hùng, Hồ Khắc Tín, Trong quá trình biên Soạn giáo trình không thể tránh khỏi một số thiếu sót bề hình thức và nội dung, đối với phần chuyên khoa, giáo trình chưa dé cập được hết các loà
Trang 1BO GIAO ĐỤC VÀ ĐÀO TẠO
T RƯỜNG ĐẠI HỌC: NÔNG NGHIỆP 1z HÀ NỘI
| CÔN TRÙNG ĐẠI CƯƠNG
(Dạy cho Đại hoc, Cao ding chuyén nganh BYTY)
« 4N
Trang 3CHƯƠNG MỞ ĐẦU
“Trước nhụ cầu cần thiết phải có một giáo trình chính thức để dùng
cho các trường Đại học nông nghiệp trong cả nước, chúng tôi biên soạn
.“Giáo trình côn trùng nông nghiệp” nhằm phục vụ sinh biên ngành trồng
trọt, kinh tế, đâu tằm của các trường Đại học nông nghiệp
Giáo trình Côn trùng nông nghiệp gồm hai phần và gầu 300 hình vẽ
Phần côn trùng đại cương nêu lên những nét đại cương về cấu tạo
bên ngoài, bên trong của côn trùng Quá trình phát triển cả thể và quy luật
_ diễn biến của côn trùng đưới tác động của những điều kiện ngoại cảnh Hệ
thống phân loại côn trùng trong thang tiến hoá của sinh giới Phần côn
trùng đại cương gồm 5 chương:
Mở đầu
Chương I: Hình thái học côn trùng
Chương II: Sinh lý giải phẫu côn trùng
Chương HÍ: Sinh vật học côn trùng
Chương EV: Sinh thái học cộn trùng
Chương V: Phân loại côn trùng
Phần chuyên khoa nêu lên những đặc điểm hình thái, sinh học, quy
tuật điễn biến của một số loài sâu hại thường gặp phá hại cây trồng nông
nghiệp và biện pháp phòng trừ chung
_ Phần côn trùng chuyên khoa gồm:
Chương VỊ: Nguyên lý và phương pháp phòng trừ sâu hại
Chương VIT: Sâu hại cây lương thực, thực phẩm
Chương VIH: Sâu hại cây công nghiệp
Chương IX: Sâu hại cây ăn quả
Tập 1: Từ Mỡ đầu, chương ï đếu chương 'V
Tập II: Từ chương VỊ đến chương ÏX
nh ị
Trang 4
Các đồng chí được phân công viết các chương mục như sau:
Hồ Khắc Tín: Mở dâu, chương I, chương HI, chương V, chuong VIL
Nguyễn Tự Khái: Chương II, sâu hại chuối
Nguyễn Viết Tùng: Chương IV, chương VI, sâu hại khoai lang, sâu
Nguyễn Thị Tâm Thụ: Chương IV, Nguyễn Công Thuật: Sâu hại ngô, sâu hại khoai tây
Nguyễn Đức Khiêm: Sau hai rau
Ha Hing: Sau hại lạc
Dương Minh Lệ: Sâu hại đã tương, đay, bông, thuốc lá,
Lê Xuân Thiện: Sau hai day
Nguyễn Thiéng: Sau hai mia, sau hại cà phê
- Nguyễn Khắc Tiến: sâu hại chè ` Trần Duy Nga: sâu hại cam
Toàn bộ tranh vẽ do đồng chí Hà Hùng vẽ với sự cộng tác của đồng
chí Nguyễn Viết hùng, Hồ Khắc Tín,
Trong quá trình biên Soạn giáo trình không thể tránh khỏi một số thiếu sót bề hình thức và nội dung, đối với phần chuyên khoa, giáo trình
chưa dé cập được hết các loài sâu hại trên cây trồng ở các tỉnh phía nam
Chúng tôi rất inong được các đồng chí và các bạn đóng góp nhiều ý kiến
Xây dựng cho giáo trình: côn trùng nông nghiệp ngày càng hoàn thiện
Tập thể tác giả
Trang 5
MO ĐẦU
KHÁI NIỆM VỀ CÔN TRÙNG HỌC
Côn trùng và nhện là những đối tượng chính của ngành côn trùng nông ,
nghiệp bởi vì chúng là những dịch hại cây trồng và là môi giới truyền bệnh
chơ người, động vật và thực vật (Wysoky, 1996)
Ngay.! nay Cén trùng học là một môn khoa học sinh vật chuyên nghiên cứu
về những côn trằng trọng mối liên hệ với các lĩnh vực trong cuộc sống
hàng: ngày của- 'chúng ta như nhân khẩu học, môi trường, giao thông, thương mại, du lịch, san xuất lương thực, sức khoẻ cộng đồng ( Wysoky,
1996) Điều này có nghĩa là côn trùng học ngày nay cần giải quyết những
vấn đề liên quan tới cuộc Sống con người, có thể do con người gây nên, có
thể do bản thân cồn trù ủng gây ra trong qúa trình tiến hoá hoặc do cơ chế bảo vệ của chúng tạo nên
Côn trùng là những động vật thuộc ngành chân có đốt (tiết túc, Arthropoda) có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Cơ thể chia ra ba phần: đầu, ngực, bụng
+ Trên đầu có một đôi râu đầu, miệng, một đôi mắt kép, có 2-3 mắt đơn hoặc không cổ mắt đơn
+ Ngực chia ba đốt, mỗi đốt mang đôi châu (vì thế còn gọi là lớp
sáu chân - Hexapoda) Thời kỳ sâu trưởng thành có hai đôi cánh (có loại
chỉ có một đôi hoặc hoàn toàn thoái hoá), không có chân bung
+ Lỗ sinh dục và hậu môn ở phía cuối bụng
+ Hô hấp bằng hệ thống khí quản
+ Trong quá trình sinh trưởng có biến thái bên trong và bên ngoai
Trong hé théng phan loại động vật nói chung và ngành động vật
chân có- đốt nói riêng thì côn trùng được xếp vào ngành phụ khí quản
(Tracheata) Về nguồn gốc tổ tiên của côn trùng có nhiều ý kiến khiếác
;
a
Trang 6
(Palacodictyoptera) là từ lớp tam diệp (Tribolita) tiến hoá trực tiếp lên
Nhận định nàY nhiêu học giả côn trùng không thiếp thu và họ đã cho rằng?
côn trùng lớp phụ không cánh (Apterygota) là từ lớp phụ có cánh (Pterygota) tiến hoá thành
Hancea, Carpenter, Crampton, nhận định rằng côn trùng là từ lớp giáp xác (Crustacea) tiến hoá lên Thuyết nầy cho đến đầu thế ky KX van thịnh hành, nhưng gần đây thuyết này đã không chứng mính được nguyên nhân của sự khác nhau về hệ thống cơ quan bên trong của lớp giáp xác và lớp côn trùng chơ nên không được nhiều người đồng ý
Brauer, Packard, Tillygard, Imms cho rằng côn trùng bắt nguồn từ lớp đa túc (Myriapoda) Nhiều ý kiến còn phần tích rõ côn tring | báDDDDHBDDDDñDDũũBũBpDũnnnnpnpnnnannng DHDDDDöTHDDDDDDDDDäDöñDññännñũnnnnqnnnnngnn HQDDDDDBDDDDDDRBDñIDBDBDũ0BD0DD8Dönnnnnn
1 nặng nhất ở Đức, trước chiến tranh, hang năm thường bị động vật
đODDDDDTRDD3DŨBñ1DñnDnHUũñänDnDnnpnnnnnnnnng DRDDDDDHDDIDDTEĐ3DDñDHDñfñ3öäGä-nqnDD UODDDDBDũñ b0o5000005fo0000000000000000000000000n0
QOUQOO0ROOOEn), rau 2 tỷ (23,4 triệu tấn), cây ăn quả 1,2 tỷ (11,3
từ 950-1000 nghìn loài (Researche, 2000) Trong số-này có khoảng gần
Trang 710% 1a tring tén Tuy nhién, Terry erwin (1982) d& inanh dan ude tinh
téng số loài côn tràng trên trái đát là 30 triệu loài Hàng năm, người ta còn
tiếp tục mô tả thêm được hàng trăm loài côn trùng mới Không chỉ nhiều
về số loài mà ngay trong l loài số lượng cá thể của chúng cũng vô cùng
lớn
Thí dụ, một tổ kiến giống Atlas có tới 50 vạn con, một tổ ong lớn có
thể có 6-8 vạn con.“Số lượng cá thể đạt tới những con số to lớn khủng
khiếp khi loài côn trùng đó phát sinh thành dịch và di chuyển thành đàn
Thí dụ, ở Trưng Quốc, nam 1941 đã xảy ra nạn dịch châu chấu Số liệu
thống kê của 10 huyện đã tiêu diệt được 9.I75.000 kg châu chấu Nếu giả
thiết tính toán rằng cứ mỗi quả trứng của châu chấu và mỗi con châu chấu
non đều trở thành châu chấu trưởng thành thì số lượng châu chấu có thể
đạt trên 12 tỷ con Nan dich chau chau tương tự cũng đã xảy ra ở Ai Cập,
Tây Ban Nha, IA X5: Với số lượng khổng lồ như vậy, chúng có thể bay
che khuất ánh mặt Hời, thậm chí cẩn trở giao thông đường thuỷ, đường bộ,
hàng không và gây ra tác hại nghiêm trọng đối với cây trồng Ở nước ta đã
có những năm xảy ra dịch sâu cắn giế, sâu keo, sâu khoang, bọ rầy, bọ xít,
bọ que,.v.v với mật độ sâu từ 400-1000 con/m? Vụ mùa năm 2001, sâu
cuốn lá nhỏ đã phát sinh rất mạnh có nơi đạt mật độ L000-1:500 cop/m2
_ Côn trùng phân bố rộng khắp mọi nơi trên trái đất, từ dưới đất cho
tới không trung, từ biển cả, sông ngòi, ao hồ cho đến sa mạc, núi rừng
Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như độ nhiệt thấp - 50°C hoặc độ
nhiệt cao +40°Œ vẫn có côn trùng phân bố và sinh sống, thạm chí trong
đầu mỏ cũng có côn trùng như loài ruổi nước (Psilopia petrolet) sinh
sống Có thể néi khérig noi nao khéng cé cén tring
Ở các miền nhiệt đới ẩm, nơi mà cây cối bốn mùa xanh tươi, thức
ăn phong phú, khí hậu thích hợp thường có nhiều loài côn trùng sinh sống
- Và số lượng cá thể trong Í loài cũng rất cao Thí dụ, ở Braxin côn trùng
„ thuộc họ ngài trời (Sphinghidae) có 90 loài, tronglhi đó ở châu Âu có 30 :
loài
Trang 8
Sở dĩ côn trùng có số lượng loài và cá thể nhiều, đồng thời phân bộ
rộng là do bẩn thân côn trùng có những đặc điểm cơ bản tưu thế hơn sơ với
các loài động vật khác như sau:
