Trong mỗi sựvật mâu thuẫn không phải chỉ là một mà nó phát sinh rất nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập mâu thuẫn này mất đi thì mâuthuẫn khác lại xuất hiện
Trang 1Lời nói đầu
Mâu thuẫn là một hiện tợng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội
và cả trong t duy của con ngời Trong mỗi sự vật mâu thuẫn hình thành khôngchỉ có một mà có nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt
đối lập, mâu thuần này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành
Trong hoạt động kinh tế hiện tợng đó cũng mang tính phổ biến, mâuthuẫn luôn tồn tại khi sự vật xuất hiện và đến khi sự vật kết thúc Trong mỗi sựvật mâu thuẫn không phải chỉ là một mà nó phát sinh rất nhiều mâu thuẫn và
sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập mâu thuẫn này mất đi thì mâuthuẫn khác lại xuất hiện
Cùng với xu thế của thời đại và sự biến động của thế giới thì việc chuyểnsang nền kinh tế thị trờng của Việt Nam là một tất yếu Trong 15 năm qua nhờ
có đờng lối đổi mới đúng đắn thoát khỏi những khủng hoảng, đạt tốc độ tăngtrởng nhanh, đời sống nhân dân đợc cải thiện đáng kể, chính trị xã hội ổn
định, quốc phòng an ninh quốc gia đợc giữ vững, từ một nền kinh tế quan liêubao cấp đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủnghĩa dựa trên quy- luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị trờng Trong sựnghiệp đổi mới đã thu đợc rất nhiều thắng lợi, những thắng lợi thành công bớc
đầu mang tính quyết định, quan trọng trong công cuộc đổi mới Tuy nhiên bêncạnh những thành công đó luôn tồn tại những vấn đề mâu thuẫn làm kìm hãm
sự phát triển của công cuộc đổi mới Việc nhận thức đúng tìm ra nhữngnguyên nhân và giải quyết chúng có vai trò vô cùng cần thiết để thúc đẩy nềnkinh tế Việt Nam phát triển Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, hàng đầucủa Đảng và Nhà nớc
Xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là một yếu tốtất yếu cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nớc ta Trong 15 nămqua nhờ có đờng lối đổi mới đúng đắn thoát khỏi những khủng hoảng, đạt tốc
độ tăng trởng nhanh, đời sống nhân dân đợc cải thiện đáng kể, chính trị xã hội
Trang 2ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia đợc giữ vững, từ một nền kinh tế quanliêu bao cấp đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hộichủ nghĩa dựa trên quy- luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị trờng.
Trớc thực trạng trên và với mong muốn tìm hiểu để giải quyết những vấn
đề của nên kinh tế, quan điểm lý luận cũng nh những vớng mắc trong, xử lýcác vấn đề chính trị, xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong
việc chuyển đổi nền kinh tế, tôi chọn đề tài"Quy luật mâu thuẫn của phép
biện chứng duy vật với việc phân tích hệ thống mâu thuẫn kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam".
Tiểu luận gồm 3 phần:
Chơng I : Quan điểm của các t tởng triết học về mâu thuẫn
Chơng II Tính tất yếu khách quan của quá trình xây dựng nền kinh tế thịtrờng ở Việt Nam
Chơng III Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tếthị trờng theo định hớng XHCN ở Việt Nam
Trang 3Chơng I : quan điểm của các t tởng triết học về mâu
thuẫn 1.1 Một số t tởng triết học về mâu thuẫn và các mặt đối lập.
