Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản như sau: - Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về VĐCS công, trong đó hệ thống và phân tích khá
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Lưu văn An
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Phạm Thị Hoa (2010), “Vận động hành lang – một hoạt động phổ biến trong thiết
chế dân chủ”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông (5)
2 Phạm Thị Hoa (2013), “Những điều kiện để vận động hành lang tích cực ở Hoa
Kỳ”, Tạp chí Thông tin đối ngoại (6)
3 Phạm Thị Hoa (2014), “Các hiệp hội tự trị với việc hình thành nền dân chủ đa trị
trong quan điểm của Robert Alan Dalh”, Tạp chí Thông tin đối ngoại (6)
4 Phạm Thị Hoa (2014), “Một số khía cạnh chủ yếu của quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền và xã hội dân sự ở Thụy Điển”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông
(7)
5 Phạm Thị Hoa (2015), “Vận động chính sách ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận
chính trị và truyền thông (2)
6 Phạm Thị Hoa (2016), “Văn hóa từ chức ở một số quốc gia Đông Á và những giá trị
tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (3)
7 Phạm Thị Hoa (2016), “Hoàn thiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
từ kinh nghiệm của Hàn Quốc”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, (8).
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải khoa học, khách quan và chuyên nghiệp trong hoạch định chính sách công Nhằm giảm thiểu sự xuất hiện rào cản giữa Nhà nước và công dân trong quá trình thực thi quyền lực công, ra các quyết định chung, cơ chế vận động chính sách (VĐCS) công được hình thành
và phát triển
VĐCS công đã được áp dụng và luật hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới từ lâu nhưng vẫn còn là một vấn đề mới ở Việt Nam Việt Nam đang trong quá trình phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, cùng với xu thế hội nhập, xây dựng Chính phủ kiến tạo, hành động, liêm chính vì dân thì nhu cầu VĐCS công là khách quan Ở Việt Nam, dù ở mức độ còn hạn chế cả trong lý luận và đời sống chính trị thực tiễn, VĐCS cũng đã tồn tại và ngày càng được thừa nhận Bởi vậy, nghiên cứu, tham khảo những kinh nghiệm trên thế giới là yêu cầu tất yếu
Vấn đề này mặc dù được đặt ra cấp thiết như thế, nhưng cho đến nay, chưa nhiều công trình khai thác trực tiếp hướng nghiên cứu này Chính vì vậy, tác giả xác định đây còn là một mảnh đất trống cần khai phá trong nghiên cứu khoa học Và điều đó cũng thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài
“Vận động chính sách công ở Anh, Pháp, Mỹ và những gợi mở đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án chính trị học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung hệ thống và làm rõ những vấn đề cơ bản về VĐCS công như khái niệm VĐCS công, mục đích và sự cần thiết VĐCS công,
Trang 5chủ thể, đối tượng và phương thức VĐCS, khảo sát thực trạng hoạt động này ở ba nước Anh, Pháp, Mỹ; từ đó đưa ra những đánh giá khái quát về hoạt động VĐCS công ở ba quốc gia nêu trên; đồng thời đưa ra một số gợi mở cho VĐCS công ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về VĐCS công, trong đó hệ thống và phân tích khái niệm chính sách công, xác định mục đích, sự cần thiết của VĐCS, chủ thể, đối tượng, phương thức, phương tiện vận động, khái quát những bước cơ bản trong quá trình VĐCS
- Khảo cứu thực trạng VĐCS công ở Anh, Mỹ, Pháp hiện nay trên các khía cạnh pháp luật về VĐCS, chủ thể và đối tượng, quy mô hoạt động và tài chính cho vận động, phương tiện và phương thức vận động của từng nước và đưa ra những nhận xét về thực tiễn hoạt động này ở từng quốc
- Từ thực tiễn VĐCS của ba nước Anh, Pháp, Mỹ, luận án làm rõ quan niệm và những biểu hiện của VĐCS ở Việt Nam, đưa ra những gợi