+ Cơ thể được bao bọc bằng một lớp da có cấu tạo phức tạp, có chức năng bảo vệ, làm cho chúng dễ thích nghi với điều kiện bất lợi của ngoại
+ Côn trùng có thể bay được, thé-hién ưu thế về tốc độ so với động vật khác, nhờ đó mà phân bố rộng, kiếm ăn, giao phối, trốn tránh kẻ thù có
hiệu quả hơn Trong động vật không xương sống, chỉ riêng côn trùng có
đặc điểm như vậy
+ Do cơ thể bé nhỏ nên côn trùng có thể sinh sống ẩn náu ở mọi nơi
mà động vật có xương sống cơ thể to lớn không thể tới gần hoặc Ẩn náu
Mặt khác do cơ thể bé nhỏ cho nên cồn trùng với một lượng thức ăn rất ít
cũng đủ nuôi sống chúng để sinh sôi nảy nở sang thế hệ sau Thí dụ, một
hật gạo có thể cung cấp đủ thức ăn cho vài con mọt gạo (Sitophilus
oryzae) sinh sống
+ Sức sinh sản của côn trùng khá nhanh và mạnh Nói chung loài côn trùng nào thời gian hoàn thành một thế hệ tương đối ngắn thì đồng
thời sức sinh sản mạnh Theo Perkins, một cặp bọ rầy trong một năm sinh
sản 6 lứa được 500 triệu con, hoặc 1 mối chúa (Äacroterines siluestri) mỗi
ngày đẻ 2949 quả trứng Mỗi con mối chúa có thể sống từ vài năm đến 19
năm, hoặc một cặp ruồi trong vụ xuân hè có thể sinh sản được 500 ngàn
triệu con
+ Sức sống và tính thích nghỉ mạnh Căn cứ vào kết quả khảo sát của địa chất học cho thấy rằng lịch sử của côn trùng xuất hiện trên trái đất
ít nhất đã qua 340 triệu năm Chỉ nhờ sức sống và khả năng thich nghi
mạnh mẽ côn trầng mới có thể vượt qua được những đợt khủng hoảng ghê
-gớm của môi trường, trong khi đó vô vàn các loài động thực vật bị tuyệt,
ching
Trang 9Như trên đã để cập, mặc dù số lượng côn trùng nhiều nhưng thực ra
số loài sâu hại chỉ chiếm !0% và các loài sâu hại nghiêm trọng chiếm khong qua 1% trong tổng số các loài côn trùng
Thí dụ, ở Mỹ trong 100 nghìn loài sâu được phát hiện, có 1Ô nghìn loài được xếp là sâu hại nhưng hiện nay chỉ có 100 loài là sâu hại quan trọng Trong số 100 loài này cũng chỉ có 20 loài là sâu hại ngay hiểm Ở 1⁄24 ‘Liew Xo, trong 8000 loài sâu hại có 20-22 loài là sâu hại nguy hiểm đối với nông 0 ghiệp
Côn trùng đóng vai “trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất, tạo thêm độ mầu mỡ cho đất, tăng tính bền vững cho hệ sinh thái, tạo,
ra nhiều loại sản phẩm có giá trị Vai trò đặc biệt quan trong của côn
- Vai trò của côn trùng về mặt kinh tế một trường bao gồm:
1 Lợi ích của côn trùng Hạn chế và tiêu điệt côn trùng hại Trong quá trình đấu tranh sinh tồn của côn trùng với sinh vật khác nói chung và côn trùng hai nói riêng, nhiều loài côn trùng có ích đã tô ra có vai trò giúp ích đắc lực cho con người Trong quần thể côn trùng nói chung thường tổn tại nhiều loài côn trằng chuyên đi săn bất hay ký sinh các côn trùng khác Những loài này được gọi là thiên địch hay kẻ thà tự nhiên của sâu hại Nhờ sự hiểu biết này mà từ lâu ông cha ta đã sử dụng “sâu diệt sâu” như dùng tố kiến để trừ sâu hại cây ăn quả Ví dụ kinh điển về việc nhập nội 1 loài côn trùng
có ích để tiêu diệt sâu hại là ở Mỹ, từ cuối thế kỷ XIX đã nhập một loài
bo ria (Redolia cardinalis) để diệt trừ rệp sap hai cam (/cerya purchasi)
trong nước Hiện nay biện pháp dùng côn trùng điệt trừ côn trùng đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu rộng và là thành tố rất quan trọng trong
Đấu tranh sinh học (Biological control) sâu hai Kết thúc thiên niên ký
thứ 2 đã có trên 220 ví dụ thành công ở 60 nước đối với L10 loài sâu hại
nguy hiểm (Wilson, 1970), 216 trường hợp có hiệu quả sử dụng 393 loài
ký sinh (Driesche & Bellows, 1996)
Trang 10
- Truyén thy phan hoa tang nang suat cây trồng Các giống cây chỉ có 5%
tự thụ, 10% nhờ gió làm môi giới, còn 85% là nhờ côn trùng như các loài ong, bướm, ruồi thụ phấn Nghiên cứu chỉ ra rằng, sử dụng ong mật thụ phấn hoa có thể nâng cao được sản lượng, cải tạo được giống và nâng cao sức sống-cho cây trồng đời sau trên đồng ruộng và vườn cây ăn
Sản sinh ra nhiều sản phẩm quí giá như làm được liệu, sản phẩm cao cấp trong may mặc, trong các ngành công nghiệp chuyên dụng Có tới trên
30 loài cho sản phẩm làm thuốc Chất trong châm độc của ong mật dùng -
để điều trị bệnh thấp khớp Trong đại chiến thế giới lần thứ I,người ta đã dùng giồi của ruồi xanh (Lucilia sericuta và Phormia regina) để trị các vết thương thối rữa Chất Cantharidin là một chất tổng hợp được phỏng chế theo chất nội tiết của côn trùng được dùng để trị bệnh tiểu tiện và kích thích cơ quan sinh dục
- Mật ong, sữa ong chúa là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng khá cao Chính vì vậy mà hầu hết các nước đều phát triển nghề nuôi ong
Hiện nay trên thế giới có khoảng 50 triệu đàn ong và sản lượng mật đạt tới 600.000 t/năm Nước sản xuất mật ong nhiều nhất là Liên xô (200.000 năm) Năng suất một cao (15-40 kslđànnăm) ở các nước Úc, Mỹ, Canada, Achemina Nước nhập số lượng mật ong nhiều nhất là Tây Đức (48.000 thăm) Ngoài ra một số loài côn trùng có thể cung cấp chất đạm, lipit cho người, thí dụ nhộng tằm, châu chấu, dế hoặc cho hương liệu gia
Trang 11Cánh kiến là sản phẩm do loài rệp sáp ( Laccifer) tạo ra Chất cánh
kiến này được dùng nhiều trong công nghiệp chế tạo vecni, sơn đầu, mực
in, chất cách điện
- Tạo chất dinh dưỡng cho cây cối Phần lớn côn trùng có: vai trò to
lớn.trong sự tuần hoàn vật chất, Chúng có thể phân hoá các chất: muc nat
của động thực vật phối hợp với sự hoạt động của vi sinh v vật tạo ra các chất
dinh dưỡng cung cấp cho cây ,
‘- Cung cấp tài liệu cho các môn khoa học khác Một số loài côn
tring nhw rudi dam (Drosophila) duoc sit dụng trong việc nghiên cứu di
trưyền học, hoặc việc nghiên cứu khu hệ côn trùng phân bố trên các vùng
địa lý đất đai khác nhau có thể giúp ích cho các nhà thổ nhưỡng địa chất
làm tài liệu chỉ thị sinh học,
2 Tác hại của côn trùng
- Đối với cây trồng:
Theo số liệu thống kê của FAO (1954) cho biết, những mất mát về
lương thực hàng năm do sâu bệnh phá hại trên thế giới là 83 triệu tấn
(trong đó trên đồng ruộng khoảng 6% tổng sản lượng, trong kho tàng
khoảng 10% tổng sản lượng) Với số lượng lương thực và thực phẩm mất
mắt kể trên có thể nuôi sống 400 triệu người trong một năm
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp đối ngoại Mỹ công bố năm 1954
về những mất mát đo các yếu tố trung bình là 8,3 tỷ đôla, trong đó có 2,0
tỷ đôla mất đi do sâu hại
Theo Lebedep (1919) cho biết, ở Liên Xô dưới thời ky Nga hoàng
thiệt hại hằng năm do côn trùng gây ra mất tới 2 tỷ 430 triệu ruụp, trong đó
rau quả bị hại nặng nhất Ở Đức, trước chiến tranh, hàng năm thường bị
động vật phá hại tới 400 trigu Mac, trong dé rau chiếm khoảng 15-20%,
quả chiếm 10% Hội nghị Bảo vệ thực vật Trung quốc (1955) cho biết:
lương thực bị tốn thất 10-20%, rau 30-40%, cây ăn qua 40-50% Kulacop
(1968) đánh giá thiệt hại hàng năm do côn trùng gây ra trên thế giới là 29
tỷ déla Trong đó lúa mì thiệt hại 1,2 tỷ (17 triệu tấn), lúa 9,7 ty (120, 7
Trang 12-_ Đối với cây rừng, côn trùng có thể pha hai tan lụi các khu rừng
và các vườn ươm cây rừng Hiện nay, ở nước ta hàng năm có.một
số diện tích lớn rừng thông bị sâu róm thông phá hại nghiêm trọng tại các tỉnh như Quang Ninh, Hà Tĩnh, Thanh Hoá Một số khu rường khác như lim (1968 ở Hà Bic) bọ sâu đo phá trụi
3000 ha,
-_ Đối với cây cảnh, vườn hoa trong thành phố cũng bị côn trùng gây hại Thí dụ, quất bị sâu xanh (bướm phượng), tệp sáp phá hại, đào bị sâu đục nốn phá hại
- Đối với nông sản phẩm bảo quân trong kho tầng Sự phá hại của côn trùng đối với các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp rất lớn Côn trùng phá hại gồm trên 300 loài, trong đó khoảng 50 loài gây tác hại đáng kể Chủ yếu là côn trùng bộ cánh vẩy (Lepidoptera) và bộ cánh cting (Coleoptera) Trong điều kiện bảo quản kém, cấu trúc kho sơ sài, độ nhiệt, độ ẩm cao thì sự thiết hại thông thường có thể từ 5-15%