Trải qua các quá trình phát triển của những hình thái khác nhau và cácquá trình phát triển cao của các t tởng triết học nhân loại các quan niệm khácnhau về mâu thuẫn cũng thay đổi Mỗi thời đại, mỗi trờng phái có những lýgiải khác nhau về mâu thuẫn, về những mặt đối lập, vì triết học luôn xuất phát
từ những bối cảnh lịch sử nhất định
Triết học Trung Hoa đã xuất hiện rất lâu và những quan điểm biện chứng
về mâu thuẫn thời kỳ này đã xuất hiện còn sơ khai Phái Âm - Dơng nhìn nhận
là mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối cũng không phảitrong sự loại trừ biệt lập không thể tơng đồng Trái lại tất cả bao hàm sự thốngnhất của các mặt đối lập đợc gọi là sự thống nhất của Âm - Dơng Âm - Dơng
là đối lập nhau nhng là điều kiện tồn tại của nhau Phái đạo gia mà ngời sánglập là Lão Tử, ông cũng có những t tởng biện chứng độc đáo về sự thống nhấtbiện chứng của mặt đối lập này bao hàm của mặt đối lập Tất cả trong đó, mỗimặt đều trong quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này thì cũng không cómặt kia và giữa chúng cũng chỉ là tơng đối
Triết học Hy Lạp, Heraclit phỏng đoán rằng mâu thuẫn tồn tại trong mọi
sự vật của Thế giới Theo ông, các mặt đối lập gắn bó, quy định, rằng buộc vớinhau.Heraclit còn khẳng định vũ trụ là một thể thống nhất nhng trong lòng nóluôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các lực lợng đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồntại và vận động
Đến triết học Tây Âu thời phục hng và cận đại cùng với những thành tựu
về khoa học tự nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và duy vật cũngdiễn ra hết sức gay gắt Nhng các quan điểm của thời kỳ này vẫn rơi nhiều vàosiêu hình máy móc Sang đến triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàmnhững t tởng triết học tiến bộ, cách mạng và khoa học Triết học cổ điển Đức
đã đạt tới trình độ khái quát và t duy trừu tợng rất cao với những hệ thống kếtcấu chặt chẽ thể hiện một trình độ t duy tài biện thâm cao vợt xa tính trựcquan siêu hình của nền triết học Anh - Pháp ở thế kỷ XVII - XVIII, do vậy các
Trang 4t tởng triết học về mâu thuẫn đã có những bớc tiến đáng kể Đại biểu đặc trngcủa triết học cổ điển Đức là Heghen Mặc dù là nhà triết học duy tâm nhnghọc thuyết về bản chất và t tởng của Heghen về mâu thuẫn lại hết sức biệnchứng Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của sựphát triển Theo ông, lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa những" tính quy
định " rồi trong sự đồng nhất ấy bộc lộ ra những khác biệt, rồi khác biệt lạichuyển thành những mặt đối lập và cuối cùng xuất hiện mâu thuẫn Song theo
ông mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của" ý niệm tuyệt đối " chứ không phải củathế giới vật chất Heghen cũng đa ra t tởng cho rằng hiện tợng và bản chấtthống nhất với nhau, bản chất thể hiện ra trong hiện tợng và hiện tợng là thểhiện của bản chất
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Nhận thức duy vật biện chứng về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác là nhậnthức đúng đắn nhất nó đã phát triển thành một quy luật - Quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập - là một trong những hạt nhân của phép biệnchứng Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật và hiện tợngtrong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật và hiện tợng đều làmột thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hớng đối lậpnhau Những mặt này đối lập với nhau nhng lại liên hệ rằng buộc nhau tạothành mâu thuẫn
Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tợng khách quan mà còn là một hiệntợng phổ biến Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật hiện tợng củagiới tự nhiên , đời sống xã hội và t duy của con ngời Không có sự vật nào,hiện tợng nào lại không có mâu thuẫn và không có giai đoạn nào trong sự pháttriển của mỗi sự vật, hiện tợng lại không có mâu thuẫn Mâu thuẫn này mất đi,mâu thuẫn khác lại hình thành Để chứng minh tính khách quan và phổ biếncủa mâu thuẫn, Ăng- ghen chỉ ra rằng, ngay hình thức đơn giản nhất của vậtchất - vận động cơ học, đã là một mâu thuẫn Sở dĩ sự di động một cách máymóc và đơn giản ấy có thể thực hiện đợc chỉ là vì mọt vật trong cùng một lúcvừa là ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa là ở trong cùng một chỗ duy nhất lạivừa không ở chỗ đó Tất nhiên sự tồn tại của vật chất ở những hình thức vận
Trang 5động cao hơn lại càng bao hàm mâu thuẫn Trong lĩnh vực t duy cũng vậy,chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn nh mâu thuẫn giữa năngkhiếu nhận thức vô tận ở bên trong của con ngời với sự tồn tại thực tế củanăng khiếu ấy trong những con ngời bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bịhạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn này đợc giải quyếttrong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó rút ra đối với chúng ta, thực tếcũng là vô tận, và đợc giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận.
