1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phép biện chứng duy vật trong công tác kiểm tra tại đảng uỷ các cơ quan tỉnh bắc giang

17 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng trình bày có hệ thống và chặt chẽ tính biện chứng của thế giới thông qua những nguyên lý, phạm trù và qui luật chung nhất của thế giới; chúng vừa là lý luận duy vật biện

Trang 1

Mục lục

Trang

Mở đầu……… 2

Phần nội dung……….…. 3

1 Phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin……… 3

1.1 Các khái niệm chung……… 3

1.2 Nội dung của phép biện chứng duy vật……… 3

1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ……… 4

1.2.2 Nguyªn lý vÒ sù ph¸t triÓn……… 8

2 Các quy định về công tác kiểm tra của Đảng……….… 9

2.1 Các quy định chung về công tác kiểm tra Đảng……… 9

2.2 Ý nghĩa, tác dụng và yêu cầu, nhiệm vụ của công tác kiểm tra…… 10

2.2.1 Ý nghĩa tác dụng……… ……… 10

2.2.2 Yêu cầu, nhiệm vụ công tác kiểm tra……… 11

2.3 Những quy định về việc thi hành kỷ luật trong Đảng……… 12

2.3.1 Tính chất kỷ luật của Đảng……… 12

2.3.2 Ý nghĩa tác dụng của kỷ luật……… 13

2.3.3 Phương châm thi hành kỷ luật trong Đảng……… 13

3 Thực hiện công tác kiểm tra tại Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc Giang 13

3.1 Đặc điểm của Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc Giang……… 13

3.2 Thực hiện công tác kiểm tra tại Đảng bộ……… 14

Kết luận……… 17

Danh mục tài liệu tham khảo……… 18

Mở đầu

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi mới thành lập đã chỉ rõ: lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở lý luận cho mọi hoạt động của Đảng Triết học Mác-Lênin, một bộ phận của chủ nghĩa Mác, một học thuyết triết học khoa học và hiện đại,

ra đời trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nền triết học trước đó, đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận cho mọi tư duy và hành động của những người cộng sản Vận dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin để xem xét, giải quyết các vấn đề sẽ có được sự đánh giá khách quan và chặt chẽ

Trang 2

Kiểm tra là một trong các nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng Trong tình hình hiện nay, công tác xây dựng Đảng càng được quan tâm và đảy mạnh Đại hội IX của Đảng ta đã một lần nữa khẳng định: “phát triển kinh tế

là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt” Trước những đòi hỏi ấy, công tác kiểm tra Đảng càng cần được nâng cao về hiệu quả và chất lượng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về công tác xây dụng Đảng Kiểm tra Đảng là một công việc khó khăn, mang những đặc thù riêng, là quá trình đấu tranh và tự đấu tranh trong Đảng Để làm tốt công tác này cần phải có những quan điểm và lập trường vững vàng, bên cạnh đó cần phải được trang bị phương pháp luận đúng đắn và khoa học

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công việc, em chọn nghiên cứu đề tài:

“Sử dụng phép biện chứng duy vật trong công tác kiểm tra tại Đảng uỷ Các cơ quan tỉnh Bẵc Giang” Đề tài nghiên cứu nhằm nhìn nhận các vấn đề từ thực

tiễn công việc dưới góc độ phương pháp luận triết học, qua đó rút ra những vấn

đề mang tính lý luận phục vụ cho công tác

Đề tài thực hiện trên quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng của triết học Mác-Lênin Nghiên cứu các vấn đề lý luận từ đó đánh giá việc sử dụng

lý luận ấy trong thực tiễn Qua quá trình nghiên cứu nhằm khẳng định rõ hơn phương pháp luận trong công tác và hoạt động chuyên môn tại đơn vị

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài được sắp xếp gồm 3 phần:

Phần 1: Phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin

Phần 2: Các quy định về công tác kiểm tra của Đảng

Phần 3: Thực hiện công tác kiểm tra tại Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc

Giang.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Sinh và PGS TS Dương Thị Liễu đã truyền giảng những kiến thức về môn triết học, giúp xây dựng hoàn thiện cho em thế giới quan và phương pháp luận khoa học, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và công tác đạt kết quả tốt hơn

