1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế tri thức trong quá trình CNH hđh ở VN hiện nay

20 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện đợc chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, để có khả năng tiếp nhận những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ, có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá -

Trang 1

Mục lục

Trang

Giới thiệu đề tài 2

Nội dung 4

1 Nền kinh tế tri thức là gì? 4

2 Những đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức 6

3 Kinh tế tri thức trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 13

a Thời cơ và thách thức 13

b Chiến lợc phát triển của ta là chiến lợc dựa vào tri thức, nội dung công nghiệp hoá ở nớc ta là vận dụng các yếu tố của kinh tế tri thức 14

c Giải pháp chủ yếu cho một chiến lợc kinh tế dựa vào tri thức 16

4 Những thành công và thất bại bớc đầu trong xây dựng nền kinh tế tri thức ở nớc ta 18

a Thành công 18

b Thất bại 20

c Biện pháp khắc phục 22

Kết luận 24

Trang 2

Giới thiệu đề tàI

Tại đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: thời kỳ phát triển mới của đất nớc là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá Mục tiêu

công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo tinh thần của đại hội đảng VIII là: Xây“Xây

dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Để thực hiện đợc chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, để có khả năng tiếp nhận những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ, có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì kinh tế tri thức chính là giai đoạn phát triển mới của lực lợng sản suất Kinh tế tri thức dựa vào tri thức và thông tin là chủ yếu, trong đó khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng đầu

Nền kinh tế tri thức đã hình thành, đã là hiện thực ở nhiều nớc Đó là xu thế tất yếu của quá trình phát triển sức sản xuất, là thành tựu quan trọng của loài ngời mà chủ nghĩa xã hội phải nắm lấy và vận dụng để phát triển lực lợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Nhiều nớc

đang phát triển đã đang đi nhanh vào nền kinh tế tri thức và đây cũng là thời cơ và thách thức hết sức to lớn, quyết liệt

Công nghiệp hoá nớc ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ to lớn: đó là chuyển từ kinh tế nông nhiệp sang kinh tế công nghiệp đồng thời chuyển sang nền kinh tế tri thức Hai nhiệm vụ đó phải thực hiện đồng thời,

hỗ trợ và bổ xung cho nhau Điều đó có nghĩa phải nắm các tri thức và công nghệ mới của thời đại để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ Dựa vào tri thức, vào khoa học

và công nghệ, chuyển dịch kinh tế theo hớng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài tiểu luận hẳn còn nhiều thiếu sót Vì vậy em rất mong ý kiến và sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo để

đề tài đợc hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Cơ sở lý luận của đề tài

Trang 3

Cơ sở lý luận triết học của đề tài :Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.

Cơ sở thực tế:

 Giáo trình triết học – NXB Chính trị quốc gia

 Giáo trình kinh tế chính trị – NXB Chính trị quốc gia

 Kỷ yếu hội thảo kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra với Việt Nam

 Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X

 Các trang web: www.baodientudangcongsan.com

www.chungta.com

Trang 4

nội dung

1 Nền kinh tế tri thức là gì?

Trớc khi tên gọi kinh tế tri thức đợc sử dụng, đã có rất nhiều tên gọi khác nhau đợc các nhà nghiên cứu, các hội thảo sử dụng để chỉ giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế nh:

Kinh tế thông tin information economy, kinh tế mạng network economy, kinh tế số digital economy (nói lên vai trò quyết định của công nghệ thông tin đối với nền kinh tế)

Kinh tế học hỏi learning economy (nói lên động lực chủ yếu của nền kinh tế là sự học hỏi suốt đời của mọi ngời)

Kinh tế dựa vào tri thức knowledge based economy, kinh tế dẫn dắt bởi tri thức knowledge driven economy, kinh tế tri thức knowledge economy (nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với sự phát

triển của kinh tế)

Kinh tế mới new economy (tên gọi chung, không xác định nội dung)

Kinh tế tri thức là tên gọi thờng dùng nhất Tổ chức OECD chính thức

dùng từ năm 1995 Tên gọi này nói lên đợc nội dung cốt lõi của nền kinh tế mới, còn kinh tế thông tin, kinh tế số chỉ mới nói về công nghệ thông tin, mặc

dù công nghệ thông tin là nội dung chủ yếu nhất nhng không bao gồm đợc các yếu tố tri thức và công nghệ khác

Vậy nền kinh tế tri thức là gì?