1.2.1 Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quátnhững thuộc tính, những khuynh hớng ngợc chiều nhau tồn tại trong cùng một
sự vật hiện tợng, tạo nên sự vật hiện tợng đó Do đó, cần phải phân biệt rằngbất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Trong cùng một thời
điểm ở mỗi sự vật hiện tợng có cùng tồn tại nhiều mặt đối lập Chỉ có nhữngmặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nh một chỉnh thể, nhng
có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hóalẫn nhau (Sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy
định bản chất, khuynh hớng phát triển của sự vật) thì có hai mặt đối lập nh vậymới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn"thống nhất" của hai mặt đối lập đợc hiểuvới ý nghĩa không phải chúng đứng cạnh nhau mà nơng tựa vào nhau, tạo ra sựphù hợp cân bằng nh liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau Mặt
đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngợc lại.Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định khôngtồn tại của sự vật Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiệnkhông thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tợng nào Sự thốngnhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên Ví dụ:Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trờng là điềukiện cho sự tồn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nềnkinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhng nólại hết sức quan trọng Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị tr ờng ởViệt Nam không thể tồn tại với ý nghĩa là chính nó
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
Trang 6sự đấu tranh chuyển hóa giữa chúng Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trongmột sự vật thống nhất nh một chỉnh thể trọn vẹn nhng không nằm yên bênnhau mà điều chỉnh chuyển hóa lẫn nhau tạo thành động lực phát triển củabản thân sự vật Sự đấu tranh chuyển hóa, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa cácmặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối khángmâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìmhãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xãhội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫnmột cách căn bản
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia làm nhiều giai đoạn Thông ờng, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập cha thể hiện rõ xung khắc gay gắtngời ta gọi đó là giai đoạn khác nhau Tất nhiên không phải bất kỳ sự khácnhau nào cũng đợc gọi là mâu thuẫn Chỉ có những khác nhau tồn tại trongmột sự vật nhng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiều nhau, tạo thành
th-động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bớc
đầu của một mâu thuẫn Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đếngiai đoạn xung đột gay gắt, nó biến hành độc lập Sự vật cũ mất đi, sự vật mớihình thành Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự thống nhất của hai mặt đốilập cũ đợc thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lậpmới lại đấu tranh chuyển hóa tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn đợc giải quyết,
sự vật mới xuất hiện Cứ nh thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vậtbiến đổi không ngừng từ thấp lên cao Vì vậy, Lênin khẳng định"sự phát triển
là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập"
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập, Lênin chỉ ra rằng:"Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tạivới ý nghĩa là chính nó - nh có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng
ta nhận biết đợc sự vật, hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan Song bảnthân của sự thống nhất chỉ là tơng đối và tạm thời Đấu tranh giữa các mặt
đối lập mới là tuyệt đối Nó diễn ra thờng xuyên, liên tục trong suốt quá trìnhtồn tại của sự vật Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng nh khi chuyển
Trang 7hóa nhảy vọt về chất".
1.2.2 Chuyển hóa của các mặt đối lập
Không phải bát kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sựchuyển hóa giữa chúng Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đếnbất kỳmột trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết dẫn đến chuyểnhóa, bài trừ và phủ định nhau Trong giới tự nhiên, chuyển hóa của các mặt
đối lập thờng diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hóa của cácmặt đối lập nhất thiết phải thông qua hoạt động có ý thức của con ngời
Vì vậy, không nên hiểu sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ
là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc Thông thờng thì mâu thuẫnchuyển hóa theo hai phơng thức:
+ Phơng thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hóa thành mặt đối lập kianhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện vật chất của sự vật