Phần nội dung

1 Phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin

1.1 Các khái niệm chung.

Phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin là sự kế thừa có phê

phán và phát triển chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, đồng thời, dựa vào các thành tựu của khoa học, C.Mác và Ph Ăng-ghen đã sáng tạo, V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cho phép biện chứng một hình thức mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật Phép biện chứng duy vật không những là thế giới quan

Trang 3

khoa học, mà còn trở thành phương pháp luận khoa học để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và phương pháp Hệ thống các phạm trù và qui luật của phép biện chứng duy vật phản ánh đúng đắn thế giới khách quan và chỉ ra những cách thức để định hướng con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Phép biện chứng trình bày có hệ thống và chặt chẽ tính biện chứng của thế giới thông qua những nguyên lý, phạm trù và qui luật chung nhất của thế giới; chúng vừa là lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức khoa học, vừa

là lôgíc học của chủ nghĩa Mác-Lênin

Như vậy, phương pháp biện chứng là tổng hoà hệ thống các nguyên tắc, yêu cầu liên hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau, qui định một trình tự nghiêm ngặt trong việc thực hiện các hành động nhằm nhận thức và cải tạo đối tượng nhận thức

Cách hiểu như vậy thể hiện phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Trong khi vạch ra tính biện chứng chung nhất của thế giới, thông qua hệ thống các phạm trù và qui luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật rút ra những quan niệm, những nguyên tắc xuất phát dùng để chỉ đạo việc xây dựng phương pháp cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Nghiên cứu từng nguyên lý, từng phạm trù, từng qui luật của phép biện chứng duy vật, chúng ta sẽ càng thấy rõ sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và phương pháp của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng là môn khoa học phản ánh những qui luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong cả

ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy đó là sự thống nhất trên cơ sở duy vật giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc biện chứng

1.2 Nội dung của phép biện chứng duy vật.

Là một môn khoa học, phép biện chứng duy vật là một hệ thống bao gồm

ba qui luật và sáu cặp phạm trù cơ bản Mỗi một qui luật phản ánh một mặt khác nhau của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Nhưng khi nằm trong

hệ thống, chúng phản ánh mối liên hệ phổ biến và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Lý luận về các cặp phạm trù và qui luật của phép biện chứng duy vật là sự cụ thể hoá nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển

Hai nguyên lý là quan niệm bao quát những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới, còn các cặp phạm trù và các qui luật là lý luận nghiên cứu các mối liên hệ và khuynh hướng phát triển trong thế giới các sự vật, hiện tượng cụ thể Chính vì thế, chúng cho ta phương pháp luận thực hiện quan điểm toàn diện

và quan điểm phát triển gắn liền với quan điểm lịch sử-cụ thể và các quan điểm khác trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Trang 4

1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng là đặc trưng

cơ bản của phép biện chứng duy vật, nguyên lý này có cơ sở xuất phát từ nguyên

lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Ph.Ăngghen viết rằng, "Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến"

a Khái niệm về mối liên hệ phổ biến.

Khái niệm mối liên hệ phổ biến nói lên sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng Mọi sự liên hệ hay tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng chính là sự vận động, đồng thời chúng là một trong những nguyên nhân tạo ra sự vận động, chuyển hoá của thế giới vật chất

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới không tồn tại một cách biệt lập mà chúng là một thể thống nhất tác động, ràng buộc, qui định và chuyển hoá lẫn nhau

Sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng- đó là các mối liên hệ

bên ngoài, còn mối liên hệ bên trong- đó là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt,

các yếu tố, các bộ phận ở bên trong mỗi sự vât, hiện tượng Giữa các giai đoạn, các quá trình khác nhau trong sự phát triển của bản thân một sự vật, hiện tượng

cũng có mối liên hệ với nhau: Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chung tác

động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ

riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối

liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ

gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng tác động lẫn nhau thông qua nhiều

khâu trung gian Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ bản chất đóng vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của sự vật và cũng có mối liên hệ không bản chất chỉ đóng vai trò phụ thuộc Có mối liên hệ

chủ yếu và có mối liên hệ thứ yếu v.v.

b Các mối liên hệ phổ biến

Các hình thức cơ bản của mối liên hệ phổ biến là những mối liên hệ có tính qui luật giữa những phạm trù trong từng cặp, như: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; nguyên nhân-kết quả; tất nhiên-ngẫu nhiên; nội dung-hình thức; bản chất-hiện tượng; khả năng-hiện thực

