1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay

181 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do phân tích trên, nghiên cứu về: Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LĂM PHUN ĐUÔN SỤ VĂN

PHô N÷ THAM GIA L·NH §¹O, QU¶N Lý TRONG HÖ THèNG CHÝNH TRÞ CÊP TRUNG ¦¥NG

ë CéNG HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LĂM PHUN ĐUÔN SỤ VĂN

PHô N÷ THAM GIA L·NH §¹O, QU¶N Lý TRONG HÖ THèNG CHÝNH TRÞ CÊP TRUNG ¦¥NG

ë CéNG HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Mã số: 62 22 03 08

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Lăm Phun Đuôn Sụ Văn

Trang 4

Chương 2: PHỤ NỮ THAM GIA LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ

THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TRUNG ƯƠNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC YẾU

2.1 Lãnh đạo, quản lý và phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống

2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Đảng và Nhà nước Cộng hòa

Dân chủ Nhân dân Lào về phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý 48 2.3 Các yếu tố tác động đến phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống

chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay 60

Chương 3: PHỤ NỮ THAM GIA LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ

THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP TRUNG ƯƠNG Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN

DÂN LÀO HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 69 3.1 Thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp

trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay 69 3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ

thống chính trị cấp trung ương ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG PHỤ NỮ

THAM GIA LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP

TRUNG ƯƠNG Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY 108 4.1 Quan điểm cơ bản nhằm tăng cường phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý

trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

4.2 Một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm tăng cường phụ nữ tham gia

lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân

chủ Nhân dân Lào hiện nay 118

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Trang

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người 62Bảng 3.1: Phụ nữ tham gia trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Bảng 3.2: Phụ nữ tham gia trong đại biểu Quốc hội 74Bảng 3.3: Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quả lý cấp Vụ trưởng ở các bộ 76Bảng 3.4: Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý

Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý

trong Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong lịch sử các nền chính trị từ xưa đến nay, phụ nữ nói chung ít có điều kiện và cơ hội tham gia lãnh đạo, quản lý đất nước Tuy nhiên, trong lịch sử cũng đã xuất hiện những phụ nữ vĩ đại, xuất chúng như: Nữ hoàng Cleopat (Ai Cập), Nữ hoàng Victoria (Anh), Võ Tắc Thiên, Từ Hy Thái hậu (Trung Quốc), Hai Bà Trưng, Nguyên phi Ỷ Lan (Việt Nam), v.v

Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, với tư duy chính trị mới (chính trị bình đẳng giới) trên chính trường quốc tế đã xuất hiện những nữ chính khách sắc sảo, tài ba, nắm giữ những cương vị quan trọng của quốc gia như: Indira Gandhi (nguyên chủ tịch Đảng Quốc đại Ấn Độ), Margaret Thatcher (Nguyên thủ tướng Anh), Ngô Nghi (Phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Bộ trưởng Bộ Y tế Trung Quốc), Megawati Sukarnoputi (Nguyên Tổng thống Inđô- nêxia), Angela Dorther Merkel (Thủ tướng đương nhiệm của Đức), Jinh Lắc Xin

Nạ Vắt (Nguyên Thủ tướng Thái Lan), Nguyễn Thị Kim Ngân (Chủ tịch Quốc hội Việt Nam), Pa Ny Ya Tho Tú (Chủ tịch Quốc hội Lào),…

Phong trào giải phóng phụ nữ cũng như sự tham gia vào đời sống chính trị của phụ nữ phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đấu tranh đòi quyền bình đẳng giới, bao gồm bình đẳng về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa nhằm hướng tới mục tiêu: phụ nữ và nam giới cùng được hưởng các quyền, đồng thời chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và hưởng thụ các giá trị chân, thiện, mỹ Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ, tăng cường sự tham gia chính trị của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở những khái niệm, ý tưởng trừu tượng hay những tuyên bố pháp lý Nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng người Pháp, S.Phurie (XIX) cho rằng: Giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội Tư tưởng này

đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp tục phát triển lên trình

độ mới trong lý luận cũng như trong chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)

Trang 8

trên thực tế Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:… Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng CNXH mới một nửa

Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào, từ khi Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào được thành lập, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác phụ nữ, vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý (LĐ, QL) đất nước, quản lý xã hội Điều đó được khẳng định và thể hiện nhất quán trong các cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt, trong giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước nhấn mạnh đến việc thực hiện quyền bình đẳng giới, chú trọng công tác cán bộ nữ, coi trọng tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; nâng cao trình độ học vấn cho phụ

nữ là tạo điều kiện quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ cho phụ

nữ, phát huy vai trò và nâng cao địa vị cho phụ nữ Đại hội lần thứ IV (1986) của Đảng NDCM Lào đã chỉ rõ:

Đảng và Chính phủ cố gắng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng phụ nữ một cách thật sự Mặt khác, Hội Liên hiệp Phụ nữ (HLHPN) có nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, vận động, tổ chức, tập hợp các tầng lớp phụ nữ Lào, khắc phục tư tưởng tự

ti, ỷ lại, tính thụ động trong phấn đấu vươn lên của phụ nữ, làm cho họ tích cực tham gia vào phong trào thi đua từ việc xây dựng gia đình văn hóa mới đến việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội [83, tr.142]

Nhờ đó, ngày càng có nhiều phụ nữ trở thành những người LĐ, QL năng động và giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị (HTCT), nhất là HTCT cấp trung ương, cấp cao nhất cả về quyền lực chính trị, cả về trình độ tổ chức, có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành quản lý toàn bộ các hoạt động của đất nước Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về sự tham gia LĐ, QL giữa nam và nữ ở tất cả các cấp trong HTCT, trước hết là ở cấp trung ương Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí ra quyết định vẫn còn hạn chế nhất định cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, phụ nữ Lào tham gia vào Bộ Chính trị (BCT) là 9,1% (nam: 90,9%); trong số các Ủy viên Ban Chấp hành

Trang 9

Trung ương (BCHTW) Đảng, nữ chỉ chiếm 13,0% (nam: 87,0%); ở cấp Bộ trưởng và tương đương, nữ chiếm 12,5% (nam: 87,5%, v.v [125, tr.34]

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, trong đó có việc nhận thức về giới và bình đẳng giới trong HTCT chưa đầy đủ và sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn; cơ chế, chính sách tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa có tính chiến lược lâu dài, thiếu tính đột phá Việc thực hiện chính sách, quy hoạch công tác cán bộ nữ chưa hiệu quả Định kiến giới, thiếu tin tưởng vào năng lực LĐ, QL của phụ nữ còn nặng nề

Sự tự ti, an phận cùng với gánh nặng công việc gia đình mà người phụ nữ phải đảm nhận càng làm trầm trọng thêm khoảng cách giới trong lĩnh vực LĐ, QL hiện nay

Hạn chế phụ nữ tham gia LĐ, QL nhất là ở cấp cao Đây là rào cản lớn không chỉ ngăn cản sự tiến bộ của một nửa nhân loại, mà còn cản trở sự phát triển bền vững của xã hội, ảnh hưởng không chỉ đến phụ nữ mà còn đến cộng đồng, xã hội Vì như vậy, các chính sách vĩ mô ra đời thiếu lòng ghép giới, thiếu quan điểm giới, thiếu đóng góp của phụ nữ sẽ đem lại hiệu quả phát triển kém bền vững

Với những lý do phân tích trên, nghiên cứu về: Phụ nữ tham gia lãnh đạo,

quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa mang tính thời sự cấp

bách, nhằm góp phần thực hiện chủ trương, chính sách bình đẳng giới, nâng cao địa vị người phụ nữ để đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 10

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án

Hệ thống, khái quát cơ sở lý luận và các yếu tố tác động đến phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương

Phân tích thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với phụ nữ tham gia

LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Đề xuất quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm tăng cường phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

3 Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là phụ nữ tham gia LĐ, QL từ cấp Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên ở các cơ quan trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Về lĩnh vực: Luận án nghiên cứu phụ nữ tham gia LĐ, QL: (1) Cơ quan

đảng; (2) cơ quan nhà nước; (3) Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp trung ương

Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu phụ nữ tham gia LĐ, QL

cấp trung ương ở CHDCND Lào

Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu và sử dụng số liệu từ Đại hội lần

thứ IX của Đảng NDCM Lào (2011) đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng NDCM Lào về phụ nữ tham gia LĐ, QL, phụ nữ và bình đẳng giới, có tham khảo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng

Trang 11

sản Việt Nam về vấn đề nghiên cứu Luận án cũng sử dụng lý thuyết phân tích giới để nghiên cứu các vấn đề phụ nữ, bình đẳng giới

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở Lào đã xác định ở phạm vi nghiên cứu

Luận án kế thừa các tài liệu, các công trình của các nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn ở Lào, Việt Nam cũng như các tổ chức quốc tế liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời

sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, cụ thể như kết hợp phương pháp lôgic với lịch sử, diễn giải và quy nạp, điều tra xã hội học, trong đó gồm: các cuộc phỏng vấn sau được kết hợp trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, với đối tượng là cán bộ LĐ, QL của một số cơ quan cấp trung ương

Bảng hỏi: gồm 9 câu hỏi, với dung lượng mẫu là 300 phiếu, đối tượng hỏi là cán bộ LĐ, QL tại một số bộ, ban, mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội đại diện trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào (nhấn mạnh về cơ cấu giới tính, tuổi đời, trình độ chuyên môn, lý luận, lĩnh vực, chức vụ) [Phụ lục 3, Phần 1]