mở cho chính phủ Việt Nam trong đó chủ yếu tập trung vào những khuyến nghị để Nhà nước ứng xử phù hợp và hiệu quả hơn với VĐCS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trực tiếp hoạt động VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ; những biểu hiện của VĐCS ở Việt Nam và gợi mở đối với Việt Nam từ nghiên cứu trường hợp Anh, Pháp, Mỹ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động VĐCS ở Anh, Mỹ, Pháp là ba quốc gia đại diện cho ba mô hình thể chế chính trị điển hình
Trang 6Đồng thời, luận án cũng nghiên cứu quan niệm và biểu hiện của VĐCS
ở Việt Nam hiện nay để trên cơ sở những nhận xét rút ra từ VĐCS ở Anh, Mỹ, Pháp tìm ra những gợi mở cho Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền lực chính trị của nhân dân lao động, về quyền lực nhà nước, thực thi và kiểm soát quyền lực nhà nước;
- Một số lý thuyết chính trị học và chính sách công như lý thuyết
về VĐCS công, lý thuyết lựa chọn công cộng, lý thuyết nhóm, lý thuyết hành vi…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để có những nhìn nhận khách quan, toàn diện về các biểu hiện của VĐCS ở các nước cũng như ở Việt Nam
- Phương pháp riêng: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, nghiên cứu tài liệu
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Thứ nhất là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách công phu, chi tiết về VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ dựa trên các biểu hiện mang tính
hệ thống và logic bao gồm pháp luật VĐCS, chủ thể và đối tượng, quy
mô và tài chính, hình thức, phương pháp và phương tiện vận động
Thứ hai, một nghiên cứu so sánh được sử dụng để nghiên cứu cho
cả ba trường hợp Anh, Pháp, Mỹ như trong đề tài này cũng lần đầu tiên được thực hiện Trước đó cũng đã có một số công trình trên thế giới
Trang 7nghiên cứu theo hướng so sánh nhưng chỉ tập trung vào một khía cạnh của VĐCS như những quy định về VĐCS hoặc hiệu quả của VĐCS
6 Ý nghĩa lý luận và thực ti ễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần luận giải và làm rõ những vấn đề về mặt lý luận có liên quan đến hoạt động VĐCS ở ba nước Anh, Mỹ, Pháp, bước đầu có những đánh giá một cách khoa học trên quan điểm mác xít về vấn đề này, đồng thời có những tham chiếu đối với Việt Nam và làm rõ một số vấn đề có liên quan đến hoạt động VĐCS công ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong thời gian tới để có cái nhìn khách quan và khoa học hơn đối với vấn đề VĐCS công ở Việt Nam Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về vấn đề lý luận
Trong phân nhóm công trình này, có những vấn đề sau đây đã được bàn đến ở những mức độ khác nhau như quan niệm về chính sách
công và VĐHL,VĐCS công, các công trình bàn đến chủ thể của VĐCS,
các công trình đề cập đến đối tượng của VĐCS, các công trình đề cập
Trang 8đến các hình thức, phương pháp, phương tiện VĐCS, các công trình đề
cập đến môi trường hay các yếu tố ảnh hưởng đến VĐCS, các công trình
về VĐCS, những công trình đề cập đến thực tiễn hoạt động VĐCS ở Anh, Pháp, Mỹ
1.1.3 Các công trình đề cập đến những kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy tính tích cực cũng như hiệu quả của VĐCS
Các công trì nh bàn đến vấn đề này không nhiều, trong đó chủ yếu
có 3 công trình là “Lobbying in Europe”, Luận án “Lobbying in the Dark? The Effects of Policy-Making Transpare ncy on Interest Group Lobbying Strategies in France and Sweden” và công trình
“Effective lobbying in Europe”
1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách công và vận động chính sách công ở Việt Nam
Nhóm này tập trung vào hai nội dung chính là Chính sách công ở Việt Nam và VĐHL, VĐCS công ở Việt Nam Nhóm này chủ yếu bao gồm các công trình của tác giả Việt Nam và bằng tiếng Việt Nội dung được
đề cập trong các công trình này cũng chưa thật tập trung, riêng nội dung
về VĐHL, VĐCS công ở Việt Nam còn rất nghèo nàn, thiếu hẳn các công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
1.3 Đánh giá những công trình nghiên cứu
1.3.1 Những kết quả đạt được