Thí dụ, năm 1969 điểu tra kho ngô ở Đồng Đăng (Lạng sơn) cho thấy có 3.300-9.000 con mọt/Kg ngô; đã làm thiệt hại mất 30-40% Một số mặt hàng khác như đỗ tương, lạc, được liệu, tôm he, tre nan, mây cói, cũng thường xuyên bị sâu mọt phá hại nặng
- Đối với các công cụ-giao thông và các công trình xây dựng bằng
SỐ, tre, nứa, thường không tránh khỏi sự phá hại của các loài côn trùng như mối, mọt, xến tóc
- Đối với các động vật nuôi (râu, bò, ngựa, cừu, gà, vị) thường bị nhiều loài côn trùng (và mạt) ký sinh làm giảm sức khỏe; giảm lượng sữa,
Trang 13nhất là loài ruồi ký sinh Hypoderma trên da trâu, bò làm cho chất lượng da
sút kém
- Đối với người, nhiều loài côn trùng như chấy, rận, ruồi, muỗi, bọ
chét, rệp giường, là những môi giới truyền bệnh hiểm nghèo Chúng có thé
gây nên các bệnh như sốt rét, thương hàn, kiết ly, thd ta, địch hạch, xuất
huyết
Lịch sử thế giới đã cho thấy, năm 1947 tại Mông cổ bệnh dịch hạch
(do bọ chết truyền bệnh) đã làm chết 4 vạn người Năm 1918 ở vùng Đông
bắc Trung quốc dịch này đã chết 50 vạn người 'Ở Liên xô, trong những
ngày đầu của Cách nạng tháng 10, bệnh sốt rét do muỗi truyền đã làm-cho
12 triệu rưởi người bị bệnh Ở nước ta 20-30 năm trước đây rất phổ biến
gây tác hại nghiêm trọng đặc biệt là ở các tinhmiễn núi, nhưng nhờ hoạt
động phòng ngừa tích cực nên bệnh này đay bị đấy lùi gần như hoàn toần
Tuy nhiên một vài năm gần đây, tình hình bệnh sốt rét lại bắt đầu gia tăng
1L Nhiệm vụ của môn côn trùng nông nghiệp và nội dung của
1 Nhiệm vụ của môn côn trùng nông nghiệp
Môn côn trùng nông nghiệp có nhiệm vụ là:
- Nam được thành phần côn trùng trên từng loại cây trồng ở từng
vùng sản xuất chính theo từng chế độ và kỹ thuật trồng trọt trong từng thời
gian
- Nắm được các đặc diểm sinh học, qui luật phát sinh gây hại của
từng loài sâu hại phổ biến quan trọng trofg từng điểu kiện ngoại cảnh
- Biết được các phương pháp phòng tr thích hợp
2 Nội dung của giáo trình
Nội dung gồm hai phần: phần thứ nhất là phần đại cương (cơ sở của
phần thứ ha?), phần thứ hai là phần chuyên khoa,
Phần thứ nhất gồm có các chwong là:
~⁄-
Trang 14- Hình thái học: nói về cấu tạo và chức năng các bộ phận bên ngoài
- Sinh lý giải phẫu học: nói ýề cấu tạo giải phẫu và các hoạt động
sinh lý bên trong của cơ thể côn trùng
- Sinh thái học: nói về mối quan hệ giữa côn trùng với môi trường -
- Nguyên lý và phương pháp phòng trừ: nói về cấc cơ sở lý luận và
nội dung của từng biện pháp phòng trừ
~ Sâu hại cây lương thực và thực phẩm
_- Sâu hại cây công nghiệp
- Sâu hại cây ăn quả
x
Nội dung của các chương phần chuyên khoa chủ yếu để cập các mặt
hình thái học, đặc điểm sinh vật học, qui luật phát sinh gây hại và biện
pháp phòng trừ cụ thể cho từng loài trên từng loài cây trồng
UL So luge tình hình nghiên cứu côn trùng học nói chung và
những vấn để của côn trùng nông nghiệp trong nửa đầu thế kỷ của
thiên niên kỷ thứ UL:
1 Trong nước
4) Thời gian trước Cách mạng tháng 611945
Cuối thế kỷ XIX, trước khi thực đân Pháp đánh chiếm HA Nội có
một đoàn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên là “Mision Pavie” đã
tiến hành cuộc viễn du ở Đông Dương trong 26 nam (J 879-1905) và bước
đầu tìm hiểu hệ côn trùng Đông Dương trong d6 có Việt Nam Tổng số -
loài côn trùng đã điều tra thu thập là 1,020, ladi thuge cack bộ côn lrùng
Các mẫu vật côn trùng này hiện lưu trữ lại các Viện Bảo tàng Pari, Luân
Ad
Trang 15Đôn, Giơnevơ, Stóckhôn; (mâu vật chủ yếu thu thập ở Lào, Campuchia, Ở
Việt Nam có rất it) -
Sau đoàn này, bọn Pháp thiết lập những trạm và phòng nghiên cứu
- về côn trùng, như Trạm nghiên cứu Chợ ghềnh ở Ninh Bình phục vụ cho
Nông trường Đồng giao, Phòng nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Khoa hoc ở Sai gdn, Phong nghiên cứu côn trùng thuộc Viện Khảo cứu Nông lâm ở Hà Nội
- Từ năm: ‘1889 cho tdi năm 1932- 1934 có những thông báo về công
tr ình nghiên ‹ cứu côn trùng ở Đông Dương của một số tác giả như:
Côn trùng hại chè của Dupasquier
Mối, xén tóc và côn trùng hại mía, đậu của Gleutiaux, 1901, 1912,
1925, Lepidopteres heteroceres du Tonkin của Joannis, Les Chrysomelinae
du Sud de la Chine et du Nord Tonkin của Trần thế Tương, Faune'
entomologique de I’Indochine (1901) do Salvaza chit bién
Trong thời kỳ đại chiến thứ hai có xuất ban tap Scarabaeidae (họ bọ
hung) của R Paulian và tập Lepidoptera (bộ cánh vảy) của A Lemee
Trude nam 1945 không xa lắm có những người Việt Nam đã đi bắt
mẫu côn trùng để bán cho Tr ường Khoa học Hà Nội, có những người đã điều tra về muỗi sốt rét như cụ Hoàng Tích Trí (nguyên là Bộ trưởng Bộ Y tế)
Về côn trùng nông nghiệp đã có những bộ phận nghiên cứu côn trùng ở Viện Nông học Hà Nội, Viện Nông học sài gòn và một số trại thí nghiệm có phòng nghiên cứu về tằm và những trạm sản xuất trứng tầm Ở,
những cơ sở này, những người thực sự bất tay vào công việc hầu hết là công nhân viên chức người Việt có trình độ khoa học kỹ thuật nhất định
Trang 16
- Công trình điều tra thí nghiệm để lại có ít những công trình về côn ˆ trùng liên quan trực tiếp đến những cây trồng nông nghiệp và những công
trình phục vụ sản xuất lại cing it:
- Kết quả điều tra thí nghiệm chưa thấy thể hiện rõ trong sản xuất, chưa nói tới những công trình phổ biến tròng sản xuất đại trà ở các vùng
lúa, ngô, khoai, rau, và ngay cả những cây trồng có trọng tâm khai thác Ở
những đồn điển thực dân như đồn điển cà phê ở miền Bắc, miễn Trung,
miền Nam trước Cách mạng tháng Tám Chúng ta cũng chưa thấy dwocj
- kinh nghiệm và kết quả đáng kể về phòng trừ côn trùng hại trong sản xuất đại trà,
: b) Thời gian sau Cách mạng tháng Tám -
Từ ngày Cách mạng tháng Tám năm.1945 đến nay, công tác bảo vệ thực vật nói chung và công tác về-côn trùng học nói riêng có những bước
- Về mặt tổ chức và cán bộ
Từ năm 1953 bất đầu thành lập phòng côn trùng thuộc Viện trồng trọt Với phương hướng kỹ thuật và tổ chức lực lượng tốt đã dap tat dich
sâu keo, sâu cắn lá ngô, Để cao cảnh giác đối với âm mưu và hành động
của giặc dùng chiến tranh sinh học, chúng ta đã đào tạo được một số cán
bộ (khoảng 50 người) để đảm nhiệm công tắc này
Từ năm 1954 đến nay, các tổ chức về bảo vệ thực vật từ TW cho đến địa phương' phát triển không ngừng Ở TW, có Cục Bảo vệ thực vật,
Viện Bảo vệ thực vật, Trạm Bảo vệ thực vật vàng Phòng kiểm địch thực
vật ở các cửa khẩu biên giới trực thuộc Cục Bảo vệ thực vật Tại các
trường Đại học nông nghiệp có khoa Bảo vệ thực vật hoặc Bộ môn Bảo
wvé thực vật Ở địa phương, mỗi tỉnh có một hoặc hai, ba trạm BVTV trực
thuộc ty Nông nghiệp Ở huyện có trạm BVTV huyện và ở xã hoặc hợp
tác xã có tổ đội BVTV
Lực lượng cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về BVTV dqx va dang phat triển mạnh từ Trung ương cho tới địa phương: Đội ngũ
1%
Trang 17cần bộ BVTV có trình độ đại học, trên đại học đã được đão tạo tại các
"tường Đại học nông nghiệp trong và ngoài nước Cấn bộ có trình độ trung
học hoặc công nhân kỹ thuật được các trường Trung học nông nghiệp hoặc
Cục Bảo vệ thực vật trực tiếp đào tạo
- Về mặt nghiên cứu thí nghiệm và kết quả chỉ đạo phòng trừ sâu hại
_ Thang 9-10/L961, Cục BVTV và kiểm dịch thực vật Bộ Nông
nghiệp với sự phối hợp của các trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư
phạm, Trường Trung cấp Nông lâm Trung ương, Học Viện Nông lâm TW
“(nay là Trường Đại học Nông nghiệp 1), Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà
nước đã tiến hành điều tra ở 32 tỉnh thành và khu tự trị Tây Bắc Kết quả -
điều tra trên 30 loại cây trồng đã thu thập 286 loài sâu hại chính
_ Trong năm 1965 Uy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tã chủ trì