Cái chung- cái riêng và cái đơn nhất

Cái chung với tư cách là qui luật tồn tại và phát triển của tất cả các hình

thức đơn lẻ của sự tồn tại của các hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần được thể hiện trong hình thức các khái niệm và các học thuyết Cái chung, đó là cái riêng trong nhiều cái Là qui luật, cái chung thể hiện trong cái riêng và thông qua nhiều cái riêng Bất kỳ một vật thể tồn tại khách quan nào và khái niệm phản ánh nó đều nằm trong sự thống nhất của cái chung và cái đơn nhất

Trang 5

Cái riêng là dấu hiệu của đối tượng, dấu hiệu đó nằm trong mối quan hệ

không giống với các dấu hiệu khác của tất cả các đối tượng khác cùng một loại đối tượng đã được xác định Khi thể hiện những đặc điểm và những tính chất không lặp lại của đối tượng, cái riêng chỉ tồn tại trong cái đơn lẻ gắn trong mình

sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng và cái chung

Cái đơn nhất là một phạm trù triết học thể hiện cái chung trong cái riêng

và thể hiện cái riêng trong sự thống nhất của nó với cái chung

Nguyên nhân-kết quả là một phạm trù triết học phản ánh một trong những

hình thức của mối liên hệ và mối liên hệ tác động qua lại chung của các hiện tượng

Nguyên nhân được hiểu là hiện tượng mà tác động của nó gây ra, qui

định, làm thay đổi, tạo nên hoặc là kéo theo mình những hiện tượng khác Những hiện tượng khác đó được gọi là kết quả.Sự tạo nên kết quả bởi nguyên nhân phụ thuộc vào các điều kiện: Một nguyên nhân đó, trong những điều kiện khác nhau gây ra những kết quả không giống nhau

Sự khác nhau giữa nguyên nhân và điều kiện chỉ mang tính tương đối: Mỗi một điều kiện trong một mối quan hệ xác định lại là nguyên nhân, còn mỗi một nguyên nhân trong mối quan hệ tương ứng lại là kết quả.Nguyên nhân và kết quả nằm trong sự thống nhất: Những nguyên nhân giống nhau trong những điều kiện giống nhau gây ra những kết quả giống nhau

Nguyên nhân và kết quả là những mặt riêng rẽ, là các khoảng khắc, là các khâu của mối quan hệ tác đông qua lại tổng hợp: Chỉ khi cô lập bằng ý nghĩ các hành động riêng rẽ của nó và khi trừu tượng khỏi ảnh hưởng ngược lại, dẫn đến nguồn gốc ra đời, mới có thể nói về tác động một chiều của nguyên nhân lên kết quả Trong các quá trình thực tế, kết quả không thụ động, nó có thể tác động lên nguyên nhân sinh ra mình

Quan hệ nguyên nhân-kết quả thực hiện chức năng phương pháp luận quan trọng, nó định hướng các nhà nghiên cứu lên sự vận động tiến lên của nhận thức theo dây xích nguyên nhân-kết quả, nghĩa là từ các ngẫu nhiên tới cái tất nhiên, từ cái đơn nhất tới cái riêng đến cái chung, từ hình thức tới nội dung, từ hiện tượng tới bản chất

Tất nhiên-ngẫu nhiên là phạm trù triết học tương quan, nó phản ánh những

hình thức liên hệ khác nhau trong thế giới khách quan và trong nhận thức của con người về các hình thức liên hệ đó

Tất nhiên phản ánh các mối liên hệ chung nhất, lặp đi lặp lại, ổn định, bên

trong của hiện thực, nó phản ánh hướng chính sự phát triển của hiện thực đó, là

sự vận động của nhận thức vào chiều sâu của đối tượng khi nhận thức được bản chất và qui luật của đối tượng, là phương pháp chuyển hoá khả năng vào hiện thực, trong đó, ở đối tượng cụ thể, chỉ có một khả năng được chuyển hoá thành hiện thực.Tất nhiên là cái gây ra sự điều chỉnh và các nguyên nhân thường xuyên của quá trình, nó thể hiện sự ổn định, không biến đổi trong cấu trúc của thế giới khách quan, là đặc trưng của tính một nghĩa (thường xuyên là tính tất nhiên)