Mục đích điều tra xã hội học lấy thêm thông tin để kiểm chứng so với kết quả nghiên cứu khác về phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Cách thức tiến hành điều tra xã hội học là phát phiếu trực tiếp với các đối tượng trong phạm vi nghiên cứu, sau đó thu về và sử lý bằng phương pháp SPSS

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án góp phần làm rõ thực trạng phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay; chỉ ra những hạn chế, thách thức đối với phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương phải đối mặt và nguyên nhân

Trang 12

Luận án đề xuất những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay, góp phần tạo lập căn cứ cho việc hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách đối với phụ nữ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề

lý luận và thực tiễn về phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Luận án góp phần cung cấp thêm những luận cứ cho việc hoạch định, thực hiện chính sách về phụ nữ, bình đẳng giới, đặc biệt là chính sách cán bộ nữ trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy những chuyên đề liên quan đến vấn đề phụ nữ trong LĐ, QL, bình đẳng giới của chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học và các ngành khác có liên quan

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục lục công trình tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 9 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài

Trong nội dung này, luận án sẽ trình bày tổng quát các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam, một số nước và tổ chức quốc tế đã được nghiên cứu liên quan đến vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới nói chung, phụ nữ tham gia tham gia LĐ, QL nói riêng Liên quan đến đề tài có một số công trình sau đây:

Thứ nhất: Những nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới

Lê Thi “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt nam hiện nay”

[46] Công trình này chính là kết quả bước đầu của sự vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước, cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét các vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới, kết hợp với các hình thức thu nhập thông tin qua các cuộc khảo sát đời sống phụ nữ công nhân, trí thức trong quá trình đổi mới đất nước Từ đó đã nêu lên vấn đề đáng quan tâm và

đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội cần thiết, nhằm xây dựng bình đẳng giới trong tình hình mới

Dương Thị Minh “Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ hiện nay”

[34] Luận án trình bày một số quan niệm chung về gia đình và vai trò của người phụ nữ trong gia đình, các nhân tố tác động đến vai trò người phụ nữ trong gia đình Đồng thời, tác giả luận án làm rõ đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam, vai trò người phụ nữ trong quá trình xã hội hóa một số chức năng trong gia đình

và xu hướng biến đổi vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, qua đó chỉ

ra gia đình và người phụ nữ phát huy được vai trò to lớn đối với tiến trình phát triển đất nước qua những thời kỳ lịch sử khác nhau Tuy nhiên, gia đình và người phụ nữ cũng chịu nhiều tác động khách quan và chủ quan, đó là tác động ảnh

Trang 14

hưởng của những yếu tố lịch sử, yếu tố thời đại - toàn cầu hóa và thực tiễn của nền kinh tế - xã hội nước nhà trong chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại Trên cơ sở làm rõ thực trạng, luận án đã mạnh dạn nêu ra những phương hướng, những quan điểm chỉ đạo và những giải pháp nhằm xây dựng thành công gia đình mới và phát huy hơn nữa vai trò người phụ nữ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay

Đỗ Thị Thạch, “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [42] Tác giả đã làm rõ quan niệm về

trí thức, trí thức nữ, trên cơ sở đó, đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam và những đóng góp của họ đối với sự phát triển của gia đình và xã hội ; đề xuất một số giải pháp phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ

đó góp phần quan trọng trong việc xoá bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của họ đối với sự phát triển của đất nước Công trình đã nghiên cứu vấn đề trí thức nữ dưới một góc nhìn mới, góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của người phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, nhất là lĩnh vực khoa học và lĩnh vực LĐ, QL nhằm thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Phan Thanh Khôi, Đỗ Thị Thạch, “Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện

đại” [20] Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học của Viện Chủ nghĩa xã

hội khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Các tác giả của công trình đã nghiên cứu các vấn đề về giới từ tiếp cận trong các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh để đi đến khẳng định những

tư tưởng, quan điểm của các nhà mácxít nêu trên là cơ sở lý luận, phương pháp luận quan trọng để nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Vấn đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng được các tác giả đi sâu phân tích thấy được đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá

là rất tiến bộ và tích cực trên phương diện bình đẳng giới

Trang 15

Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch, “Khoa học giới - Những vấn đề lý luận

và thực tiễn” [50] Các tác giả của công trình đã cung cấp một bức tranh về lịch

sử phát triển của khoa học giới; đồng thời nghiên cứu vấn đề giới dựa trên cách

tiếp cận các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Vấn đề giới trong lĩnh

vực lãnh đạo, quản lý được các tác giả phân tích với các nội dung cụ thể như:

Mối liên hệ giữa bình đẳng giới với công tác LĐ, QL; thực trạng tham gia LĐ,

QL của nam giới và nữ giới - thành tựu, hạn chế và nguyên nhân và một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới trong LĐ, QL

Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên), “Bình đẳng giới ở

Việt Nam” [2] Đây là kết quả điều tra cơ bản về bình đẳng giới, các tác giả xác

định thực trạng bình đẳng giới về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ

nữ, của nam giới; tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong gia đình, cộng đồng và xã hội Công trình nghiên cứu này giúp cho tác giả luận án thấy được vai trò của phụ nữ trong giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và LĐ, QL nói riêng

Đỗ Thị Thạch, “Tác động của toàn cầu hoá đối với thực hiện bình đẳng

giới ở Việt Nam hiện nay” [43] Trên cơ sở tiếp cận quá trình toàn cầu hóa như

là một tất yếu khách quan tác động đến mọi quốc gia trên các mặt và đời sống xã hội, tác giả đã phân tích khá rõ cả tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Các lĩnh vực mà quá trình toàn cầu hóa tác động đến là: gia đình, lao động việc làm và thu nhập, văn hóa xã hội Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để phát huy tác động tích cực

và hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa tới thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Vũ Thị Lan Anh, “Quyền phụ nữ các nước ASEAN dưới góc độ so sánh

luật” [4] Qua nghiên cứu pháp luật các nước ASEAN về quyền của phụ nữ, tác

giả bài báo cho biết: quyền của phụ nữ được ghi nhận ở các văn bản pháp luật ở tầm quốc tế, khu vực và quốc gia Đặc biệt là quyền tham chính: “Quyền chính trị cũng là quyền quan trọng của phụ nữ ở các nước ASEAN Điều 7 Công ước CEDAW chỉ rõ phụ nữ được đảm bảo quyền bầu cử, quyền tham gia lãnh đạo

Trang 16

trong các cơ quan nhà nước và quyền thực thi các trách nhiệm xã hội của mình…” [4, tr.6] Phụ nữ cũng như nam giới đều có thể được đề cử giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan quyền lực nhà nước Trừ ngoại lệ là Myanmar và Brunei, phụ nữ các nước ASEAN đều được pháp luật đảm bảo quyền tham gia chính trường Pháp luật các nước ASEAN nhìn chung đều quy định về quyền phụ nữ và vấn đề bảo vệ người phụ nữ nói chung, tham gia chính trị nói riêng, nhưng ở các mức độ khác nhau; mặc dù được pháp luật bảo vệ nhưng trên thực tế ở khu vực ASEAN, quyền của phụ nữ có tính thực thi chưa cao Chính vì thế, cho tới thời điểm này, việc đảm bảo các quyền công dân, đặc biệt là quyền bình đẳng của phụ

nữ trong lĩnh vực tham chính vẫn còn là vấn đề nổi cộm của nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN Giải quyết vấn đề này không chỉ đơn giản về mặt pháp lý mà còn phụ thuộc nhiều vào ý thức xã hội và ý thức công dân Vì vậy, thiết nghĩ, người phụ nữ cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa từ phía nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, cho dù họ ở bất cứ cương vị nào trong xã hội

Lê Minh Tiến, “Chính sách và pháp luật của ASEAN về các vấn đề liên

quan đến phụ nữ” [49] Tác giả của bài viết đã chỉ rõ, ngay từ khi mới thành lập,

ASEAN và các quốc gia thành viên đã nhận thức rõ vai trò cũng như những đóng góp của phụ nữ trong quá trình phát triển của khu vực, đồng thời, đã có những nỗ lực thúc đẩy vị thế của người phụ nữ, có những hoạt động thiết thực vì

sự tiến bộ của phụ nữ trong khu vực nói riêng và trên trường quốc tế nói chung Chính sách này đã được thể hiện nhất quán, xuyên suốt và ngày càng cụ thể hơn qua các văn kiện pháp lý cơ bản của ASEAN Bài viết, bao gồm 2 nội dung

chính, một là, những nỗ lực của ASEAN trong hoạt động xây dựng chính sách

và pháp luật về các vấn đề liên quan đến phụ nữ; hai là, tuyên bố ASEAN vì sự

tiến bộ của phụ nữ và tuyên bố xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ khu vực ASEAN - những văn kiện pháp lý chuyên ngành cơ bản về các vấn đề liên quan đến phụ nữ

Lê Quý Đức, “Phẩm chất phụ nữ Việt Nam truyền thống và hiện đại”

[11] Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày và khẳng định rằng, xuyên suốt lịch sử giữ nước và dựng nước và xây dựng đất nước, người phụ nữ Việt Nam có

