Song mặt trái của sự phát triển kinh tế đó là làm ô nhiễm môi trờng bởi các chất thải công nghiệp, nhà ở, ý thức ngời dân…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trDo vậy vấn đề p
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, nền kinh tế của chúng ta đang phát triển một cách mạnh mẽ Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu chúng ta dần chuyển mình trở thành một nớc công nghiệp, đời sống nhân dân ngày một nâng cao Song mặt trái của sự phát triển kinh tế đó
là làm ô nhiễm môi trờng bởi các chất thải công nghiệp, nhà ở, ý thức ngời dân…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trDo vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái là mộy đề tài đợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đối với nớc ta nó trở thành một vấn
đề nghiêm trọng cần phải giải quyết hợp lý
Việt Nam đang bớc vào công cuộc phát triển kinh tế- xã hội, công nghiệp hoá đất nớc với tốc độ tơng đối cao Trong những năm qua, tổng sản phẩm quốc nội(GDP) tăng bình quân hàng năm là trên 7%, công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 12,6% Đó là nức tăng trởng khá cao so với các nớc trên thế giới và trong khu vực Mục tiêu phấn đấu đẫ đợc Đảng và Nhà nớc xác định là:” Từ giờ đến năm 2020 ra sức phấn đấu đa nớc ta trở thành một nứoc công nghiệp” Theo định hớng mục tiêu đó, dự kiến kế hoạch trong những năm tới, tăng trởng kinh tế ở nớc ta, mặc dù còn có nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới và khu vực, vẫn phải đợc duy trì ở mức khá cao nh vậy sẽ còn đợc tiếp tục duy trì trong một vài thập niên tới
Sự phát triển và tăng trởng cao nh vậy là một điều cần thiết nhằm làm cho đất nớc nhanh chóng phát triển, hoà nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Nhng đồng thời cũng chính sự phát triển với nhịp độ cao nh vậy cũng có nghĩa là một khối lợng tài nguyên thiên nhiên ngày càng tăng đợc khai thác nhiều hơn để chế biến, một khối lợng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng đợc thải ra tự nhiên Nhất là trong vài năm gần đây, do nền kinh tế nớc ta đang đi trên con đờng công nghiệp hoá hiện đại hoá đã dẫn đến tình trạng môi trờng đô thị ngày càng ô nhiễm nặng nề, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, các thành phố lớn Do vậy, bảo vệ môi trờng là một vấn
đề quan trọng đợc Đảng và Nhà nớcta rất quan tâm trong chiến lợc xây dựng kinh tế- xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá -hiện đại hhoá đất nớc Vì vậy cần có một chính sách đúng đắn, cụ thể về bảo vệ môi trờng thì kinh tế sẽ phát triển bền vững và ổn định Vì vậy trên quan điểm triết học duy vật biện chứng
ta có thể nhận thấy gia môi trờng và kinh tế có mối quan hệ biện chứng, trong
đó giữa các mặt có sự tác động và ảnh hởng lẫn nhau một cách sâu sắc và tơng quân hỗ trợ nhau
Trong khuôn khổ bài tiểu luận triết học này em xin trình bày một số hiểu biết về phép biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trờng sinh thái ở nớc ta hiện nay và những đóng góp nhỏ bé của mình vào công cuộc phát
Trang 2triển của đất nớc với t cách là một nhà kinh tế trẻ trong tơng lai Bài tiểu luận này chắc chắn không tránh khỏi sai sót về nội dung cung nh ngôn từ Em rất mong đợc thầy cùng các bạn giúp đỡ, đóng góp ý kiến
Trong bài tiểu luận nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trờng sinh thái,em đặt ra những vấn đề sau:
I> Quan điểm biện chứng về mâu thuẫn
1 Mâu thuẫn là động lực để phát triển
2 Tính phổ biến của mâu thuẫn
II> Quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trờng sinh thái ở Việt Nam
1.Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trờng sinh thái
a Khái niệm
- Phát triển kinh tế
-Môi trờng sinh thái-kinh tế môi trờng
-Phát triển bền vững
b Phân tích sự mâu thuẫn và thống nhất giữa hai mặt phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trờng sinh thái
-Sự đối lập
-Sự thống nhất
2.Tình trạng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái ở nớc ta trong thời gian qua
III> Một số giải pháp để két hợp phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái ở nớc ta hiên nay
NỘI DUNG
I> Quan điểm biện chứng về mâu thuẫn
-Khái niệm: Mâu thuẫn biện chứng là mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật hay giữa sự vật này với sự vật khác
1> Mâu thuẫn là động lực để phát triển
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hớng tác
động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Nh vậy mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả sự “thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập Sự theống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không thể tách rời nhau trong quá trình vận động phát triển của sự vật
