể Các tập tính không hoạt động độc lập với các thông tin di truyền trong

cơ thể động vật và các yếu tố của môi trường Bất kỳ một tương tác nào giữa cơ thể độngvật và môi trường xung quanh có thể làm thay đổi bản thân cá thể đó

Kinh nghiệm là cái có được do các thay đổi về môi trường và được giữ trong não bộ.Một số kinh nghiệm là các hệ quả của sự thay đổi hàm lượng hormon hay sự thay đổi môitrường vật lý, hoá học trong não Nhiều kinh nghiệm khác là kết quả của những cảm giácđầu vào Đôi khi, kinh nghiệm lại là kết quả từ sự thay đổi sinh lý, các thay đổi này lại là

hệ quả của các thay đổi trước đó ngoài cơ thể hoặc từ các thay đổi hoàn toàn ở bên trong

cơ thể

Như vậy, một kinh nghiệm là một sự thay đổi trong não bộ do kết quả của nhữngthông tin thu được ở ngoài bộ não Các kinh nghiệm đã dẫn đến hình thành nên tập tính ởđộng vật

2.2.2 Sự học tập

- Thiên hướng bẩm sinh để học tập

Thiên hướng bẩm sinh để học tập được phát triển như là hệ quả của các yếu tố ditruyền và ngoại cảnh, giống như tất cả các hệ thống kiểm soát tập tính khác Gen xúc tiếnviệc học tập có hiệu quả về kẻ thù sẽ được truyền bá rộng rãi trong quần thể

- Sự quen (giảm đáp ứng) và sự nhậy cảm

Nếu một đàn cừu được di chuyển từ một địa điểm khá yên tĩnh đến một địa điểm gầnđường, cừu sẽ có đáp ứng muốn trốn đi khi lần đầu tiên chúng nhìn thấy hoặc nghe thấytiếng một chiếc xe mô tô đi qua đường Sau đó, các loại phương tiện sẽ ít kích thích cácđáp ứng cho đến khi mỗi thành viên của đàn dừng các đáp ứng tập tính lại Sự làm quen

là sự giảm đáp ứng khi các kích thích được nhắc đi nhắc lại

Sự quen có tầm quan trọng đặc biệt giúp động vật không phải đáp ứng với quá nhiềukích thích, sự kiện xuất hiện trong môi trường sống của chúng

Sự quen ở động vật có tầm quan trọng đặc biệt trong thực hành chăn nuôi như vắtsữa, cân đong đo đếm, vận chuyển cần phải làm cho gia súc quen với các hoạt động đó.Bất cứ một thực hành chăn nuôi mới nào đưa vào chuồng cũng cần tập cho gia súc làmquen

- Nghiên cứu thực nghiệm về sự học tập

Sự học tập ở động vật diễn ra ở cả trong tự nhiên và trong các môi trường nhân tạo(chuồng nuôi) Các nghiên cứu thực nghiệm về sự học tập có giá trị rất to lớn vì khó cóthể tiến hành các nghiên cứu này ngoài thực địa

Sự xuống sữa ở bò sữa đáp ứng lại với tiếng động đặc trưng của máy vắt sữa Xuốngsữa trong nơi vắt sữa là một phản xạ có điều kiện và sự học tập này cần được huấn luyện.Nếu xuất hiện các kích thích gây xáo trộn trong nơi vắt sữa, sẽ ngừng đáp ứng xuống sữa

Trang 7

- Khả năng học tập của động vật

Các thí nghiệm thực tế đã khẳng định vật nuôi có thể học để hoàn thành các nhiệm vụđơn giản và phức tạp rất nhanh Bò cừu, dê, lợn và chó có khả năng học tập tốt nhất, ngựakém hơn Gia cầm học tập ở mức độ trung bình

Bò và cừu trong các điều kiện chăn thả đã học để nhận biết các loại cây trên đồng cỏ.Chúng cũng học để xác định các vùng đồng cỏ có khả năng chăn thả tốt và sẽ quay lạisau một thời gian nhất định vì thế chúng sẽ có đủ thức ăn mà không phải tốn năng lượng

để đi đến những chỗ cỏ không có nhiều Những động vật sống trong nhóm có cấu trúc xãhội phức tạp chúng phải học rất nhiều về các cá thể khác để thiết lập và duy trì các quan

hệ xã hội

Ví dụ: ở bò, cừu để tránh hàng rào điện, một số cá thể chạm vào hàng rào và họctránh hàng rào sau khi nhận được sốc điện, một số cá thể khác bằng cách quan sát các bạn

bè và các con khác học được rằng hàng rào có một số đặc tính không dễ chịu

Việc lấy được thức ăn trong các máng ăn mà cửa bị đóng và chỉ khi then cài cửađược nhấc Bò cái đeo thiết bị nhận phát tín hiệu sẽ đối mặt với một dãy các cửa, phảihọc để nhấc then cài cửa và sẽ có thức ăn Nhiệm vụ mở cửa phức tạp này được hầu hết

bò cái học rất nhanh

2.3 Động cơ của tập tính

2.3.1 Các yếu tố gây nên động cơ

Các kích thích đầu vào tác động đến trung tâm ra quyết định của não bộ được gọi làcác yếu tố gây nên động cơ

Tại bất kỳ một thời điểm nào cũng sẽ có hàng loạt các yếu tố gây nên động cơ vàmức độ của các yếu tố này sẽ quyết định một cá thể động vật thực tế sẽ làm gì Mức độcủa các yếu tố gây nên động cơ sẽ thay đổi rất nhanh vì chúng bị thay đổi do các thay đổirất nhanh của môi trường Một số khác phụ thuộc vào hàm lượng của steroid hormonnhất định trong máu sẽ thay đổi chậm

Tất cả các thay đổi về tập tính là biểu thị đáp ứng của động vật đối với các thay đổicủa các yếu tố gây nên động cơ

2.3.2 Trạng thái của động cơ

Nếu một con lợn khát nước, sau một thời gian sẽ có những đầu vào đến não từ: 1) Bộ phận giám sát dịch thể của cơ thể lợn,

2) Cơ quan nhận cảm cảm giác cho thấy mồm khô và có thể

3) Cơ quan nhận cảm dao động nhắc nhở việc uống nước

4) Các trung tâm khác của đại não chứng minh rằng cơ thể đã không được uống nướcmột thời gian

Khi mức độ của các yếu tố gây nên động cơ tăng lên sẽ có sự tăng lên về khả năngphải uống nước và nếu có cơ hội uống nước thì kết quả là động vật sẽ có hành động đitìm nước để uống

Đối với thức ăn một quá trình tương tự cũng sẽ xẩy ra

2.3.3 Giám sát động cơ

Các thí nghiệm cho thấy sự chuyển từ tập tính này sang tập tính khác có thể phụthuộc vào một số yếu tố gây nên động cơ hơn các yếu tố khác Đôi khi một số yếu tố gâynên động cơ là rất khẩn cấp

Ví dụ: đột ngột phát hiện ra kẻ thù Đầu vào về sự phát hiện ra kẻ thù sẽ quan trọnghơn các đầu vào khác trong quyết định tập tính Sẽ không có gì ngạc nhiên là sinh tồn là

ưu tiên số 1

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tập tính ăn uống và tán tỉnh thường có ưu tiên caohơn so với các tập tính khác như chải chuốt lông và sửa chữa tổ Như vậy, các đầu vào

Trang 8

đến được trung tâm ra quyết định ở đại não sẽ được đánh giá về tầm quan trọng và tínhkhẩn cấp Đầu vào nào quan trọng hơn, khẩn cấp hơn sẽ được lựa chọn để có tập tính phùhợp.

2.4 Cơ chế thần kinh-thể dịch trong hoạt động tập tính

Sự phối hợp và điều hoà các chức năng sống còn, cũng như các tập tính ở động vậtđược kiểm soát và điều hành bởi hệ thần kinh trung ương (não và tuỷ sống), với cácneuron thần kinh ly tâm và hướng tâm, hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm, các tuyếnnội tiết và các hormon Cả ba hệ thống này có quan hệ hữu cơ và quan hệ chức năng vớinhau trong điều hoà tập tính Khi thần kinh trung ương nhận được các thông tin đầu vào

từ cơ quan cảm giác, nó sẽ đáp ứng với các kích thích bằng cách phân tích xem vùng nãocủa đại não chịu trách nhiệm duy trì chức năng này Ngoài ra, tất cả các tuyến nội tiếtđược hoạt hoá bởi các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm để tiết các chất hoá họctrung gian, các chất này sẽ hoạt hoá hoặc ức chế tác động qua lại giữa thần kinh trungương, vùng não điều khiển và kiểm soát tập tính và tuyến yên - các cơ quan này có chứcnăng kiểm soát chức năng tiết hormon của cơ thể gia súc Ba thuỳ của tuyến yên có bachức năng khác nhau: Thuỳ trước tiết hormon trao đổi chất và hormon kích thích tiếthormon sinh trưởng, hormon của thuỳ sau có tác dụng đối với hoạt động thần kinh, thuỳgiữa tiết hormon liên quan đến sản sinh sắc tố (Jean Pagot,2002) Trong điều hòa tập tính

ở động vật, các hormon của tuyến thượng thận đóng vai trò quan trọng

2.5 Tổ chức tập tính ở động vật

2.5.1 Phản ứng của động vật với kẻ thù và các kích thích bên ngoài

Trong quá trình sống, động vật nhận được rất nhiều kích thích và phản ứng với cáckích thích đó Một trong các kích thích quan trọng nhất động vật nhận được là các kíchthích bắt nguồn từ kẻ thù Các đầu vào cảm giác khác từ các động vật cùng loài hoặc từmôi trường Các đầu vào cảm giác sẽ sửa đổi trạng thái động cơ đang hiện hữu và có thểtạo ra kết quả đầu ra là sự vận động hoặc không

2.5.2 Các chiến lược chống lại kẻ thù

Tất cả động vật hoang dã đều là đối tượng tấn công của kẻ thù, ký sinh trùng và áplực chọn lọc để kích thích các biện pháp có hiệu quả chống lại kẻ thù là rất lớn Vật nuôivẫn còn có được cơ chế chống kẻ thù và ký sinh trùng Có hai cơ chế cơ bản chống lại kẻthù đó là cơ chế tự vệ nguyên thủy, cơ chế này hoạt động bất kể là có hay không có kẻthù ở các vùng phụ cận và cơ chế tự vệ chỉ hoạt động trong khi phải đối mặt với kẻ thù

- Cơ chế tự vệ nguyên thủy bao gồm (Broom, 1971):

5) Bắt chước các cá thể ở mục 4: ruồi giống như ong

6) Thay đổi thời gian hoạt động để giảm cơ hội bị kẻ thù phát hiện: hoạt động chủyếu về đêm

7) Ở nguyên tại các vị trí mà kẻ thù ít có khả năng thành công khi tấn công: thỏ kiếm

ăn gần tổ hay linh dương nhỏ thường gặm cỏ gần các bụi cây có gai

8) Duy trì cảnh giác để tăng tối đa cơ hội xác định sự đến gần của kẻ thù: cừu dùngnhiều thời gian nhìn, ngửi và nghe về kẻ thù

- Cơ chế tự vệ thứ hai được sử dụng khi phát hiện ra kẻ thù hay khi nghi ngờ kẻ thùđang đến gần hoặc khi việc tấn công của kẻ thù xuất hiện Các loại hình của cơ chế tự vệthứ hai bao gồm (Broom, 1981):

Trang 9

1) Tăng cường cơ chế tự vệ nguyên thủy: sâu bướm ngụy trang hoàn toàn không biếtđến việc kẻ thù đến gần.

2) Rút lui vào chỗ trú ẩn: thỏ chạy vào hang

3) Bay đi hoặc lẩn tránh: thỏ rừng chạy trốn khi bị chó đuổi

4) Sử dụng các phô trương để ngăn chặn sự tấn công của kẻ thù: bướm đêm chuyểnđộng cánh để bộc lộ các đốm mắt rộng

5) Giả chết: rất nhiều loài chim và gà giả chết

6) Sử dụng các tập tính làm lệch hướng tấn công: một vài mắt của bướm được đánhdấu làm lệch hướng mổ của chim vào cơ thể bướm

7) Trả miếng lại kẻ thù: cắn, trả đũa, tiết các chất hóa học để chống lại kẻ thù

2.5.3 Các loại tập tính phản ứng

phía kẻ xâm phạm

3 Thông tin bằng âm thanh Khi gặp nguy hiểm (gà)

2.5.5 Thông tin bằng âm thanh

Là một dạng phản ứng quan trọng

Ví dụ: các tín hiệu âm thanh xuất hiện như là cách để trao đổi giữa mẹ và con non,giữa con đực và con cái và giữa các các thể đã gắn bó với nhau bằng các cầu nối xã hộinay bị chia tách Khi mức độ của phản ứng đáp ứng tăng lên, âm thanh có xu hướng tăngcường độ, số lượng và sự phức tạp Những âm thanh sâu thường đi liền với sự phô trương

đe dọa của con đực trưởng thành Nhiều âm thanh được kết hợp lại trong các đáp ứng liênquan đến cảnh báo và đe dọa

Những tiếng kêu riêng biệt thường liên quan đến những tình huống riêng biệt Đóithường tạo ra rất nhiều âm thanh ở gia súc non như ở lợn con và bê Đói ở những gia súctrưởng thành gây nên những tiếng kêu báo hiệu đói Âm thanh thay đổi từ lớn đến nhỏkhi bò động dục Ngựa đực thường kêu nhiều trong mùa phối giống, cừu đực phát ranhiều âm thanh ở yết hầu vào mùa thu, dê cái kêu be be gần như liên tục khi động dục

Âm thanh của động vật và đáp ứng khác đối với môi trường thường liên quan đếntính khí của động vật Việc đánh giá một vật gì đó thông qua cảm giác, thị giác, thínhgiác và vị trí bị ảnh hưởng bởi tính khí của động vật và được phản ánh ở âm thanh chúngphát ra

Người ta cho rằng có ba loại âm thanh cơ bản ở ngựa: Hí, làu bàu (ủn ỉn) và hét Các

âm thanh này biến động về cường độ, độ dài và biến động tùy thuộc vào giới tính, tuổi vàcác kích thích đã gây ra tiếng kêu đó

Vào mùa phối giống, cừu đực phát ra các âm thanh be be khàn khàn khi chúng tiến

về phía con cái Âm thanh cũng đóng vai trò quan trọng trong duy trì thông tin giữa các

Trang 10

thành viên của nhóm, đàn Nếu một con cái bị tách khỏi các con của chúng, chúng sẽ kêu

be be cho đến khi mẹ và con được đưa lại với nhau Khi một số thành viên trưởng thànhcủa đàn cừu thoát ra khỏi các con khác, chúng sẽ cố gắng để tìm vị trí của cả đàn và kêunhiều hơn

2.5.6 Các phản ứng với môi trường

Động vật sẵn sàng di chuyển để sử dụng môi trường chúng sống là một trong nhữngmặt quan trọng của các đáp ứng Sự thay đổi đáp ứng theo mùa vụ và theo ngày đã làmthay đổi tập tính thường ngày ở động vật Ở các động vật có mùa sinh sản như cừu, ngựa

và dê, bắt đầu các hoạt động sinh sản đã ảnh hưởng đến các tập tính thường ngày và thayđổi một vài ưu tiên trong đáp ứng Các cá thể đực trong mùa sinh sản thường tăng tậptính gây hấn Thay đổi mùa vụ cũng xuất hiện ở tập tính chăn thả

Những cá thể động vật nhiều tuổi hơn trong các điều kiện chăn thả tự do có thểtruyền lại các thông tin đường đi, khu vực có nhiều cỏ và điểm có nguồn nước trên bãichăn cho con của chúng Bằng cách này, những khu vực chăn thả cho từng nhóm gia đìnhđược thiết lập và ghi nhớ Cừu trên một đồng cỏ 100 ha có thể thiết lập 3 khu vực chănthả riêng cho 3 nhóm nhỏ của đàn để tránh đàn cừu ăn trùng lặp nhau Trong những đồng

cỏ nhỏ, bò đực sữa trên 4 tuổi sẽ thiết lập những vùng cỏ nhỏ và chúng sẽ bảo vệ nó nhưlãnh thổ riêng Bò đực tấn công người chăn nuôi đột ngột khi vào lãnh thổ riêng này

2.5.7 Phản ứng trốn tránh và phục tùng

Cừu, bò và ngựa duy trì các tiếp xúc bằng mắt với các đối tác, bạn cùng nhóm trongkhi lợn tiếp xúc nhiều bằng cơ thể, sử dụng thính giác để tiếp xúc với đồng loại Nếu bịlàm phiền cừu và ngựa trước hết chụm lại với nhau sau đó chạy khỏi nơi bị làm phiền,lợn và bò sẽ di chuyển vào nhóm lỏng lẻo hơn Để sẵn sàng cho các đáp ứng khi cần thiếtcừu quan sát các cá thể khác ở góc nhìn từ 100 đến 1200

Khi chụm lại trong tự nhiên hoặc trong các điều kiện nuôi tập trung mật độ cao các

cá thể bắt buộc vi phạm không gian sống của các các thể khác Phản ứng ở một diện tíchhẹp phụ thuộc vào thứ bậc của động vật trong nhóm

Các thứ bậc này trong các điều kiện ổn định đòi hỏi mỗi cá thể phải:

1) Công nhận các cá thể khác,

2) Có sự chạm trán ban đầu khi thứ bậc được xác lập lần đầu tiên,

3) Có trí nhớ lâu dài giúp các cá thể động vật phản ứng với các cá thể khác theo thứbậc đã được xác lập

Phản ứng phổ biến nhất để lẩn tránh là chạy đi, phản ứng này là có kiểm soát hay cóthể không được kiểm soát về mặt xã hội Khi cả đàn chạy đi có kiểm soát, các cá thể chạytheo trật tự di chuyển bình thường, trong đó cá thể đực có thứ bậc cao nhất dẫn đầu Khi

sự sợ hãi xuất hiện trong đàn (nhóm) các cá thể chạy trốn không kiểm soát và không cóthứ tự

Phản ứng chạy trốn ở bò đáp ứng lại với các đe dọa đang đến gần có thể là thụ độnghoặc bị động Đặc điểm của tập tính phục tùng ở bò là hạ thấp đầu và cổ xuống khi cómột kích thích không mong muốn

Trội, trốn tránh và phục tùng về mặt xã hội có thể có ảnh hưởng khi mật độ chăn nuôicao Không đủ không gian trong hệ thống chuồng trại, thiếu không gian cho máng ăn

có nghĩa là những gia súc trội chiếm ưu thế hơn trong việc tiếp cận với thức ăn, nướcuống còn những gia súc phụ thuộc sẽ ít có cơ hội ăn uống

Ví dụ: nhiều nội kí sinh trùng ở những con phụ thuộc, tỷ lệ chết cao ở các cá thể phụthuộc trong mùa hạn hán, khi thức ăn thiếu