Trang 17

vai trò hết sức quan trọng Dù trong hoàn cảnh nào, thời đại nào, người phụ nữ cũng luôn vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến vô cùng vững chắc Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lại tiếp tục không thể thiếu vắng vai trò của người phụ nữ, đứng trước những thời

kỳ và thách thức mới của thời đại, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam càng thêm được thử thách và phát huy những giá trị tốt đẹp vốn có Phụ nữ Việt Nam hiện đại thể hiện tinh thần yêu nước thông qua những hành động cụ thể, gắn kết bản thân, gia đình và Tổ quốc, ra sức đóng góp vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc

Võ Thị Mai, “Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng chứng”

[33] Cuốn sách này được hình thành từ kết quả nghiên cứu của đề tài “Đánh giá chính sách về bình đẳng giới dựa trên bằng chứng thực địa”, có bổ sung một số nguồn tài liệu sẵn có, đặc biệt là nguồn số liệu thống kê quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội nói chung, thực hiện bình đẳng giới nói riêng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Nội dung của cuốn sách đã nêu rõ cơ sở lý luận và cách tiếp cận nghiên cứu chính sách về bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về bình đẳng giới; đồng thời đưa ra các giải pháp tăng cường chính sách về bình đẳng giới để thực hiện bình đẳng giới tốt hơn nữa trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Lê Thị Quý, “Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” [39] Tác giả đã phân tích quan niệm về bình đẳng giới và nhấn mạnh:“Thực tế cuộc sống Việt Nam

cho thấy, có sự khác biệt về bình đẳng giới thực chất và bình đẳng giới hình thức” [39, tr.76] Bài viết đã chỉ ra quá trình phát triển nhận thức giới ở Việt

Nam và nhận định: Phụ nữ ngày nay đã được độc lập về kinh tế, được tham gia

và thừa nhận trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, gia đình, thậm chí ở nhiều nơi, họ còn đứng ở vị trí lãnh đạo cao cấp Đây là những biểu hiện của bình đẳng giới thực chất ở Việt Nam Về luật pháp và chính sách

Trang 18

bình đẳng giới, Việt Nam đã có những tiến bộ về giới, công nhận quyền bình đẳng nam và nữ ở trong xã hội và gia đình Tác giả đã bước đầu chỉ ra những thách thức hay bình đẳng giới hình thức ở Việt Nam như: luật thì có nhưng

không được thực hiện, sự vất vả của phụ nữ trong vai trò “kép”, nhất là chính

sách quy định độ tuổi về hưu của phụ nữ là 55 tuổi, nam giới là 60 tuổi, chính sách này đã hạn chế các đóng góp và đề bạt đối với phụ nữ trí thức, nhất là khi tỷ

lệ phụ nữ tham gia LĐ, QL vốn đã nhỏ bé, chênh lệch so với nam giới, do đó, họ lại càng không có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển

Các công trình nghiêu cứu nêu trên đã có những đóng góp như sau:

Một là, các công trình, bài viết của các tác giả đã gợi mở ra tính cấp thiết

của việc nghiên cứu vấn đề phụ nữ, vấn đề giới và bình đẳng giới

Hai là, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến

phụ nữ và bình đẳng giới; quan niệm về giới và bình đẳng giới, việc thực thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực LĐ, QL

Ba là, một số công trình đã phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong lịch

sử cũng như hiện tại, họ khẳng định rằng: “Dù trong hoàn cảnh nào, thời đại nào, người phụ nữ cũng luôn vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến vô cùng vững chắc Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, càng không thể thiếu vắng vai trò của phụ nữ ” Các tác giả còn phân tích sâu về vị trí, vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới kinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn chuyên môn; phụ nữ quản lý kinh tế - xã hội; phụ nữ và gia đình

Bốn là, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa các chính sách và pháp

luật liên quan đến quyền của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam và một số quốc gia, khu vực Dựa trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu cũng đưa ra quan điểm và giải pháp nhằm từng bước khắc phục những tồn tại và hạn chế để đảm bảo thực hiện quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực tham chính

Trang 19

Thứ hai: Nghiên cứu chung về hệ thống chính trị và phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý nói chung, trong HTCT nói riêng

Nguyễn Văn Huyên, “Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ

chức và hoạt động)” [18] Tác giả của cuốn sách đã tập trung nghiên cứu: Quá

trình hình thành, mô hình tổ chức và hoạt động của HTCT Anh, Pháp, Mỹ; đồng thời, đánh giá ưu, nhược điểm, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HTCT Anh, Pháp, Mỹ; sau đó, phân tích và nêu ra những giá trị tham khảo cho việc đổi mới

và hoành thiện HTCT Việt Nam

Lê Minh Thông, “Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống

chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” [47] Tác giả

cuốn sách này cho rằng: Trong hơn 20 năm đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương, giải pháp từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng và Nhà nước, của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, tích cực khắc phục sự không tương thích giữa đổi mới kinh tế và đổi mới HTCT Do vậy, HTCT Việt Nam đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân và hội nhập kinh tế quốc tế Cuốn sách cung cấp một số vấn đề lý luận và thực tiễn của HTCT Việt Nam, qua đó nêu bật bước chuyển từ tư duy lý luận về chuyên chính vô sản và hệ thống chuyên chính vô sản sang tư duy về dân chủ XHCN và HTCT, chuyển từ tư duy

lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

Trần Đình Hoan, “Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở

Việt Nam giai đoạn 2005-2020” [17] Trong cuốn sách này, tác giả tiếp cận

nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, kết hợp với tổng kết thực tiễn đổi mới ở Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua, tác giả đã tập trung phân tích làm rõ tính tất yếu khách quan của việc đổi mới HTCT ở Việt Nam hiện nay, nêu ra các mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc đổi mới HTCT, đồng thời đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới HTCT ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020

Trang 20

Nguyễn Hữu Đồng, “Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ

thống chính trị Việt Nam hiện nay” [10] Nội dung cuốn sách bước đầu nghiên

cứu làm rõ đúng vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT; làm rõ thực trạng hoạt động của Đảng và tổ chức chính trị - xã hội hiện nay; những vấn đề đang đặt ra trong tổ chức và hoạt động của Đảng, các

tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Đồng thời cuốn sách còn đề cặp đến vấn đề đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nhằm đổi mới HTCT, thực hiện tốt dân chủ hóa XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Phạm Ngọc Trâm, “Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam

(1986-2011)” [54] Cuốn sách này nhằm phản ánh những thành tựu và hạn chế

trong quá trình đổi mới HTCT ở Việt Nam giai đoạn 1986-2011; thông qua quá trình lịch sử vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới HTCT với toàn bộ công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới về kinh tế; trên cơ sở chọn lọc những vấn đề, những sự kiện lịch sử tiêu biểu, đề tài phản ánh quá trình chuyển biến tích cực, những mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau cũng như những mặt hạn chế, bất cập của quá trình đổi mới cả HTCT và từng bộ phận của HTCT Đồng thời làm rõ những đặc điểm cơ bản và những vấn đề có tính quy luật của quá trình đổi mới HTCT ở Việt Nam giai đoạn 1986-2011

Trần Thị Tuy Hòa, “Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý” [16] Cuốn sách

này là ấn phẩm đầu tiên về đề tài phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý Tác giả cuốn sách đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên sự tham gia LĐ, QL của phụ

nữ, trình bày một số vấn đề phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo và quản lý, đưa ra những vấn đề cơ bản của lãnh đạo và quản lý, những yêu cầu của công tác lãnh đạo và quản lý, sự cần thiết và ưu thế của phụ nữ trong công tác quản lý và lãnh đạo, vài nét về sự tham gia quản lý và lãnh đạo của phụ nữ trên thế giới; phân tích thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý trong lịch sử Việt Nam, khả năng của phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Qua đó, tác giả đưa ra quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Trang 21

đối với phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý Để khuyến khích phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý, tác giả cũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu mang tính vĩ mô đối với các cấp, các ngành

Nguyễn Đức Hạt, “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ

thống chính trị” [15] Cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ những luận cứ khoa

học, thực tiễn về việc nâng cao vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ, tăng cường sự tham gia LĐ, QL của cán bộ nữ trong HTCT ở Việt Nam trong tình hình mới Bên cạnh việc quan tâm giải quyết các vấn đề liên quan tới nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong HTCT, tác giả cuốn sách còn đề cập đến các mối quan hệ khác rộng lớn hơn Đó là đa dạng hóa giá trị, tăng quyền và

mở rộng cơ hội lựa chọn cho cả hai giới một cách hợp lý, để hai giới có thể phát huy mọi tiềm năng, sức lực của mình đóng góp cho sự phát triển bền vững của

xã hội, của đất nước

Vương Thị Hanh, “Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị” [14]

Công trình nghiên cứu đã chỉ ra một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đang cản trở việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam có liên quan đến vai trò của cán bộ trong HTCT, đó là sự: thiếu quyết tâm và cam kết có trách nhiệm của thủ trưởng các cấp các ngành Lãnh đạo các cấp các ngành thiếu sự chỉ đạo sát sao việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nữ như tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đề bạt phụ nữ, chưa mạnh dạn sử dụng, đề bạt cán

bộ trẻ Thiếu quan tâm trong việc thực hiện các biện pháp đặc biệt về chỉ tiêu phụ nữ tham gia LĐ, QL, ra quyết định, dẫn đến các chỉ tiêu đưa ra không đạt được và thực hiện chỉ tiêu theo cơ cấu, hình thức mà không quan tâm đến chất lượng cán bộ Thiếu kiểm tra, đôn đốc và định kỳ đánh giá việc thực hiện chính sách cán bộ nữ, thiếu biện pháp thưởng phạt cần thiết đối với các đơn vị, ban ngành trong việc xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ nữ