tổ chức những đợt định loại tên khoa học các liêu bản côn trùng đã thu
thập được ở các nông trường quốc doanh với sự tham gia đóng góp của
cần bộ côn trùng học một số ngành liên quan (Nông nghiệp, Nông trường,
Tổng hợp, Su phạm)
Tháng 5-6/1966, Viện sốt rết ký sinh trùng (Bộ Y tế) đã tiến hành
'điểu tra cơ bản côn trùng ở Chỉ nê Hoà Bình và thu được nhiều tiêu bản
côn trùng tự nhiên
Từ 1967-1968, Bộ Nông nghiệp đã tiến hành điều tra cơ bản côn
trùng lần từ 2 trên khắp miễn Bắc với qui mô tổ chúc rộng và thời gian liên
tục trong 2 năm và tập hợp được một khối lượng mẫu vật côn trăng khá
lớn Từ năm I969 đến nay, nhiều cơ sở và cơ quan vẫn tiếp tục công tác
điều tra cơ bản côn trùng ở miền Bắc ở.các tỉnh phía Nam điều tả cơ bản
côn trùng được tiến hành vào năm 1977-1978
Trong những năm 1990 biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (PM)
đã được triển khai rộng rãi ở nước ta, đầu tiên trên cây lúa rồi sâu đó đến
cây tau, đậu tương, ngô So với các nước khá trong khu vực Đông nam á,ở
nước ta chương trình IPM đạt được những thành tựu to lớn Đến năm 2000
đã có .% nông đân được huấn luyện về IPM, giúp cho người nông dân
a
4
Z4"
Trang 18hiểu được đặc tính sinh vat hoe, khả năng gay hại của côn trùng và đặc
biệt hiểu được vai trồ to lớn của nhóm côn trùng thiên địch, từ đó giảm tới
50% số lần phun thuốc trên cây lúa và nhiều cây trồng khác
Năm 2001, Hội khoa học Bảo vệ thực vật được thành lập Và cho
đến nay, Hội côn trùng học đã có 3 đại hội toàn quốc, sắp tới vào năm
2002, “Đại hội toần quếc về côn trù ung hoc la thứ 4, nơi tập hợp đông đảo
các chuyên g gia côn trùng học sẽ họp ,
Song song véi céng tác điểu tra cơ bản côn trùng, các cơ quan,
trường học, trạm BVTV đã và đang tiến hành nghiên cứu thí nghiệm khoa
học và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật côn trùng học vào thực
Tóm lại, thời gian từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay chúng :ta đã
xây dựng được tổ chức, tăng cường lực lượng cán bộ, đồng thời đã tích luỹ
được nhiều tài liệu cơ bản giúp cho việc xác định tương đối chắc chấn về
tầm quan trọng của các đối tượng sâu hại cây trồng chủ yếu, mặt khác
chúng ta đã áp dụng các kết quả nghiên cứu kịp thời vào sản xuất, do đó
trong một phạm vi nhất định, chúng ta đã hạn chế mức tối đa sự thiệt hại
2 Ngoài nước
Ngay từ thời xưa đã có sự hấp dẫn nghiên cứu về côn trùng do
những hiện tượng hang ngày trong tự nhiên như sự phá hại của sâu bọ —
kẻ thừ của gia súc và cây trồng xảy ra liên tiếp Từ đó đã xuất hiện những
ngànH khoa học thực nghiệm như nghề nuôi ong, nuôi tẫm Thí dụ, 3000
năm trước công nguyên, Trùng § quốc đã biết nuôi tầm
Trong sách cổ của Xiri (3000 năm trước công nguyên) đã nói tới
các cuộc bay khổng lồ và tần phá khủng khiếp của những đàn chau chấu
sa mạc Một học giả Hy lạp Atixtot (384-322 trước công nguyên) đã nói
tới 6Ö loài côn trùng trong tác phẩm của ông Thực ra, cho đến hay trong
15 thé ky đẩu công nguyên chưa phát hiện được đóng góp nào 16 rang vào
khoa hogj, côn trùng Đến thế kỷ thứ 17, người ta * shi nhận công trình về
Trang 19hướng chung hiện nay trong lĩnh vực nghiên cứu côn tring hoc được đề
cấp đó là:
a) Vain đề kinh tế bảo vệ thực vật nói chung và côn trùng học nói
riêng Người ta chú ý nhiều đến các thí nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu
tác hại của côn trùng, phản ứng của cây đối với các biện pháp được áp
dụng để phòng trừ sâu hại, xây dựng và áp dụng có chất lượng các phương
pháp tính toán số lượng sâu hại và mối tương quan với muà màng bi tén
- b) Các phương pháp phòng Sâu hại -
1, Biện pháp canh tác: là biện pháp cơ bản nhất (xem nguyên lý và:
nhương pháp phòng trừ sâu hại trong phần chuyên khoa)
2 Biện pháp hoá học Biện pháp hoá học để bảo vệ cây trồng đưa
năng suất lên cao hiện nay vẫn giữ vai trò qan trọng, có ưu điểm là đơn
giản, dễ cơ giới hoá, tác dụng nhanh, hiệu lực cao Tuy nhiên sau thời gian
sử dụng đài và rộng rãi đã biểu hiện nhiều nhược điểm như: diét ca cdc
loài côn trùng có ích truyền thụ phấn hoa, bắt ăn hay ký sinh trên sâu hại,
các loài ong mật; số lượng sâu hại phục hồi nhanh chóng sau khi quen - ¡
-z:tuỐC> Một số:loài trước kia gây hại thuộc loại thứ yếu, thì nay HỞ,nÊtm + S
phát triển mạnh mẽ; lượng dư thuốc gây nhiễm bẩn môi trường sống và
tích tụ lại trong trức ăn của động vật và con ngudi,
Mặc dù có nhiều nhược điểm như đã nêu, song hiện tại và trong cả
tương lai biện pháp hoá học vẫn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống
phòng trừ tổng hợp để bảo vệ cây trồng Người ta đang ñigữ Các phương
pháp sinh vật học và sinh kỹ thuật để thay thế phương p pháp hoá học,
nhưng chưa hoàn chỉnh về lý thuyết và còn ít được nghiên cứu trong-việc
ứng dụng vào thực tiễn
Để phát huy ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của việc sử
dụng thuốc hoá học, phòng trừ sâu hại cần hoàn thiện dần c
1ã
TUAẾ c
Trang 20
- Thay thế chế phẩm bền vững bằng những chất ít bên vững hơn, dễ
bị phân giải trong thời kỳ sinh dưỡng của cây và không tồn dư trên cây, ở
độ an toàn cao hơn
- Điều chế và sử dụng thuốc an toàn đối với các sinh vật khác nhau
- Thay thế dân các chất có độ độc cao bằng các chất ít độc đối với
động vật có vú
- Giảm sử dụng tối đa đối với các nguyên tố As, Pb,.v.v
- Tạo thành nhiều chủng löại thuộc với nhiều dang chế phẩm có thể
thay thế lẫn nhau
- Cải tiến dạng sử dụng với mục đích giảm giá sử dụng và giảm tiếp
xúc khi làm việc với thuốc
3 Biện pháp sinh vật học và hoá học hiện đại
Qua kinh nghiệm nhiều năm đã chúng tổ'rằng, con người có thể sử
dụng biện pháp sinh vật học để trừ sâu hại một cách có hiệu quả Tuy
nhiên, việc áp dụng biện pháp này vào thực tế sản xuất nông nghiệp rất
phức tạp Từ những năm 1960, người ta đã nghiên cứu sử dụng kẻ thù tự
nhiên của sâu hãi như các loài côn trùng ăn sâu hay ký sinh trên sâu hại,
các loài vị sinh vật gây bệnh cho sâu hại
Phương hướng cũa biện phấp sinh vật học hiện nay chủ yếu là:
- Bảo vệ quần thể sinh vật có ích (kẻ thù tự nhiên của sâu hại bằng
cách phối hợp chặt chế với biện pháp hoá học và kỹ thuật trồng trọt một
cách hài hoà có hiệu quả
- Nuôi cấy và nhân thả trên đồng ruộng các sinh vật có ích qua quá
trình thuần hoá lai tạo và nhập nội trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các qui
luật sinh học, sinh thái học và dự tính dự báo đúng với ký chủ và sinh vật
có ích
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu nổi bật có
triển vọng tốt đẹp cho việc phòng trừ sâu hại, đó là biện pháp sinh kỹ
thuật Nói một cách cụ thể hơn là hoá học hiện đại và biện pháp sinh học
_ zọ
Trang 21phổ biến đã hỗ trợ nhau tạo nên những kết quả đáng kể Thí dụ, phương
pháp trừ sâu bằng chất ngoại tiết sinh đục (Pheromon) của côn trang Cac’
chat téng hợp tương tự với lượng dùng 20-30 g/ha kết hợp với 0,5-2 gam
thuốc trừ sâu có thể diệt một loài hay vài loài sâu cùng họ Người ta cũng
` có thể dùng Pheromon làm thành bả hap din sinh dục và dùng thêm cả bả
bã hấp dẫn thức ăn, tất cả có hỗn hợp với thuốc trừ sâu,
Người ta đã phát hiện được nhiều hợp chất hoá học gây tác dụng
giống nhu tia phóng xạ đối với sâu hai Đã tìm ra được mối liên quan giữa
_ tác dụng ngăn cẩn sự phân chỉa tế bào: 'của một số hợp chất hoá học với sự
tuyệt sinh ở sâu hại do các chất đó gây nên Từ đó nay ra phương pháp
tuyệt sinh hóa học (Chemosterilants)
Một phương hướng ' mới khác trong việc phòng trừ sâu hại là ứng
dụng các chất nội tiết của sâu nhất là các chất điều khiển quá trình biến
thái của sâu (chất nội tiết sâu non — Juvenil hormon) Hiện nay ngudi ta
đã chế tạo được các chất nội tiết có thể tiêu diệt hoàn toàn một số loài sâu
các thuốc này được gọi là thuốc trừ sâu thế hệ thứ 3