Trang 9Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên, có thể thấy, các công trình là những nghiên cứu công phu, đáng tin cậy về những vấn đề cơ bản có liên quan đến đề tài, cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhóm công trình đầu tiên đã tập trung phân tích nhiều nội dung liên quan đến VĐHL và VĐCS, trong đó về cơ bản có những nội dung sau đây đã được thống nhất: khái niệm VĐHL, VĐCS, chủ thể
và đối tượng, nội dung và phương pháp VĐCS, môi trường và các nhân
tố tác động đến VĐCS, những tác động của VĐCS
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ là những nghiên cứu công phu trình bày sâu sắc những nội dung liên quan đến pháp luật hay những quy định về VĐCS và bước đầu phân tích bối cảnh cũng như những thay đổi trong quá trùnh xây dựng
và hoàn thiện hệ thống các quy định này ở một số nước, trong đó có Anh, Pháp và đặc biệt phổ biến là Mỹ
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về Việt Nam đã phác họa một cách tương đối chi tiết về những vấn đề chính sách công và VĐCS công ở Việt Nam như làm rõ được đặc thù và những bất cập trong thực tiễn chính sách ở Việt Nam xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính trị
Thứ nhất, mặc dù có khá nhiều công trình đề cập đến những nội dung cơ bản về VĐCS như khái niệm, chủ thể, đối tượng, mục đích, phương thức, quy trình… nhưng chưa có công trình nào tập trung vào
Trang 10phân biệt hai khái niệm: VĐHL và VĐCS công để thống nhất cách hiểu cũng như phạm vi sử dụng hai khái niệm trong thực tế còn nhiều tranh cãi này Hơn thế nữa, một công trình tập hợp một cách hệ thống và phân tích đầy đủ, sâu sắc và toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản về VĐCS công để làm cơ sở khảo cứu và đánh giá thực tiễn hoạt động này ở Anh, Pháp, Mỹ là không có
Thứ hai, một nghiên cứu so sánh về VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ tập trung vào mối quan hệ giữa tính thể chế (đặc thù của hệ thống chính trị và quá trình chính sách công) với thực tiễn VĐCS lần đầu tiên được thực hiện trong luận án của tác giả Đặc biệt, từ thực tiễn VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ, đưa ra những đánh giá, nhận định và rút ra những giá trị
và những kinh nghiệm có tính tham khảo cho Việt Nam hiện nay là nội dung hoàn toàn mới
Riêng nhóm công trình về Việt Nam, hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về VĐCS công ở Việt Nam Đặc biệt,
từ việc nghiên cứu thực tiễn VĐCS ở các nước và từ nhận thức về biểu hiện của VĐCS công ở Việt Nam hiện nay, đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, nhất là tập trung vào kinh nghiệm ứng xử của Chính phủ các nước với VĐCS làm giá trị tham khảo cho Chính phủ Việt Nam hiện nay là hướng nghiên cứu riêng của luận án này
Từ những khoảng trống của các nhóm công trình được đề cập trong tổng quan này, tác giả luận án sẽ tập trung vào mấy vấn đề chính:
hệ thống và làm rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm VĐHL và VĐCS theo hướng coi VĐHL và VĐCS là trùng nhau dựa trên bản chất và mục đích của nó; tiến hành một khảo cứu về thực tiễn VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ dựa trên những vấn đề cơ bản được trình bày trong cơ sở lý luận; đặt vấn đề và nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về VĐCS
Trang 11công ở Việt Nam bao gồm quan niệm và biểu hiện, những quy định (nếu có) về VĐCS công và phân tích mối quan hệ giữa hệ thống chính trị và quá trình chính sách ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm từ VĐCS ở Anh, Pháp, Mỹ, đề xuất những kiến nghị giúp Chính phủ có quan điểm đúng đắn, khách quan và ứng xử hợp lý với VĐCS công ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG
2.1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG
2.1.1 Khái niệm vận động chính sách công
Trong phần này, tác giả hệ thống lại các cách tiếp cận và định nghĩa
về VĐCS công và phân loại theo ba nhóm và rút ra ba đặc trưng của VĐCS công, so sánh VĐCS công với vận động hành lang (VĐHL) và đi đến lựa chọn nhất quán quan niệm đồng nhất VĐCS và VĐHL và gọi thống nhất là VĐCS, cuối cùng luận án đưa ra quan niệm sau đây về