Trang 6

Ngẫu nhiên phản ánh những mối liên hệ đơn lẻ, không ổn định, không tồn

tại, bên ngoài của hiện thực, là điểm khởi đầu của nhận thức đối tượng, là kết quả sự giao nhau của các quá trình, các sự kiện có nguyên nhân độc lập, là phương pháp chuyển hoá khả năng vào hiện thực, trong đó, ở đối tượng cụ thể, trong những điều kiện cụ thể có một số khả năng khác nhau có khả năng chuyển hoá vào hiện thực, nhưng chỉ có một khả năng trong số đó được thực hiện, là hình thức biểu hiện của tất nhiên và những cái thêm vào nó

Trong hiện thực khách quan, tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại trong các dạng độc lập " ngẫu nhiên- đó chỉ là một cực của sự phụ thuộc qua lại, cực khác của sự phụ thuộc qua lại đó được gọi là tất nhiên"

Nội dung-hình thức là một phạm trù triết học mà trong mối quan hệ qua lại

của chúng, nội dung, với tính cách là mặt xác định của cái nguyên vẹn, tạo ra sự thống nhất của tất cả các thành phần cấu thành nên cái nguyên vẹn đó, của mọi tính chất của nó, của các quá trình bên trong, của các mối liên hệ, của các mâu thuẫn và của các xu hướng, còn hình thức là phương pháp tồn tại và thể hiện của nội dung C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển quan niệm mà Ph.Hêghen đã bắt đầu về sự khác nhau của nội dung với bản thể vật chất của vật thể ("vật chất"): các ông cho rằng, nội dung không phải chính là bản thể, mà là tình trạng bên trong của nó; là tổng số các quá trình, chúng là đặc trưng của sự tác động qua lại giữa các hình dạng của các thành phần bản thể với nhau và với hoàn cảnh và qui định sự tồn tại của chúng, với sự phát triển và sự thay thế của chúng Trong nghĩa này, chính nội dung thể hiện mình là quá trình Cách hiểu duy vật biện chứng về hình thức yêu cầu xem xét nó như cái đang phát triển, cần phải, theo C.Mác, " mô tả cái nguồn gốc, căn nguyên các hình thức khác nhau " và cần hiểu "quá trình hành động tạo lập hình thức trong các giai đoạn khác nhau của quá trình đó"

Khi làm sâu sắc hơn sự phân tích của C.Mác về tính đặc thù của sự phát triển như là sự đấu tranh giữa nội dung với hình thức, mà các yếu tố thành phần của cuộc đấu tranh đó là sự chuyển hoá qua lại của nội dung và hình thức và sự

"lấp đầy" hình thức cũ bằng nội dung mới, V.I.Lênin đã tạo ra vị trí quan trọng

về cái, rằng " mọi sự khủng hoảng, thậm chí mọi bước ngoặt trong sự phát triển, bắt buộc phải đi tới sự không phù hợp giữa hình thức cũ với nội dung mới" Giải quyết mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau- từ việc loại bỏ hoàn toàn hình thức cũ, đã lỗi thời cho phù hợp với nội dung mới, đến việc sử dụng các hình thức cũ, không chú ý tới sự thay đổi đang tồn tại của nội dung Nhưng trong trường hợp này thì chính hình thức cũng không dừng lại ở trạng thái cũ, nội dung mới " có thể và cần phải thể hiện mình trong bất kỳ hình thức nào, trong hình thức cũ và hình thức mới, có thể và cần phải thay đổi hẳn, , gói mình vào mọi hình thức, không những trong các hình thức mới, mà còn trong các hình thức cũ".

Trang 7

Bản chất-hiện tượng là phạm trự triết học phản ỏnh những hỡnh thức

chung của thế giới khỏch quan, của nhận thức về nú và phản ỏnh hoạt động thực tiễn của con người

Bản chất là nội dung bờn trong của đối tượng, thể hiện sự thống nhất của

tất cả cỏc hỡnh thức muụn hỡnh, muụn vẻ và mõu thuẫn với nhau trong sự tồn tại của nú