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lợng cuộc sống.

Hoặc:

Nền kinh tế tri thức (knowledge economy - KE, hoặc knowledge based economy - KBE) đợc định nghĩa là nền kinh tế, trong đó quá trình sáng tạo và khai thác tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải Trên thế giới hiện nay, các nền kinh tế phát triển thuộc OECD đợc coi là kinh tế tri thức vì tại đây 50% GDP đợc sản xuất từ những ngành có nền tảng

là tri thức.

Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: kinh tế tri thức là nền kinh tế, trong đó khoa học - công nghệ - kỹ thuật trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp,

là yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển

Trang 5

vọng phát triển Nói gọn hơn là: khoa học- công nghệ - kỹ thuật là lực lợng sản xuất thứ nhất

So sánh khái quát các thời đại kinh tế:

Kinh tế nông nghiệp

Kinh tế công nghiệp Kinh tế tri thức

Đầu vào của sản

xuất

Lao động, đất

đai, vốn

Lao động, đất

đai, vốn, công nghệ, thiết bị

Lao động, đất đai, vốn, công nghệ, thiết bị, tri thức, thông tin Các quá trình

chủ yếu

Trồng trọt, chăn nuôi

Chế tạo, gia công

Thao tác, điều khiển, kiểm soát,

xử lý thông tin

Đầu ra của sản

xuất Lơng thực

Của cải, hàng hoá tiêu dùng, xí nghiệp, nền công nghiệp

Sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống, công nghiệp tri thức, vốn tri thức

Cơ cấu kinh tế Nông nghiệp là

chủ yếu

Công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu

Các ngành kinh tế tri thức thống trị

Công nghệ chủ

yếu thúc đẩy

sản xuất

Sử dụng súc vật, cơ giới hoá đơn giản

Cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, chuyên môn

hóa

Công nghệ cao,

điện tử hoá, tin học hoá, siêu xa lộ thông tin, thực tế

ảo…

Cơ cấu xã hội Nông dân Công nhân Công nhân tri thức

Đầu t cho R&D < 0,3% GDP 1 – 2% GDP > 3% GDP

Tỷ lệ đóng góp

của KHCN cho

nền kinh tế

< 10% > 30% > 80%

Đầu t cho giáo

dục < 1% GDP 2 – 4% GDP > 6% GDP Tầm quan trọng

Trình độ văn

hoá trung bình Tỷ lệ mù chữ cao Trung học Sau trung học Vai trò của

Trang 6

Theo dự đoán đến năm 2030, các nớc phát triển đều trở thành nền kinh

tế tri thức

2 Những đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức

Thứ nhất, là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế:

Trong các năm qua các nền kinh tế phát triển trên thế giới đã có những chuyển đổi to lớn, sâu sắc về cơ cấu kinh tế, về cách thức hoạt động và các qui tắc hoạt động; đang phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa vào tri thức; các ý tởng đổi mới và công nghệ là chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lợng cuộc sống Nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao, dịch chuyển nhanh cơ cấu Nhng đây cũng là nền kinh tế mang tính rủi ro, và không ngừng thay đổi, luôn đặt ra nhiều thách thức mới (vì vậy có ngời gọi đây là xã hội rủi

ro – risk society).