Nguyễn Thị Phương, “Một số yếu tố tác động đến tỷ lệ nữ trúng cử đại

biểu Quốc hội khóa XII” [38] Bài viết đã phân tích một số yếu tố ảnh hưởng

Trang 22

đến tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII và chỉ ra những yếu tố khách quan có tác động đến kết quả tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội như sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ nữ, việc sắp xếp danh sách bầu cử, công tác tuyên truyền và việc nâng cao nhận thức giới của cử tri Bên cạnh đó, bài viết còn cho rằng, các yếu tố khách quan như học vấn, nghề nghiệp, lĩnh vực, vị trí công tác và uy tín của bản thân các nữ ứng cử viên cũng là những điều kiện quan trọng quyết định sự thành công của họ trong quá trình bầu cử

Trần Thị Vân Anh, “Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh

đạo” [3] Tác giả đã trình bày những bằng chứng khá thuyết phục về những trở

ngại chính đối với sự phấn đấu của cán bộ nữ lãnh đạo Đó là: ảnh hưởng, tác động của những người có trách nhiệm, việc tạo nguồn và kiểm tra, đánh giá công tác cán bộ nữ; trở ngại từ các quy định chính sách; sự ảnh hưởng của định kiến

và chuẩn mực cũ ở gia đình, cộng đồng và cơ quan Chẳng hạn như chuẩn mực,

sự mặc định về năng lực của nam giới cao hơn so với nữ giới: “Nếu một người

phụ nữ về năng lực làm việc như một người nam giới thì chắc chắn người ta bỏ phiếu cho nam giới Không phải chỉ người nam bỏ phiếu cho người nam đâu mà tâm lý chung là nữ giới cũng bỏ cho người nam giới Có thể nhiều người không thích bị một người phụ nữ lãnh đạo, đặc biệt là nam Có thể họ cũng nghĩ là phụ

nữ ít có thời gian dành cho công việc hơn, vì phụ nữ còn có công việc gia đình”

“Người ta không nói ra nhưng lúc nào người ta cũng nghĩ là nam giới làm tốt

hơn” Người có trách nhiệm thường mong muốn ở nam và nữ lãnh đạo các phẩm

chất khác nhau, đây là những kỳ vọng về “tiêu chuẩn” một cách không chính

thức, nằm sâu trong nhận thức và những suy nghĩ của mỗi cá nhân Thông thường, nữ làm LĐ, QL thường bị quan sát, đánh giá và dễ bị phê bình hơn so với nam giới Trong gia đình thì chuẩn mực về phụ nữ trước hết là người phục

vụ gia đình còn khá phổ biến [3, tr.23-24]

Vũ Mạnh Lợi, “Phụ nữ làm quản lý và lãnh đạo trong khu vực công ở

Việt Nam” [27] Báo cáo đã phân tích tỷ lệ phần trăm phụ nữ tham gia trong

Trang 23

Đảng, trong Quốc hội, trong Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và xã cùng với cơ cấu giới tính trong hệ thống lãnh đạo và quản lý nhà nước Kết quả phân tích cho thấy phụ nữ có rất ít đại diện trong lãnh đạo ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội so với tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động của mỗi lĩnh vực; tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo không đồng đều giữa các ngành và lĩnh vực của đời sống xã hội; ở nơi có sự tham gia của phụ nữ vào

vị trí lãnh đạo, họ thường không giữ vị trí lãnh đạo cao nhất; tỷ lệ nữ làm lãnh đạo thấp là hiện tượng phổ biến ở tất cả các tỉnh và các địa phương… Sự khác biệt có tính phổ biến này được cho là xuất phát từ các định kiến xã hội và khuôn mẫu văn hóa cản trở sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ

Đỗ Thị Thạch, “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác lãnh

đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” [44] Tác giả đã đưa ra minh chứng phân tích

về vai trò, sự đóng góp, điểm mạnh và điểm yếu của phụ nữ trong lĩnh vực LĐ,

QL, đồng thời chỉ ra một số những nguyên nhân hạn chế sự tham gia LĐ, QL của phụ nữ ở các cấp như: định kiến về năng lực LĐ, QL của phụ nữ vẫn còn khá nặng nề; rào cản về quy định tuổi nghỉ hưu; ảnh hưởng của công việc gia

đình Bài viết nhấn mạnh:“Tình trạng phụ nữ tham gia LĐ, QL còn thấp về số

lượng và chất lượng ảnh hưởng lớn tới nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, đồng thời ảnh hưởng tới việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết với các tổ chức quốc tế” [44, tr.43] Trên cơ sở đó, để tăng tỷ lệ nữ trong LĐ, QL, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp

Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Tuyết, “Sự chủ động của phụ nữ trong tiếp

cận và hưởng thụ quyền về tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”

[12] Đề tài phân tích từ góc độ tiếp cận quyền (cơ sở pháp lý) đến sự chủ động của phụ nữ trong tiếp cận, hưởng lợi quyền tham gia LĐ, QL trong HTCT; chỉ ra các nguyên nhân dẫn tới thực trạng tham gia LĐ, QL của phụ nữ các cấp còn thấp,

từ đó, nêu các biện pháp khắc phục tình trạng này là bên cạnh việc tạo cơ hội, điều kiện từ phía thể chế, nam giới, gia đình và cộng đồng thì bản thân phụ nữ cần khắc phục khó khăn, rào cản, chủ động hơn nữa trong quá trình tham chính

Trang 24

Nguyễn Thị Tuyết, “Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong HTCT hiện

nay” [52] Tác giả của bài viết chỉ rõ, với quan điểm phụ nữ không chỉ là lực

lượng lao động đông đảo, mà còn là chủ thể tham gia xây dựng, cải cách xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, định hướng, chỉ đạo quyết liệt đối với công tác cán bộ nữ ở các cấp Cùng với sự nhìn nhận, đánh giá năng lực người phụ nữ một cách đúng mức của các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng, sự nỗ lực của bản thân mỗi cán bộ nữ, vị thế, vai trò phụ nữ Việt Nam tham gia LĐ, QL trong HTCT ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi

rõ rệt so với trước đây

Nguyễn Thị Tuyết, “Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở

Vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới” [53] Luận án đã hệ thống hóa cơ

sở lý luận và thực tiễn về LĐ, QL của phụ nữ trong HTCT Đồng thời, phân tích những thực trạng, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của phụ nữ LĐ, QL trong HTCT ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay Từ đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường sự LĐ, QL của phụ nữ trong HTCT các cấp ở Vùng đồng bằng sông Hồng, góp phần phát huy quyền làm chủ, bình đẳng và phát triển trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ cả nước nói chung

Qua các nghiên cứu nêu trên, có thể khái quát một số đóng góp chính của các công trình như sau:

Một là, các công trình nghiên cứu nêu trên đã luận giải sự cần thiết

về phụ nữ tham gia LĐ, QL nói chung, phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT nói riêng

Hai là, các công trình, bài viết đã làm sáng tỏ và thống nhất về

khái niệm về LĐ, QL, “Lãnh đạo là sự định hướng chung cho mọi cộng đồng cùng sống với nhau hay cùng một sự liên kết theo một mục tiêu nhất định, là việc tổ chức thực hiên các đường lối, chủ trương đã xác định nhằm đạt được mục tiêu đề ra” Còn “Quản lý là hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát công việc, khai thác các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đề ra”

Trang 25

Ba là, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ chệnh lệch giữa nam và

nữ trong bộ máy lãnh đạo các cấp Quan niệm, định kiến giới, bất bình đẳng giới và sự hạn chế của phụ nữ trong giáo dục đào tạo, việc bố trí sử dụng cán

bộ nữ và việc giữ gìn, phát triển tiềm năng của phụ nữ, tác động của phân công lao động bất bình đẳng hiện nay đến việc nâng cao năng lực và trao quyền cho phụ nữ cũng là vấn đề được các tác giả quan tâm và luận chứng trên nhiều góc

độ khác nhau

Bốn là, một số công trình đã tập trung phân tích những trở ngại, rào cản,

định kiến giới đối với phụ nữ khi tham gia LĐ, QL ở các cấp (có những trở ngại

từ các quy định chính sách, ảnh hưởng của định kiến và chuẩn mực cũ…) Từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác LĐ, QL hiện nay

Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam, còn có một số công trình nhiên cứu của cá nhân và tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến vấn

đề phụ nữ và bình đẳng giới, phụ nữ và bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý…

Kim Dung (lược dịch), “Vấn đề giới trong các báo cáo thực hiện và phát

triển Mục tiêu Thiên niên kỷ” [7] Tác giả tổng hợp Tuyên bố Thiên niên kỷ của

189 nguyên thủ quốc gia thành viên Liên hiệp quốc thông qua vào tháng 9 năm

2000 tại New York - Mỹ, nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp và an toàn hơn cho thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI bằng việc hợp tác phát triển và hữu nghị Những cam kết này không chỉ có giá trị thiết yếu cho sự phát triển mà còn là quyền cơ bản của mỗi con người Trong tám Mục tiêu Thiên niên kỷ, bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ (Mục tiêu 3) có ý nghĩa quan trọng không phải vì tự thân vấn đề này mà còn là phương tiện để đạt được các mục tiêu khác, càng bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị thì đầu tư hợp tác, phát triển càng thuận lợi

