1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nho giáo và tư tưởng đạo đức của nho giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội VN

17 411 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu lợc bỏ đi âm mu, tham vọng xâm lợc của phong kiến Phơng Bắc ẩn mình trong Nho giáo thì Nho giáo cũng là một học thuyết rất tuyệt vời cho một tộc ngời còn rất non trẻ trong phát triển

Trang 1

Mở đầu

Nho giáo là một trong những dòng triết học ra đời từ thời Cổ đại ở Trung Quốc, nhng ảnh hởng của nó đối với Trung Hoa thì vô cùng lớn Thậm chí, chúng

ta không thể nghiên cứu Trung Quốc tách rời Nho giáo Ban đầu khi đợc truyền bá vào Việt Nam, Nho giáo đã đợc sử dụng nh một thứ vũ khí để thể hiện sức mạnh và tham vọng đồng hoá ngời Phơng Nam của phong kiến Phơng Bắc Triết học Nho giáo chủ yếu bàn về các vấn đề chính trị, đạo đức luân lý Nếu lợc bỏ đi

âm mu, tham vọng xâm lợc của phong kiến Phơng Bắc ẩn mình trong Nho giáo thì Nho giáo cũng là một học thuyết rất tuyệt vời cho một tộc ngời còn rất non trẻ trong phát triển t tởng, văn hoá, tính dân tộc nh ngời Phơng Nam lúc bấy giờ

Ng-ời Việt đã rất thông minh nắm lấy cơ hội đó làm cho quá trình "Hán hoá" và truyền bá Nho giáo của ngời Hán vào Việt Nam thật đặc biệt Văn hoá Hán và Nho giáo đợc ngời Việt tiếp biến có chọn lọc Qua lăng kính của ngời Việt, Nho giáo bị "khúc xạ" và mang những nội hàm mới Nói về Việt Nam và văn hoá Việt Nam lại không thể không kể đến Nho giáo Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Nho giáo đã góp phần to lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá Việt Nam Đặc biệt, chúng ta lại không thể không nói tới con ngời Việt bởi con ngời với các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ… chính là biểu hiện rõ chính là biểu hiện rõ nhất của cái gọi là " Văn hoá của một dân tộc"

Lịch sử sản xuất, đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt đã hình thành các giá trị đạo đức cho ngời Việt nhng không thể phủ nhận vai trò của Nho giáo Nếu sản xuất và đấu tranh giữ nớc là thực tiễn hình thành các giá trị đạo đức truyền thống của ngời Việt thì Nho giáo chính là hệ thống lý luận làm cho các giá trị đạo đức đó đợc khái quát lại, thâu tóm lại một cách sâu sắc, có tính "tự giác"

và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ ngời Việt Quan hệ giữa t tởng đạo đức của Nho giáo và đạo đức của ngời Việt là quan hệ có tính hai chiều T tởng đạo

đức của Nho giáo đợc từng chọn làm chuẩn mực để giáo dục đạo đức cho ngời Việt và đặt dấu ấn rất rõ ràng vào nhân cách ngời Việt Ngợc lại, qua thực tiễn phát triển t tởng đạo đức xuất phát từ nhu cầu tự thân của ngời Việt, các phạm trù

đạo đức của Nho giáo đợc mở rộng nội hàm và trở nên phong phú, thể hiện tính phù hợp trong nhiều thời đại Việc nghiên cứu t tởng đạo đức Nho giáo và vai trò,

ảnh hởng của nó trong việc xây dựng, hoàn thiện đạo đức con ngời Việt Nam trong lịch sử và hiện nay nhằm khẳng định những giá trị đạo đức tốt đẹp, bền vững mà con ngời Việt Nam đã bồi đắp trong lịch sử và rút ra những giá trị, đóng góp của t tởng đạo đức Nho giáo trong hoàn thiện đạo đức con ngời Việt Nam

Trang 2

trong lịch sử và hiện nay Đặc biệt , trong bối cảnh hội nhập và sự thay đổi trong