Hiện tượng là sự thể hiện thế này hoặc sự thể hiện thế khỏc của đối tượng,

là hỡnh thức bờn ngoài, trực tiếp thể hiện sự tồn tại của đối tượng

Nội dung biện chứng của mối quan hệ qua lại của bản chất với hiện tượng được chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ ra Bản chất và hiện tượng là tớnh chất khỏch quan tổng hợp của thế giới đối tượng Trong quỏ trỡnh nhận thức, chỳng thể hiện là cỏc nấc thang nhận thức đối tượng Bản chất và hiện tượng luụn là mối liờn hệ gắn bú, khụng tỏch rời: Hiện tượng gắn trong mỡnh hỡnh thức thể hiện của bản chất, bản chất được mở ra trong hiện tượng Tuy vậy, sự thống nhất giữa bản chất với hiện tượng khụng cú nghĩa là chỳng đồng nhất, hợp nhất với nhau " nếu như hỡnh thức của sự xuất hiện và bản chất của cỏc sự vật trực tiếp đồng nhất với nhau, thỡ mọi khoa học đều trở nờn thừa"

Hiện tượng phong phỳ hơn bản chất, bởi vỡ hiện tượng gắn trong mỡnh khụng chỉ sự thể hiện của nội dung bờn trong, của cỏc mối liờn hệ tồn tại của đối tượng, mà cũn gắn trong mỡnh tất cả cỏc mối quan hệ ngẫu nhiờn, đặc biệt là cỏc đặc điểm của cỏc mối quan hệ ngẫu nhiờn đú Hiờn tượng năng động, biến đổi, trong khi bản chất là cỏi gỡ đú được lưu lại trong mọi sự thay đổi Nhưng, là cỏi

ổn định hơn trong quan hệ so với hiện tượng, bản chất cũng thay đổi " khụng chỉ hiện tượng chuyển hoỏ, xờ dịch, lưu chuyển mà bản chất của vật thể cũng vậy"

Khả năng-hiện thực là phạm trự triết học tương quan, đặc trưng cho hai

mức độ trong sự hỡnh thành và phỏt triển của sự vật, hiện tượng

Khả năng là xu hướng khỏch quan của sự hỡnh thành đối tượng, được thể

hiện trong sự hiện diện của cỏc điều kiện cho sự xuất hiện của đối tượng

Hiện thực là đối tượng đang tồn tại khỏch quan, là kết quả của việc hiện

thực hoỏ của một số khả năng Trong nghĩa rộng, hiện thực là tổng số tất cả những khả năng đó được hiện thực hoỏ

c í nghĩa phơng pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Mỗi sự vật, hiện tợng đều có nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau chứ không tách rời, cô lập nhau Do vậy, khi xem xét sự vật, hiện tợng cụ thể

chúng ta phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện là một trong những

nguyên tắc quan trọng nhất của phơng pháp biện chứng Mác-Lênin Quan điểm toàn diện yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, mọi sự tác

động qua lại của sự vật, hiện tợng đang nghiên cứu với các sự vật, hiện tợng khác Phải nghiên cứu các mối liên hệ của các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tợng đó Phải đặt sự vật, hiện tợng đang nghiên cứu vào trong không gian và thời gian nhất định, nghĩa là phải nghiên cứu quá trình vận động của sự vật, hiện tợng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tơng lai của nó

Trang 8

1.2.2 Nguyên lý về sự phát triển.

Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý về sự phát triển Hai nguyên lý này thống nhất hữu cơ với nhau, bởi vì, liên hệ cũng tức là vận động, không có vận động sẽ không có một sự phát triển nào

a Khái niệm về sự phát triển

Phát triển là sự vận động đi lên, cái mới thay thế cái cũ Tuỳ theo các lĩnh vực khác nhau mà sự phát triển thể hiện ra khác nhau Đặc điểm của sự phát triển

là sự phát triển có tính tiến lên, có tính kế thừa giữa cái cũ và cái mới, có sự dờng

nh lặp lại cái cũ nhng trên cơ sở cao hơn Điờu này vạch ra nguồn gốc bên trong của sự vận động và phát triển, đó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong

sự vật, hiện tợng

b Các qui luật cơ bản của sự phát triển.

Các qui luật chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là Qui luật chuyển hoá từ những thay đổi về lợng dẫn đến những thay đổi về chất (của các sự

vật, hiện tợng) và ngợc lại- gọi tắt là qui luật lợng đổi, chất đổi; Qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các măt đối lập (trong một sự vật, hiện tợng toàn vẹn)- qui

luật mâu thuẫn và Qui luật phủ định của phủ định (của các sự vật, hiện tợng)- qui luật phủ định Các qui luật này thể hiện là các hình thức chung của sự vận động

và phát triển của thế giới vật chất và của nhận thức của con ngời về thế giới đó,