Ngoài các phương hướng nêu trên, một số hướng nghiên cứu khác
như nghiên cứu chất xua đuổi, chất điểu hoà sinh trưởng cây, chất gây
ngắn (antifeedants), năng lượng điện từ, âm học,v.v để phòng trừ sâu hai
đã và đang được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới
Ỉ _ Những vấn đề của côn trùng nông nghiệp trong nửa đầu thế kỷ của
thiên niên ky thứ HH:
Vấn dé đầu tiên xẵn là làm sao để giảm sự thiệt hại do côn trùng và nhện
hại gây nên trong khi mối quan tâm về ảnh hưởng nặng nề do việc sử dụng
quá mức thuốc trừ sâu gây nên ngày một cao Nhiều chính phủ đã cấm sử
dựng các loại thuốc trừ sâu độc hại có phố tác dụng rộng Nước ta trong 10
nam qua đãní cấm sử dụng hợp chất (200L) Do việc sử dụng quá mức và
sit dung khong ding thuốc trừ dịch hại mà tác hại của sâu hại vẫn gia tăng
là nguyen nhân chính dẫn đến việc thay đổi chiến lược trong phòng chống
'sâu hại và 4 áp dụng biện hổng Đấu tranh sinh học (BC), IPM, và các biện
“ Y
Trang 22
pháp thay thế khác, nhưng phải đâm bảo rằng những biện pháp này chấp
nhận được về mặt môi trường và có hiệu quả kinh tế Các sản phẩm đó có
thể là từ nấm, virus, protozơa, tuyến trùng, các chất kháng sinh thực vật;
chất điều hoà/kích thích phát triển, chất hoócmôn sinh trưởng, chất dẫn dụ
sinh học (pheromone), các sản phẩm công nghệ di truyền (chuyển gien, các
cây trồng mang gien độc đối với côn trùng, các loài kẻ thù tự nhiên), các-
chất độc có nguồn gốc thực vật (thuốc sâu thảo mộc)
Tuy nhiên phải nói rằng BC không phải là hoàn chỉnh và không có tồn tại
và yếu điểm Phân tích 148 trường hợp thất bại, SHng (1993) cho rằng, có
24,3% là do thời tiết, 14,9% là do không có ký chủ thay thế, 9 5% do không
đồng điệu giữa ký sinh và vật mổi, 8,1 % do ký sinh và ký sinh chồng
(Hyperparasitism) và bị vật mồi khác tấn công Tựu chung lại có 14 nguyên
nhân như thời tiết, khí hậu, thiếu sự đồng điệu, sai chủng loài (strain), sự
khác biệt về nơi ở, vật chủ hoặc vật mồi bị tì chối, cạnh tranh, bị ăn thịt; ký
sinh chồng, thiếu ký chủ thay thế, thiếu thức ăn của trưởng thành, tỷ lệ tăng
thấp, số lần thả ít và sự đi cư của chúng
Việc thừa nhận và áp dụng khá rộng IPM là xu thế quan trọng của nửa cuối
thé ky XX IPM dua trên nền là phương pháp kỹ thuật canh tác để tạo nên
cây trồng khoẻ, trong quá trình canh tác việc thường xuyên kiểm tra giám
sất sâu hại và cả thiên địch là những thao tác cần tiến hành một cách kỹ
lưỡng, chỉ khi nào sâu hại vượt qua ngưỡng kinh tế mới sử dụng thuốc trừ
sâu để giảm tới mức thấp nhất tác hại của thuốc sâu tới môi trường, thiên
địch của sâu hại Những thao tác trên đây chỉ có thể thực hiện được khi
công tác khuyến nông tốt và người dân có hiểu biết và sự hợp tác rộng rãi
và sự phân chia trách nhiệm rõ rằng trong cộng đồng
Trong khoảng hơn 10 năm gần đây các sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học,
chủ yếu có nguồn gốc từ nấm, vi khuẩn, tuyến trùng được sẵn xuất và áp
dụng rộng rãi trong các chương trình IPM Từ khi được tình cờ phát hiện do
Philip Duphar vao năm 1970 đến nay, các chất kích thích sinh trưởng côn
trùng có 2 dạng chính là-ä/ chất Kiún kìm hãm sinh trưởng và Chất hoóc
mône trẻ Các chất này làm rối loạn quá trình trao đổi chất, chủ yếu là quá
AR
Trang 23
_trình lột xác sinh trưởng và lột xác biến thái làm cho côn trùng (bộ cánh vấy) giảm sức sống và giảm sức sinh sản Tuy nhiên cần phải đề cập là cũng giống như thuốc trừ sâu hoá học biện pháp BC với các loại sản phẩm sinh học hiện nay đều gặp phải hiện tượng côn trùng kháng và quen với các chất này Đây là tất yếu của quá trình đồng tiến hoá Trong các chất có tác dụng
về mặt sinh học xerh thi chất dẫn dụ sinh học tỏ ra có ưu thế vừa dễ sử dụng lại có tính chọn lọc rất cao, nên ngày cảng được quan tâm nhiều Việc chỉ tác động lên các cá thể đực ở giai đoạn trưởng thành và chỉ làm cho chúng
bị mất phương hướng không tìm ra con cái trưởng thành được coi là an toàn
về mặt môi trường, không ảnh hưởng lên quần thể thiên địch +
3 thap ky vira qua có tới 10,000 chất trừ sâu thực vật được phân lập Các chất như Pyrethrin, nicotine, rotenone đã được sử dụng từ rất lâu Loài thực vật có sản phẩm được đánh giá cao đó là cây xoan, Azadừachta indica Theo thông kê có 200 loài sâu hại bị sản phẩm này tiêu diệt và cho tới nay chưa thấy có hiện tượng kháng thuốc :
- Hướng di đặc biệt cần đề cập là việc áp dụng công nghệ chuyển gien trong phòng chống sâu hại Người ta đã tổ hợp nhiều chẳng với đặc tính độc khác nhau vào | sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả của vi khuẩn BT và virus Phương pháp phổ biến để tăng hiệu lực diệt sâu của virus là nhập những
gien đặc biệt này vào trong hệ gien của Baculovirus Baculovirus được sử
dụng rộng rãi như l trung gian để chuyển các gien ngoại vào tế bào thay thế
Một số loại cây trồng chính được chuyển gien sinh ra chất diệt sâu hại bất đầu được sử dụng nhiều ở Mỹ và đang ¢6 chiều hướng gia tăng sử dụng mạnh Điều này ất sẽ ảnh hưởng to lớn đến chiến lược quan lý dịch hại trong tương lại
Một vấn đề khác nữa là sự bùng nổ về du lịch và chu chuyển hàng hoá diễn
va ngay một mạnh mẽ trên toàn cầu trong khi các biện pháp kiểm dịch không được tăng cường thích đáng sẽ là cơ hội tốt cho rất nhiều loài côn trùng đi chuyển đến nơi mới Capinera và CTV (1994) cho rang bang nim
nat Florida có Khai tệ loài ngoại lai xâm nhập ở ý trong 3423 loài rệp vấy
“
Trang 24dược ghỉ nhận từ năm 1980 dén 1994 thì có 44 loài nói du nhập Đó là _
những loại từ Áo, Dong ấ, Trung Quốc, châu Mỹ đến (Longo va CTV,
1995)
Một thuận lợi cần nêu là do sự phát triển nhự vũ bão của công nghệ thông
tin nên rất nhiều thông tin dễ đàng được cập nhật và tra cứu Các cơ sở đữ
liệu về bảo vệ thực vật rất nhiều thuận lợi cho sự trao đổi và nghiên cứu
"Tài liêu tham khảo
{ Capinera JL, Bennet F D, Rosen D (1994) Introduction: Why biological
control and IPM are important to Florida 1-8 In Pest Management in
Subtropics Biological control — A Florida perspective intercep,
2 Longo S,: Marotta S, Pelizari G, Ruso A, Tranfaglia A (1995) An
annotated list of the scale insect, (Homoptera: coccoidea) of Italy
3 Stiling P (1990) Calculating the establisment rates of parasitoids in
classical biological control American Entomologist 36: 225-230
4 Wysoki M (1996) Problems and trends of agricultural entomology at the
end of the 2" millennium in XX international congress of entomology:
Xu hướng quan trong
Ap
Trang 25
PHAN DAI CUGNG
CHUONG I HINH THAI HOC CON TRUNG
Hình thái học côn-trùng là môn khoa học nghiên cứu cấu tạo bên ngoài
cơ thể côn trùng :
Côn trùng cũng như các sinh vật khác, do tính chất thích ứng rất phức tạp với ngoại cảnh và trải qua nhiều thế kỷ chọn lọc tự nhiên, mà cấu tạo cơ thể côn trùng trở nên muôn hình muôn vẻ Nhiệm vụ hình thái học không chỉ đơn thuần nghiên cứu bản thân các cấu tạo của cơ thể mà đồng thời phải nghiên cứu nguồn gốc nguyên nhân hình thành các cấu tạo ấy, nghiên cứu mối tương quan giữa các cấu tạo với nhau và giữa các cấu tạo ấy với hoạt động của những cơ quan bên trong, nghiên cứu mối tương quan giữa các cấu tạo với hoàn cảnh sống và những đặc tính sinh học của từng loài Thông qua những nghiên cứu nói trên, mặc dù biến đổi hình thái cấu tạo của côn trùng rất phức
tạp, song người ta đã tìm ra được tính quy luật và sự thích ứng, hiểu rõ hơn
được những đặc điểm chung nhất và đặc điểm cá biệt của cấu tạo hình thái côn trùng Chính nhờ đó đã đặt cơ sở cho công tác phân loại côn trùng, nhận biết côn trùng hại cây trồng nông lâm nghiệp, côn trùng có ích và phòng trừ chúng
ae
1 KHÁI QUÁT VỀ CẤU TẠO CƠ THỂ CÔN TRÙNG
Côn trùng là động vật không xương sống, chúng không có bệ xương