2.5.8 Phản ứng về sinh sản

Trang 11

Phản ứng này mạnh hơn ở giai đoạn sinh sản Phô trương sự đe dọa là phản ứng phổbiến ở động vật đối với người trong giai đoạn sinh sản Những phô trương như vậythường đại diện cho một trạng thái sinh lý mà người ta thường gọi là trạng thái ‘chiến đấuhay chạy trốn’ và thường được các con đực trưởng thành thực hiện Ở trạng thái này bòđực hạ thấp vai xuống, lắc cổ, mắt lồi to, dựng lông ở lưng Trong khi phô trương sự đedoạ, bò đực hướng về phía gia súc, người và vật đe dọa Ở ngựa đực sự phô trương nàycòn bao gồm việc đứng trên hai chân sau Ở lợn khi phô trương sự đe dọa, chúng hướng

về phía đối tượng đe dọa, đầu thấp xuống, dựng lông lưng, gầm gừ Cừu đực rất ít khiphô trương sự đe dọa với người và các động vật khác và trong trường hợp muốn phôtrương, chúng thường dậm hai chân trước rất mạnh Cừu cái tiêm oestrogen biểu thị cáctriệu chứng động dục để phản ứng lại các kích thích từ con đực, các biểu hiện động dụcnày phụ thuộc vào kích thích từ con đực Các con đực trưởng thành như bò đực, lợn đựchay ngựa đực thường có phản ứng rất hung hăng trong biểu hiện tập tính Điều nàythường biểu hiện như là phản ứng ngay lập tức với sụ vi phạm khoảng không gian sốngcủa cá thể động vật

2.5.9 Phản ứng agonistic (không tự nhiên)

Tập tính hung hăng thường thấy khi mới hình thành các nhóm lợn, bò, ngựa Năngsuất sữa và các đáp ứng khác về sinh lý của vật nuôi thường bị ảnh hưởng ở những ngàyđầu khi các tương tác xã hội kiểu hung hăng xuất hiện Mặc dù cừu hiếm khi biểu hiệncác tập tính đánh nhau, cừu đực cạnh tranh vào thời điểm khởi đầu của mùa phối giống

và cừu có thể biểu hiện tập tính húc nhau nếu điều kiện chăn nuôi thâm canh làm tăng sựcạnh tranh về thức ăn và chỗ nghỉ Húc nhau ở bò và cừu, cắn bờm, u ở ngựa, ủi dất, đẩy,cắn ở lợn là các dạng thông dụng của tập tính không tự nhiên

Tập tính không tự nhiên bao gồm nhiều loại hoạt động tập tính như chiến đấu hay bỏchạy, các tập tính hung hăng và tập tính bị động

Tập tính không tự nhiên bao gồm tất cả các dạng tập tính ở một động vật khi chúng

có xung đột với các động vật khác Những hoạt động kiểu này về nguyên tắc là sự tự xácđịnh quan hệ trong thứ bậc xã hội và là nét đặc trưng của cả hai hành động: hung hăngchủ động và trốn tránh hoặc phản ứng thụ động Khi một con bò đực tiến gần đến 1 conđực khác, một phản ứng đe dọa nhẹ nhàng từ con thứ hai có thể đủ để chúng không đánhnhau Nếu con thứ hai chậm phản ứng nó có thể bị con thứ nhất húc vào bên cạnh và cóthể gây thương tích nếu bò có sừng Trong trường hợp con thứ nhất chủ động đe dạo, nếucon thứ hai bực dọc vì con thứ nhất tiến lại gần, sự bực dọc được thể hiện bằng cách hạthấp đầu để đe dọa, cúi gằm xuống đất, lắc lư cổ và cong xuống Nếu con thứ hai (con bị

đe dọa) và biểu hiện sự tức giận thì cuộc đấu sẽ diễn ra Trong một số trường hợp hai bòđực sẽ đứng cách nhau vài mét đầu thấp xuống, chân trước cào đất phía trước và bốn mắtđối diện nhau Con cái khi đe dọa cũng làm như tư thế chiến đấu hay bỏ chạy ở con đực

Ở bò sự đe dọa bắt đầu khi một con bò cào đất, cọ đầu và cổ xuống đất

Đánh nhau ở lợn thường rất nghiêm trọng giữa các cá thể đã trưởng thành Đưa lợntrưởng thành vào cùng một nhóm cần phải rất cận thận Nếu một lợn nái lạ được đưa vào

1 nhóm các lợn nái, tập tính hưng hăng của cả nhóm sẽ tập trung vào con nái lạ và cuộcchiến giữa nái lạ với các nái trong nhóm có thể gây ra thương tích hoặc gây chết lợn Khihai lợn đực được đưa vào cùng một chỗ, chúng sẽ đi quay tròn xung quanh nhau, ngửi lẫnnhau và trong nhiều trường hợp cả hai cùng cào đất và khi cuộc chiến bắt đầu chúng gầm

gừ và dùng hàm để cắn đối phương, răng nanh dưới là một vũ khí quan trọng Lợn đựcthường tấn công vào hai bên của kẻ thù Cuộc chiến có thể kéo dài hàng giờ cho đến khimột con thua cuộc Kẻ thua chạy trốn và vừa chạy vừa kêu la Khi trật tự thứ bậc đượcthiết lập, cuộc chiến kết thúc

Trang 12

Khi bắt đầu cuộc chiến ở bò, chúng sử dụng đầu và sừng để đánh nhau Chúng sẽ cố

để húc vào bên sườn của bò khác Nếu một con vận động để có thể tấn công vào sườncon kia thì con bị tấn công sẽ xoay tròn để bảo vệ mình và có được vị trí tấn công tương

tự Cuộc chiến ở bò ít khi kéo dài qua vài ba phút Tuy nhiên, nếu cả hai đều tươngđương nhau về mọi mặt thì cuộc chiến có thể được lặp lại Nếu một bò thua, nó sẽ quayđầu và bỏ chạy, bò chiến thắng bây giờ là kẻ trội hơn về thứ bậc sẽ đuổi theo con kia mộtđoạn rồi dừng lại Nếu không con nào chịu thua và trở thành kẻ phụ thuộc, cuộc chiến sẽtiếp diễn cho đến khi cả hai cùng quá mệt và phải dừng lại

2.5.10 Phản ứng tự bảo vệ của gia súc khi có mặt con người

Con người là kẻ thù nguy hiểm của tổ tiên các loài vật nuôi hiện nay và con ngườihiện vẫn là kẻ thù tiềm năng của vật nuôi ngày nay Sự kiện này thường bị lờ đi, tuynhiên một người chăn nuôi tốt, giỏi là một người hiểu biết được điều này để đối xử vớivật nuôi theo cách có thể làm giảm thiểu các phản ứng tự vệ của chúng Nếu một người

đi vào chuồng gia súc quá nhanh và ầm ĩ, gia súc có thể sẽ phản ứng trốn đi Phản ứngnày có thể xẩy ra ở bê, lợn và gia cầm Phản ứng kiểu này ở gia cầm gây hại rất nhiều

Làn sóng của tập tính trốn chạy hay còn gọi là quá kích động hay cuồng loạn (hysteria) sẽ

lan truyền nhanh trong chuồng và kết quả là gia cầm chồng đống lên nhau và nhiều con

sẽ chết Nếu người chăn nuôi vào chuồng nhẹ nhàng ít gây tiếng động chúng ta sẽ tránhđược hiện tượng cuồng loạn trên Một người chăn nuôi tốt phải tránh tạo ra sự sợ hãi ởvật nuôi, có khả năng làm việc rất bình thản và im lặng khi tiến gần đến vật nuôi Nhữngnghiên cứu cho thấy hành vi của con người quan trọng như thế nào trong chăn nuôi Sữaxuống nhanh hơn ở bò sữa khi nhìn thấy người vắt sữa đã quen

Trang 13

Chương 3 CÁC HOẠT ĐỘNG TẬP TÍNH Ở ĐỘNG VẬT

3.1 Tập tính dinh dưỡng hay tập tính ăn uống

3.1.1 Cơ chế của tập tính ăn uống hay dinh dưỡng

Gia súc, gia cầm không chọn thức ăn một cách ngẫu nhiên mà chọn lọc thức ăn ở môitrường xung quanh một cách cẩn thận và chỳng có một cơ chế sinh lý để chống lại việc bịnhiễm độc Khi cơ chế này không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả gia súc sẽ

bị nhiễm độc, bị ốm và có thể bị chết Bằng cách nào gia súc, gia cầm điều chỉnh đượclượng thức ăn ăn vào để không bị nhiễm độc và chọn được khẩu phần thích hợp Chúng

có khả năng bẩm sinh để cảm nhận các chất dinh dưỡng cụ thể và độc tố trong thức ăn

thông qua mùi, vị (Provenza và Balph 1990) Để có thể ăn đúng, đủ và chọn đúng loại

thức ăn cần thiết, sự học tập ở giai đoạn còn non giúp cho gia súc, gia cầm phát triển sựthích hay không thích những thức ăn sẵn có Về nguyên tắc, gia súc, gia cầm học về thức

ăn thông qua 2 cơ chế có liên hệ lẫn nhau đó là 2 quá trình cảm nhận và nhận thức vềthức ăn như sơ đồ dưới đây (Garcia,1984)

Các thông tin về thức ăn gia súc muốn ăn được xử lý thông qua hai quá trình cảmnhận và nhận thức Ở cả hai quá trình này vị của thức ăn đóng vai trò quyết định Trongquá trình cảm nhận vị của thức ăn liên kết chặt chẽ với các thông tin phản hồi sau khi ăn.Trong quá trình nhận thức mùi và vẻ ngoài của thức ăn liên quan chặt chẽ với vị của thức

ăn Quá trình nhận thức được chia thành 2 quá trình phụ: học tập trong xã hội từ mẹ, từanh em và các gia súc, gia cầm cùng lứa tuổi, học từ những gia súc, gia cầm trưởng thành

đã có kinh nghiệm và học tập tự thân hay học thông qua các thử nghiệm và sai lầm

3.1.2 Quá trình cảm nhận về thức ăn

Quá trình cảm nhận bao gồm quá trình hình thành phản xạ có điều kiện thích haykhông thích một thức ăn nào đó Cả hai phản xạ này đóng vai trò quyết định trong lựachọn thức ăn ở gia súc, gia cầm Phản xạ có điều kiện không thích một thức ăn nào đócung cấp cho gia súc, gia cầm một công cụ để bảo vệ chúng không ăn quá nhiều thức ăn

có độc tố, trong khi phản xạ có điều kiện thích một thức ăn nào đó cho phép chúng lựachọn các thức ăn đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng

- Phản xạ có điều kiện không thích một loại thức ăn nào đó

Thông thường, phản xạ có điều kiện không thích một loại thức ăn nào đó được tạothành do các kinh nghiệm tiêu cực (ngứa, nôn mửa ) xuất hiện sau khi ăn một loại thức

ăn nào đó Phản xạ có điều kiện không thích một loại thức ăn nào đó có thể tạo lập bằng

cách dùng hoá chất hoặc độc tố đồng thời với thức ăn ở nhiều loại gia súc Phản xạ này sẽ

xẩy ra khi hệ thống nôn của hệ thần kinh trung ương bị kích thích bởi một độc tố hoặcmột lượng chất dinh dưỡng quá cao nào đó Nhờ kết quả của tiến hoá, tất cả vật nuôi đều

có một cơ thể tự khử độc và bài tiết các chất trung gian không mong muốn sản sinh ra

Trang 14

trong cơ thể chúng trong quá trình trao đổi chất Tuy nhiên, để khử độc và loại bỏ cácchất không mong muốn, gia súc cần có thời gian Vì vậy, để hình thành phản xạ này, sốlượng chất dinh dưỡng và độc tố cần phải được định lượng cẩn thận

Gia súc sẽ chọn một thức ăn có chứa chất dinh dưỡng mà chúng cần nếu giới hạn vềđộc tố của một thức ăn nào đó đã bị vượt quá trước khi nhu cầu về chất dinh dưỡng nào

đó được thoả mãn Điều này có nghĩa là vật nuôi cần ăn để sống trước đã Đây chính là lý

do giải thích vì sao một vật nuôi được cho ăn một loạt các thức ăn riêng lẻ lại chỉ ăn mỗithức ăn một ít/mỗi lần Đây cũng là cơ sở cho chọn lựa thức ăn ở vật nuôi

Phản xạ có điều kiện không thích một loại thức ăn nào đó cũng có thể xác lập bằngcác chất dinh dưỡng mà thông thường không phải là chất độc

Protein quá nhiều trong khẩu phần cũng là nguyên nhân gây phản xạ có điều kiện đốivới thức ăn protein vì hàm lượng amonia được tạo ra nhiều trong dạ cỏ Axit amin vàUrea được chuyển thành amonia và ỏ keto axit bởi gan sau đó Amonia đi vào chu trìnhurê Nếu hấp thu hoặc giải phóng amonia trong quá trình trao đổi chất vượt quá khả năngkhử độc của cơ thể thì axit amin, protein trở thành chất dinh dưỡng không được ưachuộng

- Phản xạ có điều kiện thích một loại thứa ăn nào đó

Gia súc, gia cầm có thể tạo lập một cách có điều kiện sự ưa thích một loại thức ănnào đó Sự ưa thích này được tạo lập trên cơ sở các thông tin phản hồi tích cực sau khigia súc, gia cầm ăn thức ăn đó

Ví dụ: Cừu có thể rất ưa thích 1 chất tạo màu khi đi kèm với glucoza (Burritt vàProvenza, 1991) Bò cũng rất thích các bánh dinh dưỡng bổ sung protein khi chỉ cho ăn

cỏ có hàm lượng protein thấp (Provenza và cộng sự, 1983) Gia súc nhai lại, các dây thầnkinh hướng tâm của đường tiêu hoá có thể đã có tương tác với các dây thần kinh hướngtâm vị giác và khứu giác và các tương tác này được điều hoà bởi các sản phẩm phụ củaquá trình lên men ở dạ cỏ và các chất dẫn truyền thần kinh (Provenza, 1985) ở gia súcnhai lại, axit béo bay hơi propionic là 1 nguồn năng lượng chủ yếu cho vật chủ và vai tròcủa chúng cũng giống như glucose ở gan của gia súc dạ dầy đơn là điều khiển lượng thức

ăn ăn vào (Provenza, 1995)

Như vậy, có 1 vài con đường trao đổi chất tồn tại để chuyển các thông tin liên quantới hiệu quả trao đổi chất của 1 thức ăn nào đó lên não và sau đó hình thành lên phản xạ

có điều kiện thích hoặc không thích 1 thức ăn nào đó

3.1.3 Quá trình nhận thức về thức ăn

Kinh nghiệm về nhận thức 1 loại thức ăn nào đó ở gia súc gia cầm bao gồm việc sửdụng các cảm giác về mùi, vẻ bề ngoài của thức ăn để nhận ra và phân biệt 1 loại thức ănvới các thức ăn khác (Provenza và cộng sự, 1992) Những kinh nghiệm thu được này sẽảnh hưởng đến sự phát triển thói quen ăn uống của gia súc, gia cầm sau này Quá trìnhnhận thức về thức ăn bao gồm các quá trình phụ sau đây:

- Học tập trong xã hội: Học từ mẹ, từ anh em và các gia súc, gia cầm cùng lứa tuổi,học từ những gia súc, gia cầm trưởng thành đã có kinh nghiệm

- Học tập tự thân: thông qua 1 chuỗi các thử nghiệm và sai lầm.

Gia súc và gia cầm non học về thức ăn trong xã hội khi tiếp xúc với các gia súc, giacầm khác

+ Học tập trong xã hội

Học tập trong xã hội về thức ăn đóng vai trò quan trọng trong lựa chọn thức ăn ở giasúc, gia cầm, đặc biệt là gia súc, gia cầm non Quá trình học tập này về bản chất là quátrình chuyển tải các thông tin về thức ăn từ những gia súc, gia cầm có kinh nghiệm sangnhững gia súc, gia cầm chưa có kinh nghiệm

Trang 15

Ví dụ: từ mẹ sang con hay từ những con trưởng thành sang những con non.

Học tập trong xã hội đã giúp cho những gia súc, gia cầm chưa có kinh nghiệm tránhđược việc ăn uống không hiệu quả (ăn không đúng chủng loại thức ăn) và tránh đượcviệc phải thử nghiệm tất cả các loại thức ăn

+ Học tập về thức ăn từ mẹ

Thông tin về thức ăn có thể được chuyển rất nhanh từ mẹ sang con hàng ngày Đápứng về mùi vị thức ăn của mẹ và con sẽ giống nhau hơn đáp ứng này ở những gia súc, giacầm không có quan hệ họ hàng với nhau (Pronen và Bolph, 1987) Hơn nữa, đã có nhữngbằng chứng cho thấy ảnh hưởng của mẹ về thói quen ăn uống đối với con cái bắt đầungay từ khi ở bào thai và ảnh hưởng này tiếp tục đến tận lúc cai sữa Như vậy, phản xạ cóđiều kiện của gia súc non đã được hình thành trước khi chúng bắt đầu ăn thức ăn đặc(Proveaza và cộng sự, 1992) ở giai đoạn sau cai sữa, khi gia súc nhai lại bắt đầu ăn cỏ,những con được nuôi cùng với bố mẹ chúng học được cách chọn được loại thức ăn phùhợp và tránh được các thức ăn có chứa độc tố nhanh hơn những con được nuôi không có

mẹ trong thời kỳ bú sữa (Mieza và Porvenza,1990)

Khi gia cầm non bắt đầu chọn lọc thức ăn, hiệu quả của việc học tập từ mẹ sẽ đượcthể hiện ở chỗ chúng đã học được thức ăn nào nên ăn, thức ăn nào nên tránh

Lợn con chấp nhận những thức ăn có mùi vị chúng đã được nếm trong sữa mẹ nhanhhơn các thức ăn khác (Campbell, 1976)

+ Học từ những con cùng đàn và những gia súc, gia cầm trưởng thành đã có kinh nghiệm

Khi gia súc, gia cầm bắt đầu ăn thức ăn cứng và sữa mẹ bắt đầu giảm thì việc học từnhững con cùng đàn và những gia súc, gia cầm trưởng thành có kinh nghiệm trở nên vôcùng quan trọng để thiết lập và củng cố tập tính dinh dưỡng (Provenza và cộng sự, 1992).Các thí nghiệm trên cừu cho thấy tập tính dinh dưỡng của những cừu trưởng thành cókinh nghiệm ăn hạt lúa mỳ có thể chuyển cho các cừu non (Chapple và CS 1987) Khi giasúc lớn lên, sự phụ thuộc vào mẹ (sữa mẹ) giảm đi, vì vậy ảnh hưởng của mẹ đến tập tínhdinh dưỡng của con cũng giảm theo, ảnh hưởng của những con cùng thời và những contrưởng thành có kinh nghiệm vì thế tăng lên (Provenza và CS, 1992) Đã có rất nhiềubằng chứng cho thấy tầm quan trọng của loại hình học tập trên đến khả năng lựa chọnthức ăn của gia súc, gia cầm