UNIFEM, “Cách tiếp cận có trách nhiệm giới đối với các mục tiêu phát

triển” [59] Nội dung của báo cáo đã lý giải các chiều cạnh của bất bình đẳng

Trang 26

giới trong việc thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ mà 189 quốc gia đã cam kết thực hiện Bất bình đẳng giới cũng chính là lực cản đối với việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ Báo cáo thực sự là tài liệu bổ ích đối với các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, báo cáo dừng lại ở mức độ chung nhất,

mà chưa đưa ra những gợi ý cụ thể khi áp dụng vào bối cảnh của các nước khi thực hiện lồng ghép giới vào Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, và việc áp dụng

có thể sẽ khác nhau do yếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế

UNDP, “Bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử ở Châu Á - Thái Bình

Dương: Sáu hành động tăng cường cho phụ nữ” [57] Ấn phẩm này của UNDP

phác họa tổng quan về đại diện trong chính trị của phụ nữ tại các quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Đương, và xem xét tác động của sáu cải cách thể chế nhanh, có thể góp phần hướng tới đạt được mục tiêu bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử Sáu “cánh cửa hay cơ hội” này bao gồm xem xét các hạn ngạch ràng buộc pháp lý, các quyền hiến pháp, tuyển lựa của các đảng chính trị, các sáng kiến tăng cường năng lực, cải cách nghị viện và tuyển lựa các đảng chính trị Kế hoạch hành động sáu bước được xây dựng để các nhà hoạch định chính sách và các nhà hoạt động nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ có thể lựa chọn một cơ hội phù hợp nhất với bối cảnh cụ thể của họ để đẩy mạnh sự tham gia chính trị của phụ nữ Kế hoạch này nhằm vào các quốc gia ở Châu Á - Thái Bình Dương mong muốn xác định các chiến lược phù hợp với bối cảnh quốc gia để đạt được bình đẳng giới trong chính trị; Kế hoạch phù hợp với các đối tượng rộng lớn liên quan, gồm các đảng chính trị, nghị viện, các bộ, tổ chức

xã hội và tổ chức quốc tế và các cơ quan phát triển có các chương trình hỗ trợ phụ nữ tham gia chính trị

UN Women, “Pháp luật của chúng ta có thúc đẩy bình đẳng giới, Sổ

tay nghiên cứu rà soát pháp luật dựa trên công ước CEDAW”, (Dịch ra

tiếng Việt: Hà Ngọc Anh) [55] Tài liệu được xây dựng từ kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á, nhưng có thể áp dụng trên phạm vi toàn cầu Với

Trang 27

nội dung hướng dẫn rà soát luật pháp nhằm đánh giá các luật có phân biệt đối xử với phụ nữ hay không Đây là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà LĐ, QL trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách Cụ thể là từ việc lập kế hoạch cho tới việc tiến hành rà soát pháp luật, với việc tham vấn, cách làm việc để hướng tới bình đẳng giới và cách xây dựng bộ chỉ số rà soát pháp luật trên cơ sở công ước CEDAW vì mục tiêu bình đẳng giới trong thực tế

Kim Henderson, “Tăng cường tiếng nói, vai trò lãnh đạo và sự tham

gia của phụ nữ từ châu Á Thái Bình Dương và những nơi khác” [21] Tuy

chưa có sự phân tích chi tiết nhưng tác giả đã gợi mở một số vấn đề như: tại sao chúng ta lại cần nhiều lãnh đạo nữ trong khu vực nhà nước? Việc gì đang được thực hiện ở quy mô toàn cầu nhằm đạt mục tiêu đó? Các chiến lược nhằm xây dựng đội ngũ lãnh đạo nữ mạnh? Một trong những vấn đề mới nổi trên thế giới hiện nay là tình hình phụ nữ nắm những vị trí ra quyết định có thể thay đổi tùy theo mỗi quốc gia và các cấp dưới trung ương Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được tổng quan trong khu vực về các biện pháp thực hiện để tuyển dụng, duy trì và thăng tiến cho phụ nữ theo tỷ lệ % số người trả lời ở châu Á Thái Bình Dương, châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, châu Mỹ Latinh; các thị trường đang phát triển về các giải pháp linh hoạt điều kiện làm việc và địa điểm; các chương trình hỗ trợ và điều kiện vật chất giúp hài hòa công việc và cuộc sống gia đình; các chương trình thúc đẩy phụ nữ kết nối mạng lưới, nhân vật điển hình; các chỉ tiêu giới trong tuyển dụng, duy trì, thăng tiến và phát triển phụ nữ; yêu cầu trong mỗi đợt xét thăng tiến phải có ít nhất một ứng viên là nữ

Tổng thể các công trình nghiên cứu của một số cá nhân, tổ chức nước ngoài nêu trên đã cung cấp cho tác giả luận án những cơ sở lý luận quan trọng khi luận giải về phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT

Trang 28

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phụ nữ, phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới

Ụ Thạ Ki Chụ Lạ Mạ Ni, Kham Phủi, “Vai trò nam - nữ trong sự phát

triển” [123] Tác giả đã làm rõ những nhận thức cơ bản về vai trò nam - nữ trong

sự phát triển, qua khảo sát thực tiễn tác giả đã phân tích thực trạng thực hiện vai trò nam - nữ tại một số địa phương ở CHDCND Lào trong thời gian qua và đưa

ra một số quan điểm về nâng cao vai trò nam - nữ trong sự phát triển Công trình khoa học nêu trên đã mang lại những gợi ý cho tác giả luận án khi nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân của bất bình đẳng giới ở CHDCND Lào

Sỉ Am Phay Sổ Lạ Thí, “Nâng cao vai trò nam - nữ trong sự phát triển

kinh tế - xã hội” [112] Tác giá bài viết đã trình bày tình hình và đặc điểm của

toàn cầu hóa, tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến sự phát triển của phụ nữ, nêu những quan điểm của quốc tế về sự phát triển phụ nữ và bình đẳng giới, phân tích thực trạng nâng cao vai trò nam - nữ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của CHDCND Lào, trong đó, chỉ ra những thành tựu đã đạt được trong những năm qua và những cản trở đối với việc thực hiện bình đẳng giới Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện quyền bình đẳng giới ở CHDCND Lào ngày càng hiện thực hóa

Sỉ Súc Phị La Vông, Khăm Chăn Phôm Sẻng Sạ Vẳn, “Tài liệu tập huấn

đối với toàn bộ phụ nữ” [116] Nhóm tác giả của cuốn sách đã tập trung phân

tích rất rõ về vai trò của phụ nữ Lào trong mọi lĩnh vực của đời sống và xã hội Đặc biệt, vai trò của phụ nữ trong HTCT của chế độ dân chủ nhân dân được nhóm tác giả đề cập rất cụ thể như: vai trò phụ nữ trong tổ chức Đảng: “Phụ nữ

đã được tham gia vào BCT, BCHCTW Đảng, tham gia vào đảng ủy của các bộ,

cơ quan, đảng ủy của cấp tỉnh, huyện và bản, đơn vị ngày càng tăng lên Đồng thời, số lượng phụ nữ là đảng viên cũng tăng lên” [116, tr.6] Vai trò phụ nữ trong cơ quan Chính phủ trong chế độ dân chủ nhân dân cũng đã được quan tâm, phụ nữ có quyền ngang bằng nam giới trong việc tham gia hoạt động về

Trang 29

mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, gia đình… Phụ nữ có quyền bầu cửu, ứng cử và tham gia vào việc bàn bạc và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Vai trò phụ nữ trong tổ chức quần chúng, phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số cả nước là lực lượng to lớn của đất nước, chính vì vậy phụ nữ tham gia rất tích cực vào các tổ chức quần chúng và trở thành những người lãnh đạo trong các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, HLHPN và Hội Cựu chiến binh)

Phỉu La Văn Luẩng Văn Na, Sổm Chăn Tha Nạ Vông, “Lịch sử truyền

thống của Hội Liên hiệp Phụ nữ Lào” [106] Cuốn sách đã tập trung vào 4 nội

dung chính: phong trào phụ nữ tham gia vào sự nghiệp cách mạng từ khi có Đảng lãnh đạo đến năm 1983; Đại hội phụ nữ toàn quốc, hoạt động của HLHPN

và phụ nữ Lào từ năm 1984-2010; quan điểm, đường lối, sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ Các tác giả đã nêu được quá trình hình thành và vận động của HLHPN Lào, thành tựu nổi bật của phụ nữ Lào trong giai đoạn từ năm

1930 đến năm 2010, khẳng định dấu mốc truyền thống sự ra đời, sự vận động, những thành tựu của HLHPN và truyền thống tốt đẹp của phụ nữ các bộ tộc Lào Cuốn sách là cơ sở để tuyên truyền truyền thống tốt đẹp của phụ nữ cho xã hội, cho các thế hệ sau này được học hỏi và kế thừa truyền thống tốt đẹp của phụ nữ các bộ tộc Lào cũng như của đất nước Lào

