1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn KHOA học GIỚI SAU đại học

30 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 75,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề giới hay quan niệm địa vị thấp kém của phụ nữ so với nam giới đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Vì thế cũng đã có từ rất sớm các cuộc đấu tranh của phụ nữ giành quyền bình đẳng với nam giới và phong trào vận động ủng hộ phụ nữ trong cuộc đấu tranh ấy dần xuất hiện, phát triển ngày càng sâu rộng. Cơ sở thực tiển đó làm nảy sinh các lý thuyết nữ quyền và lý thuyết giới. Các lý thuyết này đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau dẫn đến sự ra đời của khoa học giới vào những năm 70 của thế kỷ XX

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG GIỚI Vấn đề 1: Đồng chí hãy trình bày hiểu biết của mình về khoa học giới, về bình đẳng giới Đánh giá của đồng chí về bình đẳng giới ở nước ta hiện nay và rút

ra ý nghĩa thực tiễn?

ĐVĐ: Vấn đề giới hay quan niệm địa vị thấp kém của phụ nữ so với nam giới đã

xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại Vì thế cũng đã có từ rất sớm các cuộc đấutranh của phụ nữ giành quyền bình đẳng với nam giới và phong trào vận động ủng hộphụ nữ trong cuộc đấu tranh ấy dần xuất hiện, phát triển ngày càng sâu rộng Cơ sở thựctiển đó làm nảy sinh các lý thuyết nữ quyền và lý thuyết giới Các lý thuyết này đã pháttriển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau dẫn đến sự ra đời của khoa học giới vàonhững năm 70 của thế kỷ XX

* Khái niệm giới

- Khái niệm giới

Giới (GENDER): là khái niệm khoa học ra đời từ khoa học về nhân loại học, chỉ

sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về mặt xã hội - địa vị - chức năng (vai trò, vị thế)

xã hội, trách nhiệm và quyền lợi của nam giới và nữ giới mà xã hội quan niệm hay quyđịnh cho nam giới và nữ giới

Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò củanam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

- Đặc điểm giới

- Giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiênsinh ra

- Giới có tính đa dạng

- Giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian

- Giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặcđiểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan

hệ xã hội

* Đối tượng nghiên cứu Khoa học Giới

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự vận động và phát triển của Giới trong sự pháttriển chung của xã hội

- Nghiêm cứu mối quan hệ giữa Giới với các bộ phận cấu thành khác của xã hội,các thiết chế đang vận hành trong xã hội

Trang 2

- Nghiên cứu nội hàm của Giới trong dạng thức tương đối độc lập của nó Trên cơ

sở mối quan hệ chủ đạo là quan hệ giữa nam giới và nữ giới, cùng cách thức xây dựng,giải quyết các mối quan hệ đó trong xã hội

* Phương pháp nghỉên cứu giới

- Khoa học giới thuộc khoa học xã hội, do đó về cơ bản phương pháp nghiên cứucủa khoa học giới phải đứng vững trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, đồng thời sử dụng phương pháp riêng của chuyên ngành về khoa học giới và một

số phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của khoa học giới,

- Vận dụng phù hợp và hiệu quả phương pháp nghiên cứu xã hội học, nhân chủnghọc, sinh học, sử học, tâm lý học, thống kê học, tôn giáo, văn hóa học

* Bình đẳng giới

- Khái niệm bình đẳng giới

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều kiện và

cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình vàthụ hưởng như nhau của sự phát triển đó

Bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng tạo điều kiện cho cả nam và nữ cùngphát triển cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cánhân

Biểu hiện:

+ BĐG về cơ hội phát triển cho tất cả nam giới và nữ giới

+ Tính bền vững của cơ hội phát triển cần được duy trì liên tục qua các thế hệ.+ Trao quyền cho mọi người (thu được lợi ích từ các quá trình phát triển xã hội)Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giớitham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ

và nam giới trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng cácquyền của họ.Và vì thế bình đẳng giới đòi hỏi các chương trình phát triển các dịch vụcông và các dịch vụ xã hội phải được thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiềumặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới Nếu làm được việcnày thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ cácthành quả và mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy cáctiềm năng của cá nhân họ

- Quan điểm bình đẳng giới khi chưa có nhận thức về giới (mù giới): BĐG

được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không phân

Trang 3

biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ giới nam hay giới nữ VD: tuổi nghỉ hưu phảinhư nhau, đi nghĩa vụ QS cũng phải như nhau

- Quan điểm bình đẳng giới khi có nhận thức về giới: BĐG lúc này được hiểu

là giữa nam giới và nữ giới được trải nghiệm những điều kiện ngang nhau để được pháthuy khả năng của mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng thụ như nhau từ cáchoạt động phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hóa