định hớng giá trị nhân cách của ngời Việt Nam, việc phát triển con ngời Việt Nam bền vững cần có cơ sở triết học vững chắc nhằm vừa đảm bảo, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp mà vẫn chứa đựng yếu tố năng động, hiện

đại

Trang 3

Nội dung

i nho giáo và t tởng đạo đức của Nho giáo

1 Khái quát sự ra đời và phát triển của Nho giáo.

Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm mục đích tổ chức xã hội ổn định Những cơ sở đầu tiên của Nho giáo đợc hình thành từ thời Tây Chu,

đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán- con thứ của Chu Văn Vơng, là cố vấn văn hoá và chính trị của nhà Chu Đến thời Xuân thu- Chiến quốc, Khổng Tử (551TCN- 479TCN) đã hệ thống hoá những t tởng và tri thức trớc đây thành học

thuyết gọi là Nho giáo hay Nho học.

Vào thời Xuân thu- Chiến quốc từ thế kỷ VIII TCN đến thế kỷ III TCN, xã hội Trung Hoa có sự chuyển biến mạnh mẽ Về kinh tế: công cụ lao động là đồ sắt trở nên phổ biến, phân công lao động ngày càng sâu sắc; các ngành nghề mới hình thành; tiền tệ xuất hiện; chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất hình thành Thời đại của Khổng Tử là thời kỳ loạn lạc Mối quan hệ giữa Thiên Tử với các

n-ớc ch hầu lỏng lẻo Chế độ Tông pháp nhà Chu bị xoá bỏ; mâu thuẫn xã hội sâu sắc; chiến tranh với quy mô lớn xảy ra liên miên; đạo đức, luân lý suy đồi; đời sống nhân dân cùng cực, lòng dân ly tán Điều kiện lịch sử đặt ra hàng loạt các vấn đề triết học, chính trị, đạo đức cần giải quyết Trớc những yêu cầu của xã hội , Khổng Tử đã đa ra các t tởng triết học nhằm bình ổn xã hội

Nho giáo, Nho gia là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ " Nho" Theo

Hán tự " Nho" đợc ghép từ chữ "nhân" (nghĩa là ngời ) đứng cạnh chữ "nhu" (cần, chờ đợi) Nho giáo hiểu theo nghĩa trực diện nhất đó là học thuyết mà bất

cứ ngời nào trong xã hội cũng phải cần tới Nho gia hay nhà nho là ngời đọc thấu sách thánh hiền đợc thiên hạ cần để dạy bảo ngời đời ăn ở cho hợp với luân thờng đạo lý Nho gia hay nhà nho còn đợc gọi là "sĩ" "Sĩ" có nhiều cách giải thích khác nhau "Sĩ"đợc ghép từ 2 chữ: nhất ( ) (một) và thập ( ) (mời) Kẻ

"sĩ" là ngời học một hiểu mời, từ mời thâu tóm vào một "Sĩ" so với chữ Vơng ( ) (vua, thiên tử) thì thiếu một mối liên hệ với trời Kẻ sĩ là ngời thấu suốt tam tài: thiên, địa, nhân; am tờng cõi trần nhất

Trong quan niệm về thế giới, Khổng Tử cho rằng sự tơng tác giữa 2 yếu tố

âm, dơng tạo nên sự biến đổi vô tận gọi là Đạo Theo Khổng Tử, Đạo là cái huyền vi sâu kín, đúng đắn quy định vạn vật và con ngời Đạo có Thiên đạo và Nhân đạo Ngời hiểu đợc Đạo là ngời hoàn thiện nhất Con đờng thực hiện Đạo

Trang 4

vô cùng gian truân đòi hỏi cần có ngời am hiểu Đạo, gánh vác Đạo truyền cho

thiên hạ, thay đổi thiên hạ đó là đại nghĩa của Sĩ

Trớc thời Xuân thu - Chiến quốc, kẻ Sĩ chuyên học văn chơng, lục nghệ góp phần trị vì đất nớc Trong thời loạn lạc xã hội nhiều biến động, tầng lớp Sĩ là tầng lớp trung gian giữa dân thờng và quý tộc Thân phân kẻ sĩ bấp bênh Khổng