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt tác động và làm
Trang 3cho mâu thuẫn phát triển Khi mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhng theo khuynh hớng trái ngợc nhau Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn đợc giải quyết V.I Lênin viết:
“sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập “tuy nhiên, không
có thông nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của sự phát triển
2> Tính phổ biến của mâu thuẫn
Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong tất cả các sự vật, hiện tợng,cũng
nh trong tất cả các giai đoạ phát triển của nó, đó là sự tất y u.ếu
Mâu thuẫn tồn tại trong đời sống xã hội dới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong suốt quá trình phát triển của chúng Không có sự vật hiện tợng nào lại không
có mâu thuẫn và không có giai đoạn trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện t-ợng lại không tồn tại mâu thuẫn, một khi mâu thuẫn này mất đi thì lại có mâu thuẫn khác đợc hình thành Ngay cả trong lĩnh vực t duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn nh mâu thuẫn giữa năng khiếu nhân thức vô tận ở bên trong của mỗi con ngời với sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con ngời bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn này đợc giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ con ngời, thế hệ nào cũng đều đạt đợc những tiến bộ nhất định trong sự vạn động đi lên vô tận của t duy Tóm lại, mọi sự vật, hiện tợng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hớng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, là cho cái cũ mất đi và cái mới ra
đời thay theế
II> Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trờng.
1.1> Khái niệm
Phát triển kinh tế:
Trang 4Phát triển kinh tế là sự tăng trởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lơng cuộc sống và đời sống xã hội hay là
sự đi lên của nền kinh tế
Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện cho đợc ba nội dung sau:
Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quôc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngời
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của nhu cầu thực tế, chất lợng giáo dục, y tế…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr mà mỗi ngời đợc hởng Cơ cấu tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống
Môi trờng sinh thái- Kinh tế môi trờng:
Môi trờng là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và phát
triển cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ nói riên của nền kinh tế-xã hội và nhận thức công loài ngời nói chung
Kinh tế môi trờng là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ, lấy các
vấn đề môi trờng làm đối tợng nghiên cứu chính của mình và tiếp cận chủ yếu dới góc độ kinh tế
Môi trờng là toàn bộ các vùng địa- vật lí và sinh học, các điều kiện về vật chất- tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nớc, đất, ánh sáng…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr) và
hệ sinh thái với t cách là sản phẩm của tạo hoá, có trớc con ngời, tơng tác lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành và phát triển của con ngời cùng các hoạt động xã hội của nó Bản thân các hoạt động sinh tồn của con ngời cũng
đang ngày càng làm thay đổi môi trờng một cách mạnh mẽ
Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một sự phát triển làng mạnh, là sự bảo đảm tăng trởng kinh tế với sự chuyển dịch cơ cue kinh tế, đảm bảo phân loại xã hội cho con ngời và bảo vệ môi trờng sống Những điều trên là ba “chân” kiềng của sự phát triển bền vững
Trên thực tế, phát triển bền vững là một xu hớng mới đợc nhiều quốc gia trên thế giới hởng ứng và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm Nh một số tổ chức nh: UNEP,WCED…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trđẫ coi tính bền vững của môi tròng là một tiêu chuẩn mới cho mọi hoạt động phát triển
Với phơng châm “ Bảo vệ và cải thiện môi trờng cho các thế hệ hiện nay
và mai sau” đã trở thành mục tiêu cấp bách của loài ngời- là một mục tiêu kiên trì và hài hoà với những mục tiêu cơ bản và đợc xây dựng vì một nền hoà bình và vì sự phát triển kinh tế và xã hội trên toàn thế giới
Trang 5Nguồn gốc chủ yếu của sự thay đổi về môi trờng sinh thái hiện nay là các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội của con ngời
Phát triển là quy luật tất yếu của tiến hoá đã và đang diễn ra trên hành tinh của chúng ta từ khi nó đợc hình thành
1.2> Sự đối lập và thống nhất giữa phát triển kinh tế và môi tr ờng sinh thái.