Như vậy: Quyền BĐG ngang nhau nhưng trên cơ sở những đặc điểm, điều kiện

về tâm sinh lý VD: Tuổi nghỉ hưu nam khác, nữ khác; phụ nữ trong quân đội ở nhữngđiều kiện nào là phù hợp, chứ không được bắt buộc phải như nam giới

Do vậy, phải tạo ra những cơ hội, điều kiện để cho nữ giới và nam giới tham gia,thực hiện các công việc chứ không thể cào bằng

- Nội dung của BĐG: Phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, giáo

dục, văn hóa – xã hội ; phải được thể chế hóa thành các văn bản, quy định và phảiđược thực hiện trên thực tế

* Khái quát bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

- Bình đẳng giới trong quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật NN

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều bước đột phá về nhậnthức và hành động, từ khía cạnh luật pháp, chính sách đến thực tiễn và đạt được nhiềuthành tựu quan trọng về bình đẳng giới Việt Nam được đánh giá là một trong nhữngquốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua

- Việt Nam cũng tham gia công ước quốc tế về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ

nữ qua công ước CEDAW(1980 - công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xửvới phụ nữ) và tham gia hợp tác quốc tế trong giải quyết nhiều vấn đề mang tính toàncầu: HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái

Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày29-10-2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật này quy địnhnguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình biện phápbảo đảm bình đẳng giới trách nhiệm của cơ quan tổ chức gia đình cá nhân trong việcthực hiện bình đẳng giới

Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướngChính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 Với mục tiêunâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tíchcực thực hiện các sáng kiến quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền củaphụ nữ và chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ

Trang 4

Chính phủ cũng triển khai các giải pháp trong việc thực thi pháp luật cũng nhưhợp tác quốc tế nhằm vượt qua những thách thức chủ yếu liên quan tới nhận thức vềbình đẳng giới; xóa bỏ bạo lực giới và bạo lực gia đình; khoảng cách về việc làm, thunhập, địa vị xã hội…

Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII, IV (2011-2016, 2016- 2021) đạt và hơn24,4%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khuvực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN) Phụ nữđảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch nước, chủ tịch,Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng là nữ Ở các địa phương, nhiều phụ nữgiữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng

Nữ doanh nhân là người dân tộc thiểu số tăng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế,chăm sóc sức khỏe nhân dân vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số được phát huy

Hiện nay, tỷ lệ lao động có việc làm là nữ giới chiếm 49% Tính đến hết năm

2011, tỷ lệ phụ nữ biết chữ là 92%; khoảng 80% trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, vùngdân tộc thiểu số được đi học đúng tuổi Tỷ lệ nữ sinh viên chiếm trên 50%, tỷ lệ thạc sỹ

là nữ chiếm hơn 30% và 17,1% tiến sỹ là nữ giới

Nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận, theo xếphạng năm 2012 của Liên hợp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới, Việt Nam xếp thứ47/187 quốc gia, so với vị trí 58/136 quốc gia năm 2010 (thứ hạng càng gần 0 càng thểhiện sự bình đẳng cao)

- Một số tồn tại, hạn chế:

Bên cạnh những thành tựu về bình đẳng giới, Việt Nam còn gặp nhiều thách thứcnhư tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít, tỷ lệ nghèocủa đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, vẫn còn phụ nữ dân tộc thiểu số chưa biết chữ.Khoảng cách giới còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực của cuộc sống Trước hết là

sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp cơ sở Tỷ

Trang 5

lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạonói chung và so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ

Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao vàcác nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới Một số chỉ tiêu đặt ra ở Chiếnlược quốc gia bình đẳng giới về lao động, đào tạo,… vẫn chưa đạt được Theo số liệucủa Tổng Cục Thống kê, tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề vàchuyên môn kỹ thuật đạt 11,8% năm 2013, bằng gần một nửa so với chỉ tiêu kế hoạch

đề ra

Về mặt chăm sóc sức khỏe, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản củaphụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế Theo số liệu điều tra mứcsống dân cư năm 2010, khoảng 64,5% số phụ nữ có bảo hiểm y tế, so với 69,4% số nam

có bảo hiểm y tế

Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tồn tại khá nghiêm trọng Nhận thức về phápluật của cán bộ và người dân về phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế Chế tàithực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành

- Đối với quân đội, cơ quan, đơn vị

- Đối với bản thân

Vấn đề 2: Dưới góc độ khoa học giới, đồng chí hãy làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về bình đẳng giới Phê phán quan điểm sai trái và rút ra ý nghĩa thực tiên?