Ví dụ: gia cầm mới sinh ra học được cách ăn hạt lúa mỳ nhanh hơn nếu chúng đượcnhốt thành từng cặp thay vì nhốt riêng, dù cả hai đều chưa bao giờ ăn thức ăn này(Covasa và Forbes, 1995) Cừu con nuôi theo cặp ăn nhiều hơn cừu con nuôi riêng (Odoi

và Owens, 1993)

Cừu cho ăn hạt lúa mỳ lần đầu không có mặt của những cừu trưởng thành đã từng ănhạt lúa mỳ đã không ăn hạt lúa mỳ nào trong 5 ngày đầu, trong khi đó nhóm cừu tương tựđược cho ăn hạt lúa mỳ lần đầu với sự có mặt của những cừu trưởng thành đã từng ăn hạtlúa mỳ đã ăn hạt lúa mỳ ngay ngày thứ 2 (Chapple và Lynch, 1986) Bò cái nuôi theonhóm ăn nhiều thức ăn hơn so với bò nuôi riêng (Albright, 1983; Coppcok và CS, 1972;Phipps và CS, 1983)

+ Học tập thông qua các thử nghiệm là sai lầm

Giai đoạn thử thức ăn trong quá trình học tập về thức ăn là rất quan trọng bởi vì giasúc, gia cầm chỉ tạo được các phản xạ có điều kiện đối với thức ăn khi nó ăn thức ăn đó(Provenza, 1985)

Cách để gia súc, gia cầm đánh giá và học về một loại thức ăn nào đó là thông qua cácthử nghiệm và sai lầm Bằng cách này vật nuôi học được cách tránh các thức ăn có hại vàchọn những thức ăn có lợi cho chúng Mô hình học tập này dựa trên các thông tin phản

Trang 16

hồi của chính cơ thể gia súc sau khi ăn một thức ăn nào đó Như vậy, việc hình thành vàphát triển phản xạ có điều kiện thích hoặc không thích một loại thức ăn nào đó là kết quảcủa ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của thức ăn lên cơ thể gia súc, gia cầm khi ăn thức

Thử nghiệm và sai lầm để tránh ăn một thức ăn nào đó

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy học tập để tránh một thức ăn nào đó là mộtkhía cạnh rất quan trọng của chọn lọc thức ăn (Provenza và Balph, 1990) Quá trình nàydựa trên cơ sở các thông tin phản hồi tiêu cực sau khi ăn Ví dụ: sau khi ăn một thức ăn

có độc tố, độc tố được hấp thu, mặc dù cơ thể có thể giải độc, nhưng để giải độc cần phải

có thời gian Nếu độc tố được hấp thu với tốc độ nhanh hơn tốc độ giải độc của cơ thể,nồng độ độc tố trong cơ thể sẽ tăng lên và gây ra hậu quả tiêu cực, có thể sẽ tạo ra cácdấu hiệu báo nguy hiểm cho hệ thống thần kinh trung ương Kết hợp giữa ảnh hưởng tiêucực này (ngộ độc) với các đặc điểm của thức ăn và môi trường khi vật nuôi ăn thức ăn đó

sẽ tạo ra phản xạ có điều kiện không thích loại thức ăn đó

Khi không có các gia súc trưởng thành có kinh nghiệm, gia súc, gia cầm cho ăn thức

ăn mới sẽ nếm thức ăn rất cẩn trọng (Provenza và Balph,1990) Để khỏi bị nhiễm độc, giasúc thường ăn các thức ăn lạ từng ớt một để giảm thiểu nguy cơ ngộ độc, nhưng vẫn đủdinh dưỡng cho cơ thể chúng Nếu một thức ăn có chứa độc tố, lượng thức ăn ăn vào củathức ăn đó sẽ giảm do thông tin phản hồi tiêu cực có được sau khi ăn

Thử nghiệm và sai lầm để tạo phản xạ thích một thức ăn nào đó

Quá trình học tập này dựa trên các thông tin phản hồi tích cực sau khi ăn loại thức ănnào đó Các thông tin này gồm nồng độ glucosa trong máu, nồng độ axit amin và các axitbéo trong dạ cỏ (Provenza và cộng sự, 1992) Sự thay đổi của các chất này trong máugiúp gia súc nhai lại nhanh chóng liên kết những đặc điểm cụ thể của loại thức ăn chúng

đã ăn với các hiệu quả tích cực sau khi ăn để tạo nên phản xạ có điều kiện thích loại thức

ăn đó

Như vậy, khi được chọn trong nhiều thức ăn một cách tự do, vật nuôi có thể tự chọnđược cho mình một khẩu phần ăn có đủ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu của chúng và tránh

bị ngộ độc Thích hay không thích một loại thức ăn nào đó là kết quả của tác động tương

hỗ giữa các điều kiện của thức ăn (màu sắc, mùi vị, to, bé,…) và hiệu quả sau khi ăn thức

ăn đó Quá trình này được điều khiển bởi hệ thống thần kinh - thể dịch Học tập đóng vaitrò chủ chốt trong chọn lọc thức ăn Học ăn cái gì và ăn thế nào được hoàn thành bởi haiquá trình học trong xã hội và tự học

3.1.4 Tìm kiếm thức ăn

Cừu, dê và bỏ trên đồng cỏ thưa thớt phải sử dụng nhiều năng lượng tìm kiếm cácloại thực vật có giá trị để ăn Chúng phải di chuyển dài và phải nhớ những vùng đồng cỏthích hợp đã biết từ trước Vì những vùng đồng cỏ thích hợp không nhiều nên trongnhững hoàn cảnh như vậy động vật phải chọn lọc Cừu ở Úc có thể có rất ít cỏ xanh cònlại trên đồng cỏ đáng đẻ gặm nên chúng phải đào để kiếm hạt và chồi non của cỏ ba lá ởdưới lớp đất đồng cỏ Các gia súc ăn cỏ có thể ăn các cây ở tầm cao, những cây này bìnhthường chúng tránh không ăn

Trang 17

Khi bê mới sinh và đang ở với mẹ, để có sức kháng bệnh chúng phải thu được sữađầu từ sữa mẹ Bò sữa đã đẻ vài lứa thường có bầu vú lớn, võng xuống, đầu vú quá nhiều

mỡ nên khó cho bê mới sinh tìm vú mẹ (Edward and Broom, 1979) Nghiên cứu trên 161lần đẻ, 80% bê của bò đẻ lần đầu tìm vú mẹ và bú sữa đầu trong vòng 6h sau khi sinh,trong khi đó 50% bê của các bò mẹ đã đẻ 3 hoặc trên 3 lứa không tìm được vú mẹ để bútrong 6h sau khi sinh (Edward, 1982) Như vậy, người chăn nuôi phải can thiệp để giúpcho bê của các con cái đẻ trên 3 lứa tìm được vú mẹ, tốt nhất là 3 giờ sau khi sinh Đốivới bê thịt và các gia súc khác vấn đề không tìm được vú mẹ sau khi sinh rất ít khi xẩy ra.Cừu con mới sinh đôi khi chúng bị mẹ bỏ rơi nên sẽ không nhận được sữa đầu Lợn conthường có khả năng tìm kiếm vú mẹ rất nhanh sau khi sinh trừ phi chúng quá yếu hoặclợn nái có quá nhiều con Vấn đề tìm thức ăn rất quan trọng với gia súc non nuôi nhântạo Bê, cừu con và dê con không quen với bú sữa trong xô chậu nên cần phải được huấnluyện

3.1.5 Khả năng thu nhận thức ăn

Gà có thể thu nhận được thức ăn hạt khi chúng tìm ra thức ăn, với cây thức ăn trênđồng cỏ thì thu nhận được thức ăn khá khó khăn vì cấu trúc của thực vật Theo Vincent(1982,1983) rất khó mà tách lá ra khỏi thân, cuống lá cây, cỏ vì cần rất nhiều lực để làmđứt các sợi xơ Vì cần nhiều năng lượng và thời gian cho mỗi lần gặm cỏ nên gia súcchăn thả thích tìm kiếm những vùng nhiều cỏ để chúng có thể gặm cỏ trên đó một thờigian dài Bò thích ăn thức ăn ủ chua chưa chặt hơn là thức ăn ủ chua đã chặt Lý do đưa

ra ở đây là một miếng ăn càng to càng tốt Việc dễ dàng thu nhận thức ăn là một yếu tố

mà gia súc nhai lại quan tâm khi quyết định ăn thế nào và ăn cái gì Các khó khăn về cơhọc liên quan đến việc làm vỡ các cấu trúc thực vật ở cây cỏ, sự di chuyển để thu thậpthức ăn và các điều chỉnh cần thiết trước khi nuốt tạo ra các giới hạn về tốc độ ăn củađộng vật Tốc độ này là rất quan trong khi mà động vật cần phải ăn nhanh

Ví dụ: bò sữa trong khu vắt sữa Thông thường bò sữa chỉ có từ 2-4 phút để ăn hết 1

kg thức ăn tinh Hiệu quả của việc ăn có thể tăng lên nhờ kinh nghiệm Cruse (1935)nghiên cứu trên gà đã thấy độ chính xác của mổ thức ăn hạt ở gà tăng lên khi gà trưởngthành nhưng thực hành có ảnh hưởng lớn đến độ chính xác khi mổ thức ăn

3.1.6 Kích cỡ của một bữa ăn và chọn lọc thức ăn

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy động vật có thể nhận ra giá trị năng lượng của thức ăn

và sẽ quan tâm đến giá trị này khi thu nhận thức ăn để tổ chức tập tính ăn uống củachúng Động vật thường chọn thức ăn có giá trị năng lượng cao cho thấy chúng thấy ngonmiệng với thức ăn giầu năng lượng Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là lượng nănglượng ăn vào luôn có tầm quan trọng trong việc xác định bữa ăn sẽ xuất hiện như thế nào.Chất lượng dinh dưỡng của thức ăn, cân bằng nước, sự trốn tránh kẻ thù, các yếu tố xãhội góp phần quyết định đến việc ăn uống Số lượng thức ăn ăn vào cho một vài ngày củamột cá thể đã sinh trưởng là đủ cho nhu cầu duy trì khối lượng cơ thể Ví dụ: lợn cho ănthức ăn nghèo năng lượng, chúng sẽ ăn nhiều hơn để đảm bảo năng lượng ăn vào (Owenand Ridgman, 1967; Miller et al, 1974)

Thời gian bắt đầu, dừng ăn và tốc độ ăn trong các điều kiện lý tưởng phụ thuộc vào

hệ thống kiểm soát ăn uống Tuy nhiên, tập tính ăn uống có thể bị ảnh hưởng lớn bởi cácđiều kiện thời tiết khí hậu, kẻ thù, côn trùng và những kẻ cạnh tranh Động vật có thểdừng ăn lúc nóng nhất trong ngày vì chúng cần tìm bóng mát Dừng ăn khi mưa quá tohay gió quá mạnh Nếu động vật phát hiện có kẻ thù chúng sẽ dừng ăn và cảnh giác đểđối phó Gà và cừu, nếu dùng nhiều thời gian để phát hiện kẻ thù có thể sẽ không ăn đủlượng thức ăn cần thiết Đối với gia súc, người chăn nuôi là kẻ thù vì thế sự quấy rầy củacon người sẽ có ảnh hưởng đến ăn uống ở chúng Động vật sẽ không ăn uống bình

Trang 18

thường khi phải tiến lại quá gần con người để có thể lấy được thức ăn Việc tấn công củacôn trùng sẽ ảnh hưởng đến tập tính ăn uống Bò bị ruồi Hypoderma và cừu bị ruồiOestrus tấn công có phản ứng sợ hãi và tập tính ăn uống bị ảnh hưởng Ruồi gây phiềnnhiễu cho bò có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất sữa

3.1.7 Các kích thích xã hội

Các loài vật nuôi chủ yếu sống trong các nhóm xã hội Nếu bò, cừu, lợn được tách rakhỏi nhóm và nuôi riêng biệt chúng ăn ít hơn Đây là một đáp ứng do không có bạn khi

ăn Gà nuôi lồng ăn nhiều vào 1 lúc hơn là ăn ngẫu nhiên (Hughes, 1971) Bò và cừu gặm

cỏ vào những khoảng thời gian nhất định, riêng cừu thường gặm cỏ rất phân tán Thờigian gặm cỏ khá ổn định khi chăn thả theo đàn so với nuôi riêng biệt cho cả bò và cừu.Lợn thích ăn khi con khác ăn và lợn con thường bú mẹ đồng thời Gà sẽ mổ thức ăn nhiềuhơn và ăn nhiều hơn khi có bạn và một gà mái đã no sẽ ăn nhiều hơn nếu đưa 1 gà máiđang đói vào chuồng của nó Khi 1 bê cho ăn sữa thay thế sáng sớm sẽ không ăn hoặc ăn

ít nếu bê bạn nó chưa được cho ăn Nếu bạn nó ở cũi bên cạnh được cho ăn nó cũng sẽ ănngay và ăn nhiều Trong một thí nghiệm, bê số một được cho ăn một mình, sau đó người

ta đưa bê thứ hai bị rọ mõm vào cùng cũi Khi bỏ rọ mõm và cho sữa vào xô, bê thứ haiuống sữa và kích thích bê thứ nhất uống nhiều sữa hơn so với khi ăn một mình

Bảng 3.1 Kích thích xã hội ở bê bú sữa thay thế

Sữa thay thế trungbình (lít)

Tôc độ bú sữatrung bình(lít/phút)

Thời gian bú sữatrung bình(giây/ngày)

Bê với một bê khác

đói ở cũi bên cạnh

Bê với 1 bê khác rọ

Nguồn: Barton và Broom (1985)

Kết qua này cùng với những quan sát khi cho bê ăn trong các nhóm 10 con cho thấylượng thức ăn ăn vào của bê non có thể tăng lên khi nó nhìn được hoặc nghe được bêkhác đang ăn

3.1.8 Cạnh tranh thức ăn

Các cá thể cạnh tranh để giành thức ăn phụ thuộc vào khả năng chiến đấu của chúng.Cạnh tranh thức ăn là cách vận động nhanh hơn để giành được thức ăn Một gà mái chạy

và mổ nhanh nhất sẽ ăn được nhiều thức ăn hạt (thóc) giành cho một đàn gà mái Nếu chỉ

có một số lượng hạn chế thức ăn thì động vật ăn nhanh hơn sẽ có được nhiều thức ăn hơnđộng vật ăn chậm Điều này đúng với lợn và bò cho ăn trong các máng Qua rất nhiều thế

hệ cho ăn trong máng với một số lượng hạn chế thức ăn đã dẫn đến việc chọn lọc các cáthể có tốc độ ăn nhanh hơn

Ảnh hưởng của cạnh tranh đến lượng thức ăn ăn vào là hiển nhiên ở nhiều loại giasúc gia cầm Wagnon (1965) thấy bò tơ nuôi cùng bò già giảm tăng trọng, trong khi bò tơnuôi riêng lại tăng trọng Bò tơ có thể không được ăn vì không gian của máng ăn không

đủ cho tất cả bò cùng đến để ăn thức ăn và các bò già đã ngăn bò tơ đến máng để ăn trongrất nhiều trường hợp Bò Hereford và Angus tính cạnh tranh khá mạnh Bê khả năng cạnhtranh kém ăn được ít thức ăn tinh hơn và tăng trọng thấp hơn khi độ dài của máng không

đủ cho tất cả bê vào ăn cùng một lúc

Vì gia súc, gia cầm thường có tập tính ăn cùng một thời gian nên một số cá thể giasúc, gia cầm cố gắng ăn nhưng bị cạnh tranh và không thể đến gần được máng ăn đều là

Trang 19

các tình huống chăn nuôi kém Máng ăn cần được thiết kế để giảm đến mức tối thiểu cáccuộc chiến đấu hay đe dọa vào lúc các gia súc ăn

3.1.9 Tập tính ăn uống ở bò

Bản chất quá trình ăn ở bò làm cho bò không thể gặm cỏ thấp hơn 1 cm tính từ mặtđất Sau khi lấy được thức ăn bò nhai miếng thức ăn từ 1 đến 3 lần trước khi nuốt Nuốtxong đầu lúc lắc, bò tiến lên phía trước để gặm cỏ ở chỗ mới Tốc độ gặm cỏ, kích cỡ củamỗi lần gặm cỏ, số lượng lần lắc đầu, tốc độ bước phụ thuộc vào độ cao thảm cỏ Kết quảnghiên cứu trên đồng cỏ luân phiên tại Anh được trình bày ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Ảnh hưởng độ cao thảm cỏ đến gặm cỏ ở bò Friesian

Ở bò cũng như các gia súc nhai lại khác, số lượng năng lượng thu được từ thức ănthường bị hạn chế bởi thời gian được chế biến trong đường tiêu hóa Vì vậy, gia súc nhailại không phải mất nhiều thời gian để tiêu hóa các thức ăn chất lượng xấu nếu các thức ănchất lượng tốt sẵn có Điều này giải thích vì sao bò chọn lá để ăn thay vì cọng cỏ và bòchọn ăn nhiều một vài loại cỏ trên đồng cỏ so với các loại khác Kết quả của chọn lọcthức ăn là một vài loại cỏ bị ăn nhiều, một số loại khác lại không ăn Ngoài chất lượngdinh dưỡng nghèo một số loài cỏ bị bò tránh đi vì có lông, có gai sắc hoặc có độc tố

Bò nuôi nhốt tự do đi lại trong chuồng dùng 5 giờ /ngày cho việc ăn và thời gian nhailại cũng ngắn hơn Thời gian ăn giảm nếu thức ăn thô giảm và thức ăn tinh tăng lên.Không gian để ăn rất quan trọng để xác định số lượng bò có thể ăn tại cùng một thờiđiểm và không gian này thiết lập lượng thời gian tối đa một chuồng bò có thể ăn trong24h Khi không gian ăn bị hạn chế, tốc độ ăn tăng lên Những bò trội không ngăn cản các

bò phụ thuộc đi vào máng để ăn Những bò có thứ bậc thấp thay thế những bò có thứ bậccao trong máng ăn và ngược lại

Trong một nghiên cứu lựa chọn thức ăn người ta thấy cỏ xanh và củ quả được bò ưathích hơn thức ăn protein Nhiều nghiên cứu cho thấy trong điều kiện thực địa bò thườnggặm cỏ vào ban ngày và đi khoảng 4 km/ngày Khoảng cách di chuyển tăng lên nếu trờinóng, ẩm hoặc có quá nhiều ruồi xung quanh Trong mùa nóng bò gặm cỏ nhiều vào banđêm Trong 24 giờ có 4 khoảng thời gian mà bò có lượng thức ăn ăn vào cao là: Ngaytrước bình minh, giữa buổi sáng, đầu giờ chiều và trước chạng vạng tối Trong 4 khoảngnày, ngay trước bình minh và trước chạng vạng tối là hai khoảng thời gian bò gặm cỏ liêntục nhất và dài nhất Bò thường gặm cỏ 4-14 h/ngày, nhai lại 4-9 h/ ngày và số lần nhailại là 15-20 Số lần bò uống 1-4 lần/ ngày, thời gian nằm 9-12 h/ngày Các số liệu này cóthể biến động giữa bò thịt và bò sữa trong điều kiện nhiệt đới nhưng tập tính ăn uống thìkhá ổn định và các số liệu kể trên là phạm vi bình thường (Stricklin et al., 1976)

Trang 20

Thời gian nhai lại bằng 1/3 thời gian gặm cỏ Cỏ chất lượng tốt thì thời gian nhai lạigiảm và ngược lại Khi động dục nhai lại giảm Đau, đói, bị thương, ốm… đều làm giảmnhai lại.