Tử đa ra học thuyết của mình dành cho kẻ sĩ thích ứng với hoàn cảnh Kẻ sĩ luôn Trung dung giữa cuộc đời, siêu thoát khỏi quyền lực dù thân phận có lênh đênh Khi đợc làm quan thì "hoằng dơng Đạo" (phát triển Đạo), khi xuống thứ dân thì

"duy hộ Đạo" (bảo lu đợc đạo nên không đau khổ, an bần lạc đạo) Chính vì vậy, Nho giáo còn đợc coi là Đạo của kẻ Sĩ quân tử

Nho giáo là sản phẩm của nền văn minh Trung Hoa- nền văn minh vốn là

sự tổng hợp văn hoá lu vực sông Hoàng Hà (đợc cấu tạo từ văn hoá du mục Tây Bắc và văn hoá nông nghiệp khô Trung Nguyên) với văn hoá nông nghiệp Đông Nam á Vậy nên, Nho giáo thực chất là sản phẩm của truyền thống văn hoá du mục Phơng Bắc và truyền thống văn hoá nông nghiệp Phơng Nam Hình thành từ những nguồn gốc nh vậy nên đặc điểm của Nho Giáo mang đậm nét của chất du mục Phơng Bắc và chất nông nghiệp Phơng Nam

Chất du mục Phơng Bắc đợc Nho giáo nguyên thuỷ tiếp thu thể hiện ở các

điểm: Tham vọng "bình thiên hạ", trọng sức mạnh, chính danh Còn chất

nông nghiệp Phơng Nam đợc Nho giáo nguyên thuỷ tiếp thu thể hiện: Đề cao

chữ "Nhân" và nguyên lý "Nhân Trị".Ngời nông nghiệp Phơng Nam có lối sống

giản dị, hoà ái với thiên nhiên, cộng đồng Lối sống trọng tình khiến cho quan hệ

gia đình của ngời Việt nông nghiệp rất bền chặt Nho giáo rất đề cao chữ Hiếu, Tam cơng ngũ thờng Ngời quân tử trị nớc đề cao chữ Đức Nho giáo chủ dùng

Đức trị và Nhân trị.

T tởng Kính đức bảo dân là quan niệm cơ bản để trị dân.

Các quan hệ trong đạo "ngũ luân" là quan hệ 2 chiều bình đẳng, tôn trọng con ngời: Quân minh thần trung ( vua sáng, bề tôi trung thành); Phụ từ tử hiếu (cha hiền từ, con hiếu thảo); Phu nghĩa phụ kính (chồng có nghĩa, vợ kính trọng); Huynh lơng đệ đễ( anh tốt, em nhờng); Bằng hữu hữu tín (bạn bè tin cậy nhau) Nho giáo tiên Tần coi trọng văn hoá, đặc biệt là văn hoá tinh thần Các bộ kinh

điển của Nho giáo (Thi, Th, Lễ, Xuân thu, Dịch) Kinh thi bàn nhiều đến tình

ng-ời, cái gốc của điều Nhân Thấu hiểu đợc Nhạc để dỡng tâm trí thì đức nhã nhặn

sẽ phát triển dễ dàng

Sự đối lập của hai truyền thống du mục và gốc nông nghiệp cho thấy: một

bên coi trọng võ "Dũng" (phơng Bắc), một bên coi trọng văn thơ “Thi, Nhạc”

Trang 5

( phơng Nam); một bên chủ trơng xây dựng một xã hội tôn ti trật tự, kỷ cơng rõ ràng (Chính danh), một bên mong muốn xây dựng một xã hội lấy tình cảm làm hàng đầu, coi trọng chữ Nhân, quan hệ trong "ngũ luân" có tính hai chiều

Trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động nh thời Xuân thu - Chiến quốc, t tởng của Khổng Tử đa ra không tránh khỏi sự đối lập chứa đựng nhân tố mâu thuẫn

Năm 202 TCN, Hán Cao Tổ Lu Bang lên làm vua ban đầu cũng a dùng vũ lực cai trị ( nặng chất du mục), coi trờng trí thức văn hoá

Đến thời Hán Vũ Đế ( 140TCN- 87TCN), để phục vụ mục đích xây dựng nhà nớc Phong kiến, nhà nho Đổng Trọng Th đã đa ra những t tởng bổ sung Nho giáo ( thiên nhân tơng cảm, tam cơng ngũ thờng, tuyệt đối hoá các quan hệ có tính một chiều từ trên xuống… chính là biểu hiện rõ) Nhà Hán đã sử dụng Nho giáo là hệ t tởng xây dựng nhà nớc phong kiến Thực chất, bên ngoài là Nho bên trong là Pháp ("dơng Nho hành Pháp", "biểu Nho lý Pháp") Đổng Trọng Th đã "chế biến" Nho Tiên Tần làm cho Nho giáo bị "nghèo nàn" đi So với Nho Tiên Tần, Hán Nho là một bớc lùi nghiêm trọng, tạo ra phong cách học, suy t giáo điều, tớc bỏ sự chủ động sáng tạo, đẻ ra những tấm gơng ngu trung, ngu hiếu của nhiều thế hệ Nho gia sau này

Từ thời nhà Đờng, Tống (đặc biệt thời Tống), Nho giáo đợc phát triển và thể hiện sự pha tạp với các dòng t tởng khác nh Đạo giáo, Phật giáo… chính là biểu hiện rõ

Sách kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ: Bộ lục kinh (gồm 6 cuốn: Kinh

thi, Kinh th, Kinh lễ (Lễ ký), Kinh dịch, Kinh Xuân Thu, Kinh Nhạc) Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc chỉ còn lại một ít đợc làm thành một thiên ghép chung với

Kinh Lễ gọi là Nhạc ký Vì vậy Lục kinh thành ra chỉ còn ngũ kinh Bộ tứ th (gồm 4 cuốn: Đại học, Trung dung, Mạnh Tử, Luận ngữ "Ngũ kinh" và "Tứ Th"

là hai bộ sách gối đầu giờng của các nhà Nho

2 T tởng đạo đức của Nho giáo

Nho giáo là hệ thống triết học bàn đến nhiều vấn đề nh bản thể luận, t t-ởng đạo đức, chính trị… chính là biểu hiện rõCác vấn đề đó đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thành một hệ thống nhất quán

Khi bàn về khởi nguồn của thế giới, Khổng Tử cho rằng, khởi nguồn của thế giới là hai yếu tố âm và dơng Sự tơng tác chuyển hoá âm- dơng tạo nên sự

biến đổi gọi là Đạo hay Dịch, hay Thiên lý ( quy luật điều khiển trời đất và

thiên hạ)

Trang 6

Âm, Dơng tạo ra thanh khí và trọng khí Tuỳ vào mức bẩm thụ thanh khí

và trọng khí ít nhiều mà làm: Trời, Thần, Quỷ thần, Ngời và vạn vật

Đạo, Thiên lý là cái huyền vi sâu kín có phép màu quy định vạn vật gọi là

Thiên mệnh Thiên mệnh quy định vận mệnh xã hội, con ngời Hiểu đợc thiên

mệnh là ngời hoàn thiện.( "bất tri thiên mệnh vô dĩ quân tử dã")

Nho giáo ra đời xuất phát từ nhu cầu bình ổn xã hội nên trọng tâm của Nho giáo bàn đến các vấn đề chính trị, đạo đức