Ví dụ: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến
đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệsản xuất t bản chủ nghĩa và lực lợng sản xuất mới ở trình độ cao hơn
+ Phơng thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau để thànhhai mặt đối lập mới hoàn toàn
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa
Từ các mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiệntợng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính cókhuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau Sự đấu tranh chuyển hóa của các mặt đốilập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn là hiện tợng kháchquan, phổ biến của thế giới Mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật cũng mất đi, sự vậtmới hình thành Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hóa và phủ định lẫn nhau để tạothành sự vật mới hơn Cứ nh vậy mà các sự vật, hiện tợng trong thế giới kháchquan thờng xuyên phát triển và biến đổi không ngừng Vì vầy, mâu thuẫn lànguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển
Trang 8CHơng II Tính tất yếu khách quan của quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
2.1 Khái niệm kinh tế thị trờng
Kinh tế thị trờng là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó sảnxuất xã hội gắn chặt với thị trờng, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hóa -tiền tệ với quan hệ cung cầu Trong nền kinh tế thị tr ờng nét biểu hiện cótính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hóa Mọi hoạt động xãhội đều phải tính đến quan hệ hàng hóa, hay ít nhất thì cũng phải sử dụngcác quan hệ hàng hóa nh mắt khâu trung gian
Trớc khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng nền kinh tế của nớc ta lànền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc áp dụng cơ chế quản lý cũ khôngcòn hợp lý và dẫn đến nhiều tiêu cực, sản xuất kém hiệu quả do sự quản lýkhông có hiệu quả Đến giữa những năm 80 thì những mâu thuẫn trong nềnkinh tế này đã đi đến đỉnh điểm Sản xuất thua lỗ, đình đốn, lạm phát, thamnhũng tăng nhanh, đời sống nhân dân bị giảm sút, thậm chí một số địa phơngnạn đói đang rình rập Nguyên nhân sâu xa về sự suy thoái nền kinh tế ở nớc
ta là do ta rập khuôn một mô hình kinh tế không thích hợp và kém hiệu quả Tại Đại hội VI của đảng đã chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiêu thànhphần và thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóatập trung sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN Đến đại hội VII Đảng taxác định rõ việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta là một tất yếu khách quan vàtrên thực tế đang diễn ra việc đó, tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xãhội chủ nghĩa Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọngtrong lý luận cũng nh trong thực tế lãnh đạo của Đảng trên mặt trận làm kinh
tế Xem xét dới góc độ khoa học việc chuyển đổi nền kinh tế nớc ta sang nềnkinh tế thị trờng là đúng đắn Nó phù hợp với thực tế của nớc ta phù hợp vớicác quy luật kinh tế và với xu thế của thời đại
Thứ nhất : nếu không thay đổi cơ chế kinh tế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ
thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ cha muốn nói đến tích lũyvốn để mở rộng sản xuất Thực tế những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ
Trang 9thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta đã liên tục đổi mới hoàn thiện cơchế quản lý kinh tế , nhng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp.Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tích lũy hầu nhkhông có đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nớc ngoài.
Thứ hai: do đặc trng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc do đó nó
chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tácdụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng Nền kinh tế chỉ huy ở nớc ta tồntại quá dài do đó nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc
đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tợng tiêu cực làm giảmnăng suất chất lợng và hiệu quả sản xuất
Thứ ba: Xét về sự tồn tại thực tế ở nớc ta những nhân tố của kinh tế thị
trờng Về vấn đề này có nhiều ý kiến đánh gía khác nhau Nhiều ý kiến chorằng thị trờng ở nớc ta là thị trờng mới hình thành còn non yếu và còn là thị tr-ờng sơ khai Thực tế kinh tế thị trờng đã hình thành và phát triển đạt đợcnhững mức phát triển khác nhau ở hầu hết các đô thị và các vùng đồng bằngven biển Thị trờng trong nớc đã đợc thông suốt và vơn tới những vùng hẻolánh và đang đợc mở rộng với thị trờng quốc tế Nhng thị trờng ở nớc ta pháttriển cha đồng bộ còn thiếu hẳn thị trờng các yếu tố sản xuất nh thị trờng lao
động, thị trờng vốn, thị trờng đất đai và về cơ bản vẫn là thị trờng tự do, mức