1.2.1 Sự đối lập
Trong đơì sống, do nhu cầu về điều kiện sống của con ngời ngày càng cao nên tất yếu sẽ thúc đẩy chúng ta phải phát triển kinh tế để thoả mãn những nhu cầu của bản thân cũng nh của toàn xã hội Tuy nhiên việc phát triển kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nguyên vật liệu để đảm bảo quá trình mở rộng sản xuất, mà nguồn cung cấp đó lại đợc lấy từ tự nhiên và điều này tất yếu sẽ dẫn đến việc ảnh hởng tới môi trờng sinh thái: khai thác quá mức, tàn phá tài nguyên trên phạm vi rộng lớn không những làm suy thoái tài nguyên
mà còn làm giảm chất lợng của môi trờng sinh thái Đây chính là mâu thuẫn : kinh tế càng phát triển thì lại ngày càng làm cho môi trờng xấu đi
Cơ cấu các ngành sản xuất sẽ chuyển dịch theo hớng tăng nhanh tỉ lệ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Các phơng án phát triển đợc đề xuất ở tầm vĩ mô (cả nớc) tầm trung mô (ngành, địa phơng) và vi mô (công ty, doanh nghiệp) đều có nét chung nổi bật
là tốc độ tăng Sản xuất nông nghiệp (thờng đợc xác định khoảng 6%/ năm) Kết quả là tỉ trọng của sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP
có xu hớng tăng lên nhanh chóng Sự tăng trởng cao của các ngành công nghiệp, xây dựng nhất định sẽ dẫn đến các vấn đề về môi trờng cần quan tâm
đặc biệt, bởi lẽ đằng sau mức tăng trởng của sản xuất công nghiệp tiềm ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm môi trờng Kinh nghiệm quốc tế đã khái quát mối quan hệ giữa tăng trởng công nghiệp, đô thị hoá và chất lợng môi trờng ở các nớc đang phát triển nh sau:
Tăng khối lợng chất thải và các chất gây ô nhiễm môi trờng
Trang 6Chúng ta có thể thấy rằng, nếu nh không có các chính sách, chiến lợc phù hợp thì khi định hớng phát triển công nghiệp của Việt Nam nhằm gvào các ngành mà các nớc hiện đang có lợi theế so sánh nh: công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng, chế biến nông, lâm, hải sản, dệt may, thì sẽ càng thấy rõ những nguy cơ tiềm ẩn lớn dần về ô nhiễm môi trờng Bởi lẽ các ngành công nghiệp nói trên đều thuộc loại danh mục các nguồn lớn nhất gây ô nhiễm môi trờng
Bảng dự báo sản xuất than 1996-2010 (1000 tấn)
Than nguyên
khối
Than hầm lò 18.116 30.345 36.485
Than lộ thiên 37.895 43.155 44.875
Một khía cạnh khác cũng cần phải tính đến trong hoạch định chính sách kinh tế là cùng với nhịp độ tăng của các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ tiêu dùng chất đốt cho năng lợng sẽ tăng lên đáng kể Sự tăng lên về tiêu dùng năng lợng than, điện…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr chắc chắn sẽ thải các chất thải ngày càng một nhiều hơn và ảnh hởng tới chất lợng môi trờng Dự báo về nhu cầu than tới năm 2010 của bộ công nghiệp cho thấy nhu cầu tiêu cùng than mà nền kinh tế năm 2010 cần sẽ tăng gấp đôi so với nhu cầu tiêu dùng của năm
1995, cụ thể là từ 6,89 triệu tấn lên 12,8 triệu tấn
Dựa trên cơ sở nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu hoá thạch (than, dầu) của các năm,có thể dự báo các dạng khí độc ảnh hởng tới chất lợng không khí Tài liệu dự báo của bộ công nghiệp cho thấy tổng lợng phát thải khí CO2 vào năm
2010 từ sự tiêu dùng năng lợng sẽ tăng gấp 3 lần năm 1999
Tăng trởng công nghiệp
Tăng công ăn việc làm
Tăng số dân di c vào thành thị
Tăng sự hoà trộn công nghiệp đô thị