Trong t tởng chính trị, Khổng Tử đa ra thuyết Chính danh và Đức trị Theo thuyết Chính danh, mỗi vật, ngời sinh ra đều có địa vị, công dụng nhất định gọi

là Danh Ngời, vật mang Danh nào phải thực hiện đúng Danh đó gọi là Chính Danh ( chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng) Nguồn gốc xã hội rối ren là

do sự sa đoạ của nhà cầm quyền làm cho Danh không đợc Chính."Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành, xã tắc loạn" (

) Thuyết Đức trị chỉ ra rằng, ngời cai trị phải Thợng Hiền (có đức) Vua phải có lối sống giản dị, xây dựng lực lợng quân sự hùng hậu, chiếm đợc lòng tin của nhân dân

Để thực hiện đợc Chính danh thì Đạo đức là công cụ Chính vì vậy, các vấn đề trong học thuyết của Khổng Tử lại bàn đến nhiều nhất, quan trọng nhất là

Đạo đức luân lý

Khổng Tử cho rằng, ngời hoàn thiện phải có 3 đức lớn gọi là "tam đạt

đức" Trí, Nhân, Dũng

Thứ nhất, Trí ( )

Trí là sự minh mẫn sáng suốt nói chung để phân biệt, đánh giá con ngời và tình huống, qua đó xác định cách ứng xử cho phải Đạo

Bàn về điều Trí, Khổng Tử giảng cho Phàn Trì: "Trí là biết ngời" "dùng ngời trực, bỏ kẻ gian Nh vậy có thể giáo hoá kẻ gian thành ngời trực" (Luận Ngữ) ở hoàn cảnh khác, Khổng Tử lại dạy học trò: "Kẻ tìm chỗ ở không biết dựng nhà nơi lý tốt sao có thể gọi là ngời có trí"

Ngời có Trí mới hiểu đợc đạo lý phân biệt đợc phải trái, thiện ác, trau dồi

đạo đức và hành động theo luân lý

Nguồn gốc của trí theo quan điểm của Nho giáo chứa đựng nhiều yếu tố duy tâm Chịu sự chi phối của t tởng thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng Trí có đợc

do con ngời bẩm sinh bẩm thụ khí trời không cần học cũng hiểu đợc đạo lý Tuy nhiên, Khổng Tử còn cho rằng Trí có đợc còn do quá trình học hỏi, rèn luyện, tu dỡng Nếu không học dù thiện tâm đến đâu cũng bị cái mê muội phóng đãng làm cho lầm lạc

Trang 7

Trí trong quan hệ với các đức khác, Khổng Tử cho rằng: " a làm điều Nhân mà không a học thì cái hại che lấp là sự ngu muội; a trí xảo mà không a học thì cái hại che lấp là sự phóng đãng lầm lạc; a dũng cảm mà không a học thì cái hại che lấp là sự phản loạn; a cờng bạo mà không a học thì cái hại che lấp là

sự cuồng bạo" (Luận Ngữ) Khổng Tử đề ra chủ trơng giáo dục Nếu không giáo dục bản tính tốt của con ngời sẽ mất đi Trừ có bậc thợng trí và hạ ngu là không thay đổi đợc bản tính của mình Con ngời có trí mới vơn đợc tới đức Nhân, không thể là ngời có nhân nếu không có trí

Thứ hai, Nhân ( )

Theo hán tự, Nhân ( ) đợc ghép từ bộ nhân đứng ( ) và chữ nhị ( ) Hai ngời sống gần nhau sẽ nảy sinh quan hệ ngời với ngời Ngời với ngời sống gần nhau, ăn ở hợp lẽ vừa lòng nhau là rất khó Nhân tức là duy trì quan hệ giữa ngời với ngời