VĐCS: VĐCS công là những nỗ lực mang tính hệ thống và có chủ đích của các chủ thể trong đời sống chính trị nhằm gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyết định của cơ quan có thẩm quyền để thay đổi chính sách theo hướng có lợi hơn cho mình trong những điều kiện cụ thể
2.1.2 Cơ sở vận động chính sách công
Về cơ sở VĐCS công, luận án đưa ra và làm rõ ba cơ sở hình thành VĐCS là cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị và cơ sở văn hóa xã hội Những cơ sở này góp phần làm căn cứ để luận án luận giải những vấn đề thuộc về thực tiễn VĐCS công ở Anh, Pháp, Mỹ trong chương sau
2.2 MỤC ĐÍCH VÀ SỰ CẦN THIẾT VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG
2.2.1 Mục đích vận động chính sách công
Trang 12Luận án trình bày và giải thích rõ mục đích của VĐCS công trên
cơ sở chỉ ra VĐCS công nhắm đến mục đích gì trong quá trình tác động vào từng giai đoạn của quy trình chính sách và các cách thức tác động
để đạt được mục đích ấy là gì Đồng thời luận án cũng chỉ ra cơ sở quan trọng cho toàn bộ quá trình này chính là việc cung cấp thông tin và phân tích, xử lý thông tin theo hướng có lợi cho nhóm vận động mà lại
có sức thuyết phục các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách
2.2.2 Sự cần thiết của vận động chính sách công trong quy trình chính sách công
Luận giải cho sự cần thiết của VĐCS trong quy trình chính sách công, tác giả luận án đưa ra những luận điểm sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu thông tin từ phía các nhà hoạch định chính sách; Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu tham gia vào quá trình chính sách để thực hiện hiệu quả hơn quyền lực của công dân; Thứ ba, VĐCS là phương tiện giúp củng cố quyền lực của các chủ thể cầm quyền
2.3 CHỦ THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG THỨC VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG
2.3.1 Chủ thể vận động chính sách công
Khi xã hội ngày càng phát triển, con người có nhiều mối quan tâm hơn và nhu cầu VĐCS ngày càng tăng theo thì các chủ thể VĐCS cũng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, có thể là các tổ chức hoặc cũng có thể là cá cá nhân, công dân, có thể là các chủ thể bên ngoài bộ máy nhà nước hoặc cũng có thể là chính các cá nhân, tổ chức, các cơ quan thuộc chính phủ… trong đó đặc biệt phải kể đến sự tham gia của các đảng chính trị, các nhóm lợi ích và hạt nhân trong đó là các chuyên gia VĐCS Luận án đi vào phân tích sâu hơn sự tham gia của các chủ thể chính này vào quá trình VĐCS
Trang 132.3.2 Đối tượng vận động chính sách công
Luận án chỉ ra đối tượng chính của VĐCS là các nghị sĩ, quan chức chính phủ, thẩm phán, các công chức có thẩm quyền… đương nhiệm, thậm chí là cả những người đứng đầu nhánh hành pháp ở các nước như Tổng thống hay Thủ tướng Họ chính là những người được nhân dân uỷ quyền, thay mặt cho nhân dân trong việc thực thi quyền lực nhà nước trong đó có việc thảo luận và thông qua các chính sách công
2.3.3 Những phương thức chủ yếu vận động chính sách công
Dựa trên các tiêu chí cụ thể, có thể phân ra thành các phương thức VĐCS như sau:
Xét theo cách thức giao tiếp, bao gồm VĐCS trực tiếp và VĐCS gián tiếp
Xét theo hình thức thể hiện, các phương thức vận động bao gồm gặp gỡ tại phòng làm việc, mời các chủ thể quyền lực công tham dự hội thảo, tọa đàm, tặng quà, mời ăn tối, hoặc vận động qua các ủy ban hành động chính trị (điển hình là ở Mỹ)
2.4 QUY TRÌNH VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG
Tiết này bàn về quy trình VĐCS công, luận án khái lược một số cách tiếp cận và phân chia các giai đoạn trong quy trình VĐCS và cuối cùng lựa chọn cách phân loại như đã được đưa ra bởi trường Đại học John Hopkins, theo đó quy trình VĐCS công gồm các bước như sau: 1.Phân tích vấn đề chính sách; 2 Xây dựng chiến lược vận động chính sách; 3 Xây dựng các liên minh, đưa ra các thông điệp vận động chính sách; 4 Phối hợp hành động vận động chính sách; 5 Đánh giá kết quả vận động; 6 Theo dõi kết quả chính sách (duy trì tính liên tục)