Để có được cái nhìn tổng quát hơn về hai vấn đề trên, chúng ta hãy cùng nghiên cứu đề tài:”Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái trong nền k
Trang 1A/LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường đang trở thành những vấn đề mang tính toàn cầu Ngay trong lời nói đầu của hiệp định WTO cũng đã nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa 2 vấn đề này Đối với nước ta trong bối cảnh mới trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 1/2007 vừa qua, Đảng và Nhà nước vẫn khẳng định: Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lí của Nhà nước Trước yêu cầu của việc phát triển kinh tế tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta đặt ra vấn đề gắn chặt phát triển kinh tế với viêcbảo vệ môi trường sinh thái
Để có được cái nhìn tổng quát hơn về hai vấn đề trên, chúng ta hãy
cùng nghiên cứu đề tài:”Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế
với việc bảo vệ môi trường sinh thái trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”.
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A/Lời nói đầu……… 1
Mục lục……… 2
B/Nội dung……….3
1.Các khái niệm cơ bản…….……… 3
1.1.Phát triển kinh tế…….……… 3
1.2.Môi trường sinh thái.……….3
1.3.Kinh tế thị trường….……….3
2.Mối quan hệ biện chứng….……… 3
2.1.Tính tất yếu của việc kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường ………4
2.2.Thống nhất và đấu tranhcủa hai mặt phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ……….5
2.2.1.Thống nhất…… ……….5
2.2.2.Đấu tranh ……… 6
2.3.Các quan điểm và lí thuyết khác nhau về phát triển và môi trường ………6
2.3.1.Bảo vệ môi trường cần được nhìn dưới góc độ phát triển bền vững.……….6
2.3.2.Càng phát triển càng lo môi trường ……… 7
2.3.3.Tái sản xuất môi trường sinh thái ……….8
3.Thực trạng việc kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay ……….8
4.Giải pháp kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiên nay trong nền kinh tế thị trường………11
4.1.Về mặt chính sách ……… 11
4.2.Về mặt khoa học công nghệ ……… 12
4.3.Phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững ………13
4.4.Các chính sách thuộc lĩnh vực khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường cùng các chính sách về khoa học công nghệ……… 13
C/Kết luận……….14
D/Danh mục tài liệu tham khảo………15
Trang 3B/ NỘI DUNG
1.Các khái niệm cơ bản:
Để có thể phân tích một cách chính xác mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái, chúng ta cần nắm được một số khái niêm cơ bản sau:
1.1 Phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội Trong đó, tăng trưởng kinh tế la sự tăng kên về số lượng, chất lượng, tốc độ, quy mô sản lượng của nền kinh tế trong môt thời kì nhất định
1.2.Môi trường sinh thái:
Theo điều 1-luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường sinh thái bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ
sở để sống và phát triển
1.3.Kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua thị trường
Kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí cua Nhà nước
2.Mối quan hệ biện chứng:
Môi trường và phát triển kinh tế có quan hệ vơí nhau như thế nào? Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài ngưòi trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường
Trang 4Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó Khu vựa giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo
Tác động của hoạt động kinh tế đến môi trường thể hiện ởe khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên cũng đồng thời tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tường của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực
Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau sẽ có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác nhau Ví dụ:
Ô nhiễm do dư thừa:20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện đang sử dụng 80% tài nguyên và năng lượng của loài người
