MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 4 1. Lý do chọn đề tài 4 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4 3. Mục đích nghiên cứu 4 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5 5. Phương pháp nghiên cứu 5 6. Bố cục của đề tài 5 CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG 6 1.1. Khái niệm về hợp đồng 6 1.1.1. Định nghĩa hợp đồng 6 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng 6 1.1.3. Chủ thể của hợp đồng 7 1.1.4. Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực 8 2.1. Hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015 8 2.1.1. Khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản 8 2.1.2. Nội dung và hình thức hợp đồng trao đổi tài sản 9 CHƯƠNG II. SO SÁNH BLDS 2005 VÀ BLDS 2015 NHỮNG ĐIỂM THAY ĐỔI VỀ HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN 11 2.1. Những điểm mới về hợp đồng trao đổi tài sản mới theo BLDS 2015 11 2.2. Điểm mới BLDS 2015 với BLDS 2005 về hợp đồng trao đổi tài sản 12 TIỂU KẾT CHƯƠNG II 19 KẾT LUẬN 20 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường, các giao dịch về kinh tế, thương mại, dân sự, các hình thức bảo đảm và các tài sản được đưa vào giao dịch bảo đảm …ngày càng phát triển đa dạng. Để đảm bảo cho việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, dân sự…theo một khuôn khổ, tránh những tranh chấp, đối kháng giữa các chủ thể, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về hợp đồng. Đặc biệt là những quy định mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 đã phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm. Việc nghiên cứu các qui định về hợp đồng là công việc cần thiết, bởi những qui định này điều chỉnh một loạt giao dịch dân sự đang rất phát triển và phổ biến trong đời sống xã hội và nền kinh tế thị trường hiện nay. Do đó để hiểu rõ hơn về những quy định mới về hợp đồng dân của BLDS 2015, (có hiệu lực vào ngày 01012017), tôi chọn đề tài “Tìm hiểu quy định về hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015’’ 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này…trong BLDS 1995, BLDS 2005. Đến BLDS 2015, đã có nhiều bài viết đánh giá về hợp đồng trao đổi tài sản. Vì vậy tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn những điểm mới của thực hiện nghĩa vụ dân sự BLDS 2015 trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà Bộ luật dân sự hiện hành chưa giải quyết được. 3. Mục đích nghiên cứu Ngày này với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của xã hội, thì Đảng và nhà nước luôn đổi mới trong cách tư duy, và lấy ý kiến của người dân để ra những bộ luật để phục vụ cho đời sống xã hội, đảm bảo các quyền con người của mỗi người Vì vậy em đã chọn đề tài về quy định của BLDS về hợp đồng bộ luật dân sự, nó phán ảnh một góc nhỏ nào đó trong đời sống xã hội mà chúng ta cần hiểu biết rõ hơn, để phục vụ cho cuộc sống thường ngày tránh các tranh chấp xung đột không đáng có, đảm bảo an sinh xã hội. 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Do kiến thức và trình độ còn hạn chế nên trong đề tài này tôi sẽ tập trung nghiên cứu từ Điều 430 đến Điều 437, chương XVI, phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng”,. Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sẽ tập trung vào các vấn đề sau: Phân tích những điểm mới trong hợp đồng. Qua đó đánh giá những tác động của điểm mới về thực hiện nghĩa vụ BLDS 2015 trong tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà BLDS hiện hành chưa giải quyết được. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứ: Phân tích, tổng hợp, logic pháp lý và lịch sử, so sánh luật…Đồng thời để hoàn thành đề tài tôi còn nghiên cứu những bài viết đánh giá của các tác giả và tiếp thu ý kiến hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn nhằm làm rõ những vấn đề được tôi đưa ra trong đề tài. 6. Bố cục của đề tài Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, bố cục của đề tài môn học được chia làm 2 chương: Chương I: Khái quát về hợp đồng Chương II : So sánh BLDS 2005 và BLDS 2015 những điểm thay đổi về hợp đồng trao đổi tài sản CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG 1.1. Khái niệm về hợp đồng 1.1.1. Định nghĩa hợp đồng Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên. Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng. Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng. Sự thống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể. Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định. Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế. Chẳng hạn, đối tượng của hợp đồng mua bán phải là những thứ không bị cấm. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu. Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng. Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định công bằng, đúng đắn. Khi các mối quan hệ về tài sản, các mối quan hệ về nhân thân càng ngày càng phát triển trong xã hội dân sự, một sự nhu cầu về trao đổi tài sản, hàng hóa cũng như vấn đề thuê nhân lực để phục vụ cho việc phát triển tài sản của mình cũng ngày càng phát triển theo. Khi ý chí của các bên trong việc trao đổi đó gặp nhau ở một số điểm nhất định, họ muốn tiến tới thực hiện ý chí của nhau ở những điểm trùng lặp đó. Nhưng việc đơn thuần để tiến hành những điểm chung đó là chưa đủ, cần có một cơ chế để giúp việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau khi họ thực hiện ý chí của mình, và từ đó hợp đồng ra đời. 1.1.3. Chủ thể của hợp đồng Chủ thể của Hợp đồng có thể là cá nhân, tổ chức và tất cả các chủ thể của pháp luật dân sự, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước... Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện, thoả thuận để xác lập và thực hiện những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. 1.1.4. Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực Trong quá trình xây dựng và ký kết hợp đồng, người soạn thảo cần lưu ý đến điều kiện của hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu của hợp đồng nhằm tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra trong quá trình hai bên thực hiện hợp đồng Điều 388 Bộ luật dân sự quy định:Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ 4 điều kiện: Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thông thường các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó. Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi. Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ. Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng. Hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện trên sẽ dẫn đến vô hiệu. 2.1. Hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015 2.1.1. Khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản Điều 455, BLDS 2015 quy định về hợp đồng trao đổi tài sản như sau: “Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.” Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định. 2.1.2. Nội dung và hình thức hợp đồng trao đổi tài sản • Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau. • Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định. • Trong trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. • Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 428 đến Điều 437 và từ Điều 439 đến Điều 448 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau. Từ khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản cho thấy, đây là loại hợp đồng song vụ, thể hiện quan hệ trao đổi tài sản với tài sản. Trong khi đó, hợp đông mua bán tài sản thể hiện quan hệ hàng – tiền. Mặc dù, hai loại hợp đồng này đều dựa trên quan hệ trao đổi tương xứng giữa các giá trị. Trong hợp đồng trao đổi tài sản về cơ bản không có nghĩa vụ trả tiền. Thông thường, nghĩa vụ trả tiền của một bên hợp đồng chỉ phát sinh khi các tài sản trao đổi có giá trị chênh lệch nhau. Bên nào nhận tài sản có giá trị lớn hơn thì có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị lớn hơn đó. Nghĩa vụ này không làm cho hợp đồng trao đổi tài sản trở thành hợp đồng mua bán tài sản, trừ trường hợp nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ chính. Trong hợp đồng trao đổi tài sản, các bên giao kết hợp đồng cũng có thể thỏa thuận bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn không phải thanh toán phần chênh lệch về giá trị tài sản đối với bên kia. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa hợp đồng trao đổi tài sản với hợp đồng mua bán tài sản. Nếu hợp đồng mua bán tài sản có thể được xác lập bằng lời nói hoặc văn bản tùy theo từng đối tượng của hợp đồng, thì đối với hợp đồng trao đổi tài sản, pháp luật đòi hỏi hợp đồng buộc phải lập thành văn bản. Mặt khác, hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng có tính “đi tắt”, không có thanh toán về chênh lệch giữa giá trị các tài sản trao đổi (các yếu tố khiến cho hợp đồng trao đổi tài sản có tính phức tạp nhất định và có thể hay xảy ra tranh chấp), hình thức của loại hợp đồng này phải được thể hiện bằng văn bản. Hợp đồng trao đổi tài sản lập thành văn bản cần phải có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu tài sản trao đổi là tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng nhất thiết phải có chứng nhận, chứng thực hoặc phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, các bên phải tuân theo đúng các quy định về hình thức, thủ tục. Muốn thực hiện quan hệ trao đổi tài sản thì trước hết, mỗi bên trong hợp đồng phải là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đem trao đổi hoặc phải là người có quyền định đoạt đối với tài sản đó. Trao đổi tài sản với người khác tức là đã thực hiện việc định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản đó mà về nguyên tắc, chỉ có chủ sở hữu hợp pháp của tài sản hay người được chủ sở hữu ủy quyền hoặc người khác theo quy định của pháp luật mới được quyền thực hiện quyền năng định đoạt đó đối với tài sản. Trong trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền, thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp dồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu một bên trao đổi tài sản mà không biết và không thể biết (pháp luật không buộc phải biết) tài sản đó không thuộc sở hữu của mình và sau đó, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản phát hiện ra nhưng đã chấp thuận để cho bên trao đổi tài sản đó (tức là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình) bồi thường thiệt hại giá trị của tài sản, không kiện đòi lại tài sản đó nữa thì khi đó, quan hệ trao đổi tài sản đã thiết lập vẫn có hiệu lực. CHƯƠNG II. SO SÁNH BLDS 2005 VÀ BLDS 2015 NHỮNG ĐIỂM THAY ĐỔI VỀ HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN 2.1. Những điểm mới về hợp đồng trao đổi tài sản mới theo BLDS 2015 Đối tượng của hợp đồng mua bán, trao đổi Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có quy định chỉ là những tài sản được phép giao dịch. Tài sản được quy định tại BLDS 2015 đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó. Tài sản bán không nhất thiết chỉ là tài sản thuộc sở hữu của người bán: Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán. (Căn cứ Điều 431 Bộ luật dân sự 2015) Chất lượng của tài sản mua bán, trao đổi Tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng của tài sản mua bán, đồng thời quy định cụ thể về trường hợp chưa có tiêu chuẩn: Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi các bên không có thoả thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề. Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. (Căn cứ Điều 432 Bộ luật dân sự 2015) Giá và phương thức thanh toán, trao đổi Quy định ngắn gọn, súc tích về giá và phương thức thanh toán, đồng thời, phương thức thanh toán có thể được người thứ ba xác định theo yêu cầu: Giá, phương thức thanh toán do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng. (Căn cứ Điều 433 Bộ luật dân sự 2015) 2.2. Điểm mới BLDS 2015 với BLDS 2005 về hợp đồng trao đổi tài sản Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có quy định chỉ là những tài sản được phép giao dịch. BLDS 2005 BLDS 2015 Đối tượng của hợp đồng mua bán trao đổi Chất lượng của tài sản trao đổi Giá và phương thức thanh toán Thời hạn thực hiện Phương thức trao đổi Trách nhiệm giao tài sản Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch. +Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ. +Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán. . Chất lượng của vật mua bán do các bên thoả thuận. +Trong trường hợp chất lượng của vật đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì chất lượng của vật được xác định theo các tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. +Khi các bên không có thoả thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại. Giá do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. +Trong trường hợp các bên thoả thuận thanh toán theo giá thị trường thì giá được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh toán. +Đối với tài sản trong giao dịch dân sự mà Nhà nước có quy định khung giá thì các bên thoả thuận theo quy định đó. Các bên có thể thoả thuận áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá. +Thoả thuận về giá có thể là mức giá cụ thể hoặc một phương pháp xác định giá. +Trong trường hợp thoả thuận mức giá hoặc phương pháp xác định giá không rõ ràng thì giá của tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng. + Phương thức thanh toán do các bên thoả thuận. Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thoả thuận. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý. +Khi các bên không thoả thuận thời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một thời gian hợp lý. +Khi các bên không có thoả thuận về thời hạn thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản. Tài sản được giao theo phương thức do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận về phương thức giao tài sản thì tài sản do bên bán giao một lần, giao trực tiếp cho bên mua. Trong trường hợp bên bán giao vật với số lượng nhiều hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì việc thanh toán được thực hiện theo thoả thuận đối với phần dôi ra. Trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây: Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu; Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có quy định chỉ là những tài sản được phép giao dịch. Tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng của tài sản mua bán, đồng thời quy định cụ thể về trường hợp chưa có tiêu chuẩn: Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi các bên không có thoả thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề. Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. (Căn cứ Điều 432 Bộ luật dân sự 2015) Quy định ngắn gọn, súc tích về giá và phương thức thanh toán, đồng thời, phương thức thanh toán có thể được người thứ ba xác định theo yêu cầu: Giá, phương thức thanh toán do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng. (Căn cứ Điều 433 Bộ luật dân sự 2015) Quy định cụ thể về thời hạn thanh toán tiền mua: Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận. Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời điểm nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản. (Căn cứ Điều 434 Bộ luật dân sự 2015) Bổ sung điều khoản ràng buộc trong trường hợp bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định: Trường hợp theo thỏa thuận, bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán thực hiện không đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến lần vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại. (Căn cứ Khoản 2 Điều 436 Bộ luật dân sự 2015) Quy định cụ thể hơn BLDS 2005 về trách nhiệm do giao tài sản không đúng chất lượng: Trường hợp bên bán giao tài sản với số lượng nhiều hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì phải thanh toán đối với phần dôi ra theo giá được thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có một trong các quyền sau: + Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu. + Nhận phần đã giao và yêu cầu BTTH. + Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu BTTH nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng. (Căn cứ Điều 437 Bộ luật dân sự 2015) Như vậy, BLDS năm 2015 lần này về mục tiêu, quan điểm xây dựng Bộ luật là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đất nước ta hiện nay. BLDS đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của BLDS thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. TIỂU KẾT CHƯƠNG II Sau bài tiểu luận trên ta đã thấy rõ được tầm quan trọng của luật trong đời sống thường ngày, và đặc biệt là Hệ thống pháp luật Việt Nam cụ thể là Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn giờ đây không chỉ là khung pháp lý cho mỗi công dân môi khi có quyền nghĩa vụ liên quan tới quyền lợi của mình, nâng cao được tư tưởng chính trị vững vàng vững tin theo đảng nhà nước. Thấy rõ được nhưng điểm mới của hai BLDS có sự khác nhau, nhưng điểm mới về các điều khoản. KẾT LUẬN Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ xã hội do tác động của nền kinh tế thị trường càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Vì vậy việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn về BLDS hợp đồng trở nên rất quan trọng và cần thiết. Trong đề tài môn học này, em đã nghiên cứu về các điểm mới của BLDS 2015 để đưa ra các nhận xét nhận đinh của mình về BLDS. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn nhiều điểm thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn..
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục của đề tài 5
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG 6
1.1 Khái niệm về hợp đồng 6
1.1.1 Định nghĩa hợp đồng 6
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng 6
1.1.3 Chủ thể của hợp đồng 7
1.1.4 Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực 8
2.1 Hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015 8
2.1.1 Khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản 8
2.1.2 Nội dung và hình thức hợp đồng trao đổi tài sản 9
CHƯƠNG II SO SÁNH BLDS 2005 VÀ BLDS 2015 NHỮNG ĐIỂM THAY ĐỔI VỀ HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN 11
2.1 Những điểm mới về hợp đồng trao đổi tài sản mới theo BLDS 2015 11
2.2 Điểm mới BLDS 2015 với BLDS 2005 về hợp đồng trao đổi tài sản 12
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 19
KẾT LUẬN 20
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường, các giao dịch về kinh tế, thương mại, dân sự, các hình thức bảo đảm và các tài sản được đưa vào giao dịch bảo đảm …ngày càng phát triển đa dạng Để đảm bảo cho việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, dân sự…theo một khuôn khổ, tránh những tranh chấp, đối kháng giữa các chủ thể, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về hợp đồng Đặc biệt là những quy định mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 đã phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm Việc nghiên cứu các qui định
về hợp đồng là công việc cần thiết, bởi những qui định này điều chỉnh một loạt giao dịch dân sự đang rất phát triển và phổ biến trong đời sống xã hội và nền kinh tế thị trường hiện nay Do đó để hiểu rõ hơn về những quy định mới về hợp đồng dân của BLDS 2015, (có hiệu lực vào ngày 01/01/2017), tôi chọn đề tài “Tìm hiểu quy định về hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015’’