Trong nền kinh tế tri thức, nông nghiệp và công nghiệp vẫn tồn tại nhng chiếm tỉ lệ nhỏ Những ngành chiếm tỉ lệ cao là các ngành dựa vào tri thức, ứng dụng KHCN mới nhất nh: công nghiệp thông tin (sản xuất phần cứng, phần mềm), các ngành công nghiệp, dịch vụ dựa vào công nghệ cao (bán hàng qua mạng internet), cũng có thể là các ngành truyền thống nhng đợc cải tạo bằng KHCN cao Ví dụ: sản xuất ô tô thông minh, có độ an toàn cao, không cần ngời lái

Nếu nh trong khi nền kinh tế công nghiệp dựa vào sự tổ chức sản xuất hàng loạt, qui chuẩn hoá, thì nền kinh tế tri thức đợc tổ chức trên cơ sở sự sản xuất linh hoạt hàng hoá và dịch vụ dựa vào công nghệ cao, đây cũng là kinh tế văn phòng (ngời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, ngời làm việc ở văn phòng nhiều lên) Hiện nay ở Mỹ có hơn 93 triệu lao động (hơn 80% lao động) không phải tham gia vào việc làm ra vật phẩm, mà chuyển sang di chuyển vật phẩm, xử lý thông tin, cung cấp dịch vụ cho ngời dân

Thứ hai , là sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng

nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tơng lai Các ngành kinh tế tri thức đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển Các doanh nghiệp đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ, có thể gọi là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học và sản xuất đợc nhất thể hoá, không còn phân biệt phòng thí nghiệm với công

x-ởng, những ngời làm việc trong đó là công nhân tri thức, họ vừa nghiên cứu

vừa sản xuất

Trang 7

Hiện nay trên lĩnh vực công nghệ thông tin các doanh nghiệp tri thức phát triển rất nhanh, chỉ trong khoảng 5-10 năm từ chỗ tay không trở thành những tài sản khổng lồ hàng chục tỷ USD, nh Nescape, Yahoo, Dell, Cisco Ngời giàu nhất thế giới Bill Gate cũng là một ngời hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin Ông là chủ sở hữu tập đoàn Microsoft – tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất thế giới

Sự hình thành và phát triển các khu công nghệ (technology park) là yếu

tố rất quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh sự ra đời các công nghệ mới Đây

là những vờn ơm công nghệ; ở đây có các điều kiện thuận lợi để nhất thể hoá quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất, nhờ đó các ý tởng khoa học nhanh chóng trở thành công nghệ và đa ra sản xuất Khu công nghệ tiêu biểu nhất phải kể đến là thung lũng Silicon, đợc hình thành từ những năm 50 của thế kỷ trớc với các công ty do các nhà khoa học của trờng đại học Stanford sáng lập Ban đầu đó chỉ là các công ty nhỏ nhng nhờ đi đúng hớng mà chúng liên tục phát triển Rất nhiều công nghệ mới ra

đời từ nơi đây, đáng kể nhất phải kể đến internet Bây giờ tại đây đã có hàng ngàn công ty công nghệ thông tin với doanh số tại chỗ năm 1997 lên tới 267

tỷ USD

Những thập kỷ gần đây trên thế giới các khu công nghệ phát triển rất nhanh, đó là một cách tổ chức để đi nhanh vào kinh tế tri thức

Vì nền sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng l-ợng, thải ra ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện đợc sản xuất sạch, không gây ô nhiễm môi trờng Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững

Trong xã hội mạng lại có điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng; nhờ có mạng có thể sản xuất theo nhu cầu của khách hàng, theo đơn đặt hàng, không để ứ đọng trong kho khối lợng lớn hàng hoá Giữa sản xuất và tiêu dùng có thể đạt đợc sự hài hoà

Thứ ba , là việc ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh

vực và thiết lập mạng thông tin đa phơng tiện phủ khắp nớc, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất Mọi ngời đều có nhu cầu thông tin và đợc truy nhập vào các kho thông tin cần thiết cho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lợng, hiệu quả, cũng chính vì vậy nhiều ngời gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế số hay kinh tế mạng

Trang 8

Thơg mại điện tử, thị trờng ảo, xí nghiệp ảo, làm việc từ xa… ợc thiết đ lập làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên nhanh nhạy, linh hoạt, khoảng cách và ý nghĩa về vị trí địa lý ngày càng giảm

Thứ t , là các doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát triển.