đồng thời, các qui luật này cũng tạo ra cơ sở cho phơng pháp chung của nhận thức biện chứng

Qui luật mâu thuẫn nói lên nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận

động và phát triển: sự phát triển của thế giới vật chất và của nhận thức đợc thực hiện bằng con đờng chia đôi thể thống nhất thành các yếu tố đối lập, cùng triệt tiêu nhau, thành các mặt, các xu hớng; thành mối liên hệ qua lại của chúng; thành sự "đấu tranh" và giải quyết những mâu thuẫn- về một mặt, có đặc tính chung của hệ thống này hay của hệ thống khác nh là của thể thống nhất nào đó

có chất xác định Còn về mặt kia, tạo nên sự kích thích bên trong cho sự thay đổi của thể thống nhất đó, tạo nên sự kích thích bên trong của sự phát triển, của sự chuyển hoá của nó vào chất mới

Nắm vững đợc nội dung của qui luật này là cơ sở để nhận thức tất cả các phạm trù và qui luật khác của phép biện chứng duy vật Nội dung qui luật này còn giúp chúng ta hình thành phơng pháp, hình thành t duy khoa học, biết khám phá ra bản chất của các sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật, hiện tợng phát triển

Qui luật lợng đổi-chất đổi (và ngợc lại) nói lên cách thức của sự vận động

và phát triển khi cho rằng, mọi sự thay đổi về chất chỉ xẩy ra khi sự vật, hiện tợng

đã tích luỹ đợc những thay đổi về lợng đã đạt đến giới hạn- đến độ Qui luật này chỉ ra cơ chế chung nhất của sự phát triển: Những thay đổi về chất của sự vật, hiện tợng chỉ xẩy ra khi đã tích luỹ đợc những thay đổi về lợng đến giới hạn xác

định, tức là đến độ, xẩy ra bớc nhảy, có nghĩa là diễn ra sự thay thế một chất này

bằng một chất khác

Qui luật phủ định chỉ ra sự định hớng cho sự phát triển; nói lên khuynh

hớng tiến lên của sự phát triển của các sự vật, hiện tợng Nội dung chính của qui luật này đợc thể hiện trong sự thống nhất giữa các tính chất tiến lên, tiến bộ với

sự kế thừa trong sự phát triển: trong sự xuất hiện của cái mới, có lặp lại một cách tơng đối một số đặc tính, thành phần của cái cũ và kết qủa là trong cái mới tồn tại một số đặc tính, thành phần của cái cũ

Trong phép biện chứng duy vật, nếu nh qui luật mâu thuẫn chỉ ra nguyên nhân của sự phát triển, qui luật lợng đổi chất đổi là cách thức của sự phát triển thì qui luật phủ định của phủ định chỉ ra phơng hớng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó

Trang 9

c ý nghĩa phơng pháp luận của nguyên lý về sự phát triển.

Nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức đợc rằng, muốn thực sự nắm đợc bản chất của sự vật, hiện tợng, nắm đợc khuynh hớng phát triển của chúng thì phải có quan điểm phát triển, khắc phục t tởng bảo thủ, trì trệ

Quan điểm phát triển yêu cầu chúng ta, khi phân tích một sự vật, hiện tợng phải đặt nó trong sự vận động, phải phát hiện đợc các xu hớng biến đổi, chuyển hoá của chúng V.I.Lênin cho rằng: "Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự "tự vận động" " trong sự biến đổi của nó".

2 Cỏc quy định về cụng tỏc kiểm tra của Đảng.

2.1 Cỏc quy định chung về cụng tỏc kiểm tra Đảng.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoỏ IX cú quy định tại Chương VII về Cụng tỏc kiểm tra của Đảng và uỷ ban kiểm tra cỏc cấp, cụ thể được quy định rừ tại Điều 30 và Điều 32

Điều 30 quy định:

“1 Kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành cụng tỏc kiểm tra Tổ chức đảng và đảng viờn chịu sự kiểm tra của Đảng.

2 Cỏc cấp uỷ đảng lónh đạo cụng tỏc kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm

vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viờn chấp hành Cương lĩnh chớnh trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng”.

Điều 32 quy định:

“Uỷ ban kiểm tra cỏc cấp cú nhiệm vụ:

1 Kiểm tra đảng viờn, kể cả cấp uỷ viờn cựng cấp khi cú dấu hiệu vi phạm tiờu chuẩn đảng viờn, tiờu chuẩn cấp uỷ viờn và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viờn.