Sụ Lị Khon Phôm Mạ Vông Sả, “Tổng hợp một số Điều của Hiến pháp

và pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của phụ nữ Lào” [119] Nhóm tác

giả của cuốn sách đã tập hợp một số Điều của Hiến pháp và pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ Lào, nhằm cung cấp thông tin và làm cơ sở cần thiết về mặt pháp lý trong mọi lĩnh vực công tác cho phụ nữ các bộ tộc Lào, cũng như toàn xã hội Cuốn sách bao gồm một số Điều trong Hiến pháp và pháp luật trong 3 lĩnh vực: lĩnh vực hành chính và công bằng, lĩnh vực văn hóa - xã hội, lĩnh vực lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu về chính sách của Nhà nước CHDCND Lào về phụ nữ tham gia LĐ, QL

Trang 30

Chăn Đi Păn Kẹo, “Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sự

khuyến khích bình đẳng giới” [81] Bài viết này đã làm rõ quan điểm của Đảng

NDCM Lào về vị trí, vai trò của phụ nữ, Đảng luôn luôn khẳng định: phụ nữ Lào chiếm hơn một nửa dân số trong cả nước, là lực lượng to lớn trong mọi lĩnh vực, nhưng là lực lượng đặc biệt - sản xuất ra lực lượng lao động, nghĩa là phụ

nữ có vai trò sinh ra thế hệ mới; phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình, góp phần to lớn vào sự phát triển của người chồng, người con Cùng với đó, tác giả

đã phân tích rõ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc giải phóng phụ nữ, nhiệm vụ cơ bản tất yếu của công tác giải phóng phụ nữ trong giai đoạn mới, nhiệm vụ trước mắt về công tác giải phóng phụ nữ Ngoài ra, còn nêu những nguyên tắc chỉ đạo - lãnh đạo cách mạng, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước đối với công tác giải phóng phụ nữ

Sỉ Sảy Lư Đệt Mun Sỏn, Khăm Chăn Phôm Sẻng Sạ Vẳn, “Những bài

phát biểu của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Đại hội của HLHPN Lào lần thứ I - VI” [113] Cuốn sách đã tập hợp những bài phát biểu của các lãnh đạo

Đảng và Nhà nước tại các kỳ Đại hội phụ nữ toàn quốc Nhóm tác giả cuốn sách khẳng định, từ khi HLHPN Lào được thành lập (20/7/1955) đến nay, đã qua 6 kỳ Đại hội, tại các kỳ Đại hội, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tham dự

và có lời phát biểu, đó là một biểu hiện rất rõ về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề phụ nữ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng Các bài phát biểu đã trở thành kim chỉ nam cho hành động phong trào của HLHPN Lào Nó vừa là cơ sở để giáo dục phụ nữ, chỉ đạo phong trào phụ nữ và vừa là

cơ sở để xác định phương hướng, kế hoạch thực hiện kế hoạch phát triển phụ

nữ trong từng giai đoạn

Sỉ Sảy Lư Đệt Mun Sỏn, “Vai trò của phụ nữ Lào trong gia đình” [114]

Bài viết tập trung phân tích, khái quát về chức năng gia đình và đánh giá cao vai trò to lớn của phụ nữ trong gia đình, phụ nữ đã thực hiện vai trò của mình trong gia đình từ xa xưa cho đến ngày nay, đặc biệt, trong việc chăm sóc đời sống hàng ngày của gia đình, trong việc dạy dỗ con gái Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ

Trang 31

rõ một số nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện vai trò của phụ nữ trong gia

đình, một là do bản thân người phụ nữ, hai là do tác động của kinh tế thị trường,

ba là do các thành viên trong gia đình Để phát huy được mặt tích cực và khắc

phục mặt tiêu cực, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình

Các công trình, bài viết nêu trên đã nghiên cứu một số vấn đề sau đây:

Một là, một số công trình đã làm rõ nhận thức cơ bản về vai trò nam - nữ

trong sự phát triển, phân tích thực trạng việc thực hiện vai trò nam - nữ, nêu một

số nguyên nhân sự bất bình đẳng nam - nữ về mọi mặt; đặc biệt là trong lĩnh vực tham gia quản lý xã hội

Hai là, các công trình nghiên cứu đã luận giải vị trí, vai trò của người phụ

nữ từ lịch sử cho đến hiện tại, vai trò trong gia đình và cộng đồng, chỉ ra con đường giải phóng phụ nữ; nhấn mạnh rằng, phụ nữ Lào chiếm hơn một nửa của dân số cả nước, có vai trò to lớn không thể thiếu được trong gia đình cũng như trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước

Ba là, một số công trình nghiên cứu đã khái quát vị trí, vai trò của

HLHPN; phân tích, đánh giá thực trạng sự tham gia của HLHPN, đặc biệt là vai trò của Hội trong việc tham mưu đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị trong thời kỳ chiến tranh cũng như thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước

Bốn là, một số các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa các văn bản chỉ

đạo của Đảng NDCM Lào, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ nhằm đảm bảo quyền tham gia của phụ nữ về mọi mặt, trong đó gồm cả quyền tham gia chính trị của phụ nữ

Thứ hai: Nghiên cứu chung về hệ thống chính trị và phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý nói chung, trong HTCT nói riêng

Sổm Lít Phước Kẹo, “Đổi mới hệ thống chính trị cấp tỉnh ở CHDCND

Lào trong giai đoạn hiện nay” [118] Luận án đã trình bày quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin về chính trị và HTCT; một số vấn đề cơ bản của nền chính trị; quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng cơ bản của HTCT Lào; phân tích

Trang 32

vị trí và thực trạng HTCT cấp tỉnh ở CHDCND Lào; nêu những quan điểm cơ bản, phương hướng và giải pháp đổi mới HTCT nói chung, HTCT cấp tỉnh nói riêng ở CHDCND Lào hiện nay

Vi Xúc Phôm Phi Thắc, “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo hệ

thống chính trị trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” [126] Luận án làm rõ quá

trình đổi mới HTCT nói chung, đổi mới và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với HTCT ở Lào nói riêng phải được tiến hành theo quan điểm, nguyên tắc dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, xuất phát từ thực tiễn, đặc điểm truyền thống chính trị của dân tộc và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng NDCM Lào trong tổ chức, xây dựng HTCT trong những năm qua, trong đó có tính đến những kiến thức và kinh nghiệm của Việt Nam và các nước trên thế giới Đồng thời luận án phân tích tình hình đặc điểm kinh tế - xã hội, mô hình tổ chức quyền lực, phương thức lãnh đạo của Đảng trong HTCT ở Lào và chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân Từ đó đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng NDCM Lào đối với HTCT, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

La Chay Sinh Su Văn, “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo hệ

thống chính trị ở CHDCND Lào” [101] Bài viết đã tập trung phân tích sự lãnh

đạo của Đảng NDCM Lào đối với HTCT là bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công; Đảng phải đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, phải kiện toàn bộ máy tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh toàn diện từ trung ương đến địa phương

La Chay Sinh Su Văn, “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn

Lào hiện nay” [102] Tác giả của luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về HTCT và

HTCT cấp cơ sở ở nông thôn Lào, khái quát lại những đặc điểm của HTCT và HTCT cấp cơ sở ở nông thôn Lào và đưa ra những yêu cầu đổi mới HTCT cấp

cơ sở ở nông thôn Lào hiện nay Đồng thời, phân tích khảo sát đánh giá thực trạng, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong HTCT cấp cơ sở ở

Trang 33

nông thôn Lào hiện nay Từ đó, đề xuất các quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới HTCT cấp cơ sở ở nông thôn Lào hiện nay

Bua Von On Chăn Hỏm, “Phải đào tạo cán bộ nữ cho tương xứng với

cán bộ nam” [77] Tác giả bài viết cho biết, từ khi có Đảng lãnh đạo, Đảng đã có

đường lối, chính sách nhằm giải phóng phụ nữ thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đưa ra chính sách cụ thể để phát triển phụ nữ về mọi mặt trong từng giai đoạn Trên cơ sở thực hiện đường lối, chính sách của Đảng về việc phát triển phụ nữ làm cho cán bộ nữ ngày càng tăng lên, tạo điều kiện cho cán bộ nữ được tham gia LĐ, QL từ trung ương đến địa phương cả về số lượng và chất lượng Đồng thời, tác giả đã chỉ ra một số hạn chế trong việc đào tạo cán bộ nữ chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đổi mới Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Bài viết là gợi ý khoa học quan trọng cho tác giả luận án khi triển khai đề tài nghiên cứu

Ních Khăm, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp

Phụ nữ ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới” [104] Luận

án đi sâu nghiên cứu ba vấn đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt HLHPN ở CHDCND Lào - Những vấn đề cơ bản về lý luận và quan điểm; thực trạng cán bộ lãnh đạo các cấp của HLHPN Lào trong gian đoạn hiện nay; phương hướng và giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ HLHPN Lào Nội dung của luận án đó đề cập đến nhiều vấn đề mà tác giả luận án này cũng quan tâm nghiên cứu như: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán

bộ và cán bộ LĐ, QL; HLHPHN Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; thực trạng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo HLHPN Lào… Đây là một công trình có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả luận án kế thừa khi thực hiện đề tài