Trong cùng một lĩnh vực khi một công ty thành công hơn, lớn mạnh hơn, thì công ty khác tìm cách sáp nhập vào hoặc chuyển hớng khác ngay, nếu không muốn bị phá sản Mà trong nền kinh tế tri thức vì nảy sinh nhiều công nghệ mới nên luôn luôn xuất hiện nhiều công ty mới; sự ra đời của công ty gắn với

sự ra đời của một công nghệ mới, một sáng chế mới Các công ty phải luôn

đổi mới và phải kịp thời chuyển hớng theo sự phát triển của công nghệ Để tăng sức mạnh các công ty phải hợp tác với nhau, để tồn tại và phát triển Gần

đây nhất chúng ta phải kể đến sự kiện tập đoàn Microsoft đang thơng thuyết

để mua lại tập đoàn Yahoo, nếu thành công thì đây sẽ là vụ mua bán lớn nhất trong lĩnh vc công nghệ thông tin từ trớc tới nay

Thứ năm , xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá Thông tin đến với

mọi ngời Mọi ngời đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết Dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội đợc mở rộng Ngời dân nào cũng có thể đợc thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nớc hoặc tổ chức có liên quan đến họ và họ có thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù hợp Do đó phải tạo không khí dân chủ, cách làm việc dân chủ Khi chuẩn

bị các quyết định, các chính sách, luật pháp cơ quan nhà nớc rất dễ dàng đa ra lấy ý kiến nhân dân Việc tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân cũng rất

dễ dàng, thuận tiện Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" sẽ đợc thực hiện đầy đủ nhất Cho nên CNTT thúc đẩy sự phát triển dân chủ Có dân chủ mới phát huy đợc khả năng sáng tạo của mọi ngời

Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi nhiều Trong thời đại thông tin, mô hình chỉ huy tập trung, có đẳng cấp là không phù hợp Xu thế là theo mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong đó tận dụng các quan

hệ ngang; vì thông tin đến đợc một cách thuận lợi nhanh chóng tất cả mọi nơi, không cần đi qua các nút xử lý trung gian Đó là mô hình tổ chức dân chủ, nó linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động sáng tạo của mọi ngời

Thứ sáu, xã hội thông tin là một xã hội học tập Giáo dục rất phát

triển Mọi ngời đều học tập, học thờng xuyên, học ở trờng và học trên mạng,

để không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo Không học tập thờng xuyên thì không phát triển đợc nền kinh tế tri thức Mọi ngời thờng xuyên đợc

Trang 9

bổ túc, cập nhật kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc

đẩy sự đổi mới Với sự bùng nổ thông tin và sự luôn đổi mới kiến thức, mô hình giáo dục truyền thống: đào tạo xong rồi ra làm việc là không còn phù hợp, mà phải đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc Con ngời phải học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi ngời bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu cũng có thể học tập đợc Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời Đầu t cho giáo dục và cho khoa học chiếm tỷ lệ rất cao Nói chung đầu

t vô hình (cho con ngời, cho giáo dục, khoa học, văn hoá xã hội ) cao hơn

đầu t hữu hình (đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật) Phát triển con ngời trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội

Vốn con ngời là yếu tố then chốt nhất tạo ra giá trị cho doanh nghiệp tri

thức

Thứ bảy , vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Tri thức là

nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trởng Không phải nh các nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin có thể đợc chia xẻ, và trên thực tế lại

tăng lên khi sử dụng Do đó nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế d dật chứ không phải khan hiếm.