Bò thường uống vào buổi sáng trước 12 h, đầu giờ chiều hoặc tối và ít khi uống nướcvào ban đêm và bình minh Bò chăn trên đồng cỏ già uống nhiều nước hơn bò trên đồng

cỏ nhiều dinh dưỡng Khi nóng, có nhiều loại thức ăn và vắt sữa làm tăng lượng nướcuống ở bò Ngay sau khi vắt sữa nhất là vắt sữa chiều bò uống nước ngay ở chỗ nào cóthể Lượng nước uống tăng lên khi bò chửa kỳ cuối và đang cho sữa Nhiệt độ ngoài trời,giống, tuổi, khối lượng và kích thước cơ thể, lượng thức ăn ăn vào, lượng dinh dưỡng vàmuối trong thức ăn có thể ảnh hưởng đến lượng nước uống ở bò Bò tơ chửa uống 26-32lít nước/ ngày, bò cái trưởng thành không chửa uống khoảng 14 lít nước/ ngày

3.1.10 Tập tính ăn uống ở cừu

Nhìn chung tập tính ăn uống ở cừu giống bò Các tập tính này bao gồm di chuyển,gặm cỏ, uống nước, không làm gì cả, nghỉ, nằm xuống, nhai lại Hoạt động gặm cỏ ở cừachủ yếu vào ban ngày và cừu bắt đầu ăn khi bình minh lên Chúng gặm cỏ cả ngày nhưngkhông gặm cỏ liên tục Thời gian cừu gặm cỏ dài nhất và mạnh mẽ nhất, tập trung nhất làvào sáng sớm và cuối chiều trước khi trời tối Số lần gặm cỏ trong 24h ở cừu là khoảng

từ 4 đến 7 lần và tổng thời gian gặm cỏ/ngày là 10h Cừa trưởng thành ăn nhiều hơn cừucon Số lần nhai lại/ngày là 15, thời gian mỗi lần nhai lại từ 1 phút đến 2h Tổng thời giannhai lại ở cừu là 8-10 h Nhai lại ở cừu xuất hiện vào những khoảng thời gian không đềuđặn cả ban ngày và ban đêm Cừu trưởng thành uống 3-6 lít nước, số lần đi tiểu và thảiphân từ 9-13 và 6-8 lần/ngày

Trong các điều kiện bị hạn chế cừu có thể gặm cỏ sát mặt đất Cừu không thích ăn cỏ

có lông hoặc trơn nhờn Cừu có khả năng chọn lọc loại thức ăn để ăn và hiệu chỉnh sựthiếu hoặc thừa dinh dưỡng trong cơ thể chúng bằng cách ăn các thức ăn có chất dinhdưỡng chúng cần Cừu chấp nhận các thức ăn cân bằng dinh dưỡng hơn là các thức ăn cóthành phần dinh dưỡng biến động Trung bình cừu ăn vào một lượng chất khô thức ăntương đương với 2-5% khối lượng cơ thể chúng

3.1.11 Tập tính ăn uống ở ngựa

Ngựa gặm cỏ sát gốc bằng răng Khi chăn thả chúng tránh các vùng cỏ có phân vàgiữ khoảng cách giữa các cá thể trong cùng một nhóm

Ngựa uống nước không thường xuyên trong 24h, nhiều con chỉ uống nước 1lần/ngày Tuy nhiên, khi uống chúng uống rất nhiều nước (15-20 lần nuốt)

Các quan sát về tập tính cho thấy rằng các kích thích vào cơ quan nhận cảm khứugiác rất quan trọng để định hướng tập tính ăn uống của ngựa về một số cây cỏ nhất định

và tránh xa các cây cỏ hoặc vùng đồng cỏ bị nhiễm bẩn Ngựa chọn cỏ non ngắn và thích

cỏ có nhiều xơ

Các kích thích xã hội có ảnh hưởng lớn đến tập tính gặm cỏ ở ngựa Có sự truyềnthói quen ăn uống từ ngựa cái sang ngựa con Thời tiết quá nóng, gió mưa có thể làmgiảm thời gian gặm cỏ

3.1.12 Tập tính ăn uống ở lợn

Đào rễ là một đặc điểm nổi bật của tập tính ăn uống ở lợn Ngay cả khi được cho ănthức ăn đã nghiền nhỏ chúng vẫn biểu lộ tập tính này Các giác quan ở mũi lợn rất pháttriển, khứu giác đóng vai trò rất lớn trong tập tính ăn uống ở lợn Lợn là loài ăn tạp, trongcác điều kiện nuôi chăn thả tự do, chúng ăn rất nhiều loại thực vật Trong các điều kiệnchăn nuôi hiện nay, lợn chủ yếu được cho ăn thức ăn hỗn hợp Chúng ăn hết số lượngthức ăn cung cấp trong ngày chỉ với 15 phút mỗi ngày

Trang 21

Đối với hệ thống cho ăn tự động, lợn tự phân chia thời ăn và uống ngẫu nhiên trongngày Lợn có khả năng học rất nhanh để uống nước từ các hệ thống cung cấp nước tựđộng Trong các điều kiện bình thường lợn sinh trưởng uống 8 lít nước mỗi ngày, lợnchửa uống trên 10 lít và lợn nái nuôi con uống 30 lít nước ngày.

Lượng thức ăn ăn vào chịu ảnh hưởng của độ ngon miệng Lợn thích các thức ăn cóchút đường ở trong đó Lợn ưa thích bột cá, đậu tương, lúa mì Lợn giảm lượng thức ăn

ăn vào khi thức ăn có muối, mỡ, bột thịt và cellulose Về nguyên tắc lợn thích ăn thức ăn

ẩm hơn là khô, tùy thuộc vào độ ngon miệng Tốc độ ăn tăng dần với khối lượng cơ thể.Trong các điều liện cho ăn thủ công, lợn biểu thị sự đói khi thời gian cho ăn tới gần.Lợn nái sau khi cai sữa cần phải tăng khối lượng trở lại, vì thế chúng cạnh tranh rấtmạnh vào lúc ăn

Các kích thích xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong tập tính ăn uống ở lợn Khi cómột nhóm lợn không biết nhau được nhốt chung, chúng sẽ tấn công nhau, sau đó tập tínhnày giảm dần và trật tự xã hội sẽ được thiết lập

Lợn ở trong nhóm ăn nhiều hơn lợn nuôi cá thể Vì vậy, lợn sinh trưởng nuôi trong 1chuồng cần có đủ máng ăn để chúng ăn đủ khẩu phần mà không phải cạnh trạnh với concùng ăn ở bên cạnh Người ta ước tính một lợn 90 kg cần có chiều dài máng tối thiểu 35

cm để tất cả lợn có thể cùng ăn một lúc Đối với lợn được cho ăn tự động, một vài máng

ăn sẽ tốt hơn vì sẽ giảm được tỷ lệ cắn đuôi và cắn tai nhau

3.1.13 Tập tính ăn uống ở gia cầm

Gia cầm chăn thả tự do khi giành được một miếng thức ăn to thường chạy đi cùngvới miếng thức ăn đó Gia cầm ăn nhiều vào sáng và chiều và ăn ít vào giữa ngày Giacầm đang đẻ trứng có xu hướng ăn nhiều vào cuối ngày, gia cầm không sinh sản ăn nhiềuvào buổi sáng

Giai đoạn sinh sản có ảnh hưởng quan trọng nhất đến kiểu ăn ở gia cầm Kiểu ăn phụthuộc vào giống, tuổi của gia cầm và khẩu phần ăn… Kiểu ăn phụ thuộc chủ yếu vào việc

có bao nhiêu thức ăn được dự trữ trong diều vào cuối ngày và gia cầm có đói không vàosáng hôm sau Với gia cầm không đẻ trứng việc tăng ăn vào cuối ngày phụ thuộc vào khảnăng dự đoán khi nào trời tối Đối với gia cầm đẻ trứng việc tăng ăn vào cuối ngày ảnhhưởng đến sự hình thành trứng

Gà mái trong các đàn lớn có những đặc điểm ăn uống nhất định Tổng thời gian ăn và

độ dài của mỗi lần ăn của chúng là lớn nhất, còn số lần ăn lại nhỏ nhất khi không giancủa chỗ ăn không đủ và không phân bố đều Khi không gian của chỗ ăn được phân chiađều số lượng gia cầm cùng ăn một lúc sẽ tăng lên Những gà trội có thứ bậc cao thường

có thời gian ăn cho mỗi lần ăn dài nhất và tổng thời gian ăn cũng dài nhất nhưng chúngkhông ăn tại một chỗ cố định như các gà khác Những gà trội có thứ bậc cao ít có tập tính

ăn đồng thời với các gà khác như những gà phụ thuộc Kích cỡ của đàn không ảnh hưởng

rõ đến tập tính ăn uống ở gia cầm

Rõ ràng là các điều kiện chăn nuôi ban đầu không ảnh hưởng đến tập tính ăn uống.Tuy nhiên sự hấp dẫn về mặt xã hội lại có ảnh hưởng lớn hơn đến tập tính ăn uống của gàmái hơn Vì vậy, khi xác định nhu cầu không gian cho chỗ ăn ở gà mái cần chú ý đến sựhấp dẫn cũng như cạnh tranh tại máng ăn Tự do tiếp cận với máng ăn dài tạo ra các điềukiện tối ưu cho ăn uống ở gà

Gia cầm uống nước thường xuyên, có thể 30-40 lần/ngày Gia cầm càng lớn càng ítđến máng uống hơn, nhưng mỗi lần uống chúng uống một lượng nước lớn hơn (Ross andHurnik, 1983)

Độ ngon miệng của gia cầm đã được nghiên cứu khá nhiều và là vấn đề khá phứctạp Gia cầm bị đói thường tăng tốc độ mổ thức ăn Gà con với sự giúp đỡ của gà mái học

Trang 22

được các tập tính ăn uống từ mẹ Trong chọn lọc thức ăn, các kích thích nhìn thấy đóngmột vai trò nào đó Ưa thích thức ăn cũng rất quan trọng Một số loại hạt ngũ cốc như lúa

mỳ được gia cầm ưa thích hơn yến mạch

3.1.14 Những nghiên cứu gần đây về tập tính ăn uống của vật nuôi

Những năm gần đây, trên thế giới, trong lĩnh vực nghiên cứu và dinh dưỡng, người tatập trung khá nhiều công sức cho nghiên cứu tập tính ăn uống Nguyên nhân cơ bản các

xu hướng nghiên cứu này là: Việc gia súc ăn được bao nhiêu (lượng thức ăn ăn vào) phụ

thuộc rất nhiều vào tập tính dinh dưỡng của chúng Sự học tập về dinh dưỡng và trí khôndinh dưỡng bẩm sinh ở một mức độ nhất định đóng vai trò trung tâm trong việc chọn lọcthức ăn hoặc khẩu phần Nhiều khi chúng ta cho gia súc ăn một thức ăn nào đó mà chúng

ta nghĩ là rất ngon, rất tốt nhưng gia súc lại không ăn và ngược lại

Để gia súc có thể ăn được nhiều nhất (lượng thức ăn ăn vào lớn nhất), cho năng suất

lớn nhất, việc tìm hiểu nguyên nhân tại sao gia súc chỉ chọn và ăn một số thức ăn nhấtđịnh và từ chối không ăn một số thức ăn khác là rất quan trọng trong chăn nuôi Tìm xem

cơ chế nào đã điều khiển lượng thức ăn ăn vào ở gia súc và sự lựa chọn thức ăn củachúng để từ đó áp dụng những hiểu biết này trong thực tế là một yêu cầu cần thiết cả vềkhoa học và thực tiễn

Gần đây, ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy gia súc, gia cầm khi được tự do lựachọn nhiều loại thức ăn khác nhau về hàm lượng các chất dinh dưỡng, có thể chọn được

các loại thức ăn để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của chúng (Kyriazakis và Oldham, 1993) Gia súc, gia cầm trong trường hợp này có khả năng giảm lượng thức ăn ăn vào của

các thức ăn chứa độc tố hoặc các thức ăn có chứa các chất dinh dưỡng chúng không cầnđến vào thời điểm đó

Eward (1915) trong một thí nghiệm cho lợn tự do chọn thức ăn đã thấy lợn ở nhóm

tự chọn thức ăn lớn nhanh hơn nhóm lợn cho ăn theo khẩu phần (các loại thức ăn đã trộn lẫn) và điều quan trọng là thức ăn mà lợn trong nhóm ăn tự do chọn khi tính ra cũng

tương đương với nhu cầu dinh dưỡng của chúng Rất nhiều nghiên cứu khác trên gà, cừu,lợn đã cho thấy là gia súc, gia cầm có thể tự chọn được khẩu phần đáp ứng được nhu cầudinh dưỡng của chúng khi cho chúng quyền tự do lựa chọn thức ăn

Khi gà Broiler được tự do chọn 9 loại thức ăn vào lúc 4 - 9 tuần tuổi, chúng đã chọn

được khẩu phần tương tự như nhu cầu dinh dưỡng NRC (1984) (Ahmed, 1984)

Trang 23

Ca 1,05 0,80

Thí nghiệm trên lợn của Kyriazakis và cộng sự (1990) Trong thí nghiệm này, người

ta cho lợn tự lựa chọn 2 loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau Hai loại thức ănnày được đưa theo cặp: cao protein + thấp protein, thấp protein + protein trung bình,protein trung bình + cao protein

Khi phân tích số liệu, các tác giả thấy rằng, lợn đã biết tự lựa chọn thức ăn để có tăngtrọng cao đồng thời tuỳ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng từng ngày, lợn ăn thức ăn cóprotein cao, thấp hay trung bình Khi chúng càng lớn chúng càng ăn loại thức ăn có ítprotein hơn vì nhu cầu lúc này đã giảm

3.2 Tập tính khám phá

Tất cả các động vật đều có động cơ rất cao khám phá và tìm hiểu khi chúng phải đốimặt với môi trường mới Chỉ khi chúng đã quen với môi trường thì các tập tính khám phámới giảm đi, nhưng chúng sẽ lại xuất hiện khi có một thay đổi nào đó của môi trườngchúng đang sống Như vậy, động vật duy trì một tiềm năng tạo ra các hoạt động tập trungvào các cảm giác, sự thay đổi, những cái mới trong môi trường của chúng Tập tính khámphá trang bị cho động vật một hệ thống điều chỉnh tập tính, sự điều chỉnh này sẽ đượcbiểu thị ra thành các hoạt động

3.2.1 Hệ thống khám phá

Đã có các bằng chứng về hệ thống khám phá trong tập tính thông qua rất nhiều hoạtđộng của động vật Hệ thống này có thể hiểu đơn giản dưới dạng các yếu tố gây nên động

cơ và các hoạt động theo sau đó như sau:

1 Nhu cầu của động vật về nhận thức các đặc điểm của môi trường

2 Hoạt hóa các tập tính khám phá

3 Nhận được các thông tin phản hồi về cảm giác từ môi trường

4 Giảm mức độ của các yếu tố gây nên động cơ như là kết quả của đầu vào cảm giác

5 Quay trở lại chu kỳ đến mức bình thường của sự sẵn sàng với các thông tin đượcgiữ lại trong bộ nhớ

Như vậy, khám phá là bất kỳ một hoạt động nào của động vật có tiềm năng để các cáthể động vật thu được các thông tin mới về môi trường hay về chính nó

Vai trò của tập tính khám phá trong quá trình học của động vật là rất lớn Khi mộtkích thích mới được nhận ra, một tình trạng nhận thức cao xuất hiện, nhiều thông tinđược tập hợp và sự bổ sung cho các kinh nghiệm của động vật cũng xuất hiện

kẻ thù hiệu quả Những động vật có mầu khác lạ hoặc muốn tìm chỗ ẩn nấp phải tìm ramột chỗ nghỉ tốt Những động vật muốn chạy trốn hay biểu thị các đáp ứng tích cực khácđối với kẻ thù phải điều tra môi trường xung quanh và học về môi trường để chúng có thể

có phản ứng phù hợp và hiệu quả Nếu sự tấn công của kẻ thù sắp đến, động vật phải xemxét môi trường xung quanh và sẵn sàng đáp ứng

Chọn lọc tự nhiên đã ưu tiên cho các tập tính khám phá, vì thế động vật ưu tiên rấtcao cho tập tính này Chuột khám phá khu vực mới ngay cả khi chúng đang đói và thức

ăn cho chúng đã sẵn sàng Bò cũng biểu hiện tập tính tương tự

Trang 24

Tập tính khám phá biến động từ loài này sang loài khác Tất cả động vật cần khámphá khả năng của chính mình và điều tra các đặc điểm của môi trường Tuy nhiên, việc dichuyển tích cực vào một khu vực mới và đáp ứng với những cái mới phụ thuộc vào việc

sử dụng cảm giác Chuột đưa vào khu vực mới khám phá bằng cách ngửi, trong khi giacầm và động vật móng guốc khám phá bằng cách nhìn xung quanh Khám phá những cáimới mạnh mẽ nhất ở linh chưởng và động vật ăn thịt, thấp ở chuột và thấp nhất ở bò sát.Các tập tính khám phá này có thể có chức năng chống lại kẻ thù

3.2.3 Khám phá và sợ hãi

Hinde (1970) chỉ ra rằng tập tính khám phá và đáp ứng sợ hãi chồng lên nhau Độngvật di chuyển xung quanh môi trường của chúng và điều tra rất nhiều thứ xung quanh cóthể coi như là đang khám phá Tuy vậy, một sự di chuyển đang chuẩn bị trước để chốnglại sự tấn công của kẻ thù, khi một kẻ thù được phát hiện Tập tính này có thể gọi là đápứng sợ hãi Rất khó để phân biệt đâu là tập tính khám phá, đâu là đáp ứng sợ hãi Đápứng sợ hãi là các hoạt động chuẩn bị khi gặp nguy hiểm hoặc là một đáp ứng đối vớinguy hiểm đã được phát hiện (Broom, 1981)

3.2.4 Tập tính thử nghiệm và sai lầm

Tập tính thử nghiệm và sai lầm là một dạng của tập tính khai phá khả năng của bảnthân động vật Một hành động được tiến hành và nếu hậu quả là có lợi sẽ được nhắc lại.Những hành động như thế có giá trị nào đó khi động vật lớn lên và trưởng thành