Sổm Chay Sẻng Phu Phả Ngân, “Phụ nữ với sự phát triển trong giai đoạn

mới” [117] Trong bài viết đã chỉ ra vị trí, vai trò của phụ nữ Lào trong xã hội

cũ: phụ nữ Lào bị phân biệt, bị coi thường; phụ nữ được xác định chỉ là những

Trang 34

người sinh con, nuôi con, chăm sóc gia đình; làm lao động chủ yếu sản xuất kinh

tế để nuôi dưỡng gia đình và xã hội, không được học hành cao như nam giới Sau đó, tác giả đã trình bày vị trí, vai trò của người phụ nữ Lào từ khi có Đảng NDCM Lào lãnh đạo cho đến ngày nay; trong đó, đã đánh giá sự tham gia của phụ nữ Lào trong sự phát triển đất nước, vị trí, vai trò của phụ nữ Lào ngày càng được nâng cao về mọi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực LĐ, QL Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân cản trở sự phát triển phụ nữ Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy sự tham gia của phụ nữ trong công tác của Đảng, Nhà nước

và xã hội

Băn Đít Pạ Thum Văn, “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Lào trên

trường quốc tế” [76] Tác giả đã khái quát sự đóng góp của HLHPN Lào với tư

cách là đại diện cho quyền và lợi ích của phụ nữ Lào, HLHPN Lào đã tích cực tham gia vào quá trình thực hiện bình đẳng giới của quốc tế như: cam kết với Hiệp ước CEDAW, tích cực thực hiện kế hoạch hành động 12 điều của Đại hội phụ nữ quốc tế lần thứ IV, gọi là “Tuyên bố Bắc Kinh”; cam kết với tổ chức phụ

nữ của các nước ASEAN Ngoài ra, HLHPN Lào đã tăng cường hợp tác với các

tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới Trên cơ sở đó, đề xuất với Đảng và Chính phủ CHDCND Lào tạo mọi điều kiện cho HLHPN Lào thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Nhờ đó, HLHPN Lào đã giành được nhiều thành tựu trong những năm qua, thực hiện được nhiều chương trình mà tổ chức quốc tế đã

đề ra, mà mục tiêu chính là xây dựng sức mạnh cho phụ nữ nhằm giảm nghèo và phát triển bình đẳng giới

Phon Đa Văn Phim Sạ Vẳn, “Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ

nữ” [107] Tác giả đã tập trung đi sâu 3 nội dung chính: Phụ nữ trong Đại hội

của Đảng NDCM Lào và đường lối của Đảng đối với phụ nữ Lào; Đại hội Đảng

và lời phát biểu của những đại biểu của Đảng đối với công tác phụ nữ Lào; những khẩu hiệu của HLHPN Lào đã đưa ra trong các kỳ Đại hội của HLHPN Lào Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn và tập hợp một cách khái quát đường lối

và quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội và tên tuổi của các nhà lãnh đạo và

Trang 35

những người được ghi nhận vào lịch sử, từ Đại hội lần thứ I - IX của Đảng và Đại hội lần thứ I - VI của HLHPN Lào Qua đó đã cho thấy, Đảng NDCM Lào rất quan tâm và tạo điều kiện cho phụ nữ Lào được tham gia LĐ, QL trong mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ Lào được tham gia vào BCHTW Đảng từ khóa II cho đến nay, BCT từ khóa VIII cho đến nay

Sỉ Sảy Lư Đệt Mun Sỏn, “Vai trò của phụ nữ Lào trong Ủy ban Phụ nữ ASEAN” [115] Trong bài viết này, tác giả làm rõ nhiệm vụ của Ủy ban Phụ nữ

ASEAN, Ủy ban Phụ nữ ASEAN có nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức thực hiện Hiệp ước CEDAW, Kế hoạch hành động Bắc Kinh, Mục tiêu Thiên niên kỷ vì

sự phát triển, nghiên cứu triển khai thành tựu của Hội nghị thượng đỉnh của ASEAN và một số việc liên quan đến sự phát triển, bảo vệ quyền - lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, khuyến khích bình đẳng giới, khuyến khích sự tiến

bộ của phụ nữ trong khu vực ASEAN và thế giới Cùng với đó, tác giả đã đánh giá một cách khách quan về vai trò, sự đóng góp, điểm mạnh và điểm yếu của phụ nữ Lào trong Ủy ban Phụ nữ ASEAN Ngoài ra, tác giả đã có một số kiến nghị nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ Lào trong khu vực ASEAN và quốc tế

Thắt Sạ Đa Phon Sẻng Sụ Lỵ Nha, “Vai trò nữ của đại biểu Quốc hội

trong việc xây dựng Quốc hội bền vững” [120] Tác giả khái quát tầm quan

trọng, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Lào Chỉ ra những đóng góp to lớn của

Ủy ban Phụ nữ của Quốc hội, cũng như đại biểu Quốc hội nữ đã cùng với đại biểu Quốc hội nam xuống cơ sở gặp cử tri để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, lấy ý kiến cử tri và thông báo cho cử tri biết về kết quả

kỳ họp Quốc hội; đại biểu nữ tham gia tích cực vào việc xây dựng pháp luật, việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, kiểm tra giám sát và quan

hệ hợp tác trên trường quốc tế Trên cơ sở tham gia tích cực của đại biểu Quốc hội nữ, Quốc hội Lào đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng Quốc hội ngày càng bền vững Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế

và nguyên nhân trong việc tham gia của đại nữ biểu Quốc hội Từ đó, đề xuất một số giải pháp để phát huy vai trò của nữ đại biểu Quốc hội trong việc xây dựng Quốc hội Lào bền vững

Trang 36

On Chăn Sụ Văn Nạ Sẻng, “Vai trò phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng

Nhân dân Cách mạng Lào” [105] Bài viết đã làm rõ vị trí, vai trò của phụ nữ

Lào trong thời kỳ đất nước bị xâm lược; phụ nữ đã có sự đóng góp rất to lớn trong gia đình và ngoài xã hội, nhưng quyền và lợi ích của phụ nữ chưa được đảm bảo, thậm chí còn bị coi thường Sau đó, tác giả trình bày vị trí, vai trò của phụ nữ từ khi có Đảng NDCM Lào lãnh đạo, Đảng luôn quan tâm đến công tác phụ nữ, vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện về mọi mặt để phụ nữ tham gia LĐ,

QL đất nước, quản lý xã hội Cùng với những thành tựu đã đạt được, phụ nữ Lào cũng còn nhiều hạn chế trong việc đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào trong thời kỳ đổi mới

Bun Nhông Búp Phả, “Liệu Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân

dân Lào có cần một “Pháp luật nhạy cảm giới”? Vai trò và nhiệm vụ của Ủy Ban phụ nữ của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” [80] Đề tài

khoa học đã phân tích thực trạng giới ở CHDCND Lào trong bối cảnh kêu gọi giới trong vấn đề nghèo đói, đồng thời đưa ra hành động về giới ở cấp chính trị cao nhất ở CHDCND Lào, trong đó đề cập đến phụ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khóa VII chiếm 25%, tỷ lệ cao nhất ở châu Á (đứng thứ 39 trong số 149 nghị viện trên thế giới), chủ tịch Quốc hội là nữ, 8 đại biểu nữ Quốc hội nắm vị trí trưởng và phó các Ban của Quốc hội Sau đó, chủ nhiệm đề tài giải thích, tại sao phải thành lập Ủy Ban phụ nữ Quốc hội?, nhiệm vụ chính thức của Ủy Ban phụ nữ trong Quốc hội CHDCND Lào, pháp luật vì giới là gì?, nữ đại biểu Quốc hội có thể tạo ra sự khác biệt, vì vậy chúng ta có cần pháp luật vì giới ở CHDCND Lào?

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số vấn đề như sau:

Một là, một số công trình nghiên cứu đã đề cập và làm sáng tỏ vị trí, vai

trò của cán bộ nữ, phân tích thực trạng cán bộ nữ tham gia LĐ, QL cả về số lượng và chất lượng và chỉ rõ những hạn chế trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ nữ Sau đó, đề xuất giải pháp để khắc phục những hạn chế

Trang 37

Hai là, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vị trí, vai trò của phụ

nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, Đảng luôn quan tâm công tác phụ

nữ, tạo điều kiện về mọi mặt để phụ nữ được tham gia LĐ, QL đất nước, quản lý

xã hội

Ba là, một số công trình, bài viết đã đề cập đến sự tham gia LĐ, QL của

phụ nữ Lào trong tổ chức Đảng như BCT, BCHTW Đảng, chỉ rõ và so sánh tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong các kỳ Đại hội của Đảng NDCM Lào

Bốn là, một số công trình đã đề cập đến sự tham gia của phụ nữ trong

Quốc hội, nêu những đóng góp to lớn của nữ đại biểu Quốc hội, tỷ lệ tham gia của nữ đại biểu Quốc hội, vị trí, vai trò của nữ đại biểu Quốc hội trong Quốc hội Lào Nữ đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò rất quan trọng như: Chủ tịch Quốc hội là nữ, nữ đại biểu Quốc hội cũng chiếm tỷ lệ khá cao so với các nước trong khu vực Bên cạnh đó, cũng đưa ra một số hạn chế và nguyên nhân trong việc tham gia của nữ đại biểu Quốc họi và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nữ đại biểu Quốc hội

1.2 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.2.1 Những giá trị của các công trình nghiên cứu luận án cần tham khảo