độ can thiệp của nhà nớc còn rất thấp
Thứ t: Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nớc ta
đang hòa nhập với nền kinh tế thị trờng thế giới, sự giao lu về hàng hóa, dịch
vụ và đầu t trực tiếp của nớc ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nớc tagần gũi hơn với nền kinh tế thị trờng thế giới Tơng quan giá cả của các loạihàng hóa trong nớc gần gũi hơn với tơng quan giá cả hàng hóa quốc tế
Thứ năm: Xu hớng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển
kinh tế của mỗi nớc không thể tách rời sự phát triển và hòa nhập sự cạnh tranhgiữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất không còn là dân số đông, vũ khínhiều, quân đội mạnh, mà là tiềm lực kinh tế Mục đích của các chính sách,của các quốc gia là tạo ra dợc nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình
là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân đợc cải thiện, thất nghiệp
Trang 10thấp Tiềm lực kinh tế đã trở thành thớc đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh củamỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các
Thứ nhất: việc chuyển đổi này là một thay đổi cơ bản về chất từ cơ chế
kinh tế cho đến cách thức quản lý kinh tế do đó không thể thực hiện đợcbằngcác sắc lệnh chủ quan mà chỉ có thể thực hiện đợc bằng sự vận động củabản thân nền kinh tế theo trật tự những nhân tố mới hình thành phát triển thaythế dần các nhân tố cũ Cơ chế kinh tế mới chỉ chiến thắng cơ chế kinh tế cũkhi năng suất lao động và hiệu quả kinh tế do cơ chế mới tạo ra cao hơn năngsuất lao động và hiệu quả kinh tế do cơ chế cũ đã tạo ra trớc đó Vì vậy vai tròchủ đạo của nhà nớc là thúc đẩy tiến trình chuyển đổi theo hớng khách quannhằm tạo điều kiện cho cơ chế kinh tế mới nhanh chóng thay thế cơ chế kinh
tế cũ
Thứ hai: thay thế cơ chế cũ bằng cơ chế mới không phải là xóa bỏ sạch
trơn cái cũ mà là loại bỏ những mặt tiêu cực lạc hậu và giữ lại những tích cựctiến bộ còn phù hợp với điều kiện mới
Thứ ba: trong quá trình chuyển đổi xuất hiện khoảng trống giữa hai cơ
chế kinh tế Khoảng trống nếu kéo dài rất dễ phát sinh ra các hiện tợng tiêucực nh tham ô lãng phí chuyển sở hữu công cộng thành sở hữu cá nhân Do đóvấn đề cấp bách của việc chuyển đổi là nhà nớc phải nhanh chóng xóa bỏkhoảng trống giữa hai cơ chế kinh tế và sớm thoát khỏi vùng tranh tối tranhsáng, nơi mà thờng xảy ra rất nhiều các hiện tợng tiêu cực Do đó trong một sốtrờng hợp nhà nớc phải đóng vai trò"bà đỡ"cho thị trờng phát triển đợc đồng
bộ và đầy đủ hơn Muốn làm đợc những việc trên chúng ta phải xác định cho
đợc nền kinh tế thị trờng hớng tới Đảng nhà nớc mong muốn
Trang 112.3 Những thành tựu đạt đợc sau hơn 10 năm đổi mới.
Thực hiện 10 năm đổi mới ở Việt Nam đã CM mô hình CNXH mà Lêninnêu ra trong chính sách kinh tế mới là khoa học và phù hợp với quy hoạchkhách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã biến hànhphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Các thành phần kinh tế cóvai trò đặc điểm khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứngvới nhau, làm tiền đề cho nhau
Việt Nam đã tiến hành phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớngXHCN Đảng ta đã khẳng định việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc lâu dài, có tính quy luật và thuộc về bảnchất của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, chứ không phải là tàn d của xã hộitrớc để lại Đảng ta còn xác định đợc các bớc đi trong thời kỳ quá độ Thựchiện một loạt các bớc quá độ trung gian nh Xác định chặng đờng đầu tiên củathời kỳ quá độ Và những chặng đờng tiếp theo đến năm 2000, 2010, 2020
Để xác định công nghiệp hóa cho phù hợp Từ chỗ lấy nông nghiệp là mặt trậnhàng đầu tiến tới phát triển ba chơng trình kinh tế, đến nay đi vào giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, trong đó rất coi trọng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Quá trình đó thực sự là một cuộc cáchmạng trong t duy đó là Tiếp cận, nắm bắt và tận dụng các yếu tố khách quan,từng bớc phát triển kinh tế vững chắc,từng bớc củng cố và hoàn thiện thể chếxã hội - XHCN
Mặt khác để phát huy lợi thế so sánh và lợi thế của các nớc đi sau Đảng
ta đã thực hiện nền kinh tế mở theo nguyên tắc Bình đẳng, hợp tác cùng cólợi, chủ trơng là bạn với tất cả các nớc Vì hòa bình độc lập và phát triển, mởrộng buôn bán hợp tác trên lĩnh vực đầu t nghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ nhằm tranh thủ vốn và khoa học - công nghệ hiện đại của thế giới.Thông qua các hình thức liên doanh liên kết và xây dựng các khu chế xuất hay
đặc khu công nghiệp
Chúng ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn sau hơn 10 năm đổi mới.Nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng triền miên hàng chục năm và bớc