Tập tính thử nghiệm và sai lầm cũng xuất hiện trong quá trình tương tác giữa cácđộng vật non và các cá thể khác chính là cơ hội quan trọng để khám phá xã hội mà chúngsống Vật nuôi bị nhốt, tách khỏi các cá thể khác không thể biểu thị tập tính này và khôngphát triển các tập tính theo cách mà các thú hoang đã làm

Tập tính thử nghiệm và sai lầm giảm khi động vật ốm, không khỏe mạnh Chắc chắn

là sự vắng mặt của tất cả các tập tính khai phá là dấu hiệu của một tình trạng bệnh lý hoặcsức khỏe kém ở động vật

3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tập tính khám phá

Bò và cừu khám phá bất cứ nơi nào mới mà chúng đến hoặc bị đưa đến và khám pháđầu tiên là xem xét biên giới của nơi mới đến Chúng đi suốt biên giới của khu mới sau

đó mới khám phá phần bên trong

Các kinh nghiệm trước đó về những địa điểm tương tự có ảnh hưởng đến việc khámphá nhiều hay ít ở bò, cừu và ngựa

Hiệu quả của khám phá có tầm quan trọng sống còn để có các đáp ứng hợp lý Sựhiệu chỉnh liên tục trong các đáp ứng về tập tính sau tập tính khám phá có tầm quan trọng

to lớn với gia súc chăn thả tự do trong môi trường của chúng Các thông tin về cảm giác

mà động vật nhận được từ tập tính khám phá và các hoạt động điều tra của chúng tạo nênmột phần kinh nghiệm của động vật và được sử dụng để có được các dạng tập tính phùhợp Trong các hệ thống nuôi nhốt, các nỗ lực khám phá không có đầu ra nên sự pháttriển của các đáp ứng tập tính không xuất hiện

Một yếu tố đi liền với các hệ thống nuôi nhốt là sự vắng vặt các khả năng khám phá,điều tra và tương tác với các động vật khác Gia súc nuôi nhốt thường có sự phát triểncủa nhiều tập tính không bình thường Hệ thống chuồng ảnh hưởng đến tập tính khai phá

ở bê Kết quả thí nghiệm cho thấy bê nuôi nhốt trong từng ô khi đưa vào môi trường mớivận động nhanh và nhiều hơn bê nuôi theo nhóm, ở đó chúng đã có khả năng di chuyển

tự do và tương tác với các bê khác

3.3 Tập tính về không gian sống

Các yếu tố về không gian ảnh hưởng đến nhiều hoạt động của động vật, đặc biệt khichúng ở trên đồng cỏ Động vật phải duy trì, sử dụng và thỏa thuận về không gian sống

Trang 25

để đáp ứng các nhu cầu cơ bản về sinh lý và xã hội của chúng Không gian cho một cáthể động vật có hai loại: không gian của cá thể và chỗ ở và lãnh thổ là vùng tĩnh được cáthể động vật sử dụng

Không gian của một cá thể động vật sống trong một xã hội cho ta nhiều thông tin về

tổ chức xã hội của động vật và bị thay đổi vì các cá thể động vật điều chỉnh quan hệ củachúng trong xã hội liên tục Không gian của các thành viên của một nhóm động vật tạimỗi thời điểm phụ thuộc vào hoạt động của các thành viên trong nhóm

Vật nuôi là các động vật xã hội chúng được ở khá gần nhau trừ các hoàn cảnh đặcbiệt liên quan đến các tập tính sinh sản, tập tính làm mẹ và tập tính đe dọa Khoảng cáchgiữa chúng và các kẻ thù tiềm tàng thường lớn hơn Khoảng cách này gọi là khoảng cách

để chạy trốn, khoảng cách này là một vòng tròn đồng tâm, trong đó động vật không chophép con người hoặc các động vật khác đi vào Đối với các loài vật nuôi, khoảng cáchchạy trốn ngắn lại (nhỏ đi) nếu các thực hành chăn nuôi là phù hợp và người chăn nuôibiết cách làm việc với vật nuôi Tuy nhiên, hầu hết vật nuôi vẫn duy trì một khoảng cách

để chạy trốn hay nói cách khác là chúng vẫn duy trì một vùng để lẩn tránh Việc mộtngười hoặc một động vật khác vào khu vực này đột ngột sẽ tạo ra một phản ứng tự vệkhông mong đợi từ động vật

3.3.1 Nhu cầu về không gian sống

Nhu cầu về không gian ở vật nuôi bao gồm số lượng và chất lượng không gian Nhucầu về số lượng liên quan đến chiếm chỗ trong không gian, khoảng cách xã hội, khoảng

để chạy trốn và lãnh thổ Nhu cầu về chất lượng liên quan đến các hoạt động phụ thuộcvào không gian như ăn, chăm sóc cơ thể, khai phá, động thái và các tập tính xã hội cầnthiết để động vật có thể dấu mình để động vật khác không nhìn thấy

Nhu cầu tối thiểu về không gian là số lượng chỗ cần thiết theo nhu cầu sinh lý vàkích cỡ của động vật Các động vật nuôi nhốt không gian phải đủ để chúng nằm xuốngđứng lên và xoay chuyển các phần của cơ thể: cổ, đầu, mông

3.3.2 Quá chật chội hay quá đông

Mật độ cao các tập tính hung hăng gây hấn thường xuyên xẩy ra vì khả năng mộtđộng vật xâm lấn lãnh thổ của một động vật khác là rất cao Khi quá đông nhưng có đủnguồn thức ăn, chỗ trú ẩn có thể sẽ không có ảnh hưởng tiêu cực của mật độ cao, trongkhi quá đông động vật nhưng lại chỉ có một nguồn thức ăn duy nhất sẽ có ảnh hưởng xấuđến động vật Quá đông có ảnh hưởng đến sự vận động của động vật Newberry và Hall(1988) đã quan sát sự di chuyển của gà từ 4 – 9 tuần tuổi ở mật độ thấp 0,134 m2 /gà Sốdiện tích bị chiếm cho một tuần giảm từ 134 xuống 49 cm2 vàkhoảng cách di chuyển/giờgiảm từ 4,5 xuống 2,3 m vì gà lớn lên khoảng không chật lại Nếu mật độ nuôi tăng cácgiá trị trên còn giảm nhanh mạnh hơn Mật độ cao ở chuột có thể dẫn đến sự phì đạituyến thượng thận, huyết áp cao, thận hỏng, đáp ứng miễn dịch yếu kém, sinh sản kém.Mật độ cao đã ảnh hưởng đến năng suất và quyền động vật

Mật độ cao ở gà trống đã làm giảm tăng trọng Mật độ tối thích cho sinh trưởng và đẻtrứng ở gà làm cho gà khỏe mạnh, không bị tấn công nhiều và nghiêm trọng bởi các cácthể khác trong nhóm, nhưng các cá thể yếu nhất trong nhóm có thể sẽ mổ thức ăn kém,không ăn được nhiều (Broom, 1981) Mật độ cao ở lợn tăng số trận đánh nhau (Ewbankand Bryant, 1972), giảm lượng thức ăn ăn vào (Bryant and Ewbank, 1974) và giảm hiệuquả sử dụng thức ăn (Heitman et al., 1961) Bryant (1972) đề nghị diện tích tối thiểu cholợn 50 kg cho ăn tự do là 0,7 m2/ con Mật độ xã hội cao không phải là yếu tố duy nhấtlàm tăng các tập tính cạnh tranh và dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực cho mỗi cá thể độngvật Một số lượng lớn cá thể trong một nhóm có thể dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực

3.4 Tập tính xã hội của động vật

Trang 26

Theo Heisey (1977) tập tính xã hội là tập hợp các kiểu tập tính trong đó có từ 2 thànhviên hoặc nhiều hơn của cùng một loài và bao gồm tập tính về nóng dận, tập tính vềkhông gian sống, tập tính về sinh sản, tập tính chăm sóc của bố mẹ, tập tính giúp đỡ cácthành viên và tổ chức xã hội.

Khái niệm cơ bản về tập tính được xây dựng trên cơ sở của lý thuyết về chọn lọc tựnhiên và các giả thiết (giả định) rằng tiến hóa của các tập tính liên quan đến thích nghikhông khác gì tiến hóa của các cơ quan bộ phận khác của cơ thể để thích nghi Các tậptính giúp cải thiện khả năng sống của một cá thể và các họ hàng của một động vật sẽđược phổ biến ra toàn quần xã

3.4.1 Sống trong nhóm

Trong một môi trường, ở đó động vật có cơ hội đi lại, hoạt động tìm kiếm thức ăn tự

do và kế tục các kiểu phân tán và tổ chức thành xã hội không bị ngăn trở bởi việc nuôinhốt các loài vật nuôi sẽ sống trong các nhóm ít nhất là một phần cuộc đời của chúng Tổtiên của các loài vật nuôi cũng tương tự như vậy Cấu trúc của nhóm có thể thay đổi từtập hợp lỏng lẻo một số lượng lớn cá thể (đàn) đến một nhóm cá thể gắn bó chặt chẽ,trong đó các quan hệ xã hội phát triển (các nhóm gia đình) Ở bất kỳ loài động vật nàodạng cấu trúc của nhóm rất khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm và ở cácloại độ tuổi giới tính khác nhau Các cá thể động vật có thể chọn lối sống cô độc trongmột vài giai đoạn của năm hoặc của cả chu kỳ sống Sống theo nhóm như vậy rất biếnđộng ở trong một loài và giữa các loài

Hậu quả của đời sống trong các nhóm là sự phát triển các tương tác và quan hệ xã hộigiữa các thành viên của nhóm

Lịch sử tiến hóa của các loài vật nuôi, yếu tố con người ảnh hưởng đến các thay đổiđáp ứng tiến hóa chính là chọn lọc tự nhiên Quá trình chọn lọc nhân tạo mới chỉ bất đầuvào 10-15 nghìn năm gần đây Tuy nhiên, thuần hóa gia súc đã có ảnh hưởng đến cấutrúc của não và các mặt khác nhau của tập tính Theo Price (1984), thuần hóa có thể đãlàm thay đổi ngưỡng và tần số biểu hiện của các kiểu tập tính, nhưng các tập tính xã hộicủa vật nuôi vẫn tương tự như tập tính này ở các động vật hoang dã cùng loài hay tổ tiêncủa chúng Lợn sống tự do có kiểu tổ chức xã hội tương tự như lợn hoang dã Vật nuôivẫn giữ lại thiên hướng để chúng hành động theo những cách có thể làm tăng cơ hội sống

và sinh sản của chúng, hầu hết các vật nuôi cạnh tranh với nhau về các nguồn lợi nhưthức ăn và cơ hội phối giống và có khả năng sinh sản rất thành công Các nguyên tắc tổchức tập tính của vật nuôi tương tự như ỏ động vật hoang dã, vì vậy cách tiếp cận sửdụng tiến hóa sẽ cung cấp cho chúng ta các thông tin cụ thể về cấu trúc nhóm của vậtnuôi Hơn nữa cách tiếp cận như vậy sẽ giúp có được các khung lý thuyết để chẩn đoáncác nguyên tắc cơ bản về chức năng và tổ chức tập tính Các nguyên tắc cơ bản về chứcnăng và tổ chức tập tính đến lượt mình sẽ giúp chúng ta hiểu được và có thể giải thíchđược tập tính của vật nuôi và từ đó có thể đưa ra các phương pháp cải thiện quản lý vàchăm sóc vật nuôi

3.4.2 Chọn lọc tự nhiên và đời sống của nhóm gia súc

3.4.2.1 Chọn lọc tự nhiên và tập tính

Tại các quần xã hoang dã, kiểu gen sẽ đóng góp cho thế hệ sau được chọn lọc tựnhiên Các cá thể động vật rất khác biệt nhau về các đặc tính di truyền và sự khác biệtnày dẫn đến sự khác biệt về kiểu hình Kết quả là một số cá thể tốt hơn các cá thể khác vềkhả năng sinh trưởng và sinh sản trong điều kiện môi trường chúng sống lúc đó Nhiềugen từ các cá thể này sẽ được truyền cho thế hệ sau Chọn lọc tự nhiên hoạt động theonguyên tắc ưu tiên cho một số gen nào đó (lớn nhanh, sinh sản tốt) Chọn lọc tự nhiên

Trang 27

theo nguyên tắc này sẽ dẫn đến tiến hóa về các đặc điểm hình thái và sinh lý học của các

cá thể động vật để thích nghi

Chọn lọc tự nhiên đã và chỉ hoạt động trên cơ sở khác biệt di truyền và khác biệt vềtập tính để dẫn tới tiến hóa Để tiến hóa hoạt động:

- Cần phải có trong quá khứ các khác biệt về tập tính trong quần xã,

- Các khác biệt về tập tính phải di truyền được,

- Các tập tính được lựa chọn bởi chọn lọc tự nhiên phải đảm bảo sinh sản của độngvật tốt hơn các tập tính khác

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy bộ gen của động vật có thể ảnh hưởng đến tập tínhcủa chúng Ví dụ: Trong một thí nghiệm cho lợn mẹ nuôi con của con mẹ khác và ngượclại, cho thấy kiểu gen của mẹ hình như có ảnh hưởng rất mạnh đến tập tính làm mẹ củalợn (Sinclair et al., 1998) Tập tính của động vật còn bị ảnh hưởng của môi trường Genđóng góp vào sự khác biệt về tập tính giữa các động vật và phụ thuộc vào sự phát triển vàmôi trường của mỗi các thể động vật

Như vậy, chọn lọc tự nhiên đã dẫn đến tiến hóa ở những cá thể động vật có các kiểutập tính và có các quyết định về tập tính nhằm tạo cơ hội tốt nhất để chúng tồn tại và sinhsản thành công

3.4.2.2 Chọn lọc theo dòng họ và sự hợp tác giữa các cá thể có quan hệ họ hàng

Sống theo nhóm sẽ thuận tiện hơn nhờ sự hợp tác giữa các cá thể Tạo ra nhiều đờicon không phải là cách duy nhất để một cá thể đóng góp phần di truyền của mình cho thế

hệ sau Chúng có thể đóng góp phần di truyền cho thế sau một cách gián tiếp thông quaviệc tăng cơ hội sống sót và sinh sản cho các cá thể có quan hệ họ hàng, tức là những cáthể có một phần gen chung nhất định Loại hình chọn lọc, ở đó các tính trạng được ưutiên cho việc tăng cơ hội sống sót và sinh sản của các cá thể có quan hệ họ hàng gần gũiđược gọi là chọn lọc theo dòng họ

3.4.2.3 Hợp tác giữa các cá thể không có quan hệ họ hàng

Hợp tác giúp đỡ các cá thể không có quan hệ họ hàng chỉ có thể xẩy ra vì lợi ích củacác cá thể để tăng cơ hội sống sót và sinh sản Tuy nhiên, không phải luôn luôn là nhưvậy Trong trường hợp phải bảo vệ các nguồn lợi (thức ăn, nước uống, không giansống ), thì sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau sẽ làm tăng cơ hội sống sót và sinh sản của tất cảcác cá thể sống trong quần xã, trong nhóm Giúp đỡ lẫn nhau kiểu này được gọi là hỗsinh và thường được chọn lọc tự nhiên chọn vì làm tăng cơ hội sống sót và sinh sản chotất cả cá thể động vật Như vậy, ở cả hai trường hợp chọn lọc theo dòng họ và hợp tácgiữa các cá thể không có quan hệ họ hàng, sự tiến hóa của các tập tính hợp tác có thểđược giải thích là: kết quả của các tập tính này đã làm tăng sự phù hợp và thích ứng củacác cá thể động vật tham gia Vì sự hợp tác được ưu tiên trong những điều kiện sống tựnhiên nên những điều kiện này cũng thúc đẩy tiến hóa của việc sống trong các nhóm hợptác lẫn nhau

3.4.2.4 Lợi ích của tìm kiếm thức ăn khi sống theo nhóm

- Tăng hiệu quả tìm kiếm thức ăn

Các cơ hội tìm kiếm thức ăn của một cá thể động vật có thể tăng lên theo kích cỡ củanhóm (số lượng các thể trong nhóm)

Ví dụ: một cá thể dễ tìm được thức ăn thông qua học tập về vị trí của nguồn thức ănkhi nhìn những động vật khác khai thác nguồn thức ăn Giảm thời gian tìm kiếm thức ăncho mỗi các thể là một lợi ích quan trọng khi sống theo nhóm, đặc biệt đối với nhữngđộng vật sống dựa vào các nguồn thức ăn được phân phối theo thời gian và không giankhông dự báo được

Trang 28

Ward and Zhahavi (1973) cho rằng: nơi đậu chung và nơi tập trung ở chim thườnghoạt động như một trung tâm thông tin Một cá thể phát hiện ra vị trí có thức ăn thì ngaysau đó các chim khác cùng nhóm cũng tìm đến chỗ đó để kiếm thức ăn Tuy nhiên, lợiích này ít hơn ở động vật có móng guốc trên đồng cỏ sống theo nhóm vì thức ăn đượcphân bố có thể dự báo được.