trong như các động vật có xương sống Để giữ cho cơ thể côn trùng có một
hình đang nhất định và để cho các hệ cơ có chỗ bám, côn trùng trưởng thành đều có một lớp đa tương đối cứng bao bọc bên ngoài tạo thtnàh "bộ xương
‘Co thé côn trùng không phải là một vỏ xác cứng chắc, mà bản thân nó
đo những vòng hẹp chất màng, thường gọi là màng giữa đốt cất chia cơ thể
20
Trang 26thành những đốt vòng lớn hơn, thường gợi là đốt cơ thể Chính Vậy, cơ thể - côn trùng được chía đốt và có thể cử động để dàng
Hình 1: So sánh bộ xương trong và bộ Xương ngoài
A - Bộ xương trong của động vật có xương sống
® - Bộ xương ngoài của côn trùng (vẽ theo Snodgrass)
Hình 2: Cửu tạo cơ thể chân chẩu
1 Đầu; 2 Ngực; 3 Bụng; 4 Rau; 5 Mất kép, 6 Ngực trước; 7 Ngực giũn; 8 Cánh trước:
9 Cánh sau; 1Ú Ngực sau; 1] Lễ thính giác; 12 Lông đuôi; 13 Bộ phận sinh dục ngoài;
14 Chân trước; 15 Chân giữn;- 16 Chan sau (Theo Frost)
Trang 27
Co thé con tring do I§ - 20 đốt nguyên thuỷ tạo nên, chúng tập hợp lại chia cơ thể thành 3 phầu: đầu, ngực, bụng Các đốt ở phần đầu đã kết lại với nhau rất khít chặt, nhìn ngoài rất khó phân rõ số đốt, nhưng trong thời kỳ phát dục phôi thai, có thể thấy được vết tích chia đốt Vì vậy, phần đầu do bao
nhiều đốt tạo nên là rất khó xác định Có nhiều người nghiên cứu và có nhiều
ý kiến khác nhau Có người cho đầu là do 6 đốt tạo nên (Hemons và
Viallanes), có người cho là ddu.cé 4 dét (Holmgren, Hanstrom, Snodgrass),
có người cho là đầu cd 7 dét (Folsom, Hansen, Weismaur), có người cho là
đầu có 5 đốt (Schwanvitch) Phần nhiều có nhiều ý kiến cho là đầu có 4 đốt Ngực chia 3 đốt: đốt ngực trước, đốt ngực giữa, đốt ngực sau Mỗi đốt ngực có một đôi chân, riêng đốt ngực giữa và ngực sau thông thường mỗi đốt có một đôi cánh Phần bụng đo 11 đốt cấu tạo nên, nhưng ở côn trùng trưởng thành chỉ thấy được 9 - 10 đốt hoặc ít hơn Cuối bụng của côn trùng trưởng thành có loài còn có lông đuôi và bộ phận sinh đục bên ngoài (Hình 2), còn các chị phụ khác đều đã tiêu biến
IL CẤU TẠO CHI TIẾT CỦA TÙNG PHẦN CƠ THỂ CÔN TRÙNG
1 ĐẦU VÀ CHI PHY CUA DAU
Đầu là phần trước nhất của cơ thể được cấu tạo bằng một vỏ đầu cứng cùng với 4 chị phụ đó là một đôi râu đầu và ba đôi chỉ phụ miệng Đầu là trung tâm của sự cảm giác và lấy ăn, Cơ quan cảm giác có đôi râu đầu, có mắt kếp và mat don, cơ quan lấy ăn chủ yếu là miệng
a/ Cấu tạo cơ bản của đầu
Đầu côn trùng được phân chia thành các khu vực và các mảnh nhờ có đường ngấn lột xác và các ngấn khác Ngấn lột xác thông thường là một đường màu nhạt có hình chữ Y ở giai đoạn sâu non, mỗi khi lột xác thì ngấn này tách ra giúp cơ thể côn trùng có thể thoát khỏi lớp da cũ ở giai đoạn trưởng thành củactg nói chung ngấn này không nhìn thấy Ngấn là đường lõm xuống của đa tạo nên, phần lõm vào trong đó được gọi là sống nổi trong Phần sống nổi này chủ yếu để cho cơ bám, và tăng thêm độ cúng cho vỏ đầu Số ngấn và vị trí của ngấn thay đổi nhiều tuỳ theo các loài côn trùng Tuy vậy cũng có một số ngấn tương đối cố định, các ngấn đó chia đầu thành những kh
+ Khu trdn - chân môi: Khu nầy tạo thành mặt trước của vỏ đầu gồm
có hai bộ phận: khu trán và chân môi (Hình 3À) Giữa 2 bộ phận này là ngấn trán - chân môi (còn gọi là ngấn trên miệng) Phần trên của ngấn này là trán Mắt đơn thường ở khu trán Nếu có 3 mắt đơn thường xếp thành hình tam giác Phần dưới của ngấn này là chân môi Chân môi gắn lên mép trước của ngấn
22
Trang 28+ Khu canh - dink saw Khunay được tạo thành bởi mặt bên của vỏ đầu và đỉnh đầu (Hình 3B} Giới bạn ra phía sau của khu này Ít ngấn út Mắt kép ở trong khu này, Vị trí nằm khoảng giữa lai mắt-kép nằm về đỉnh gọi là đỉnh đầu, phần phía dưới mắt kép ở hai bên đầu là má
+ Khu ót và khu ót sau: Khu này được tạo thành bởi hai phiên cứng (Hình 3C) hình vòng cung vây quanh tấy lỗ sọ (hoặc gọi.là lỗ chấm) nơi nối tiếp giữa phần đầu và ngực, Hai phiến này rất hẹp, phiến gần lỗ sọ gọi là ói
sau (hoặc gọi là gáy sau); phiến trước đó gọi là ớt (hoặc gợi là gáy) Thông
thường phần cuối của phiến này về phía sau má được gọt là má sau
+ Khu đưới má: Mép dưới của mặt bên má có lúc có một ngấn (ngấn dưới má) đem chỗ này phân thành một đai: hẹp được gọi là khu đưới má (còn gọi là khu cạnh miệng) Mép của khu này có mấu nối với phần phụ miệng
(hầm trên, hầm dưới) (Hình 3B, 3C)
+ Môi trên: môi trên là một phiến hình nắp cử động được dính lên mếp
'đưới của chân môi; mặt ngoài của môi trên cứng, mặt trong mém (Tinh 3A
Hình 3: Cấu tạo đâu của côn tring
1 Đỉnh đầu; 2 Ngấn lột xác;
3 Mất đơn; 4 Mắt kép; 5 Trần
6 Ngấn trần má; 7 Má: 8 Ngấn
dưới má; 9 Hiầm trên; 10 Môi
trên L1 Chân môi; 12 Ngấn trê
miệng; 13 Khủ dau
B - Đầu nhìn mặt bên:
L Dinh đầu; 2 Ngan lột xác;
3 ổ chân râu; 4 MÃI kép; 5 Trần;
6.Ngấn trần má; 7 Má; 8 Ngấn
dưới má; 9 Hàm trên; 10: Môi trên;
11 Chân môi; 12 Ngấn trên miệng;
1 Đỉnh đầu; 2 Ngấn lột xác; 3 Ngấn ót: 4 ót 5 Ngấn ót sau; 6, ót sau;
7 Má sau; 8 Lỗ sợ (lỗ chấm); 9 Khu cạnh miệng; 10 Môi dưới; 11 Má; 12 Mắt kép
{ Châu môi; 2 Môi tiên; 3 Miệng; 4, Lưỡi, 5, Môi dưới; 6 Xoang hầm dưới,
7 Xoang hầm tiên (Vẽ theo Quản Chí Hoà)
»13
Trang 29+ Lưỡi: Có cấu tạo hình túi gắn ở phía mặt bụng của vỏ đầu do da nhỏ ra cấu
tạo nên,
b/ Các kiển dầu
Căn cứ vị trí của miệng ở trên đầu, chia đầu ra 3 kiểu:
- Đầu miệng trước: Miệng thường nhỏ ra phía trước da đầu, trục dọc
của đầu cùng thẳng hàng hoặc song song trên mặt phẳng nằm ngàng với trục dọc của mình sâu Đầu miệng trước thường gặp ở một Số loài côn trìng có tính ăn thịt thuộc họ Carabidae (chân bò) và một số loài hại cây trồng như họ
Curculionidae (vòi voi), mối lính (Bộ Isoptera) (Hình 4À)
- Đâu miệng dưới: Miệng nằm phía mặt dưới của đầu Trục dọc của đầu hầu như thắng góc với trục dọc của mình sâu Đầu miệng dưới thường gặp
nhiều ở côn trùng ăn hại cây như châu chấu, đế mền (Bộ Orthoptera) (Hình
4B):
- Đầu miệng san: Miệng kéo dài ra phía sau đầu về phía mặt lừng, Trục dọc của đầu cùng với trục dọc mình sâu tạo thành một góc nhọn Đầu miệng
sau thường gặp ở côn trùng miệng chích hút như ve sầu (họ Cicadidae) bọ xít
(hợ Pentatomidae), bọ rầy (hợ Jassidae), rệp muội (họ Aphidae) (Hình 4C),
Hình 4: Các kiến đấu AÁ- Đầu niệng trước; B - Đầu miệng dưới C- TĐầu miệng sau
(vé theo A.L Zelicman)
cí Chỉ phụ của đầu
1/ lâu đầu và các dạng râu
"Trừ một số ít loài côn trùng, hầu hết các loài đều có một số đôi râu đầu
mọc trên, ổ chân râu nằm vị trí khoảng giữa 2 mắt kép thuộc khu trần
7 Cấu tạo cơ bản của râu đầu chỉa 3 phần:
Trang 30Chan râu là đốt gốc của râu đầu thường ngắn và thô nhỏ ơn các đốt kia, moc tir ổ chân râu, phía trong có cơ điều khiển sự hoạt động của râu
- Cuông râu là đốt thứ 2 của râu thường ngắn và có cơ điều khiển sự
hoạt động của râu
- Roi râu là phần tiếp sau cuống râu Phần này thay đổi rất lớn, thường chia thành nhiều đốt
Chức nang chu yếu c của ‘rau đầu của hầu hết côn trùng là 1 CƠ quan xác
giác và khúu giác Thí dụ, râu đầu là cơ quan khứu giác như râu đầu của ngài sâu tóm hại chè, bọ bung, ruồi Có một số loài côn trùng như bạn miêu đực
râu đầu có tác dụng ôm quập cou cái khi giao phối ở một số loài côn trùng ˆ râu đầu còn có chức năng khác, thí dụ muối chaoborus, bo niéng có kim
(Hydrophilus) râu đầu có thể dùng bất thức ăn Râu đầu cla Hydrons 6 thé lấy không khí trên mặt nước hoặc râu đầu bọ bơi ngửa (Notanecta) có tác
Tùy loài côn trùng và tưỳ con cái, con đực cùng một loài mà hình đạng
và kích thước râu đầu có “khác nhau Nhiều loài ngài; muỗi và một số loài cên trằng cánh cứng, tổng diện tích râu đầu của con đực thường phát triển rõ rệt
hơn con cái, điều đó cũng chúng tỏ mức độ phát triển của cơ quan khúu giác
của con cái và đực có khác nhau Dựa vào đặc điểm này cũng giúp ích cho