Trang 7Vì vậy ta có thể thấy từ thực tế Việt Nam những năm qua, chúng ta càng tập trung vào các ngành công nghiệp, xây dựng, nền kinh tế tăng trởng càng cao thì môi trờng sinh thái ngày càng bị ảnh hởng một cách nghiêm trọng Đây chính là một trong những khía cạnh chính của sự đối lập giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái
Chiến lợc và kế hoạch phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh của các ngành, các địa phơng đều nhằm vào mục tiêu duy trì tốc độ tăng trởng cao trong thời gian dài
Mục tiêu chiến lợc mà các ngành, các địa phơng đều định hớng vào tăng gấp đôi và hơn nữa GDP trong mỗi thập kỉ phát triển Điêù đó có nghĩa là phải duy trì tốc độ tăng trởng trong một theời gian dài hàng năm của GDP ở mức
độ cao khoảng 8- 10%/năm Nếu nh trình độ công nghệ của sản xuất và cơ cấu sản xuất của nền kinh tế không đợc cải thiện nhiều thì sự tăng trởng GDP của
đất nớc cũng có nghĩa là tăng khối lợng tài nguyên khai thác cho sản xuất và tăng lợng chất thải vào môi trờng Kết quả là ô nhiễm môi trờng chắc chắn sẽ tăng lên, nhất là khi tốc độ tăng trởng của sản xuất công nghiệp cao vẫn sẽ là chủ lực và duy trì ở mứcđộ cao (12-15%/năm) Hiện tại tốc độ đổi mới công nghệ trong nền kinh tế quốc dân mới vào khoảng 7- 10%/năm Định hớng chiến lợc phát triển khoa học- công nghệ của Việt Nam xác định tốc độ đổi mới công nghệ hàng năm khoảng 10-15%/năm Điều đó có nghĩa là phải sau 7- 10 năm nền kinh tế mới dổi mới đợc công nghệ của mình Trong khoảng theời gian đó thì môi trờng đã phải chịu ngững tác động hết sức nặng nề
Không chỉ trong công nghiệp và xây dựng, việc phát triển nông nghiệp
ở nhiều nớc trên thế giới nói chung và ở ngay Việt Nam nói riêng cũng đã và
đang gây ảnh hởng xấu tới môi trờng sinh thái
Trong cơ cấu GDP của nớc ta, giá trị của nông, lâm ng nghiệp vẫm còn chiếm giữ một tỉ trọng tơng đối lớn (khoảng gần 1/4) ở phần lớn các tỉnh và
địa phơng, tỉ lệ này còn có nơi chiếm tới 50-60% Sự chuyển dịch cơ cấu tế theo hớng giảm dần tỉ trọng của sản xuất nông nghiệp sẽ gắn liền với việc thâm canh ngày càng tăng trong sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi Quá trình thâm canh hoá sản xuất nông nghiệp ở việt nam sẽ vẫn tiếp tục gắn liền với việc tăng cờng sử dụng các loại phân vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt
cỏ Vào năm 1996, mức sử dụng phân bón hoá học cho một ha sản xuất nông nghiệp ở nớc ta trung bình vào khoảng 120-150 kg Đến năm 2000, để đạt sản lợng 30 triệu tấn thóc thì phải tăng mức phân bón hoá học nói trên 3 lần, tức là vào khoảng 200-450 kg cho một ha
Trang 8Rõ ràng là nếu không có những chính sách và biện pháp bảo vệ thích hợp và lâu dài thì với sự tăng cờng sử dụng các loại phân bón hoá học, các chất vô cơ lâu phân huỷ và độc hại thì nguy cơ ô nhiễm môi trờng ở tất cả các thành phần môi trờng (đất, nớc, không khí, đa dạng sinh hoc…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr) sẽ ngày càng tăng lên, đe doạ chính sự phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp và sức khoẻ của con ngời Đây chính là một khía cạnh đối lập rất rõ ràng trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái ở nhiều nớc trên thế giới và ngay ở Việt Nam