- Tăng hiệu quả có được thức ăn

Đối với một cá thể của loài dã thú ăn thịt kết hợp với các cá thể khác cùng loài có thểrất có lợi bởi vì giúp cho thú có cơ hội bắt được con mồi trong một đàn lớn, trong khi nếumột mình chúng không có nhiều cơ hội để bắt mồi từ những đàn lớn Tỷ lệ thành côngkhi săn mồi một mình rất thấp

Ví dụ: Sư tử cái thường tham gia vào một nhóm để săn trâu và hươu cao cổ Chúngchỉ săn lợn một mình vì tỷ lệ thành công khi săn lợn một mình cao hơn 1,5 lần tỷ lệ thànhcông khi săn các đàn con mồi lớn Như vậy, sống theo nhóm đã mở rộng khả năng và cơhội săn mồi

- Tăng hiệu quả trong bảo vệ nguồn thức ăn

Thức ăn được phân bố theo kiểu một cá thể động vật không thể bảo vệ được nguồnthức ăn đó Sống theo nhóm giúp cho một số cá thể động vật bảo vệ thành công nguồnthức ăn Chim chia vôi bảo vệ lãnh thổ và nguồn thức ăn một mình hoặc cho phép lánggiềng chia sẻ lãnh thổ và nguồn thức ăn tùy thuộc vào sự đầy đủ của nguồn thức ăn Vìthức ăn được phân bố trên một vùng rộng nên bảo vệ lãnh thổ bằng cách chia sẻ giữa haichim sẽ tăng gấp đôi khả năng đuổi những kẻ xâm phạm lãnh thổ Bằng cách tương tự,nhóm sư tử đã bảo vệ xác con mồi bắt được khỏi bầy linh cẩu thành công hơn một sư tửduy nhất

3.4.2.5 Trốn tránh kẻ thù

Đời sống nhóm có thể đáp ứng với các áp lực từ kẻ thù Các thành viên trong nhóm

có thể giảm sự cảnh giác mà vẫn không tăng nguy cơ bị kẻ thù đến gần so với những cáthể sống một mình vì tín hiệu của một cá thể về sự có mặt của kẻ thù sẽ được truyền đến

cả nhóm Giảm mức độ cảnh giác, không phải quan sát xung quanh thường xuyên sẽ tăngđược thời gian ăn

Khi sống trong nhóm cơ hội sống sót của một cá thể sẽ tăng lên so với các cá thểsống một mình vì cơ hội bị kẻ thù tấn công sẽ ít hơn Bò và trâu rừng tạo thành một nhómbảo vệ xung quanh các con non của chúng khi phải đối mặt với kẻ thù

3.4.2.6 Những bất lợi của sống theo nhóm

Sống theo nhóm động vật có nhiều lợi ích nhưng chúng phải trả giá cho nhiều bất lợi.Nguồn lợi khi sống theo nhóm phải được chia sẻ với các thành viên khác của nhóm.Trong nhóm các loài ăn thịt thích bắt mồi đang di động, cả nhóm cùng đi săn đã đánhđộng con mồi nên cơ hội bắt được mồi của mỗi cá thể sẽ giảm

Cá thể sống theo nhóm không những không giảm mà còn tăng cơ hội bị ký sinh trùngtấn công, lây lan dịch bệnh

3.4.2.7 Kích cỡ nhóm và bản chất động của nhóm

- Kích cỡ nhóm và bản chất động của nhóm

Thuyết tiến hóa dự đoán rằng động vật sẽ ăn ở hành xử để sao cho có thể sinh sảnthành công nhất Như vậy, trong bối cảnh của một nhóm, động vật sẽ tham gia vào nhómkhi chúng có được các lợi ích từ nhóm và sẽ rời khỏi nhóm khi mà lợi ích sống một mìnhcao hơn lợi ích chúng thu được từ nhóm Như vậy, kích cỡ nhóm có thể xem như là kếtquả và các quyết định của các cá thể động vật

- Sự phân bổ các nguồn lợi

Trang 29

Fretwell and Lucas (1970) đã đưa ra thuyết phân bố tự do lý tưởng để dự đoán làmcách nào một động vật tự phân bố mình xung quanh các nguồn lợi Cơ sở của lý thuyếtlà: các động vật tự đưa mình đến xung quang nguồn lợi mà mỗi động vật có khả năng thuđược nguồn lợi như nhau Lý thuyết này giả sử rằng các động vật có các thông tin đầy đủ

về giá trị của địa điểm có nguồn lợi và tự đo đi đến các vùng có nguồn lợi mà không bịcản trở bởi các cá thể khác

Tuy nhiên, trong thực tế khả năng của một cá thể có thể cao hơn một các thể khác.Trong trường hợp này lý thuyết về sự phân bố nguồn lợi không còn hợp lý nữa và xácđịnh kích thước nhóm phải dựa trên khả năng cạnh tranh của nhóm (Parker andSutherland, 1986)

Những động vật nuôi nhốt, về lý thuyết có thể tính được kích cỡ nhóm tối ưu trên cơ

sở diện tích, sự sẵn có của các nguồn lợi (thức ăn, nước uống do con người cung cấp) Vềphương diện chăn nuôi và quyền động vật hoàn toàn có thể thử nghiệm và đánh giá kích

cở nhóm tối ưu trên cơ sở quyền động vật và năng suất chăn nuôi

- Sự phân bố của nguồn lợi và sự tự vệ.

Nếu chất lượng và vị trí của nguồn lợi ổn định lâu dài, sự phân bố của các nguồn lợi

có thể ảnh hưởng đến số lượng gia súc cần có để bảo vệ nguồn lợi Nếu các nguồn lợithành một khối chặt chẽ và dễ bảo vệ bởi một động vật thì khi đó bảo vệ nguồn lợi bởimột động vật duy nhất sẽ được ưu tiên

Ví dụ: trong mùa sinh sản ngựa đực có khả năng bảo vệ một nhóm con cái khỏi sựchú ý của những con đực khác

Nếu các nguồn lợi phân bố rộng, một cá thể sẽ không thể tự bảo vệ được nguồn lợithì việc các động vật nhóm nhau lại để bảo vệ nguồn lợi sẽ có nhiều lợi ích hơn Quan hệ

họ hàng, gia đình sẽ dẫn đến việc các cá thể nhóm nhau lại để bảo vệ nguồn lợi Như vậy,nguồn lợi cần bảo vệ sẽ kích thích các tập tính tranh chấp về lãnh thổ và ảnh hưởng đếnkích cỡ nhóm Nguyên tắc này rất quan trọng để quyết định phân bổ nguồn lợi trongchuồng nuôi

3.4.2.8 Động lực trong nhóm

Ở hầu hết các nhóm không phải tất cả các cá thể động vật đều có được các lợi íchnhư nhau và đều khỏe mạnh sung sức như nhau Điều này có thể do hàng loạt các nguyênnhân và đặc biệt ở các nhóm động vật có cấu trúc trội rõ ràng Những cá thể trội haynhững cá thể ở tầng lớp cao có khả năng duy trì ưu tiên tiếp cận với các nguồn lợi hơncác cá thể phụ thuộc và ở tầng lớp thấp hơn, vì vậy các cá thể thuộc tầng lớp cao sẽ khỏemạnh sung sức hơn so với các cá thể còn lại

Cạnh tranh hoặc hợp tác giữa các cá thể trội và các thành viên phụ thuộc trong nhóm

Sự khác biệt về cấp bậc trong nhóm tối ưu và giá phải trả cho khỏe mạnh sung sức cóthể ảnh hưởng đến số lượng các tập tính hợp tác hay cạnh tranh trong nhóm Nếu các cáthể thuộc tầng lớp cao tạo quá nhiều áp lực lên các cá thể ở tầng lớp dưới sẽ dẫn đến các

cá thể thuộc tầng lớp thấp sẽ có lợi ích hơn nếu rời bỏ nhóm

Trang 30

Vai trò khác nhau trong nhóm không có nghĩa là quan hệ giữa trội và phụ thuộc vàcũng không có nghĩa là khác nhau về cơ hội sinh sản Các thành viên của nhóm có thểchấp nhận các sách lược hoặc chiến lược khác nhau để có được lợi ích từ sống theo nhómnhư nhau.

3.4.2.9 Cấu trúc của nhóm

Nhóm động vật có thể có rất nhiều dạng khác nhau từ chỗ chỉ có 1 cặp đực cái đến 1nhóm cái với sự có mặt của những con đực và có thể một đàn lớn có cả hai tính biệt hoặcmột tính biệt duy nhất Mỗi một loài vật nuôi chấp nhận một kiểu cấu trúc nhóm khácnhau Sinh thái của các loài, sự phân bố các nguồn lợi và áp lực của chọn lọc đã đượcxem là những yếu tố xác định quan trọng quyết định cấu trúc nhóm (Jarman, 1974;Wrangham, 1979)

Ví dụ: các nhóm lớn có thể thích hợp hơn để chống lại kẻ săn mồi ở những loài độngvật là con mồi của các loài khác sống trong những nơi ở thoáng rộng Trong khi nhữngloài sống trong rừng rậm thì kích cỡ nhóm lớn là không cần thiết Ảnh hưởng của sự khácnhau về giới tính và hệ thống phối giống của các loài có ảnh hưởng quan trọng đến cấutrúc của nhóm vì chúng xác định thành phần nhóm và số lượng đực và cái

- Sự sai khác về giới tính và sự chăm sóc con cái của bố mẹ là các yếu tố xác định hệ thống phối giống.

Vai trò của hai giới tính trong sinh sản có ảnh hưởng quan trọng trong hệ thống phốigiống và cấu trúc nhóm Chim, gia cầm và các loài có vú thường sản xuất ra một sốlượng hạn chế trứng, các trứng này sẽ được thụ tinh chỉ bằng một hay một ít lần phốigiống Con đực có khả năng làm cha của đời sau nhanh hơn nhiều so với con cái Khảnăng thành công trong sinh sản của con đực bị hạn chế bởi khả năng tiếp cận với con cái.Thành công về sinh sản của con cái bị hạn chế trước hết là khả năng tiếp cận với cácnguồn lợi của môi trường như thức ăn hoặc chỗ để làm tổ Các con cái thường sống xungquanh các nguồn lợi còn con đực thường sống xung quanh các con cái và cạnh tranh nhau

vì những con cái

Tuy nhiên, phạm vi và mức độ mà một con đực có thể cạnh tranh để giành con cái bịhạn chế bởi số lượng các con cái mà chúng cung cấp cho đời sau Nếu sự sống còn vànuôi dưỡng đời con thành công phụ thuộc vào sự chăm sóc của con đực thì con đực cóthể tìm kiếm một sự giao hợp khác Yêu cầu về sự chăm sóc con cái của một con đực phụthuộc vào nhiều yếu tố Mức độ chăm sóc con non của con đực thay đổi theo loài

- Sự phân bố của nguồn lợi và loại hình của hệ thống phối giống

Thuật ngữ hệ thống phối giống ở đây là cách mà một cá thể đực hoặc cái có và bảo

vệ được bạn tình, bao nhiêu bạn tình chúng có và chúng chăm sóc con cái như thế nào

Hệ thống phối giống có thể chia thành ba kiểu: một vợ, một chồng, nhiều vợ và nhiềuchồng Ở kiểu một vợ, một chồng: cá thể đực và cái có liên hệ lâu dài và cả hai cùngđóng góp để nuôi dậy con non Ở kiểu nhiều vợ, con đực phải cạnh tranh để phối giốngvới nhiều con cái và con đực chăm sóc rất ít hoặc không chăm sóc con non Còn ở kiểunhiều chồng, một con cái có được quyền ở với một vài con đực

Hầu hết các loài có vú con đực ít chăm sóc con cái và có thể coi hệ thống phối giống

ở đây là kiểu nhiều vợ Ở những loài này cấu trúc nhóm và phân bố của con cái bị ảnhhưởng bởi áp lực của kẻ thù, sự phân bố của thức ăn và khả năng bảo vệ nguồn lợi Trongkhi đó sự phân bố của con đực cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trên, ít nhất là vào mùasinh sản, sự phân bố của con đực chịu ảnh hưởng rất mạnh của cạnh tranh giữa các conđực để tiếp cận với con cái (bảo vệ con cái) hoặc cạnh tranh cho những địa điểm giầu có

về nguồn lợi Như vậy, hệ thống phối giống và kết quả của nó làm cấu trúc nhóm bị ảnh

Trang 31

hưởng rất mạnh bởi khả năng bảo vệ các nguồn lợi vì nguồn lợi rất quan trọng với cả haigiới.

Nếu các con cái xuất hiện trong một vùng lãnh thổ nhỏ, hay nhóm nhỏ ổn định thìnhững con đực sống một mình có thể bảo vệ chúng từ các con đực khác để tạo thành hệthống phối giống nhiều vợ Đây là hệ thống phối giống ở ngựa, hươu đỏ, lợn và gia cầm,

ở đây những con đực cạnh tranh để kiểm soát nhóm các con cái trong mùa sinh sản Khi các con cái xuất hiện trong những nhóm lớn hoặc không ổn định, sẽ là khôngkinh tế cho các con đực bảo vệ một vài con cái tại cùng một thời điểm, vì thế hệ thốngphối giống là một vợ nhiều chồng hoặc bao gồm cả sự cạnh tranh để giành con cái khicon cái động dục Cừu chăn thả tự do, các con đực cạnh tranh để tiếp cận những con cáiđộng dục chịu đực Bò chăn thả tự do chấp nhận hệ thống phối giống tương tự, trong đóquan hệ trội giữa các con đực được duy trì suốt năm và ảnh hưởng tới thứ tự ưu tiên tiếpcận các bò cái động dục

- Hệ thống phối giống và sự ra đi của đời con.

Hệ thống phối giống là một yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đi khỏi nhóm các con non.Việc ra đi này có thể là để ngăn ngừa sự cận huyết và cũng vì ra đi sẽ tốt hơn là phải cạnhtranh tình dục với những con trưởng thành trong nhóm Ở các loài có vú các con đực non

có xu hướng ra đi nhiều hơn cái non, vì trong hệ thống phối giống nhiều vợ, là hệ thốngphối giống điển hình ở các loài có vú và con đực bảo vệ con cái Vì vậy, những con đựcnon nên ra đi để tránh phối giống với những con cái có quan hệ họ hàng và tránh cạnhtranh bạn tình với cha mình Con cái non ngược lại có được nhiều lợi ích khi ở lại vì cóđược sinh cảnh tốt để sống cùng mẹ và các chị em gái của mình

Với các loài chim thì ngược lại, các chim cái non có xu hướng ra đi Ở các loài chim,chim đực bảo vệ lãnh thổ phối giống của mình nên con đực thường ở lại gần nơi nó sinh

ra và thừa kế một phần lãnh thổ của chim bố (Greenwood, 1980)

- Biến động theo mùa vụ trong cấu trúc nhóm

Hệ thống phối giống biến động ngay cả trong một loài và phụ thuộc vào các điềukiện sinh thái hiện hữu Ở những loài có mùa sinh sản rõ rệt cấu trúc nhóm khi khôngphải là mùa sinh sản rất khác với cấu trúc này ở mùa sinh sản

Ví dụ: ngoài mùa phối giống, cừu thường sống theo nhóm đực cái riêng trên nhữnglãnh thổ riêng

Hệ thống phối giống có thể ổn định những kích cỡ nhóm, có thể biến động phụ thuộcvào sự sẵn có của các nguồn lợi theo mùa vụ Như vậy, cấu trúc nhóm động vật là rất linhđộng và được điều chỉnh tùy thuộc vào sự phân bố và sẵn có của các nguồn lợi

3.4.3 Đời sống nhóm ở động vật

Theo Wilson (1975): nhóm là một tập hợp các cá thế sinh vật thuộc cùng một loàisống cùng nhau một thời gian và tương tác với nhau Các nhóm vật nuôi có thể đượcquản lý hoàn toàn trong trường hợp nuôi thâm canh hoặc tương đối gần với các nhóm tựnhiên trong trường hợp chăn thả tự do Các tình huống này sẽ tạo ra các loại nhóm khácnhau về kích cỡ, không gian sống, khả năng rời khỏi nhóm, tuổi và phân bố giới tínhtrong nhóm Phải xem xét nhóm động vật trong tự nhiên khi thiết kế các hệ thống quản lýgia súc để đảm bảo quyền động vật Các hệ thống quản lý gia súc đảm bảo quyền độngvật tốt nhất là các hệ thống ở đó gia súc được nuôi dưỡng bằng những cách mà chúng vẫngiữ lại được các đặc tính quan trọng của các nhóm động vật trong tự nhiên

3.4.3.1 Duy trì nhóm

Nhóm có thể chỉ là một tập hợp tạm thời nhưng có khi lại là những xã hội được cấutrúc và tổ chức rất chặt chẽ Thậm chí ngay cả trong cùng một loài có nhiều loại nhómkhác nhau phụ thuộc vào sự sẵn có của thức ăn theo mùa hoặc tình trạng sinh sản Ở vật

Trang 32

nuôi, nhóm thường kéo dài lâu hơn trong tự nhiên vì các thành viên của nhóm không phảiluôn luôn có được tự do để quyết định khi nào thì kết hợp lại thành nhóm và khi nào thìrời khỏi nhóm Dù là kiểu nhóm như thế nào thì mỗi cá thể trong nhóm hoạt động vì cáclợi ích của bản thân nó trong mối quan hệ tương hỗ với các các thể cùng loài.

3.4.3.2 Trội

Thuật ngữ trội để chỉ quan hệ có thể dự báo được giữa một cặp động vật cùng loài ởđây một động vật thống trị một động vật khác (động vật phụ thuộc), động vật phụ thuộcđến lượt mình tránh đối đầu với động vật thống trị kia Đây là một quan hệ học được dựavào việc động vật nhận ra nhau và nhớ được cuộc chạm trán lần trước, giữ lại được vị trítương đối của mình trong các cuộc gặp gỡ tương lai

Tổng của tất cả các quan hệ trội trong một nhóm được gọi là thứ bậc trội hay ở giacầm là thứ bậc mổ (thức ăn) Thứ bậc trội đại diện cho vị trí tương đối của một cá thể đốivới các cá thể khác trong nhóm Trật tự trội là duy nhất cho một nhóm cụ thể, việc đưathêm động vật khác vào hay đưa ra khỏi nhóm một hay một số động vật sẽ có tác độngđến cả nhóm, làm xáo trộn cân bằng cho đến khi có một trật tự trội khác được thiết lập.Trong tự nhiên thứ bậc tăng cao dần khi động vật trưởng thành, từ giai đoạn con nonphụ thuộc đến giai đoạn trội khi trưởng thành

Trong các đàn gà một số con trội, một số khác rất phụ thuộc, số còn lại sẽ tham giatấn công các gà phụ thuộc Như vậy, một số tập tính đã thích nghi trong thế giới hoang đãtrở thành tập tính không bình thường trong chăn nuôi thâm canh

Theo Cunningham và Tienhoven (1983) những gà mái xếp hạng thấp trong nhómnhận được rất ít thức ăn và do đó cơ thể gầy còm, những gà mái còn lại nhận được nhiềuthức ăn hơn

3.4.3.3 Sự ổn định

Nếu trật tự thứ bậc trong nhóm không có sự tham gia của sự nhận biết cá thể kháccủa động vật thì tính ổn định của thứ bậc trong đàn sẽ chỉ còn phụ thuộc vào việc tất cảcác cá thể trong đàn (nhóm) tuân thủ nguyên tắc tránh đường cho những các thể cùngnhóm lớn hơn mình Sự nhận biết bao hàm một trí nhớ xã hội về những cuộc đọ sức trongquá khứ giúp hình thành nên trật tự xã hội trong nhóm

Ví dụ: ở ngựa các thành viên của nhóm có thể bị cách ly với nhóm một thời gian khádài (trên 6 tháng) và khi đưa chúng trở lại với nhóm chúng ngay lập tức hòa nhập vớinhóm và vẫn nhớ về thứ bậc của chúng trong nhóm Gà nhà đối xử với những gà vừa táchkhỏi đàn vài tuần như một kẻ xa lạ, một kẻ xâm nhập

3.4.3.4 Thông tin trong nhóm

Tín hiệu là cách để một cá thể tạo ra một đáp ứng của cá thể khác trong nhóm- cá thểđáp ứng được gọi là cá thể phản ứng với tín hiệu hay cá thể nhận tín hiệu Kết quả củacác tín hiệu là các hành động ở động vật Chúng ta có thể phân loại tín hiệu thành hailoại: Tín hiệu hợp tác và tín hiệu không hợp tác Tín hiệu hợp tác là tín hiệu mà kẻ nhậnđược tín hiệu được hưởng lợi (tín hiệu về bạn tình) Tín hiệu không hợp tác là tín hiệu mà

kẻ nhận được sẽ không được lợi gì

Có ba yếu tố chính làm cho các tín hiêu được nhận:

- Khả năng có thể phát hiện: yếu tố này có thể khác nhau phụ thộc vào nơi cư trú.Chim sống trong rừng hót với tần số thấp hơn chim sống trong môi trường mở

- Khả năng có thể phân biệt được hay tín hiệu có dễ để phân biệt với các kích thíchkhác hay không?