công tác phân loại nói chung và phân biệt con cái #à con đực nói riêng
Tình 5: Củu tạo cơ bẳn của râu đầu
1 Ô chân tâu; 2 Châu râu; 3 Cuống au
4 Roi rau (Vẽ theo hình Snodgrass)
Hình đạng của râu đầu thay đổi rất nhiều Có thể phan chia ra cic dang hinh râu đầu chính như sau: :
+ Rau soi chi: dai manh; hinh ống, trừ phần chân râu có † - 2 dốt hơi
to, con Jai cdc đốt khác to nhỏ gần như đều nhau, càng về cuối râu nhỏ dần;
râu đầu châu chấu, gián (Tình 6A)
np La
Trang 31+ Râu làng cứng; râu thường nefn 1-2 dot phfa chan raw tuoag đối lớn hơn các đốt sau, Các đốt sau mình, nhỏ tựa một lông cứng: râu của chuồn chuồn, ve sầu, bọ rầy xanh (Hình 6B)
+ Rdu chudi hat: gồm những đốt hình hạt tròn nhỏ nối tiếp nhìu giống
như chuỗi hạt: râu đầu mốt thợ, bọ chân đẹt (Hình óC)
+ jðâi răng cưa: gồm những đốt lình tầm giác nhỏ về một phía trông
như rằng cưa: râu con bạn miêu duc, dont dém (Elình 6Ð)
1.- Rau sợi chỉ (châu chấu); 2 - Rau chudi hat (mot), 3 - Rau long cring (chudn chudn), 4 - Rau rang cua (ban miéu,dom dém), 5 - Râu lưỡi mác (cào cào), 6 - Râu hình cầu lòng ngắn (muỗi cái), 7 - Râu lình cầu lông (muỗi đực), 8 - Râu răng lược kép (ngài độc), 9 - Rau răng lược (Cánh cứng P(ilimeurux marmordtux Reit - con đực), 10 - Rau để quạt (cảnh
cứng I?alictophagtts sp -con đực), LÍ - Râu đài dục (bướm phấn), [2 - RAu đùi trống (bọ
- cứng - Tridrodes sinde), 13 ~ Râu lá lợp (bo dita Polypliylla lactic ollis),- 14- : Ru đâu gối , (rau ong mat), 15- Râu hình chuỳ {ve sầu bướm), tớ Rau rudi thie ita sp JIT - Riu cé
sdi cong ddi (Sericenns telamon Donovan), 18 - Râu dạng sợi cong mềm (vé thee ¢ Juan chí Hoà) (1 Chân râu, 2 Cuống râu, 3 Roi râu) - -
Trang 32+ Rdu răng lược kép (hoặc lông chim): trừ 1- 2 đốt chân râu còn các ˆ đốt khác kéo dài 2 bên trông như chiếc lược kép hoặc dạng lông chim: râu của ngài đực sâu róm hại chè (Hình 6E)
+ Râu đầu gối: đốt chân râu dài cùng với các đốt roi râu tạo thành hình cong gấp | tựa đầu gối: râu đầu con ong vàng, ong mật (Hình 6F)
+ Râu cầu long: trừ một hai đốt ở chân râu, xung quanh các đốt khác
có lông mọc đài mịn, càng phía cuối râu lông thưa dân: râu đầu của con muỗi
+ Râu hình chuỳ: các đốt chân râu và cuống râu phình to như quả
chuỳ, râu đầu ve sầu bướm, muội nâu (Hình 61)
+ Râu hình lá lợp: các đốt phần roi râu phát triển thành những mảnh
và có thể xoè ra hoặc xếp lại được: râu đầu của côn trùng họ bọ hung (Hình
4K)
+ Râu ruôi: rân đầu thường ngắn 2 - 3 đốt, phẩn gốc râu phình to hình cầu, còn các đốt khác hình thành dang lông cứng Trên lồng cứng có những lông mịn nhỏ: râu ruồi (Hình 6L)
2 Miệng và chỉ phụ niệng
Miệng của côn tring là công cụ để lấy thức ăn, nếm thức ăn Do tính ăn của côn trùng có thể quy nạp thành hai loại hình căn bản là miệng gậm nhai
và miệng hút Qua nghiên cứu hình thái học đã chứng minh rằng: miệng gậm
nhai là loại hình miệng nguyên thuỷ nhất, còn các kiểu miệng khác là từ
miệng gậm nhai biến hoá thành
A/ Miệng gain nhat (Hình 7) là loại miệng ăn các thức ăn động, thực vật dang thé rấn, thí dụ miệng côn trùng bộ cánh thẳng (Orthoptera), bộ cánh cứng (Coléoptera), sâu non bộ cánh vảy (Lepidopter a)
Cấu tạo miệng nhai gồm 5 phần: môi trên, lưỡi và có 3 đôi chi phụ là hàm trên, hàm dưới và môi đưới
Hàm trên (Hình 7B) là một đôi "xương” cứng nằm phía dưới môi trên, Mỗi một:hàm trên được đính lên phía mép dưới cạnh vỏ đầu bằng hai mấu.:
Hàm trên cé cấu tạo đơn giản, mặt trong hàm là những khía ngọn đạng răng
Nhưng khía phía trước hàm là răng cắn, phía sau là răng nhai Răng nhai to và thô hơn răng cắn
+7
Trang 33để nếm hoặc ngữi thức ăn ,
A - Môi trên mặt ngoài; B - Môi trên mặt trong; C - Ham trén; D - Fam dudi (1 Chan han,
2 Thân hàm; 3 Lá trong hầm; 4 Lá ngoài hàm; 5 Chân râu hầm dưới; 6 Rau hàm dưới)
E - Mối đưới (1 Cằm sau; 2 Cầm trước; 3 Lá giữa môi; 4 Lá ngoài môi; 5 Chân rin môi
dưới; 6 Rau môi duới; ) (Vẽ theo Bocdandp Katxcop).
Trang 34Môi dưới (Hình 7D) là một đôi chỉ phụ hợp nhất của miệng nằm phía dưới hàm dưới đính ở phía đưới của lỗ sọ Môi đưới có 5 phần tương ứng nhĩ hàm đưới: cằm sau, cằm trước, lá giữa môi, lá cạnh môi và râu môi dưới, Cảm sau chia ra cằm phụ và cằm chính Cầm trước có 3 bộ phận: 2 lá giữa môi, 2 lá ngoài môi và 2 râu môi đưới Cầm sau thường không cử động mà phần cử động được là cằm trước và các bộ phận trên đó
b/, Miệng luít: là loại miệng từ miệng nhai biến hoá thành Đặc điểm - - chung của loại hình miệng này là các chỉ phụ đều kéo dài để thích ughi cho
việc lấy thức ăn ở dạng lỏng của động vật hoặc thực vật Loại hình miệng này
có nhiều kiểu biến đạng, có thể chia thành những kiểu miệng như sau:
+ Miệng gâu hút (Hình 8) Thường gặp ở côn trùng cấp cao trong bộ cénh mang (Hymenoptera) nhu ong mat Tuy loại hình miệng này đã biến đổi
để thích nghỉ với các loại thức ãn lỗng nhưng biến đổi đó chưa đến mức như ở côn trùng bộ cánh vay (Lepidoptera), bộ 2 cánh (Diptera), bộ cánh đếu (Homoptera), bộ cánh nửa (Ilemiptera)+Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này
là hàm trên, môi trên còn giữ theơ- kiểu miệng nhai; hầm đưới môi đưới kéo dài ra, râu ham dưới ngắn nhỏ, Lá ngoài hàm dưới kéo dài thành hình lưỡi kiếm có tác dụng tác lật cánh hoa khi hút mật, lá giữa môi dưới kéo đài thành
Trang 35vòi, phía cuối phình tơ hình câu gọi là đĩa vòi Khi lấy thúc ăn, hàm dưới và
rầu môi dưới hợp lại thành thực quản rỗng, đĩa vìo lấy mật hoa, dựa vào sự co
giãn lên xuống của lá giữa môi mà mật hoa được hút vào Hàm trên của ong
có tác dụng xây đựng tổ ong
+ Miệng chích hút: Thường gặp ở côn trùng bộ cánh đều như bọ rầy,
muội, rệp muội hay côn trùng ; bộ cánh nửa như cáè loài bọ xít hoặc côn trùng
bộ 2 cánh như các loài muỗi
Loại hình miệng này có thể chích vào cơ thể động vật hay trong các mô
tế vào cây để hút dịch Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là các phần của
miệng đều kéo đài, môi dưới thành vòi có tác dụng bảo vệ miệng Xoang
miệng và cuống họng đã hợp lại thành bộ phận bơm hút Sau đây là 2 kiểu
miệng chích hút
Miệng chích hút của bọ xít, bọ rầy (Hình 9): Râu hầm dưới, râu mô
dưới đã tiêu biến Môi dưới kếo đài thành vòi chia đốt, phía trước có rãnh
lõm, trong rãnh chứa 4 ngồi châm nhỏ như sợi tóc do hai hàm trên và hai hàm
đưới kéo dài hình thành Bên trong hai hàm dưới hợp lại có ống dẫn thức ăn và
ống tiết nước bọt Khi bọ xít hoặc rầy chích hút dịch cây trước hết dùng 2 ngòi
châm, hàm trên thay nhau chọc vào chọn nơi có thức ăn, sau đó mới cắm 2
ngòi châm hàm dưới cùng vào, còn vời thì bẻ cụp ra sau nằm ở phía ngoài
Trước khi hút địch thì bọ xít hoặc bọ rầy tiết nước bọt để tiêu hoá hoặc phân
giải một phần thức ăn
- Miệng muỗi (Hình 10) cấu tạo gần giống miệng bọ xít hoặc bọ rây,
có khác là có 6 ngòi châm Ngoài 4 ngòi do hai hàm trên và dưới tạo thành,
còn có một ngồi môi trên, một ngồi do lưỡi, Hai ngồi sau hợp thành ống dẫn
thức ăn và màng ống dẫn nước bọt
,+ Miệng hút (bướm ngài) (Hình LÍ): Thường gặp ở các loài bướm
hoặc ngài bộ cánh vảy Đặc điểm cơ bản của loại hình miệng này hút mật hoa
hoặc thức ăn lỏng Môi trên, hàm trên và môi dưới đã thoái hoá chỉ còn | dau
vết nhỏ hình tam giác, Râu môi dưới phát triển Hai hàm dưới đã kéo dài khi
hợp lại thành một vòi đài và giữa tạo thành một ống dẫn thức ăn Bình thường
khi không' ăn, vôi được cuốn cong lại thành nhiều vòng trên -ốc Khi ăn thi
+ Miệng giữa hút (Hình 12): Thường gặp ở côn trùng hệ cánh tơ
(Thysanoptera) Đặc điểm cơ bản của loại hình này là hút nhựa cây hoặc dịch
cơ thể các côn trùng mình mềm, một số it có thể hút máu sai Đầu những
lưỡi và 3 ngòi nhọn Hai ngồi nhọn do hai hàm dưới, Một ngòi ‘do một hàm
bên trái kéo dài hình thành, còn hầm bên phải thoái hoá Khi ăn, hàm trên