Các công trình nghiên cứu nêu trên có những giá trị mà trong quá trình nghiên cứu tác giả luận án tham khảo và kế thừa:

Một là, kết quả của các công trình nghiên cứu là những tài liệu quý cả về

cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để luận án tham chiếu trong quá trình triển khai mục tiêu và nhiệm vụ của mình Các công trình này đã phần nào gợi mở ra tính cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề phụ nữ, vấn đề bình giới nói chung, vấn đề phụ nữ tham gia LĐ, QL nói riêng; một số vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo và giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực

Hai là, các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng vào

việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới; quan niệm về bình đẳng giới, thực hiện bình đẳng giới trong thời kỳ đẩy mạnh công

Trang 38

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Các công trình nghiên cứu cũng đưa ra phương hướng để tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên các lĩnh vực chính trị và xã hội

Ba là, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo của

Đảng NDCM Lào; các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới vì sự tiến

bộ của phụ nữ, đồng thời chỉ ra sự cần thiết tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực LĐ, QL, góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của nữ cán bộ LĐ, QL

trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Bốn là, các công trình nghiên cứu trên đây đã luận giải và làm sáng tỏ ở

mức độ nhất định về những vấn đề cơ bản của sự tham gia LĐ, QL của phụ nữ trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế (các lĩnh vực, các khu vực, các ngành, các cấp…); vị trí, vai trò của phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT xét trên góc độ công bằng và góc độ hiệu quả đối với sự phát triển bền vững hiện nay

Năm là, các công trình đã khái quát vị trí, vai trò của HLHPN, phân tích,

đánh giá thực trạng tham gia của HLHPN, đặc biệt là sự cần thiết đưa phụ nữ vào tham gia LĐ, QL, tham gia hoạt động chính trị và chỉ ra một số phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quản tham gia đời sống chính

trị - xã hội của HLHPN trong HTCT nói chung, hội viên của HLHPN nói riêng

Sáu là, một số công trình đã tập trung phân tích những trở ngại, rào cản,

định kiến giới đối với phụ nữ khi tham gia LĐ, QL ở các cấp Từ đó đề xuất một

số phương hướng, kiến nghị để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác LĐ, QL hiện nay

1.2.2 Định hướng nghiên cứu của luận án

Một là, mặc dù đã có một số nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong chính trị,

cung cấp những thông tin về bất bình đẳng giới trong LĐ, QL, tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau nên những thông tin trong các nghiên cứu đó mới giới hạn ở một số lĩnh vực theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, mô tả tình hình bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống chính trị và

Trang 39

đề cập đến một góc độ cụ thể của những rào cản đối với phụ nữ trong đời sống chính trị ở Việt Nam và ở Lào Chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn diện trực tiếp về phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Hai là, các công trình nghiên cứu đã lý giải về bất bình đẳng giới trong

HTCT ở Việt Nam, Lào; nhưng phần lớn các lý giải đó do phạm vi nghiên cứu riêng nên đã giới hạn trong phân tích các vấn đề của cấu trúc kinh tế - xã hội Vì vậy, tri thức về những rào cản đối với hoạt động LĐ, QL của phụ nữ cấp trung ương ở CHDCND Lào còn khá hạn hẹp

Ba là, phần lớn các nghiên cứu tiếp cận dưới các góc độ khác nhau khi

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề phụ nữ LĐ, QL trong chính trị hiện nay Chính vì thế, các kết luận và kiến nghị chưa có tính thống nhất cao, các phân tích chưa thật sự làm sáng tỏ những luận cứ khoa học, đề xuất những giải pháp hữu hiệu nâng cao số lượng, chất lượng phụ nữ LĐ, QL trong

bộ máy Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam, nhất là ở Lào trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, chưa chú trọng việc phân tích sâu sắc vấn đề định kiến giới đối với phụ nữ tham gia LĐ, QL, các vấn đề liên quan tới việc thúc đẩy phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Bốn là, chưa có tác giả, công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ

thống dưới góc độ chính trị - xã hội về phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay Đây là một trong những khoảng trống cần được quan tâm nghiên cứu, góp phần làm sáng tỏ vấn đề giới trong LĐ, QL

ở CHDCND Lào hiện nay

Do vậy luận án cần tiếp tục làm sáng tỏ

Một là, luận án sẽ trình bày một cách hệ thống cơ sở lý luận và các yếu tố

tác động cho việc nghiên cứu phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay, trên cơ sở làm rõ hơn các phạm trù, khái niệm liên quan đến LĐ, QL và phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT Hệ thống hóa

Trang 40

quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng NDCM Lào về phụ nữ tham gia

LĐ, QL; chỉ rõ những yếu tố tác động đến phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay Luận án coi đây là những cơ sở, căn

cứ lý luận và thực tiễn để nghiên cứu phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Hai là, luận án tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng về số lượng và

cấu trúc, về chất lượng phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT (các cơ quan đảng,

cơ quan nhà nước, mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội) cấp trung ương hiện nay; khái quát thành tựu và hạn chế; những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào hiện nay

Ba là, từ những phân tích về thực trạng, thành tựu và hạn chế; những vấn

đề đặt ra, luận án sẽ đề xuất quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu và một số kiến nghị nhằm tăng cường phụ nữ đủ các điều kiện, tiêu chuẩn tham gia LĐ, QL trong HTCT cấp trung ương ở CHDCND Lào, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược

quốc gia về Bình đẳng giới của đất nước

Ngày đăng: 11/04/2017, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Anh (2012), Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Minh Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
2. Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
3. Trần Thị Vân Anh (2010), “Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, (2), tr.19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo”, "Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2010
4. Vũ Thị Lan Anh (2010), “Quyền của phụ nữ các nước ASEAN dưới góc độ so sánh luật”, Tạp chí Luật học, (2), tr.3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của phụ nữ các nước ASEAN dưới góc độ so sánh luật”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2010
5. Đỗ Minh Cương (1996), Các học thuyết quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương và Phương Kỳ Sơn (1996), Các học thuyết quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương và Phương Kỳ Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Kim Dung (lược dịch) (2005), “Vấn đề giới trong các báo cáo thực hiện và phát triển mục tiêu thiên niên kỷ”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 6 (73), tr.22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới trong các báo cáo thực hiện và phát triển mục tiêu thiên niên kỷ”, "Tạp chí Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Kim Dung (lược dịch)
Năm: 2005
8. Ngô Thị Tuấn Dung (2008), “Nghị sự toàn cầu về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới - Lịch sử và hiện tại”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, quyển 18, (4), tr.55-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị sự toàn cầu về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới - Lịch sử và hiện tại”, "Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
Tác giả: Ngô Thị Tuấn Dung
Năm: 2008
9. Nguyễn Bá Dương (2014), Khoa học lãnh đạo quản lý - Lý thuyết và kỹ năng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.62-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học lãnh đạo quản lý - Lý thuyết và kỹ năng
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
10. Nguyễn Hữu Đồng (chủ biên) (2010), Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Đồng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. Lê Quý Đức (2013), Phẩm chất phụ nữ Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẩm chất phụ nữ Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
12. Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Tuyết (2014), “Sự chủ động của phụ nữ trong tiếp cận và hưởng thụ quyền về tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”, Tạp chí Mặt trận, (6), tr.21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chủ động của phụ nữ trong tiếp cận và hưởng thụ quyền về tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”, "Tạp chí Mặt trận
Tác giả: Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Tuyết
Năm: 2014
13. Nguyễn Thị Thu Hà (2008), “Định kiến giới đối với nữ trong lãnh đạo, quản lý”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, quyển 18, (2), tr. 69-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến giới đối với nữ trong lãnh đạo, quản lý”, "Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2008
14. Vương Thị Hanh (2007), “Phụ nữ Việt Nam và sự tham gia chính trị”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, quyển 17, (3), tr.17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam và sự tham gia chính trị”, "Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
Tác giả: Vương Thị Hanh
Năm: 2007
15. Nguyễn Đức Hạt (chủ biên) (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Đức Hạt (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
16. Trần Thị Tuy Hòa (1997), Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Trần Thị Tuy Hòa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
17. Trần Đình Hoan (2008), Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020
Tác giả: Trần Đình Hoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động)
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
19. Trần Thị Quốc Khánh (2012), Thực hiện luật về bình đẳng giới ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện luật về bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Quốc Khánh
Năm: 2012
20. Phan Thanh Khôi, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên) (2007), Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại
Tác giả: Phan Thanh Khôi, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người (Trang 68)
Bảng 3.1: Phụ nữ tham gia trong Ban Chấp hành Trung ương - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 3.1 Phụ nữ tham gia trong Ban Chấp hành Trung ương (Trang 76)
Bảng 3.2: Phụ nữ tham gia trong đại biểu Quốc hội - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 3.2 Phụ nữ tham gia trong đại biểu Quốc hội (Trang 80)
Bảng 3.3: Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quả lý cấp Vụ trưởng ở các bộ - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 3.3 Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quả lý cấp Vụ trưởng ở các bộ (Trang 82)
Bảng 3.4: Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý (Trang 89)
Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý   trong Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 3.7 Trình độ chuyên môn của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương (Trang 93)
Bảng 2: Trình độ lý luận chính trị của nữ đại biểu Quốc hội khóa VIII - Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 2 Trình độ lý luận chính trị của nữ đại biểu Quốc hội khóa VIII (Trang 170)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w