Phát triển, đặc biệt là phát triển kinh tế là một yêu cầu tất yếu của cuộc sống con ngời, thế nhng dù ở trình độ nào thì sự phát triển của con ngời dù ít hay nhiều đều ảnh hởng tới môi trờng sinh thái thông qua việc khai thác tự nhiên
Một số nền kinh tế ở trình độ thấp lại chủ trơng tăng trởng quá nóng, thờng thiếu các điều kiện vật chất, tài chính và dễ bỏ qua các nguyên tắc, yêu cầu bảo vệ môi trờng Thậm chí có nớc đã chủ trơng “hy sinh” môi trờng để
đạt đợc sự tăng trởng nhanh chóng nhờ tiết kiệm các khoản chi phí ngân sách cho bảo vệ môi trờng
1.2.2 Sự thống nhất
Kinh tế là cái chủ quan còn môi tròng sinh thái là cái vật chất tồn tạo khách quan Tuy nhiên bảo vệ môi trờng sinh thái lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng sinh thái thống nhất nhau về mục đích trong quá trình phát triển của một chỉnh thể tự nhiên – xã hội Vấn đề bảo vệ môi trờng sinh thái và phát triển kinh tế là hai mặt
đối lập trong mâu thuẫn biện chứng giữa chúng Trong mối quan hệ này sự thống nhất của các mặt đối lập với nhau và tác động lẫn nhau theo hai hớng chính
a> Chiều tiêu cực:
Môi trờng là xuất phát điểm quan trọng cho việc hình thành các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc, cũng nh cho việc triển khai các hoạt động kinh tế trên thực tế, đồng thời bất cứ nền kinh tế nào vận hành trên các nguyên tắc và thể chế không đợc thiết kế nhằm khuyến khích và định hớng hành vi, thái độ ứng xử của cá nhân và tập thể ngời sản xuất cũng nh ngời tiêu dùng, ở cả cấp vĩ mô và vi mô, cũng gây tác động xấu đến môi trờng Hơn nữa, khi đó những lợi ích kinh tế ban đầu thu đợc từ việc khai thác và sử dụng bừa bãi thiên nhiên sẽ không bù lại đợc những chi phí đắt đỏ và tổn thất to lớn mà con ngời phải hứng chịu về sau trong quá trình khôi phục môi trờng, hay để thích
Trang 9hợp hơn trong một môi trờng mới đã bị biến dạng, bị xuống cấp bởi chính bàn tay con ngời
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì con ngời và sự phát triển của con ngời đang bị đe doạ bởi những tác động trở lại của môi trờng nh sau:
- Các vấn đề xã hội cấp bách là nạn nghèo đói đang lan tràn tại các nớc chậm phát triển, nạn thất nghiệp đang đe doạ nhiều nớc trên thế giới kể cả những nớc phát triển nhất, sự cách biệt về thu nhập và mức sống giữa các quốc gia, cũng nh giữa các nhóm ngời khác nhau trong cùng một nớc Suy giảm về trữ lợng và chất lợng của tài nguyên thiên nhiên có nghĩa cơ bản đối với cuộc sống của con ngời nh: đất, nớc, rừng, thuỷ sản, khoáng sản và các dạng tài nguyên năng lợng Điều này có khả năng dẫn tới tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về lơng thực cho nhân loại
- Ô nhiễm môi trờng sống của con ngời với tốc độ nhanh và phạm vi lớn hơn trớc
b> Chiều tích cực
Phát triển kinh tế làm cho con ngời có điều kiện tạo ra những loại máy móc sản xuất ít gây ảnh hởng đến môi trờng và cả những máy móc xử lý rác thải Trớc đây, trong những buổi đầu của ngành công nghiệp dệt, lợng bông lẫn trong không khí quá lớn đã làm cho các công nhân dệt bị lao phổi, ung th phổi…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trrất nhiều Nhng cho đến nay không chỉ trong ngành dệt mà trong tất cả các ngành công nghiệp khác, công nhân đều đợc bảo vệ an toàn do máy móc trang bị đợc cải tiến Đó là thành quả của việc phát triển kinh tế Cũng nh ở Việt Nam hiện nay đã và đang có ngày càng nhiều máy móc thiết bị xử lí rác thải Các khu công nghiệp đã giảm thiểu lợng khói độc bay vào khí quyển