2 Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi cú dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chớnh trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, cỏc nguyờn tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.

3 Xem xột, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc

đề nghị cấp uỷ thi hành kỷ luật.

4 Giải quyết tố cỏo đối với tổ chức đảng và đảng viờn; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.

5 Kiểm tra tài chớnh của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan tài chớnh cựng cấp.”.

Điều lệ Đảng là bộ luật cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi quy định trong Điều lệ là sự tập chung ý trớ và trớ tuệ của toàn Đảng Đảng được tổ chức và hoạt động theo nguyờn tắc tập trung dõn chủ, do vậy mọi hoạt động của đảng viờn và cỏc tổ chức đảng cơ sở phải tuyệt đối tuõn thủ theo cỏc quy định tại Điều lệ Đảng Điều lệ đó xỏc định kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo chủ yếu của Đảng, khụng cú kiểm tra thỡ coi khụng cú lónh đạo: Đảng lónh đạo bằng chủ trương, đường lối và được cụ thể hoỏ bằng cỏc nghị quyết, chỉ thị của Đảng, được thể chế hoỏ bằng chớnh sỏch, phỏp luật của nhà nước; Cỏc chủ

Trang 10

trương, đường lối của Đảng đều bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống và dựa trên các quy luật vận động khách quan; Mỗi chủ trương, đường lối của Đảng được ban hành, sau một quá trình tổ chức thực hiện sẽ được phát triển, hoàn thiện ở một mức độ cao hơn, điều này đòi hỏi cần phải có công tác kiểm tra và tổng kết thực tiễn

Quy định này đã xác định rõ Công tác kiểm tra là của toàn Đảng Các tổ chức Đảng vừa phải tiến hành công tác kiểm tra, vừa chịu sự kiểm tra của tổ chức Đảng cấp trên, công tác kiểm tra là mang tính toàn diện: kiểm tra cả các đảng viên và tổ chức đảng, ở các cấp từ trung ương đến địa phương, mang tính thường xuyên, liên tục: đảm bảo trong mỗi nhiệm kỳ, mỗi đảng viên và tổ chức đảng phải được tiến hành kiểm tra một lần…Công tác kiểm tra được thực hiện bởi cấp uỷ các cấp và uỷ ban kiểm tra các cấp, cấp uỷ lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo quy định, uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm

vụ kiểm tra theo quy định đồng thời có nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ cùng cấp thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra

2.2 Ý nghĩa, tác dụng và yêu cầu, nhiệm vụ của công tác kiểm tra 2.2.1 Ý nghĩa tác dụng.

Kiểm tra là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động ý thức của một tổ chức và con người trong xã hội: Hoạt động có tổ chức và con người trong xã hội là hoạt động có ý thức Điều này đã được Mác minh hoạ bằng sự so sánh về sự khác biệt giữa nhà kiến trúc tồi nhất (hoạt động có ý thức)

và con ong giỏi nhất (hoạt động theo bản năng) là "nhà kiến trúc trước khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong thì đã xây dựng từng ngăn đó trong óc mình rồi"

Nhận thức bao giờ cũng là một quá trình Tổ chức dù vững mạnh, con người dù có tài năng, có khoa học và công nghệ phát triển cao, cũng không thể một lúc hiểu biết được mọi vấn đề, mọi sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, chuẩn xác Vì vậy muốn đạt được kết quả trong thực tiễn, phải xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá, nghĩa là phải kiểm tra; phải kiểm tra toàn bộ từ ý định, chủ trương, kế hoạch đến hoạt động thực tiễn và kết quả đã đạt được để giúp cho tổ chức và con người đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của ý định, chủ trương, kế hoạch, hành động; kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa đổi những thiếu sót, chưa đồng bộ, chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc; bảo đảm ý định, chủ trương, kế hoạch, hành động được đúng đắn, chuẩn xác hơn, chất lượng, hiệu quả đạt được tốt đẹp hơn Do đó, hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra; ý thức càng cao, tổ chức càng quan trọng, con người ở cương vị càng cao và cán bộ chủ chốt các cấp, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp, thì càng đồi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt công tác kiểm tra

Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Kiểm tra là một nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của toàn Đảng

2.2.2 Yêu cầu, nhiệm vụ công tác kiểm tra.

Ngày đăng: 12/04/2017, 15:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w