Trang 36
Hình 9: Cấu tạo niệng chích Hinh 10: Miéng chich hit (mudi)
3 Môi dưới (vòi); 4 Mắt kép 6 Ngồi châm (hầm dưới);
(Vẽ theo Bođanôn, Katxcốp) (Vé theo Manolache)
giữa tách biểu bì cây trồng, ba ngòi châm co giãn lên xuống để hút dịch qua vol Ong dẫn thức ăn là do hai hầm đưới hình thành, lưỡi và lá trong môi dưới hợp thành ống dẫn nước bọt
Hình 11: Miệng hút (bướm) tr ho Ti Ợ Hình 12: Miệng giữa húi (bọ tả)
(Vẽ theo Pôtxpeelôp) i 5 Râu hầm dưới; 6 Gốc râu đầu; 7 Mất kép
8 Trin: 9 Cam pha; 16 Cam: £1 Rau mdi
dưới; 12 Chân môi (vẽ theo Petecxon)
Trang 37
+ Miệng Hếm hút (Tình 13) Thường gặp ở côn trùng nhóm râu ngắn
bộ 2 cánh như ruồi nhà, Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là hầm trên,
hàm dưới đã thoái hoá Môi dưới kéo dài thành một vòi ngắn, thô Vòi thường mầm có thể co giãn được Mặt trong của vòi là dang lông, máng được cho bởi một phiến môi trên đang hình kiếm, Trong lông mắng còn có lưỡi dẹp đài Môi trên và môi dưới phình to thành hai đĩa môi {cou gọi đĩa với) hình quả thận có tính đần hồi, Mặt bụng của dĩa vòi được sắp xếp ngang, có nhiều
- vòng mắng bé nhỏ Các vòng mắng này thông với cửa rãnh.của vòi giúp chớ ruồi có thể dùng đĩa vòi liếm hút các thức än dạng lòng hoặc nhĩo hoặc các
hạt rấn bé nhỏ trên bề mặt thức ăn
+ Miệng cứa liếm (Hình 14) Thường gặp ở nhóm côn trùng râu ngắn
bộ hai cánh như ruổi trâu, Đặc điểm cơ bản của miệng ruổi trâu là đoạn cuối môi dưới phình to hình thành môi để liếm và hút chất lỏng Môi trên nhọn
giống như ngồi châm mặt trong có răng cùng với lưới tạo thành ống dẫn thúc
ăn, trong lưỡi có ống đẫn nước bọi Hai hầm trên và hai hầm dưới “phat triển hoạt động theo chiều ngang để cứa rách da động vật cho chảy máu để đĩa vòi
Hình 14: Miệng cửa lien
A - Đầu và miệng nhìn phía trước
B - Miệng nhìn phía sau
4 Chan môi; 5 Môi trên; 6 Râu hầm dưới
Hinh 13: Miéng liếm lút (ruổi) 10 Clim sau; LÍ Cầm trước; 12 Đĩa môi
(Vẽ theo Manolache) l (Vẽ theo Snodgrass) `
Các loại hình miệng cơ ban dé cập trên phần lớn ở các loài côn trùng ở giai ‘doan trưởng thành nói chưng và những loài côn trùng ở nhomg biến thái không hoàn tóàn ở giai ï đoạn sâu non nói riêng ‘Nhung do tap quan pha hai va hoàn cảnh sinh sống khác nhau cho nên ngay trong cùng một loài miệng của - sâu non và sâu trưởng thành cũngcó cấu tạo khác nhau Thí đụ: Sâu non bộ
32
Trang 38
cánh vảy có cấu tạo miệng nhai để ăn thức an ran, cdn trugng-thanh (budm hoặc ngài) thì ăn thức ãn lỏng Bộ hai cánh, bộ chuồn chuồn cũng có những nét tương tỰ
Dưới đây để cập bai loại hình miệng sâu non có liên quan nhiều đến cây
- Miệng sâu non bộ cánh vảy (Hình 15) thuộc kiểu miệng nhai: Đôi hầm trên phát triển đùng để cấn thức ăn rắn (lá, thân, mô cây) Còn hầm dưới, lưỡi, mô đưới hợp lại thành một mãnh tổng hợp Hai bên của mảnh này là hầm
dưới, cồn lưỡi và môi dưới kết hợp với nhau, cuối phần kết hợp này có miột
nứm nhọn lôi lên đó là-ống nhà tơ
Hình 15: Miệng sâu non bộ cảnh váy
Á - Đầu nhìn mặt trước, B - Đầu nhìn mặt sau
1 Môi trên; 2 Hlầm tiên; 3, Râu đầu; 4 Râu môi dưới
5 Bộ phận ống nhà tơ; 6, Cầm; 7 Cầm trước; 8 Hầm dưới,
9 Lỗ nhà tợ (vẽ theo Quản Chí Hoà)
- Miệng giồòi (Hình I6) là kiểu miệng của giải đoạn sâu non các loài ruổi cấp cao thuộc bộ 2 cánh như: rưồổi đục quả, ruồi đục lá, ruổi đục thân, : ruổi nhà Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là đầu rất không nhất triển, hầu như hoàn toàn thụt vào trong ngực trước, Miệng đã thoái hoá cao độ chỉ cồn có một đôi móc miệng do hầm trên biến hoá thành, dùng để khuấy và hút thúc ăn Dịch hoặc những hạt bé nhỏ của thúc ấn được hút vào qua rãnh
thúc ăn (được tạo thành bởi hai móc miệng) đi vào ruột,
Ninh 16: Miệng giỏi (ruổi)
1 Móc miệng (vẽ theo Matheson)
Trang 392 NGUC VA CI PHU CUA NGUC
al C&u tao co ban của ngực (IHnh7)
Ngực côn trùng là trung tâm của Sự v
thể được nối, liển với đầu bằng một doạn rất ngắn, hẹp, chất màng đó là cổ
Cổ thường thụt dưới đa phía trong ngực trước khó nhìn thấy Ngực chia 3 đốt:
đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đối ngực sau lai bên về gần phía dưới mỗi
đốt ngực có một đôi chân Đôi chân ở ngực trước gọi là chân ngực trước, đòi
chân ở ngực giữa gọi là chân ngực giữa và đôi chân ở ngực sau gọi là chân
ngực sau Hai bên về phía lưng của đốt ngực giữa và ngực sau còn có hai đôi
cánh Đôi cánh ở trên ngực gia gọi là cánh trước, đôi cánh ở trên ngue sau
gọt là cánh sau Bộ phận ngực nói chung có độ hoá cứng tươig đối cao, sự liên
kết giữa ba đốt ngực tương đối khít, đặc biệt là giữa đốt ngực giữa và đối
ngực sau, Mức độ phát triển về hình dạng, kích thước giữa 3 đốt 1gực của các
loài côn trùng có khác nhau Sự khác nhau đó có liên quan chặt chế với sự
hoạt động của chân và cánh Nếu cánh trước phát triển hoạt động nhiều, cánh
sau thoái hoá thì ngực giữa lớn hơn ngực sau(các loại ruổi), nếu cánh sau phat
triển hoạt động nhiều thì ngực sau lớn hơn ngực giữa (các loại côn trùng bộ
cánh cứng) Hoặc nếu chân ngực tước phát triển hoạt động nhiều hơn so với
chân ngực giữa và sau thì đốt ngực trước phát triển hoạt động nhiều hơn so
vớt chân ngực giữa và sau thì đốt ngực trước phát triển lớn hơn hai đốt ngực
kia (bọ ngựa, dế dũi)
ân động Đây là phần thứ 2 của cơ
Mỗi đốt ngực có thể chia thành 4 mặt, M
lưng, mặt ở 2 bên gợi là mãnh bêu, mặt ở phí
cho các mảnh: này tươngứng với e
được gọi như sau: m
ät về phía trên gọi là mảnh
a dưới gợi là mảnh bụng Tên gọi
ác dốt ngực Các mảnh ở trên đối Hgực Trước
ảnh lưng ngực ngực trước, mảnh vên ngực trước mìành
bụng ngực trước Đối VỚI,HgựC giữa, ngực sau cũng gọt lương tự, Tiên tìm Ụ
mảnh có các ngấn phân chia thành các phiến cứng có tên gọi riêng tương ng
"¬ - tình J7:* ấn tựo đá ngực có chân va cánh "
{ Mảnh lưng; 2 Cánh; 3 Mãnh lung; 4 Miảnh bụng: 5 ổ đốt chậu; 6 Đốt chậu
7 Đốt chuyển; 8 Đốt đùi; 9 Đối chày; 10 Đối bàn chân (Về theo Quân Chí Hoà vv.)
Trang 40Đốt chậu là đốt đầu tiên đính lên phía dưới mảnh bên ngực tại ổ đốt chậu (ổ đốt chậu là một chỗ lõm trên mình sâu được cấu tạo bằng một lớp da mông như màng) Đốt chậu thường thô, ngắn có hình trự hoặc hình chóp đảo tgược hoặc hình cầu Đốt chuyển là đốt thứ hai của chân thường gan hẹp Có một
số loài côn trùng như chuồn chuồn, đốt chuyển chia 2 đốt gắn chặt vào nhau Đốt đùi là đốt thứ 3 của chân, thường to và mật hơn các dốt khác Đối với những côn trùng chan sau ding để nhay thì đốt đùi rất phát triển Đốt chày
là đốt thứ 4 của chân kế tiếp đốt đùi Dot chày thường đài, mảnh, hai bên có hàng gai, cuối đốt có khi còn có cựa cử động được Đốt bàn chân là đốt kế tiếp đốt chày, thường gồm có 2 - 5 đốt phụ Đốt cuối bàn châu là phần ở phía cuối đốt bàn thường gọi là móng (hoặc vuốt) Móng thường có hai cái, giữa
hai móng có loài còn có đệm giữa móng GO một số loài côn trùng thì đệm _ giữa móng tiêu biến mà thay bằng, vật lôi, gìữa móng có dạng gai hoặc dạng
lông cứng Có loài dưới hai móng còn có đệm móng, trên đệm tày mọc đầy lông mịn và có thể tiết dịch dính giúp cho côn trùng có thể bám hoặc bò trên
bề mặt nhẫn Vật lồi giữa nóng và đện móng ở các loài ruổi rất phát triển (Đôi chân ngực sâu non nói chung cũng có cấu tạo tương tự chân ngực sâu
trưởng thành, chỉ khác là bàn chân thường có một đốt, cuối ban chân có một
móng, màng nối giữa các đốt chân tương đối rõ ràng hơn)
-
" ⁄ Pog vy ee
- /
Hình T8: Cấu tạo chân ngực của côn trìng
1 Đốt chậu, 2 Đốt chuyển; 3 Đốt dùi, 4 Đốt ống; 5, Đốt bàn; 6 Đệm;
77 Móng hoặc vuốt (Vẽ theo tài liệu Trung Quốc)
Chân ngực của côn trùng phần lớn dùng để đậu, bám hoặc đi lại, nhưng cũng không ít loài côn trùng có chân ngực (toàn bộ hoặc mội phần) dọ hoàn cảnh “sinh sống khác nhau (sống trong nước, rong đất.v.v ) hoặc do tập
35