- Khả năng có thể nhớ được của tín hiệu hay tín hiệu có dễ để nhớ hay có liên hệ nàovới các kích thích khác không? Điều này cực kỳ quan trọng trong các nhóm động vật

Trang 33

sống trong một xã hội để thiết lập thứ bậc trội, việc thiết lập này phụ thuộc rất nhiều vào

sự nhận thức về các cá thể khác cũng như các thứ bậc đã được xác lập trong nhóm

3.4.3.5 Kích cỡ nhóm

Kích cỡ nhóm bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như yêu cầu về nhiệt, áp lực của kẻthù, bệnh tật, cạnh tranh vì các nguồn lợi khác nhau, kiểu phân tán, mùa vụ Kích cỡnhóm phù hợp nhất được xác định bởi chi phí, lợi ích và sự phối hợp của chúng sẽ ảnhhưởng đến tỷ lệ sống sót và sinh sản của vật nuôi

Bảng 2 Ảnh hưởng của kích cỡ nhóm và sự quen biết đến số lần mổ nhau do giận dữ ở

gà mái (P<0,001), Linberg, 1994

Kích cỡ nhóm Mức độ quen biết Số lần mổ nhau do giận dữ/gà mái/ 5 phút

quan sát (Mean ± SE)

Các cá thể trội và phụ thuộc có thể có kích cỡ nhóm tối ưu khác nhau Ví dụ: gà máitrội rất thích ở trong các đàn lớn so với các con phụ thuộc vì trong các nhóm chúng đượcbiểu hiện tập tính khác nhau Những gà mái phụ thuộc khi được cho tự chọn nhóm lớnhay nhỏ với cùng mật độ nuôi để sống, chúng đã chọn nhóm lớn có lẽ vì ở nhóm nàychúng dễ dấu mình đi hoặc dễ áp dụng chiến lược không can thiệp hay dễ dàng trốn khỏicác trận chiến đấu Các cá thể trong các nhóm khác nhau có thể đã được hưởng lợi trongđời sống theo nhóm ở một phạm vi nào đó, tuy nhiên một số không sẵn sàng trả giá quánhiều so với một số khác, các cá thể khác nhau sẽ quyết định ở lại hay ra đi vào mộtnhóm khác (Vehrencamp, 1983)

Nhóm có kích cỡ tối ưu rất hiếm trong thế giới hoang dã, rất nhiều yếu tố có thểảnh hưởng đến kích cỡ nhóm động vật Khi quyết định kích cỡ nhóm gia súc rất cần xemxét đến việc nhóm sẽ hoạt động thế nào trong điều liện thực tế, sự ổn định của các thànhviên trong nhóm gia súc, mật độ và môi trường chăn nuôi quan trọng hơn là kích cỡnhóm

3.5 Tập tính xã hội của gia súc, gia cầm (Bò)

Nhìn chung, gia súc cái và bò hoang dã sống theo đàn, bao gồm một số con đựctrưởng thành hoặc một số con đực có thể sống trong một nhóm nhỏ hoặc sống đơn lẻ.Trong điều kiện tự nhiên rộng lớn các đàn gia súc có sự phân chia lãnh thổ rõ ràng.Những tín hiệu của thị giác, thính giác và khứu giác được sử dụng để giao tiếp giữa các

cá thể và giữa các đàn Trong một đàn, mối quan hệ của các thành viên trong gia đình,anh chị em họ với những cá thể khác là rất bền chặt và lâu dài

Các mối quan hệ xã hội trong một đàn rất có ích trong việc giảm thiểu những ảnhhưởng của các điều kiện bất lợi

3.5.1 Các đặc tính xã hội cơ bản

Bò nhà thuộc họ bò Bovidae, bao gồm 14 nhánh phụ chủ yếu từ 3 dòng Bovinae,Ovinae và Caprinae Bovinae là dòng phổ biến nhất trong bộ nhai lại và có ở khắp nơi.Những đặc điểm chính trong cấu trúc xã hội của chúng gồm sự kết hợp cả con đực và concái trong một đàn, con non có thể sống độc lập sau khi sinh, phòng vệ theo bầy, giữkhoảng cách gần gũi với nhau (Estes, 1974) Kích cỡ của từng đàn có thể thay đổi(khoảng 20 cá thể) Sau giai đoạn động dục, những con đực thường tách riêng lẻ hoặc tạothành một nhóm đực nhỏ gồm 2-10 con từ 3-4 tuổi Những nhóm đực nhỏ này có tínhliên kết kém hơn so với những nhóm cái

Trang 34

- Thành phần và cấu trúc của các nhóm động vật

Daycard (1990) đã quan sát ba đối tượng chủ yếu của nhóm:

(i) những nhóm cái gồm tất cả các lứa tuổi với một số con đực tơ;

(ii) nhóm gồm những con đực tơ và đực trưởng thành, trong đó phần lớn là nhữngcon đực trưởng thành đơn lẻ,

(iii) nhóm hỗn hợp gồm các con đực trưởng thành và con cái, phổ biến trong mùagiao phối Những con đực trẻ thường đi cùng với những con đực tơ hoặc với con trưởngthành, trong khi những con cái luôn đi cùng với những con cái trưởng thành

Những con cái trưởng thành, cái tơ và đực trẻ tạo nên một nhóm hỗn hợp, trong khinhững con đực hơn 4 năm tuổi sống trong một nhóm đực từ 3 cá thể trở nên Tuy nhiên,trong suốt mùa đông, khi cỏ khô được cung cấp tại một điểm duy nhất ở công viên, nhiềunhóm đực đã buộc phải tương tác với nhau (Whitehead, 1953; Hall, 1986)

- Không gian sống của quần thể

Ở đảo Amsterdam, những con đực và con cái chiếm những vùng đất khác nhau.Chiến lược này có thể làm tăng hiệu quả tìm kiếm thức ăn của chúng Tuy nhiên, bòSwona kiếm ăn theo nhóm nhỏ trong mùa đông và không có dấu hiệu về phân bố vùng.Những mối quan hệ trội – phụ thuộc trong đàn đã được miêu tả (Lazo, 1994) và quan hệnày đã ảnh hưởng đến việc sử dụng những vùng cụ thể của môi trường sống Khi mộtvùng phân bố tồn tại, những con bê con sẽ được học hỏi từ khi còn rất nhỏ

- Giao tiếp

+ Giao tiếp qua mắt

Những tín hiệu thị giác là một trong những cách giao tiếp quan trọng nhất đối với giasúc Những động vật có vú chăn thả có đôi mắt rộng và tầm nhìn bao quát, một sự thíchnghi để tồn tại Góc nhìn của mắt khoảng 3200 Bò chỉ có 1/22 tới 1/12 độ nét của mắtcon người (Entsu et al., 1992)

+ Giao tiếp bằng tiếng rống

Gia súc giống như những động vật có vú sống theo đàn khác sử dụng những âmthanh để giao tiếp mặc dù trong phạm vi kém hơn so với những loài sống trong rừng Ởgia súc, âm thanh không được thể hiện rõ ràng trong từng tình huống nhưng nó lại thểhiện mức độ thích thú khi được kích thích (Kiley, 1972) Hầu hết tín hiệu âm thanh thểhiện sự thất vọng, stress hoặc khi vui sướng

+ Giao tiếp bằng khứu giác

Một lượng lớn các tuyến mùi (giữa các ngón, dưới ổ mắt, bẹn, tuyến bã nhờn, ) có ở

bò cho thấy tầm quan trọng của khứu giác trong đời sống xã hội của chúng

Khứu giác rất quan trọng đối với quan hệ xã hội vì nó cho phép nhận biết từng cá thểđơn lẻ Bò có thể được huấn luyện để phân biệt từng cá thể giữa cả bầy thông qua nhữngmanh mối mùi riêng của chúng (Baldwin, 1997) Vai trò của khứu giác để xác định vàduy trì cấp bậc trong quần thể đã được nghiên cứu trong nhiều đàn bò sữa không thânthuộc bị làm giảm sự cảm nhận mùi bằng cách cắt bỏ các tuyến củ hành Chúng đã khôngthiết lập được trật tự bầy đàn, điều này khác biệt hoàn toàn với những con không bị cắt

Bò có thể giao tiếp thông qua trạng thái tâm lý, đặc biệt là khi bị sợ hãi hay stress,thông qua pheromones

+ Giao tiếp bằng xúc giác

Dạng giao tiếp này thường ít được ghi chép lại, mặc dù nó khá quan trọng trong cáctập tính về tính dục và tập tính của con mẹ, trong việc phân cấp thứ tự, trong mối liên hệgiữa các cá thể và trong mối quan hệ giữa bò với con người

- Những tương tác bên trong nhóm

+ Giữa con đực với con đực

Trang 35

Hệ thống bầy đàn của bò hoang được thể hiện bởi sự phân cấp bậc giữa những conđực trưởng thành Ở gia súc hoang dã, sự phân cấp bậc được quan sát giữa những conđực cũng như ở những nhóm đực tơ sống đơn lẻ Mối quan hệ địa vị giữa những con đực

là không ổn định so với những con cái từ năm này qua năm khác và những con đực ở lứatuổi (3-5 tuổi) chiếm đa số

Tập tính hung hăng là rất phổ biến thông qua các hoạt động trong bầy đàn giữa cáccon đực và đực tơ trên đồng cỏ Những con đực và đực tơ có nhu cầu giống nhau vềkhông gian cho đến trước 18 tháng tuổi, mặc dù khi trưởng thành các con đực có xuhướng phân định lãnh địa (Kilgour and Campin, 1973)

+ Giữa con cái với con cái

Những tương tác giữa những con cái ít được miêu tả ở gia súc hoang dã Những concái có thứ bậc cao có xu hướng chọn những con đực có thứ bậc cao (Hall, 1986)

+ Giữa đực và cái

Lésel (1969) cho biết hàng ngày những con đực trưởng thành di chuyển từ những địađiểm cao trên đảo tới những địa điểm thấp hơn, nơi mà những con cái tập trung tại đó,tuy nhiên chúng không có mối quan hệ mật thiết với bất kì nhóm cái nào Ở phía namSpain, một vài con đực trưởng thành sống quanh năm xung quanh bốn nhóm cái (Lazo,1994)

+ Giữa bố mẹ và con

Rất ít dữ liệu miêu tả về mối quan hệ mẹ và con trên đàn gia súc hoang dã Nhữngcon bò cái sẽ cho bê bú cho đến khi bê tiếp theo được sinh ra Tuy nhiên, đôi khi cónhững bê vẫn bú cùng những con em kế cận, do đó có thể dẫn tới việc thiếu sữa giành đểnuôi những con mới sinh

Trong suốt giai đoạn sau khi đẻ, bò mẹ có biểu hiện sự bảo vệ và có thể tấn côngnhững chú chó, cáo hoặc những người đến gần bê con Mặc dù vài ngày đầu sau sinh bò

mẹ thường bên cạnh bê con, nhưng một thời gian sau chúng giành thời gian xa bê connhiều hơn và thời gian bên cạnh đàn tăng dần lên Giai đoạn sau sinh là giai đoạn quantrọng để hình thành nên mối quan hệ giữa bò mẹ và bê Những con mẹ trước đó chưa cókinh nghiệm nuôi con sẽ không có sự tiếp xúc với bê con suốt 24 giờ đầu sau khi sinh,chúng sẽ không cho bê con bú Tuy nhiên, những bò cái đã có kinh nghiệm nuôi con chấpnhận cả những con bê thậm chí ngay cả khi lần đầu tiếp xúc với bê đó, trước ngày nó đẻ(Le Neindre and D’hour, 1988) Sau khi sinh, những bò thịt chỉ duy nhất cho con của nó

bú Thông thường bê con sẽ bú mẹ trong giờ đầu tiên mặc dù một số con 4h sau mới bú

Bò mẹ đẻ sinh đôi không ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa mẹ và con

Liếm là biểu hiện tập tính rất quan trọng giữa bò mẹ và con Sau khi sinh bò mẹ liếmcon cho đến khi lông bê con khô và số lượng những lần liếm vẫn duy trì ở mức độ caocho đến khi bê được 10 tháng tuổi Mối quan hệ giữa bò mẹ và bê thường kéo dài Khi bò

mẹ không thể sinh bê tiếp theo năm sau đó, bê con vẫn bú 3 lần mỗi ngày lúc 10 thángtuổi và 1,5 lần mỗi ngày khi khoảng 400 ngày tuổi Tuy nhiên, mối quan hệ này là khôngphụ thuộc vào khả năng hấp thụ sữa của bê (Le Neindre and Veissier, 1989) Sau khi sinhmột bê mới, bê anh chị năm trước vẫn thích tiếp xúc với mẹ của chúng

+ Giữa những bò tơ

Mức độ tiếp xúc của những bê con với những thành viên khác trong đàn tăng dần dầntheo tuổi và tương tự từ việc quan sát giữa những con trưởng thành Tuy nhiên, chúngkhá hiền lành trước 2 tháng tuổi Những hành vi như tấn công xảy ra ngay ở tuần thứ 2sau khi sinh, được miêu tả như ‘đánh nhau giả’ Chúng bắt đầu bằng sự gạ gẫm từ mộtcon trong nhóm và kết thúc một cách đột ngột mà không có kết quả cụ thể cho cả hai.Trong vài tháng đầu, bê cái tham gia vào trò chơi đánh nhau hơn là bê đực Nhưng sau 6

Trang 36

tháng tuổi thì những con đực tham gia nhiều hơn và cũng thu hút những con khác hơn.Những trận đánh nhau giả đi cùng với việc chạy nhảy hoặc leo trèo lên nhau Nhữngdạng vui đùa khác của bê là nhảy nhót, nhảy chụm 4 chân, đá hậu, nhảy cỡn lên, kêurống, lắc đầu, húc và cào

Sau khi sinh 1 tháng, bê đực và bê cái có mối quan hệ tượng tự với mẹ cũng như vớicác thành viên khác trong đàn Tuy nhiên, bê đực 10 tháng tuổi có nhiều sự tiếp xúc hơnvới những con bê khác, đặc biệt là với những con bê đực khác và với những con bò cáikhác Những con bê đực dần hình thành một nhóm đực nhỏ Trong khi đó, những con bêcái cùng tuổi vẫn duy trì mối quan hệ gần gũi với mẹ

3.5.2 Tập tính xã hội trong điều kiện sản xuất

- Các nhóm bò

Bò được nuôi khắp trên thế giới theo những hệ thống quản lí rất khác nhau Ở cácnước đang phát triển bò gắn liền với các vùng nông thôn Người chăn nuôi chủ yếu đichăn thả bò và trông chúng Ở những nước phát triển có hai phương thức quản lý chính

Ở những đàn sinh sản, bò mẹ nuôi bê từ 4-9 tháng Trong suốt mùa hè bò mẹ cùng bêkiếm ăn trên đồng cỏ và có một con đực trong đàn Khi không được sử dụng để phốigiống những con đực được tập trung lại với nhau sau khi cai sữa trong các nhóm vỗ béohoặc tại những địa điểm vỗ béo Ngược lại, ở vùng chăn nuôi bò sữa hiện đại, bê conđược tách mẹ ngay sau khi sinh, sau 3 ngày tuổi Bê sữa cái được nuôi nhân tạo và táchnhóm riêng cho đến khi thành những bê cái tơ Những con bê đực có thể được sử dụng đểnuôi thịt trong những nhóm vỗ béo Những nhóm bò cái sữa được tách riêng dựa trên khảnăng sản xuất cũng như trạng thái sinh lý của chúng (tiết sữa, cạn sữa) Thu tinh nhân tạo

+ Những tương tác của quần thể

Những tương tác của quần thể có thể được phân chia cẩn thận theo tập tính của bò.Một vài kiểu hung hăng có thể được thấy ở bò theo những cử chỉ nhất định, từ cách lúclắc đầu tới những hình thức phức tạp hơn

Thái độ đe dọa này là thái độ nước đôi và có thể thể hiện xu hướng tấn công hoặc rútchạy Nếu con bò không chú ý đến mối nguy hiểm, chúng sẽ húc Một cú húc là khichúng lao đầu thẳng vào phía đối diện có thể gây ra vết thương nghiêm trọng cho nạnnhân, đặc biệt là nếu chúng còn sừng Tuy nhiên, khi mối quan hệ trong bầy đàn đượcthiết lập tốt, những con gây hấn làm cho những con bị de dọa lùi hoặc tránh Sự tháochạy đi kèm với những cử chỉ thể hiện sự quy phục với đầu thấp xuống

Những phản ứng rút chạy hoặc né tránh đi cùng với sự giận giữ, tuy nhiên trong mộtbầy có mối quan hệ tốt, tất cả các tập tính này xảy ra mà không hề gây ra sự tức giận đốivới những con vật đó

Trước khi xây dựng được sự thống trị trong các mối quan hệ bầy đàn, con đe dọa cóthể lại bị đe dọa ngược lại từ những con khác Trong trường hợp bị đe dọa lại bởi nhữngcon khác, việc hai con đánh nhau là điều khó tránh khỏi Chúng dùng đầu húc nhau vàhúc vào sườn hoặc hông hơn là việc tấn công trực tiếp Thời gian của những trận đánhthay đổi khác nhau, từ vài giây đến vài giờ Tuy nhiên, hầu hết trận đánh diễn ra trongthời gian ngắn: 80% kéo dài dưới một phút

+ Sự lãnh đạo

Trang 37

Sự lãnh đạo là khả năng ảnh hưởng của một cá thể tới các hoạt động và sự di chuyểncủa những con khác trong nhóm của nó Tất cả những con trong đàn chăn thả thể hiệnmối quan hệ lãnh đạo – phục tùng phụ thuộc vào những điều kiện nhất định Sự lãnh đạo

có thể được xác định như ‘tính bầy đàn’ liên quan đến việc kiểm soát sự hung hăng và sự

vị tha như việc bảo vệ những thành viên khác khi cả đàn đối mặt với nguy hiểm, hoặc về

‘không gian’ liên quan đến sự di chuyển của đàn

Con đầu đàn thường là những con đi đầu khi cả đàn di chuyển Tuy nhiên, trong thực

tế, những con chịu trách nhiệm cho việc di chuyển của đàn có thể đi sau cùng của đàn, do

đó thúc đẩy những con khác Khả năng thúc đẩy có mối tương quan với địa vị thống trị,trong khi đó khả năng để kích thích những con khác tuân theo hoặc để chúng làm theoliên quan đến sự cuốn hút bầy đàn