Ô nhiễm do nghèo đói:những người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, nông nghiệp…) Do
đó, ngoài 20% số người giàu, 80% người dân còn lạichỉ sử dụng 20% tài nguyên và năng lượng của loài người
2.1.Tính tất yếu của việc kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái do những điều kiện sau quyết định:
2.1.1.Do yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và tổng thể trong quá trình phát triển kinh tế:
Giữa kinh tế và môi trường có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với nhau Mặc dù tình trạng liên quan đến ô nhiễm từ các nguồn công nghiệp và ô nhiễm không khí ở một số nước chưa phải ở mức cao Song hiện nay, những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng, xói mòn, thoái hoá đất, huỷ hoại môi trường sinh thái ở một số tiểu vùng, sự mất dần các nguồn gen… đang là những vấn đề cấp bách có ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển lâu bền của thế giớ Cải cách kinh tế làm cho các hoạt động khai thác tài nguyên va môi trường trở nên mãnh liệt hơn
Cải cách kinh tế, nếu không có hệ thống thể chế thích hợp thì nạn ô nhiễm môi trường do công nghiệp, trước hết là o các trung tâm công
Trang 5nghiệp và khai khoáng, ở các đô thị , ở các vùng thu hút đầu tư nước ngoài sẽ trở thành hiện thực
2.1.2.Thưc hiện chiến lược con người và phát huy yếu tố con người trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường :
Chiến lược con người: Con người là chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, là người ban hành các luật lệ, chính sách và cũng là người thực hiện các luật lệ, chính sách đó, thúc đẩy các hoạt động tăng trưởng, giữ gìn cảnh quan, môi trường sinh thái Vì vậy, con người vừa la mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
Như vậy, thực thi chiến lược con gnười là nhằm phát triển con người một cách toàn diện cả về tri thức, trí lực, sức khoẻ, tâm hồn trên nền một xã hội công bằng, dân chủ và giàu tính nhân văn.là yếu tố cấu thành của hệ môi trường sinh thái, vừa là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của môi trường sinh thái
Bảo vệ môi trường sinh thái và việc thực thi chiến lược con người
có mối quan hệ hữu cơ với nhau Trong mối quan hệ đó, con người một mặt được sinh tồn trên các điều kiên của môi trường Mặt khác, do việc
sử dụng, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt đông sản xuất phát triển kinh tế,con người đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái, làm suy giảm can kiệt tài nguyên Do đó, để duy trì và phát triển sự sống của mình, con người không thể không đề ra các biện pháp giải quyết hài hoà giữa việc phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái
2.1.3.Hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư kiên doanh, liên kết kinh tế thương mại-mỗi quốc gia cần có một nền kinh tế phát triển lành mạnh trên một môi trường lành mạnh:
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nếu hàng hoá của chúng
ta được sản xuất từ nơi ô nhiễm môi trường thì các nước sẽ không nhập khẩu, sẽ thận trọng hơn với việc mua sản phẩm đó hoặc sẽ thắt chặt hơn việc kiểm soát chất lượng Đó là môt trở ngại lớn đối với hạot động xuất nhập khẩu của chúng ta Nó sẽ làm tiêu tốn nhiều tiền của và thời gian Chi phí cơ hội là quá lớn
2.2.Thống nhất và đấu tranh của hai mặt phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường sinh thái:
Có thể coi phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là hai mặt đối lập của cùng một quá trình diễn ra đồng thời Đó là quá trình phát triển của xã hội Chúng đan xen với nhau Vì vậy, dĩ nhiên là chúng tuân theo quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Trang 62.2.1.Thống nhất:
Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và việc bảo vệ môi trường sinh thái là sự kết hợp giữa hai xu hướng đối lập nhau về mặt hoat động nhưng thống nhất nhau về mục đích trong quá trình phát triển của một chủ thể tự nhiên-xã hội Mục đích tối cao của quá trình kết hợp hai mục tiêu này la
vì sự thống nhất của con người với tư cách là một thực thể sinh học-xã hội và vì sự tồn tại và phát triển của xã hội với tư cách là một bộ phận không thể tách rời của tự nhiên Chỉ có trên cơ sở nhận thức sâu săc ở tầm
vĩ mô như vậy mới có thể coi việc kết hợp phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là thiết thực và cấp bách
2.2.2.Mâu thuẫn:
Trên thực tế, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái trên bình diện hoạt động là đối lập nhau Để tăng trưởng kinh tế không thể không khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên va phát triển dông nghiệp,
mà các chất thải của sản xuất công nghiệp thường độc hại Với trình độ thấp và trung bình không thể xử lí triệt để Do vậy chắc chắn sẽ dẫn đến
sự can kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Như vậy theo quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập của phép duy vật biện chứng thì đấu tranh của hai mặt đối lập nêu trên sẽ
có xu hướng đi đến phá vỡ sự thống nhất của chúng Làm cho sự vật tồn tại nhưng trong sự vật không ngừng biến đổi Có nghĩa là: kinh tế tăng trưởng nhanh trên cơ sở công nghiệp hoá tạo điều kiện thuận lợi và phương tiện tối ưu đẻ thưcj hiên việc bảo vệ môi trưòng sinh thái Bản thân mỗi mặt đối lập đó sẽ đạt được những tiến bộ nhất định
2.3.Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trên dẫn đến
sự xuất hiện các quan niệm hoặc các lí thuyết khác nhau về phát triển:
2.3.1.Bảo vệ môi trường cần được nhìn dưới góc độ phát triển bền vững:
Trong phiên chất vấn ngày 31/3/2007 kì họp thứ 11 Quốc hội khoá
XI nước CHXHCN Việt Nam, đa số các đại biểu đêu thống nhất: tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh không thể buộc phải chấp nhận hay phải trả giá bằng môi trường
Môi trường của Việt Nam đang bị đe dọa Nguyên nhân có nhiều, trong đó có tăng trưởng kinh tế nhanh và tôc độ công nghiệp hoá đi kèm với nó, sự mở rộng của mạng lưới giao thông, tiêu thụ năng lượng và khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng tăng
Trang 7Vấn đề đặt ra là: không được phép vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế
mà huỷ hoại, tàn phá môi trường Không thể vì lợi ích trươc mắt mà để lại hậu quả và gánh nặng cho những thế hệ mai sau Mặt trái của tăng trưởng kinh tế nhanh lá khai thác quá mức, chất thải công nghiệp và các bãi thải công nghiệp
Môi trường sinh thái là bao hàm các yếu tố về tiềm năng phát triển kinh tế Tất cả mọi hoạt đông kinh tế đều phụ tuộc vào nó Trong mối quan hệ tay ba giữa tự do hoá thương mại, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái thì chúng vừa la định chế, vừa có sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau Tự do hoá thương mại thúc đẩy phát triển và chính sự phát triển kinh tế tạo điều kiện thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường Ngược lại,
để bảo vệ môi trường sinh thái buộc phải thực thi chiến lược phát triển kinh tế bền vững và chỉ có như vậy, khi thực hiện tự do hoá thương mại mới bảo đảm được hiệu quả kinh tế, nâng cao sức sản xuất hàng hoá
Như vậy,để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môi trường Vấn đề là phải giải quyết hài hoà mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Để phát triển bền vững không được khai thác quá mức dẫn tới huỷ hoại tài nguyên, môi trường; thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lí môi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường,…
Tương lai của đất nước, dân tộc có một phần phụ thuộc vào môi trường Một điều kiên cần cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững chính là làm tốt công tác bảo vệ môi trường Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt thì sự phát triển đó phỏng có ích gì!