Điều Nhân là đạo lý của con ngời, quy định bản tính của con ngời và mối quan hệ giữa ngời với ngời trong xã hội Nhân đợc coi là nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong triết học của Khổng Tử Cơ sở để Khổng Tử lấy chữ Nhân làm

nguyên lý cơ bản là: Một, xuất phát từ quan điểm cho khởi nguyên của thế giới

là hai yếu tố âm, dơng Sự tác động yếu tố âm, dơng tạo nên sự biến đổi gọi là

Đạo hay Thiên lý hay Dịch Con ngời bẩm thụ khí âm, dơng của đất trời nên phải tuân theo Thiên lý, hợp với đạo "Trung hoà" đạo sống của con ngời phải "Trung

dung"- sống đúng với mình, sống phải với ngời Hai, Thời đại của Khổng Tử

loạn lạc, đạo lý nhân luân suy đồi Khổng Tử chủ trơng dùng Nhân để giáo hoá con ngời Nhân đợc nhìn theo hai chiều hớng: hớng nội tu kỷ và hớng ngoại thi

hành ra thiên hạ

Chữ Nhân theo quan niệm của Khổng Tử, không chỉ riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Ngời có Nhân đồng nghĩa với ngời hoàn thiện nhất Điều Nhân có ý nghĩa bao hàm nhiều mặt trong đời sống xã hội Tuỳ mỗi hoàn cảnh mà Khổng Tử bàn về nội dung chữ Nhân khác nhau Trong Luận Ngữ

có khoảng 60 lần Khổng Tử nói về chữ Nhân Quan niệm về Nhân của Khổng

Tử không nhất quán song có thể thấy trong các lời dạy với các đệ tử

Giáo huấn về điều Nhân, Khổng Tử giảng cho học trò của mình: Nhân là

ái nhân, yêu ngời Con ngời khác loài cầm thú chính là ở Nhân vậy Theo Thầy Khổng Tử, ái nhân là coi ngời nh mình Làm ngời có nhiều điều chung quy lại chỉ là điều đối với mình và đối với ngời Yêu ngời, coi ngời nh bản thân: đem mình ra suy xét mọi việc Xuất phát từ thuyết "cầu kỷ" và "chấp lỡng đoan", Nho giáo cho rằng Nhân là phải "Trung" và "Thứ" ( kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục

Trang 8

đạt nhi đạt nhân và kỷ sở bất dục vật thi nhân - Nghĩa là: cái gì mình muốn làm, muốn đạt đợc hãy làm cho ngời khác; điều gì không muốn thì đừng làm cho ngời khác) Đây cũng là nguyên tắc mỗi ngời phải thực hiện suốt đời

Nhan Uyên ( học trò của Khổng Tử ) hỏi về điều Nhân Thầy Khổng Tử

đáp: "Khắc kỷ phục lễ vi nhân Nhất nhật khắc kỷ phục Lễ, thiên hạ quy nhân yên Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ tai? " Nghĩa là chế ớc bản thân thực hành theo Lễ tức là làm điều Nhân hàng ngày khắc chế đợc dục vọng của bản thân làm cho hành động và lời nói của mình hợp với Lễ, thiên hạ sẽ thừa nhận là

mình có điều nhân Làm điều Nhân là do mình chứ đâu phải do ngời Lễ là

những quy tắc ứng xử phù hợp với địa vị của mình Xã hội rối ren suy đồi cũng

là do con ngời không "chính danh", "tiếm quyền việt vị" không thực hành đúng

Lễ Để xã hội ổn định, đạo đức cơng thờng đợc giữ vững cần thực hành theo Lễ Nhân là nội dung, Lễ là hình thức Ngời có Nhân trớc hết phải theo hớng nội tu

kỷ Làm đợc điều Nhân là do mỗi ngời tự ý thức Làm điều Nhân trớc hết làm cho mình trở thành ngời có Nhân, thiên hạ tất sẽ công nhận

Nhan Uyên hỏi sâu hơn về điều Nhân Thầy vừa giảng, Khổng Tử giải thích: "phi Lễ vật thị, phi Lễ vật thính, phi Lễ vật ngôn, phi Lễ vật động" nghĩa

là điều gì trái với Lễ thì không nhìn, điều gì trái với Lễ thì không nghe, điều gì trái với Lễ thì không nói, điều gì trái với Lễ thì không làm)