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này…trong BLDS 1995, BLDS 2005 Đến BLDS 2015, đã có nhiều bài viết đánh giá về hợp đồng trao đổi tài sản Vì vậy tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn những điểm mới của thực hiện nghĩa vụ dân sự BLDS 2015 trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà Bộ luật dân sự hiện hành chưa giải quyết được
3 Mục đích nghiên cứu
Ngày này với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của xã hội, thì Đảng và nhà nước luôn đổi mới trong cách tư duy, và lấy ý kiến của người dân để ra những bộ luật
để phục vụ cho đời sống xã hội, đảm bảo các quyền con người của mỗi người
Vì vậy em đã chọn đề tài về quy định của BLDS về hợp đồng bộ luật dân sự, nó phán ảnh một góc nhỏ nào đó trong đời sống xã hội mà chúng ta cần hiểu biết rõ hơn,
Trang 3để phục vụ cho cuộc sống thường ngày tránh các tranh chấp xung đột không đáng có, đảm bảo an sinh xã hội
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Do kiến thức và trình độ còn hạn chế nên trong đề tài này tôi sẽ tập trung nghiên cứu từ Điều 430 đến Điều 437, chương XVI, phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng”, Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
Phân tích những điểm mới trong hợp đồng Qua đó đánh giá những tác động của điểm mới về thực hiện nghĩa vụ BLDS 2015 trong tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà BLDS hiện hành chưa giải quyết được
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứ: Phân tích, tổng hợp, logic pháp lý và lịch sử, so sánh luật…Đồng thời để hoàn thành đề tài tôi còn nghiên cứu những bài viết đánh giá của các tác giả và tiếp thu ý kiến hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn nhằm làm rõ những vấn đề được tôi đưa ra trong đề tài
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, bố cục của đề tài môn học được chia làm 2 chương:
Chương I: Khái quát về hợp đồng
Chương II : So sánh BLDS 2005 và BLDS 2015 những điểm thay đổi về hợp đồng trao đổi tài sản
Trang 4CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm về hợp đồng
1.1.1 Định nghĩa hợp đồng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng
Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có
sự ưng thuận giữa các bên với nhau Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên
Trang 5Ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng
Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng Sự thống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế Chẳng hạn, đối tượng của hợp đồng mua bán phải là những thứ không bị cấm Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu
Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định công bằng, đúng đắn
Khi các mối quan hệ về tài sản, các mối quan hệ về nhân thân càng ngày càng phát triển trong xã hội dân sự, một sự nhu cầu về trao đổi tài sản, hàng hóa cũng như vấn đề thuê nhân lực để phục vụ cho việc phát triển tài sản của mình cũng ngày càng phát triển theo Khi ý chí của các bên trong việc trao đổi đó gặp nhau ở một số điểm nhất định, họ muốn tiến tới thực hiện ý chí của nhau ở những điểm trùng lặp đó Nhưng việc đơn thuần để tiến hành những điểm chung đó là chưa đủ, cần có một cơ chế để giúp việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau khi họ thực hiện ý chí của mình, và từ đó hợp đồng ra đời
1.1.3 Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của Hợp đồng có thể là cá nhân, tổ chức và tất cả các chủ thể của pháp luật dân sự, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước
Trang 6Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện, thoả thuận để xác lập và thực hiện những quyền và nghĩa vụ đối với nhau
1.1.4 Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực
Trong quá trình xây dựng và ký kết hợp đồng, người soạn thảo cần lưu ý đến điều kiện của hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu của hợp đồng nhằm tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra trong quá trình hai bên thực hiện hợp đồng
Điều 388 Bộ luật dân sự quy định:Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Như vậy hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ 4 điều kiện:
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp Thông thường các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát
từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng
Hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện trên sẽ dẫn đến vô hiệu
Trang 72.1 Hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định của BLDS 2015
2.1.1 Khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản
Điều 455, BLDS 2015 quy định về hợp đồng trao đổi tài sản như sau: “Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.”
Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định
2.1.2 Nội dung và hình thức hợp đồng trao đổi tài sản
Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau
Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định
Trong trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 428 đến Điều 437 và từ Điều 439 đến Điều 448 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản
- Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau Từ khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản cho thấy, đây là loại hợp đồng song vụ, thể hiện quan hệ trao đổi tài sản với tài sản Trong khi đó, hợp đông mua bán tài sản thể hiện quan hệ hàng – tiền Mặc dù, hai loại hợp đồng này đều dựa trên quan hệ trao đổi tương xứng giữa các giá trị
Trong hợp đồng trao đổi tài sản về cơ bản không có nghĩa vụ trả tiền Thông thường, nghĩa vụ trả tiền của một bên hợp đồng chỉ phát sinh khi các tài sản trao đổi có giá trị chênh lệch nhau Bên nào nhận tài sản có giá trị lớn hơn thì có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị lớn hơn đó Nghĩa vụ này không làm cho hợp đồng trao đổi tài sản trở thành hợp đồng mua bán tài sản, trừ trường hợp nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ chính
Trang 8Trong hợp đồng trao đổi tài sản, các bên giao kết hợp đồng cũng có thể thỏa thuận bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn không phải thanh toán phần chênh lệch về giá trị tài sản đối với bên kia Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa hợp đồng trao đổi tài sản với hợp đồng mua bán tài sản
Nếu hợp đồng mua bán tài sản có thể được xác lập bằng lời nói hoặc văn bản tùy theo từng đối tượng của hợp đồng, thì đối với hợp đồng trao đổi tài sản, pháp luật đòi hỏi hợp đồng buộc phải lập thành văn bản Mặt khác, hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng có tính “đi tắt”, không có thanh toán về chênh lệch giữa giá trị các tài sản trao đổi (các yếu tố khiến cho hợp đồng trao đổi tài sản có tính phức tạp nhất định và
có thể hay xảy ra tranh chấp), hình thức của loại hợp đồng này phải được thể hiện bằng văn bản
Hợp đồng trao đổi tài sản lập thành văn bản cần phải có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu tài sản trao đổi là tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng nhất thiết phải có chứng nhận, chứng thực hoặc phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, các bên phải tuân theo đúng các quy định về hình thức, thủ tục
Muốn thực hiện quan hệ trao đổi tài sản thì trước hết, mỗi bên trong hợp đồng phải là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đem trao đổi hoặc phải là người có quyền định đoạt đối với tài sản đó Trao đổi tài sản với người khác tức là đã thực hiện việc định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản đó mà về nguyên tắc, chỉ có chủ sở hữu hợp pháp của tài sản hay người được chủ sở hữu ủy quyền hoặc người khác theo quy định của pháp luật mới được quyền thực hiện quyền năng định đoạt đó đối với tài sản Trong trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền, thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp dồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu một bên trao đổi tài sản mà không biết và không thể biết (pháp luật không buộc phải biết) tài sản đó không thuộc sở hữu của mình và sau đó, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản phát hiện ra nhưng đã chấp thuận để cho bên trao đổi tài sản đó (tức là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình) bồi
Trang 9thường thiệt hại giá trị của tài sản, không kiện đòi lại tài sản đó nữa thì khi đó, quan hệ trao đổi tài sản đã thiết lập vẫn có hiệu lực
CHƯƠNG II SO SÁNH BLDS 2005 VÀ BLDS 2015 NHỮNG ĐIỂM THAY
ĐỔI VỀ HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN 2.1 Những điểm mới về hợp đồng trao đổi tài sản mới theo BLDS 2015
Đối tượng của hợp đồng mua bán, trao đổi
- Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có quy định chỉ là những tài sản được phép giao dịch
Tài sản được quy định tại BLDS 2015 đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó
- Tài sản bán không nhất thiết chỉ là tài sản thuộc sở hữu của người bán:
Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán
(Căn cứ Điều 431 Bộ luật dân sự 2015)
Chất lượng của tài sản mua bán, trao đổi
Tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng của tài sản mua bán, đồng thời quy định cụ thể về trường hợp chưa có tiêu chuẩn:
- Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Khi các bên không có thoả thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về
Trang 10chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề
Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
(Căn cứ Điều 432 Bộ luật dân sự 2015)
Giá và phương thức thanh toán, trao đổi
Quy định ngắn gọn, súc tích về giá và phương thức thanh toán, đồng thời, phương thức thanh toán có thể được người thứ ba xác định theo yêu cầu:
- Giá, phương thức thanh toán do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó
- Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng
(Căn cứ Điều 433 Bộ luật dân sự 2015)
2.2 Điểm mới BLDS 2015 với BLDS 2005 về hợp đồng trao đổi tài sản
Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có quy định chỉ là những tài sản được phép giao dịch.
Đối tượng của hợp
đồng mua bán trao đổi
- Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch
+Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật
- Mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán, là tất cả các loại tài sản được quy định tại BLDS 2015, không như BLDS 2005 trước đây có