Về tình trạng khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên: sự khác biệt giữa các nớc giầu và các nớc nghèo ở chỗ đối với các nớc giầu thì sự phát triển bền vững phải gắn liền với việc giảm một cách đáng kể mức độ tiêu dung lãng phí
về năng lợng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Trong khi các nớc nghèo lại ra sức khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để xuất thô Tức là phát triển kinh tế lam nâng cao chất lợng cuộc sống, nâng cao nhận thúc ngời dân, do đó lợng tài nguyên bị khai thác giảm xuống, ý thức bảo vệ môi trờng sinh thái của con ngời tăng lên ở Việt Nam hiện tợng đốt nơng làm rẫy cũng
đã giảm đáng kể
Về môi trờng nớc: Phát triển kinh tếtạo điều kiện cho nguồn nớc đợc bảo
vệ an toàn và ngợc lại Điều này đợc thể hiện ở tỷ lệ ngời dân đợc sử dụng nớc
Trang 10sạch ở nớc taảtớc đây và bây giờ Kinh tế càng phát triển thì hệ thống xử lí nớc sạch càng hiện đại, rác thải trớc khi đa ra biển đã đợc xử lí do vậy hạn chế phần nào sự ô nhiễm nguồn nớc
Việc phát minh và đa vào sử dụng các máy móc trang thiết bị mới nhằm hạn chế tối thiểu tác hại đến môi trờng cũng đồng nghĩa với bảo vệ môi trờng sinh thái Do vậy xét trên một khía cạnh nào đó thì phát triển kinh tế đã tác
động tích cực đén việc bảo vệ môi trờng
Nh vậy sự phát triển của xã hội chỉ đợc coi là sự phát triển, sự tiến bộ
đích thực khi có sự kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu phát triển kinh tế và bảo
vệ môi tròng sinh thái
2> Thực trạng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng ở Việt Nam trong thời gian qua
Theo ngân hàng thế giới thì chỉ với mức tăng GDP của nền kinh tế việt nam nh những năm qua (khoảng 7%/ năm) thì mức độ ô nhiễm môi trờng vào năm 2020 có thể gấp 4 -6 lần mức ô nhiễm năm 2000 Các chuyên gia của ngân hàng thì Việt Nam sẽ có mức độ ô nhiễm tăng cao hơn mức tăng trởng kinh tế Tổn thất kinh tế do ô nhiễm là khoảng 0,3% GDP của đất nớc vào năm 2000 và t i năm 2010 sẽ tăng lên tới 9% ới năm 2010 sẽ tăng lên tới 9% Nếu tính gộp cả các giá trị h-ởng thụ bị mất đị, sự mất mất đa dạng sinh học…Do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr thì tỉ lệ này còn lớn hơn gấp bội Kinh nghiệm phát triển kinh tế của thế giới cho thấy rằng: tính trung bình trong 10 năm, nếu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các nớc Chõu Á tăng lên
3 lần thì mức độ ô nhiễm tăng lên 5 lần, tỉ lệ này ở việt nam là 1/2 Theo thống kờ của Văn phũng phỏt triển bền vững( bộ kế hoạch và đầu tư), 70% dõn số quốc gia hiện đang kiếm sống từ cỏc nguồn tài nguyờn, khiến họ phụ thuộc vào chất lượng và khối lượng của tài nguyờn thiờn nhiờn Điều đú tạo ra
sứ ộp ngày càng tăng với mụi trường và cỏc nguồn tài nguyờn Độ che phủ rừng toàn quốc hiện đạt gần 37%, tăng hơn 10% so với năm 1990, nhưng chất lượng rừng lại cú chiều hướng suy giảm, với hơn một nửa số diện tớch rừng nguyờn sinh đó bị mất, trờn 850 loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng; mức độ ụ nhiễm thường xuyờn ở cỏc đụ thị vượt quỏ mức tiờu chuẩn ớt nhất 2 lần; cỏc nguồn tài nguyờn được khai thỏc theo kiểu tận thu, tận diệt diễn ra ở hầu hết cỏc tỉnh, thành phố song khụng được quản lý chặt chẽ…