Khi nói với Tử Trơng, Khổng Tử dạy: Ngời có Nhân phải thực hiện đợc 5

đức lớn gọi là "ngũ giả" là cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung là cung kính, nghiêm túc giữ mình, không buông thả Khoan là đối xử với mọi ngời rộng rãi Tín là thực hiện điều mình nói, hành động phải thống nhất với lời nói Mẫn là chăm chỉ Huệ là từ huệ, biết cách ban ơn Nếu thực hiện Cung thì không bị

khinh nhờn, Khoan thì đợc lòng ngời, Mẫn thì có công, Huệ thì sai khiến đợc ng-ời

Theo quan niệm của Nho giáo, điều kiện để con ngời trau dồi điều Nhân

là phải chất phác, thuần hậu, tình cảm chân thực, hết lòng vì nghĩa, lời nói chậm rãi ('xảo ngôn, lãnh sắc tiển hỹ nhân")

ở những chỗ khác, Khổng Tử lại cho rằng ngời có Nhân phải làm việc

tr-ớc rồi mới hởng sau, sẵn sàng an bần lạc đạo

Đức Nhân có vai trò đặc biệt quan trọng, là gốc rễ của các đức tính khác

Đức Nhân yên lặng, vững trãi nh núi, bao nhiêu đức khác bởi đó mà sinh ra Nếu Tâm con ngời luôn hớng về điều Nhân con ngời khắc sống tốt, nhân luân đợc giữ gìn, trật tự xã hội đợc đảm bảo

Thứ ba, Dũng ( )

Trang 9

Dũng là lòng dũng cảm, không sợ, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn Nho

giáo cho rằng: "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã"( thấy việc nghĩa mà không làm không phải là ngời có Dũng) Con ngời phải có Dũng mới làm trọn đợc điều Nhân Còn " Hữu nhân tất hữu dũng, hữu dũng bất tất hữu nhân" (nghĩa là:có

điều Nhân tất có Dũng, có Dũng cha chắc đã có Nhân)

Trong sách Trung Dung, Khổng Tử trả lời Tử lộ về "cờng": " Nam phơng chi cờng d, Bắc phơng chi cờng d, ức nh cờng d? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô

đạo Nam phơng chi cờng dã, Quân tử c chi Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm Bắc phơng chi cờng dã, nhi cờng giả c chi" ( nghĩa là cái mạnh của ngời phơng Nam chăng, cái mạnh của ngời phơng Bắc chăng hay cái mạnh nào đây? Khoan dung mềm mỏng để giáo dục, không báo thù kẻ vô đạo đó là cái mạnh của ngời phơng Nam Điều quân tử chính là ở chỗ đó Nằm lên gơm giáo, chết mà không

sợ đó là cái mạnh của ngời phơng Bắc.Điều quân tử là ở chỗ đó

Cốt lõi của Nho giáo là học thuyết Chính trị nhằm bình ổn xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả điều cốt lõi là đào tạo những ngời cai trị kiểu mẫu đó là ngời quân tử Không chủ trơng dùng pháp luật cai trị xã hội, Khổng Tử đã thấy

đợc sức mạnh đạo đức, dùng sức mạnh đạo đức để bình ổn xã hội Học thuyết

đạo đức của Nho giáo đặt ra nhằm đào tạo mẫu ngời quân tử Vì vậy, Nho giáo

còn gọi là Đạo của sỹ quân tử.

Để trở thành ngời quân tử trớc hết phải Tu thân Tiêu chuẩn của việc tu

thân là đạt đạo ( thực hiện năm đạo là quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, huynh-đệ,

bằng-hữu còn gọi là ngũ luân); đạt đức ( có 3 điều Trí, Nhân, Dũng); biết thi -

th - lễ - nhạc Bổn phận của ngời quân tử là phải hành đạo đem hiểu biết của

mình ra cai trị đất nớc Quá trình hành đạo bắt đầu từ Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ Phơng trâm của ngời cai trị là dùng Nhân trị và Chính danh