+ Mối quan hệ về địa vị

Mối quan hệ địa vị ở bò đã được nghiên cứu rộng rãi Ở những loài móng guốc hoang

dã, những con non hòa nhập vào trong cấu trúc bầy đàn dựa vào một phần lứa tuổi và địa

vị của mẹ chúng trong đàn Trật tự bầy đàn có thể được thiết lập ở độ tuổi rất sớm, phụthuộc vào kinh nghiệm của bò và điều kiện bầy đàn Những bê được nuôi theo mẹ hìnhthành nên mối quan hệ địa vị từ khi còn rất nhỏ so với những con nuôi nhân tạo (trungbình 4-5 tháng so với 9 tháng) Sự hình thành trật tự giữa những con vật quen thuộc nhauthường xuất hiện từ lúc bắt đầu động dục, khi có nhiều những mối tương tác trong bầy.Những con lạ nhau, những bò tơ 6 tuổi có thể thiết lập mối quan hệ về địa vị một cách ổnđịnh và rõ ràng

Trong điều kiện tự nhiên, sự tham gia của những cá thể mới vào đàn là khá hiếm vớiđàn cái, nhưng lại là phổ biến ở đàn được nuôi bởi con người Điểm nổi bật nhất đó làmối quan hệ địa vị được thành lập một cách nhanh chóng, hầu hết là không có đánh nhau,

và không có va chạm về mặt cơ thể Kinh nghiệm bầy đàn có ảnh hưởng lớn đến tốc độ

và cách thức mà mối quan hệ địa vị hình thành Những con đã trải qua việc tiếp xúc ítđánh nhau hơn, thành lập địa vị nhanh hơn và ổn định hơn

Mối quan hệ địa vị giữa những con cái trưởng thành rất ổn định và có thể tồn tạinhiều năm Dù động dục, bị cắt buồng trứng hay chửa đẻ không làm thay đổi trật tự này.Khi sự đảo lộn xảy ra, chúng diễn ra đột ngột Mối quan hệ địa vị kém ổn định hơn ởnhững con bò trẻ và giữa những con đực

Những trải nghiệm sớm, gồm cả những điều kiện nuôi dưỡng, ảnh hưởng tới thứ bậctrong đàn ở giai đoạn trưởng thành Nhóm bê được nuôi dưỡng cùng nhau có thứ bậc cao

hơn những con được nuôi đơn lẻ (Warnick et al.,1977) Những con bò tơ được nuôi tách

riêng để bán có vị trí thấp so với những con được nuôi cùng mẹ

Địa vị trong đàn của những con non không được quyết định bởi vị trí của mẹ chúng.Tính khí, gồm những phản ứng theo cảm xúc hoặc do việc sợ hãi, có thể là một nhân

tố quan trọng trong việc quyết định vị trí trong đàn Những con có vị trí cao trong đàn ít

bỏ chạy trước những con có vị trí cao hơn và những con bê có có khả năng đó cũng ít bỏchạy trước khi mối quan hệ đó được hình thành Những con lạ lần đầu gặp nhau, một sốcon bỏ chạy ngay khi nhận ra có con khác và hình thành vị trí thấp hơn Chính vì vậy, sự

sợ hãi đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành lên những mối quan hệ (Bouissou,1985) Trong một chuỗi những thí nghiệm nhằm thay đổi mối quan hệ thứ bậc trong mộtđàn cái ổn định hoặc những cá thể có tiềm năng ở địa vị cao (gồm cả những con bê vàcon trưởng thành) các tác giả đã chứng minh rằng khả năng có vị trí cao hơn trong đànbắt nguồn từ việc ít sợ những con cùng loại hơn và có phản ứng bình thường hơn nhữngcon khác

+ Những mối quan hệ thân thuộc

Trang 38

Ở bò, mối quan hệ thân thuộc bao gồm sự gần gũi về không gian, giảm sự gây hấn,xây dựng những tiếp xúc tích cực và bao dung trong những trường hợp cạnh tranh.Những mối quan hệ này có thể duy trì bền lâu trong nhiều năm giữa con mẹ và con con,thậm chí là những con không có mối quan hệ thân thuộc Những con sinh đôi thường thếhiện mối quan hệ rất gần gũi, cũng có thể thấy ở những con bê không có quan hệ gần gũinhưng được nuôi chung với nhau (Embank, 1967) Những con bò tơ được nuôi trongcùng nhóm từ lúc mới sinh sẽ không gây hấn với nhau, thay đổi những tương tác tựnhiên, thể hiện một phần trong quá trình ăn, nghỉ và khá dung thứ trong tình huống cạnhtranh thức ăn hơn là ở những con cái tơ trong cùng một đàn nhưng chúng không đượcnuôi cùng nhau Giai đoạn từ lúc sinh đến 6 tháng tuổi rất phù hợp để hình thành nhữngmối quan hệ ưu tiên này và có thể bị hạn chế bởi sự phát triển của mối quan hệ địa vị ởgiai đoạn thành thục sinh dục ở cái tơ Sự tồn tại của những mối quan hệ này là rất quantrọng về mặt kinh tế bởi vì nó làm giảm hậu quả không mong muốn của việc tồn tại mốiquan hệ trật tự đối với những con cấp dưới.

- Ảnh hưởng của cỡ nhóm và không gian hoạt động đến hoạt động bầy đàn

Mật độ đàn cao và những đàn kích cỡ lớn làm giảm công lao động và chi phí xâydựng Tuy nhiên, điều này làm thay đổi tập tính và sự sản xuất của bò Trong điều kiệnđông đúc, một cá thể không thể duy trì những khoảng cách cá nhân và buộc phải dichuyển xung quanh để tránh những con có uy quyền hơn Với bê con, có một mối tươngquan nghịch giữa hoạt động quen thuộc và không gian cho phép Ở bò cái sự hung hăngtrong đàn tăng lên do mật độ đàn đông Trong điều kiện đàn có kích cỡ quá lớn những cáthể riêng lẻ gặp khó khăn trong việc nhớ thứ bậc của mình, điều này dẫn đến nhữngtương tác hung hăng tăng lên

Hầu hết trong những môi trường này liên quan mật thiết với những phản ứng sinh lýdẫn đến việc chịu stress kéo dài Ví dụ: tốc độ sinh trưởng hàng ngày của cái tơ và bò đực

bị giảm đi khi chúng có không gian hoạt động hẹp

3.5.3 Tập tính xã hội quản lý và quyền động vật

Bò rất dễ thích nghi và phản ứng tốt với môi trường chăn nuôi hiện đại Tuy nhiên,khả năng thích ứng này có thể bị hạn chế

Ví dụ: sự hiện đại của chuồng nuôi và cách quản lí có thể gây ra những rối loạn trongđàn dẫn đến những vấn đề về hành vi, điều này ảnh hưởng đến khả năng sản xuất vàquyền bò Những trở ngại này ảnh hưởng ít hơn đối với những bò được chăn thả, mặc dùmối quan hệ bầy đàn giữa những thành viên trong đàn lớn có thể có những mối quan hệmật thiết về khả năng sản xuất Mặt khác, môi trường bầy đàn có ảnh hưởng tích cực đếnnhững đánh giá cá thể với môi trường thông qua việc học hỏi

- Ảnh hưởng của những cá thể trong đàn

Trong quá trình tiếp xúc với những stress, trong cùng đàn có thể có những con ít bịkích thích bởi những con khác Trong một môi trường mới, bò cái tơ ít sợ hãi khi chúnghòa nhập cùng những con khác trong đàn hơn là khi chúng phải ở một mình Bò khôngchỉ quan tâm đến sự xuất hiện của những con khác mà còn đến những trạng thái củachúng Những ảnh hưởng bầy đàn có thể gián tiếp thông qua những tín hiệu từ khứu giáckhi nhận biết mùi nước tiểu

Việc ăn cỏ với những con có kinh nghiệm làm giảm khả năng ăn thức ăn có độc và

dễ dàng chấp nhận những thức ăn mới nhờ những con bản địa, bò học cách tránh một loạithức ăn gây hại nhờ việc quan sát những con khác Những chú bê đã được học trước đó

để tránh ăn một loại cây gây hại đã ăn chính những cây này khi chơi cùng những conkhác chưa có kinh nghiệm và thấy chúng ăn loại cây đó Những con trong cùng bầy cũng

có thể ảnh hưởng đến các phương thức phân bố đàn khi chăn thả tự do trên đồng cỏ

Trang 39

- Việc tạo nhóm bò

Lập nhóm những hoạt động bình thường trong chăn nuôi bò thịt và bò sữa Sự ảnhhưởng lẫn nhau tăng lên hơn 10 lần có thể được thấy trong suốt quá trình lập nhóm Rấtnhiều nghiên cứu về những ảnh hưởng sinh lí và tập tính về những thay đổi lặp lại trongđàn có thể gây ra những stress trong đàn ở bò sữa và những con bò sữa dùng dể nuôi thịt.Việc chuyển những con bò sữa lạ vào một đàn ổn định ảnh hưởng đến khối lượng sinhtrưởng trung bình cả toàn đàn

- Vấn đề tách đàn

+ Nuôi riêng lẻ

Việc phân tách sớm có thể ảnh hưởng lớn đến khả năng phản ứng và những tập tínhbầy đàn sau đó của bê Những bê thịt được nuôi riêng trong từng chuồng rất dễ trở nên sợhãi và các phản ứng rất nhạy cảm càng tăng lên khi chúng bị cô lập hoàn toàn

Các bê sữa được nuôi riêng đạt khối lượng thấp hơn so với những con được nuôi theonhóm Ngược lại, không có ảnh hưởng tiêu cực về việc nuôi tách biệt bê đến năng suấtsữa khi chúng thành bò sữa

+Tách mẹ lúc cai sữa

Việc cai sữa sẽ gây ảnh hưởng đến bê Tại thời điểm cai sữa, bê chỉ nhận một phầnnhỏ năng lượng từ sữa mẹ Vì vậy, những tác nhân gây stress do việc cai sữa là kết quảcủa sự phân tách Những bê cố găng bù đắp sự thiếu vắng những con thân thuộc bằngviệc củng cố mối quan hệ với những con cùng lứa Sự bù đắp này có hiệu quả 3 tuần saucai sữa bởi vì thời điểm này bê thích những con bê khác hơn mẹ của chúng Sự cai sữa cóthể được người chăn nuôi sử dụng để nuôi thích nghi con vật trong môi trường mới và đểđạt được kết quả như mong muốn Giai đoạn tiền cai sữa cần tạo thân thiện giữa bê vớingười chăn nuôi sau này

+ Sự phân tách tạm thời từ nhóm bò ở giai đoạn trưởng thành

Ở những bò trưởng thành, sự tách đàn tạm thời từ nhóm thân thuộc gây ra sự vậnđộng tăng lên ở mức trung bình, tăng nhịp tim Bò tơ Holstein ít bị khó chịu bởi sự phântách từ nhóm của chúng và trở nên thích nghi tốt hơn từ những hoạt động chăn nuôi, nhưviệc đến máng ăn tự động hoặc khu vắt sữa

- Những vấn đề liên quan đến thứ bậc

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những con bò có ảnh hưởng lớn nhận những ưuthế trong việc cạnh tranh do nguồn thức ăn giảm hoặc trong trường hợp nhận thức ăn Vịtrí của máng ăn là không ngẫu nhiên bởi một số bò đã cố định một số vị trí mà chúngthích Điều này có thể rất quan trọng trong trường hợp phân phối thức ăn không đều.Những quan hệ bầy đàn ảnh hưởng đến vị trí ăn: càng có sự khác biệt lớn trong thứ bậc,càng có sự phân cấp ở bò Càng có sự cạnh tranh (sự giảm ở chiều dài của máng) càng cómối tương quan mạnh giữa lượng thức ăn ăn vào và giá trị trật tự trong đàn (Friend et al.,1997) Thậm chí khi nguồn thức ăn luôn ổn định và những con cái chỉ ăn vào buổi tối, thìnhững con có thứ bậc thấp vẫn ăn và tăng cân kém hơn những con khác cùng đàn Việcchia máng ăn có tấm ngăn làm giảm sự ảnh hưởng của sự thống trị đến thói quen ănuống

Vị trí trong đàn ảnh hưởng tới không gian nghỉ ngơi vì những con có vị trí caothường chiếm nhiều không gian hơn

Khi một số con đực được nuôi cùng với một số con cái hoặc những con động dụckém, những con đực có thứ bậc cao cản trở sự cuốn hút của những con đực có thứ hạngkém hơn nó (de Blockey, 1978)

- Những tập tính không bình thường

+ Hung hăng với con người

Trang 40

Những con đực trưởng thành có thể có phản ứng tức giận trực tiếp với người chămsóc Những bò đực sữa nguy hiểm hơn những con bò đực thịt có thể là do chúng sớmđược nuôi tách riêng và bị ngăn cản sự phát triển thói quen bầy đàn Bò cái sữa có thể trởnên hung hăng khi chúng đi cùng con mình.

+ Tính dục không bình thường

Ham muốn tính dục quá mức có thể thấy ở một số con đực và cái Sự cuồng dâmđược quan sát ở những con cái có u nang buồng trứng sinh ra oestrogens Chúng có thểđược điều trị bằng việc cắt bỏ u nang hoặc dùng hormone

+ Những tập tính không bình thường do môi trường bầy đàn

Bò được nuôi ở những điều kiện tập trung có thể có những thói quen được xem làkhông bình thường, như bú lẫn nhau, cọ vào những con khác hoặc liếm Bú lẫn nhau (vàomiệng, tai, bìu, bao quy đầu của con cùng nhóm) thường xảy ra sau khi ăn sữa ở nhữngcon bê được cho ăn bằng máng Bú bao quy đầu có thể dẫn đến việc uống phải nước tiểu

và gây viêm vùng đầu bao Mùi vị của sữa được xem là nguyên nhân gây ra việc này vàviệc bú này giảm đi khi bê được cho ăn bằng vú nhân tạo Việc bú trực tiếp vào bầu vú cóthể xảy ra ở những con cái trưởng thành và điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của bầu vú

Sự tách đàn có thể làm tăng thói liếm miệng Những con bê bị tách mẹ giành nhiềuthời gian để liếm láp hơn những con có thể tiếp xúc với những con bên cạnh Những con

bê được nuôi riêng trong chuồng giành nhiều thời gian liếm láp hơn là những con đượcnuôi theo nhóm

Hoạt động chăn nuôi hiện đại tạo ra những hạn chế quan trọng đến môi trường nhưmôi trường bầy đàn Những hạn chế này ít quan trọng hơn ở những đàn đang bú sữa nơi

mà bê con sống cùng mẹ trong vài tháng và mối quan hệ bầy đàn dần phát triển Tuynhiên, trong môi trường này, bê được chủ động cai sữa và tạo nhóm theo giới tính và lứatuổi Môi trường bầy đàn ở bò sữa là rất khác từ việc chăn thả cho tới việc thả tự do Đặcbiệt, những con bê được tách mẹ từ sớm, được cai sữa và nuôi trong nhóm bê cùng giớitính

Trong điều kiện chăn nuôi chuyên nghiệp, vai trò của thứ bậc tăng lên và chúng sớmđóng vai trò quan trọng trong việc quy định cuộc sống bầy đàn trong khi đó mối quan hệthân thuộc trở nên ít quan trọng hơn Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên (tự do chăn thả)hai mối quan hệ này đều quan trọng như nhau Điều kiện môi trường có thể quy định sựphát triển của mối quan hệ bầy đàn và phụ thuộc vào từng hoàn cảnh

Mối quan hệ bầy đàn không chỉ có những ảnh hưởng tiêu cực, mà còn có thể được sửdụng như một công cụ nhằm nâng cao sự thích nghi của bò với môi trường thông quaviệc tạo điều kiện thuận lợi cho đàn, sự bắt chước, sự truyền thông tin, sự lãnh đạo Vìvậy, việc huấn luyện một số con đầu đàn có thể sẽ mang lại lợi ích cho toàn đàn Khảnăng điều chỉnh những tác động của áp lực bầy đàn về mối quan hệ thân cận tạo ra trongquá trình phát sinh cá thể, cùng với việc giảm ảnh hưởng của stress từ những con cùngđàn, có thể mang đến những mặt hữu ích đối với việc thay đổi từ môi trường bầy đàn

3.5.4 Các tập tính không bình thường

Tập tính không bình thường được định nghĩa là một hành động không mong muốnkéo dài, biểu hiện ở một số nhỏ động vật trong quần thể, không phải do những thươngtổn thần kinh rõ ràng nào cả và không hạn chế ở nơi mà các tập tính này xuất hiện Cáctập tính không bình thường này không đồng nhất vì khác nhau về nguyên nhân, chứcnăng và phương pháp đánh giá Tuy nhiên, các tập tính không bình thường chung nhấttheo các chuyên gia là cắn tai ở lợn, mổ lông ở gà, ăn thịt nhau ở cả hai loài này, cuốnlưỡi và uống nước tiểu ở bê nuôi trong nhà theo nhóm, rút lông ở cừu

Bảng 3 Các tập tính không bình thường ở vật nuôi (Wiepkema et al., 19830)

Ngày đăng: 13/04/2017, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Vũ Chí Cương (2013). Bài giảng tập tính và quyền động vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tập tính và quyền động vật
Tác giả: PGS.TS. Vũ Chí Cương
Năm: 2013
2. Tổ chức bảo vệ động vật thế giới (2012). Animal Welface Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal Welface
Tác giả: Tổ chức bảo vệ động vật thế giới
Năm: 2012
3. Lê Vũ Khôi, Lê Nguyên Nhật (2012). Giáo trình tập tính học động vật. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tập tính học động vật
Tác giả: Lê Vũ Khôi, Lê Nguyên Nhật
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
4. GS.TS. Nguyễn Thiện, GS.TS. Trần Đình Miên, TS. Nguyễn Đức Trọng, TS. Phùng Đức Tiến (2012). Tập tính vật nuôi và nuôi dưỡng theo tập tính. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tính vật nuôi và nuôi dưỡng theo tập tính
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thiện, GS.TS. Trần Đình Miên, TS. Nguyễn Đức Trọng, TS. Phùng Đức Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2012
5.Manning A. and Dawkins M. S., (1992). An introduction to Animal Behaviour. 4th edition, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to Animal Behaviour
Tác giả: Manning A., Dawkins M. S
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 1992
7.Snowdon C. T., (1983). Ethology, Comparative Psychology, and Animal Behaviour.Ann. Rev. Psychol. 1983, 34: 63 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethology, Comparative Psychology, and Animal Behaviour
Tác giả: Snowdon C. T
Nhà XB: Ann. Rev. Psychol.
Năm: 1983
9. McGlone JJ, B.E.Newby (1994) Space requirements for finishing pigs in confinement:behaviour and performance while group size and space vary. Applied Animal Behaviour Science 39, 331-338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applied Animal BehaviourScience
6. Price E.O., 1984. Behaviour aspect of animal domestication. The Quarterly Review of Biology. No. 1. Vol. 59. 33pp. Stonny Brook Foundation Khác
8. Gonyou H.W., (2003). Sorting Pig: Why We Do it, and Why We Shouldn’t.Publication 0403-03 Khác
w