Sản phẩm và dịch vụ có hàm lợng tri thức càng cao thì càng quý giá Giá cả và giá trị sản phẩm tri thức thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào ngời sử dụng ở các thời điểm khác nhau

Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả sở hữu vốn, tài nguyên, đất đai Ai chiếm đợc nhiều sở hữu trí tuệ, ngời ấy thắng Pháp luật về sở hữu trí tuệ trở thành nội dung chủ yếu trong quan hệ dân sự và quan hệ thơng mại quốc tế

Rất nhiều vấn đề về sở hữu trí tuệ đợc đặt ra Các ông chủ nhiều tập

đoàn công nghệ thông tin thoạt đầu không có vốn liếng gì, nhng nhờ có sở hữu trí tụê mà đã có tài sản hàng trăm tỷ USD Nếu không đợc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì họ không thể có đợc thành công nh vậy

Luật pháp, thuế và các rào cản khó áp dụng đơn độc trong khuôn khổ quốc gia Tri thức và thông tin luôn đi tới những nơi có nhu cầu cao nhất và

rào cản ít nhất

Thứ tám, sự sáng tạo, đổi mới thờng xuyên là động lực chủ yếu nhất

thúc đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn; quá trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản

Trang 10

xuất, hay một công nghệ chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ đợc và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm Sáng tạo là linh hồn của sự đổi mới Trớc đây, ngời ta chọn các công nghệ đã chín muồi thì nay ngời ta lại tìm chọn các công nghệ mới nảy sinh vì cái chín muồi cũng rất có thể là cái sắp sửa tiêu vong

Trong nền kinh tế tri thức có những điều tởng nh nghịch lý:

- Của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái cha biết, cái đã biết không còn giá trị nữa, tìm ra cái cha biết chính là tạo ra giá trị

- Môi trờng để tìm ra cái cha biết là mạng thông tin Mạng thông tin, thực tế

ảo… gợi ra các ý tởng mới, giải pháp mới đáp ứng nhu cầu mới

- Phát hiện ra cái cha biết tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới, cái mới ngày càng nhiều Đó là

đặc trng của sự phát triển, sự tiến hoá của xã hội sắp tới, phát triển từ cái mới chứ không phải phát triển từ cái lớn dần lên

- Sản phẩm có giá trị sử dụng ngày càng cao thì giá bán càng rẻ, thậm chí nhiều phần mềm cơ bản đợc cho không (để rồi sau đó nâng cao hơn dù chỉ một ít thì giá bán rất đắt), sản phẩm càng nhiều ngời dùng thì giá trị sử dụng càng cao ở thời đại công nghệ thông tin thì cái đợc dùng nhiều nhất là cái có giá trị cao Ví dụ: máy Fax sẽ không có tác dụng là bao khi có ít nhng khi có hàng nghìn máy dùng để liên lạc với nhau thì sẽ có giá trị rất to lớn Mạng cũng nh vậy, phải có nhiều ngời dùng thì lúc đó mới có giá trị

Thứ chín, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá Thị trờng và

sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất kỳ nơi nào cũng

có thể nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thế giới

Quá trình toàn cầu hoá cũng là quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá và kinh tế tri thức thúc đẩy nhau, gắn quyện với nhau, là hai anh em sinh đôi của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Toàn cầu hoá một mặt tạo thuận lợi cho sự phát triển nhanh kinh tế tri thức ở các

n-ớc, nhng đồng thời cũng đặt nhiều thách thức rủi ro Trên thế giới hiện nay thì khoảng cách giàu nghèo vẫn đang tăng nhanh do chêch lệch nhiều về tri thức

và điều đó chỉ có thể xoá đợc khi rút ngắn khoảng cách và tri thức

Thứ mời, là sự thách thức đối với văn hoá Trong nền kinh tế tri thức - xã

hội thông tin, văn hoá có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ

Ngày đăng: 12/04/2017, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w