2.3.2.Càng phát triển càng lo môi trường:
Ông Nguyễn Ngọc Sinh-chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường-cảnh báo:” Nếu không giải quyết được vấn đề môi trường thì cũng không thể giải quyết vấn phát triên trong hội nhập”
Đánh giá về thực trang có một số nhà quản lí có quan điểm thả lỏng cho phát triển kinh tế, vấn đề bảo vệ môi trường tính sau, ông cho rằng quan điểm đó là lạc lõng vào thời điểm hiện nay Đôi khi người ta quá coi trọng vấn đề phát triển kinh tế Người ta lập luận rằng nếu không phát triển kinh tế thì làm sao bảo vệ môi trường được! Có thể ở đâu đó người ta thiên về vấn đề phát triển kinh tế hoặc có một số nơi lại thiên về
Trang 8vấn đề bảo vệ môi trường Ở góc độ tổng thể thì phải cố gắng hài hoà hai vấn đề đó
Một thực trạng khá phổ biến ở nước ta là trước khi xây dựng một công trình lớn hay một nhà máy sản xuất, bao giờ chúng ta cũng tiến hánh đánh giá tác động tới môi trường, nhưng vì sao sau đó công trình
đó, nhà máy đó vẫn gây ra ô nhiễm? Theo ông, vấn đề là chủ đầu tư có áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường không, có quan niêm sau khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì phải lập đầy đủ các giải pháp boả vệ môi trưòng mà báo cáo đã nêu lên không, chủ đầu tư có giáo dục cán bộ công nhân viên tuân thủ qui định về bảo vệ môi trường…Vấn
đề thứ hai liên quan đến cơ quan quản lí nhà nước ở TW và địa phương:
có buộc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các qui định hậu đánh giá tác động môi trường hay không, có thường xuyên giám sát không, có tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hịên hay không…Thứ ba là sự giám sát của cộng đồng, cộng đồng có quyền đòi hỏi nhà máy, xí nghiệp thực hiện bảo vệ môi trường
2.3.3.Tái sản xuất môi trường sinh thái:
Sản xuất và tái sản xuất bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường sinh thái nhất định Do vậy, môi trường sinh thái trở thành nhân tố quan trọng không chỉ đối với quá trình tái sản xuất, mà còn đối với điều kiện sống của con người Bởi vì, trong quá trình khai thác tự nhiên để tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất sức lao động, con người làm cạn kiệt nguồn lực tự nhiên, vi phạm những qui luật tự nhiên, phá huỷ sự cân bằng sinh thái Vì vậy, việc bảo vệ và tái sản xuất môi trường sinh thái( khôi phục và tăng thêm độ màu mỡ của đất, làm sạch nguồn nước và không khí…) để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, của cả loài người trở thành nội dung tất yếu của tái sản xuất, phải được đặt ra trong chính sách đầu tư và trong luật pháp của các nước
3.Thực trạng việc thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường sinh thái trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay:
Ở VN hiện nay Theo thống kê, Việt Nam có trên 800.000 cơ sở sản xuất công nghiệp với khoảng 100 KCX-KCN tập trung, tuy nhiên chúng
ta cũng phải chịu nhiều thiệt hại về môi trường do lĩnh vực công nghiệp gây nên Hiện nay, khoảng 90% cơ sở sản xuất công nghiệp và phần lớn các KCN chưa có trạm xử lý nước thải Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, nặng nhất là các nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng
và vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản
Trang 9Nhiều cuộc hội thảo “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” tầm cỡ quốc gia vào năm 2003, đã đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường và đô thị công nghiệp Việt Nam là đáng lo ngại Nhưng đến nay, không những không được cải thiện mà còn trầm trọng hơn
Năm 1990, Việt Nam mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm
2000 đã tăng tới 694 đô thị các loại, trong đó có 4 thành phố trực thuộc trương ương, 20 thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã và 563 thị trấn Dân
số đô thị Việt Nam năm 1990 là khoảng 13 triệu người (chiếm tỷ lệ 20%), năm 1995 tỷ lệ dân số đô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ dân số đô thị ở Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm 45% Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áp lực rất lớn đến môi trường đô thị Bên cạnh sự phát triển mạnh ngành công nghiệp, một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế, nhưng mặt khác, lại gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng
Tại Tp HCM, các khu công nghiệp đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm gia tăng Theo Ban quản lý Khu công nghiệp và Khu chế xuất (KCN&KCX) Tp HCM, hiện nay việc thiếu quỹ đất để triển khai dự án
và nạn ô nhiễm môi trường là hai khó khăn chính trong việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Trong 11 KCN được coi là thành công nhất của Thành phố với khoảng 5000 doanh nghiệp đang hoạt động thì chỉ có
4 KCN là có nhà máy xử lý nước thải tập trung Trong khi đó, mỗi ngày, tại các KCN, có khoảng 30.900 m3 nước được thải ra, mà lượng nước thải đã qua xử lý chỉ chiếm 38,8%, đó là chưa kể đến các chất thải rắn, chất thải công nghiệp chưa được xử lý Ngoài ra, gần như tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong Thành phố (khoảng 30.000) chưa có hệ thống xử lý nước thải
Trên cả nước, các KCN “3 không” (không hệ thống xử lý nước thải, không hệ thống xử lý chất thải rắn, không hệ thống xử lý khói độc) đang trở thành ổ phát tán ô nhiễm
Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồn nước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sulfure, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì (Pb), chất thải rắn (trong sinh hoạt, bệnh viện) Năm 2003, người ta đã đo đạc và đưa ra kết quả sau: nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt thường rất cao như là chất rắn lơ lửng, lượng nitơrit, nitơrat gấp từ 2-5 lần, thậm chí tới 10-20 lần tiêu chuẩn cho phép Đối với nguồn nước mặt loại B, chỉ số E Côli vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần Ngoài các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độ hại như chì, thuỷ ngân, asen, clo, phenol Hiện nay, những con số này chắc chắn còn cao hơn nhiều
Trang 10(Chúng ta chưa thống kê, đo được khối lượng chất thải độc hại, kim loại nặng như chì, thuỷ ngân, crôm )
Các nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần Nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy Vicasa Biên Hoà, KCN Tân Bình, Nhà máy tuyển than Hòn Gai Một số khu dân cư gần các KCN có nồng độ khí sulffure vượt chỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần (khu dân cư gần Nhà máy Xi măng Hải Phòng nồng độ khí sulfure trung bình ngày là 0,407 mg/m3, gấp 1,4 lần tiêu chuẩn cho phép Cụm công nghiệp Tân Bình có nồng độ sulfure trung bình là 0,338 mg/m3 (gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép) Tính trung bình, lượng chất thải rắn sinh hoạt ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh) từ 0,6 – 0,8
kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh viện (cơ sở y tế) được thải ra ước tính từ 50-70 tấn/ngày Chất thải rắn này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đô thị Hiện nay, khả năng thu gom chất thải rắn còn rất thấp so với yêu cầu đặt ra Tại nhiều thị xã, tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt 20-40% Biện pháp thu gom chất thải rắn chủ yếu là chôn lấp, nhưng chưa có bãi chôn lấp nào đạt tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môi trường
Sự cố làm tràn dầu ảnh hưởng đến du lịch biển, nuôi hải sản; nhiều người trong một ngôi làng cạnh một nhà máy bị tử vong vì ung thư; cá nuôi bè bị chết do nước sông bị ô nhiễm; người bị bệnh đường hô hấp ngày càng tăng do bụi( bụi đường, bụi than…) Ô nhiễm môi trường đã tác động trực tiếp đến nhiều người
Để phục hồi nâng cao năng lực công nghiệp, ta đã nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị không ít loại cũ, lạc hậu gây ô nhiễm bằng nhiều khí thải độc hại
Để tăng kim ngạch hàng xuất khẩu, ta đã cho phép xuất khẩu ồ ạt các sản phẩm, kể cả gỗ tròn, gốc cây… dẫn đến tình trạng phá rừng tràn lan
Để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo, ta đã cho nhập quá nhiều phân hoá học và hoá chất phục vụ nông nghiệp gây ảnh hưởng không ít tới môi trường sinh thái
Tình trạng buôn lậu hàng giả, kém chất lượng làm cho hàng hoá nằm ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước cũng có tác động mạnh tới môi trường sinh thái
Công xưởng, nhà máy điện, phương tiện giao thông và nhiên liệu
bị đốt cháy là những nguồn gây ô nhiễm chính tại các khu vực thành thị