II quá trình thâm nhập nho giáo vào việt nam và ảnh h-ởng, vai trò của t tởng đạo đức nho giáo với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con ngời việt nam

1.Quá trình truyền bá, phát triển Nho giáo ở Việt Nam

Năm 179 TCN, Triệu Đà đem quân xâm lợc Âu lạc đã thống trị trên đất Việt, biến Âu Lạc thành hai quận của Trung Hoa là Giao Chỉ và Cửu Châu Để nô dịch nhân dân ta về tinh thần, Nhà Hán đã đa Nho Giáo vào đất Việt, đồng hoá văn hoá Buổi đầu, Thái Thú Tích Quang và Nhâm Diên tích cực "dựng học hiệu, dạy lễ nghĩa" với mục đích đào tạo tầng lớp quan lại phục vụ cho bộ máy

Trang 10

cai trị và dạy lễ nghĩa cho ngời dân Năm 187-226, Sỹ Nhiếp cai trị Giao Chỉ lần

đầu tiên tổ chức việc học ở Việt Nam ( "Nam giao học tổ") Thời Sỹ Nhiếp làm Thái Thú Giao Chỉ, hàng trăm sỹ phu Trung Hoa sang Việt Nam đẩy mạnh truyền bá Nho giáo và Hán học Mở trờng ở Luy lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh)

và Long Biên Mục đích phát triển Hán học nhằm Hán hoá và phát triển t tởng

"trung quân" của Nho giáo

Con đờng truyền bá, học tập Nho, chữ Hán gồm có: các trờng lớp do các

sỹ phu, quan lại ngời Trung Hoa lập nên và nhân dân tự học chữ ở các nhà chùa

Nho giáo vào Việt Nam là một quá trình đặc biệt từ phản ứng đến tiếp

thu, từ xa lạ đến gần gũi, từ Nho giáo là công cụ thống trị của bên ngoài thành vũ khí của bản thân

Thời Bắc thuộc, đất nớc, con ngời Việt Nam diễn biến theo hai chiều h-ớng: hớng Hán hoá và chống Hán hoá Tuy Nho giáo đã đợc đa vào Việt Nam nhng cha có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi bắt tay vào xây dựng nhà nớc Phong kiến tập quyền Do nhu cầu xây dựng bộ máy nhà nớc và đòi hỏi về tri thức của giai cấp thống trị cần phát triển một nền văn hoá phục vụ cho chế độ phong kiến Nho giáo đợc đề cao và sử dụng nh là vũ khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị, văn hoá, t tởng

Đến năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long thờ Chu Công và Khổng Tử Nho giáo đợc xem là tiếp nhận chính thức ở Việt Nam Thời nhà Lý ở Việt Nam tơng ứng với thời nhà Tống ở Trung Hoa Nho giáo ở Việt Nam là Tống Nho Nho giáo thời kỳ Lý - Trần ( thế kỷ X-XIV) đợc cải biến khiến cho nhiều khái niệm mang tính nhân dân và tính dân tộc Biểu hiện rõ nét nhất là các phạm trù "trung", "hiếu", "đức trị", "thần quyền" không mang tính một chiều

Đến thời Lê - Nguyễn, cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến, Nho giáo đợc phát triển, đề cao và đợc tôn làm quốc giáo Đặc điểm nổi bật của Nho Giáo Việt Nam thời kỳ này là không chú ý nhiều đến học thuật, thuần tuý kinh viện Nho giáo vận dụng các phạm trù vào để phục vụ cho mục đích cứu nớc và mang nội hàm mới Ngời có công phát triển Nho giáo và làm cho Nho giáo trở thành yếu tố văn hoá không thể thiếu của Việt Nam là Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi

đã đem lại cho các phạm trù Nho giáo vốn cứng nhắc một chiều yếu tố mềm dẻo,

có lợi cho hành động của con ngời

"Trung với nớc, hiếu với dân"

"việc nhân nghĩa cốt để yên dân, quân điếu phạt trớc lo trừ bạo"

Ngày đăng: 12/04/2017, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w