ĐVĐ: Vấn đề giới hay quan niệm địa vị thấp kém của phụ nữ so với nam giới đã

xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại Vì thế cũng đã có từ rất sớm các cuộc đấutranh của phụ nữ giành quyền bình đẳng với nam giới và phong trào vận động ủng hộphụ nữ trong cuộc đấu tranh ấy dần xuất hiện, phát triển ngày càng sâu rộng Cơ sở thựctiển đó làm nảy sinh các lý thuyết nữ quyền và lý thuyết giới Các lý thuyết này đã pháttriển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau dẫn đến sự ra đời của khoa học giới vàonhững năm 70 của thế kỷ XX

Trang 6

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những luận cứ khoa học để phân tích một cáchthuyết phục và phù hợp với thực tiễn lịch sử về nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữanam giới và nữ giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội Cũng như con đường, giảipháp thực hiện BĐG.

* Khái niêm

- Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều kiện

và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình

và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó

Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 5 Luật bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng tạo điều kiện cho cả nam và nữ cùngphát triển cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cánhân

- Nam và nữ đều được tạo điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho

sự phát triển, tuy nhiên cần tính đến những đặc thù về giới tính giữa nam và nữ

- Nam nữ đều bình đẳng với nhau trong việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực vàcác lợi ích

-Nam, nữ bình đẳng với nhau trong việc tham gia bàn bạc và ra quyết định

-Nam, nữ đều bình đẳng với nhau trong việc thụ hưởng thành quả của sự phát triển

sự sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội.

Trang 7

Thực chất, đó chính là sự phân biệt đối xử, kỳ thị và định kiến về giới giữa nam

và nữ, mà ở đó phần thua, thiệt nghiêng về phía phụ nữ hơn cả

Đặc trưng của BBĐG:

- Nam, nữ có vị trí, vai trò không ngang bằng nhau về mọi mặt, mọi lĩnh vực củađời sống xã hội và gia đình

- Điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển, giữa nam và

nữ không dược như nhau

- Nam nữ không được bình đẳng với nhau trong việc tiếp cận và kiểm soát nguồnlực và các lợi ích

- Nam, nữ không được bình đẳng với nhau trong việc tham gia bàn bạc và ra quyếtđịnh

-Nam, nữ không bình đẳng với nhau trong việc thụ hưởng thành quả của sự pháttriển

Chẳng hạn thực trạng BBĐG ở nước ta hiện nay nổi lên: Cuộc sống của hàngtriệu trẻ em gái và phụ nữ vẫn còn bị phân biệt đối xử, bị tước quyền và nghèo khổ, bịảnh hưởng nặng nề bởi HIV/AIDS, bị trả lương thấp hơn nam giới, bị nạn bạo hành vềthể chất và tình dục Một số vùng khó khăn, gia đình đông con, trẻ em gái ít có cơ hộiđược đi học hơn; trình độ học vấn của phụ nữ có chênh lệch hơn so với nam giới Phổbiến nhất ở nước ta hiện nay là số đông vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ, yêu cầuphụ nữ phải đặt gia đình lên trên hết, nhiều khi phải chịu thiệt thòi về sức khỏe, nguyệnvọng, khát vọng cá nhân; nhiều nơi phụ nữ vẫn phải nghe theo quyền lực của nam giới

về các vấn đề trong gia đình và cuộc sống Tình cảnh của những phụ nữ người dân tộcthiểu số ở nhiều vùng còn khó khăn có phần xấu nhất trong những tồn tại vừa nêu

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra nguồn gốc của sự tồn tại bất bình đẳng về mặt xã hội của nam giới và nữ giới; vàcon đường và giải pháp thực hiện giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ.

- Quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen:

Trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” C.Mác

- Ph.Ăngghen đã phân tích chỉ rõ nguyên nhân của BBĐG:

+ Chỉ rõ nguồn gốc của sự tồn tại bất bình đẳng về mặt xã hội giữa nam giới và

nữ giới là có nguồn gốc từ kinh tế:

* Ở trong xã hội nguyên thuỷ (thị tộc) do lực lượng sản xuất lúc này còn thấp kém,con người sống chủ yếu dựa vào hái lượm, giai đoạn sau có làm nghề trồng trọt nhưng còn

Trang 8

kém phát triển Phù hợp với công việc này hơn là nữ giới Nữ giới nổi trội hơn nam giới Vìthế họ có vai trò địa vị nổi bật hơn nam giới.Xã hội lúc đó là chế độ xã hội mẫu quyền.

Ăngghen viết: “Kinh tế gia đình cộng sản … là cơ sở hiện thực của quyền thốngtrị của đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thuỷ”

* Ở các giai đoạn sau, do sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất đã đưađến sự chuyển dịch của xã hội từ hái lượm sang sản xuất trồng trọt với năng suất caohơn Điều kiện ấy đã tạo ra sự “dư thừa” sản phẩm và sự chênh lệch về hưởng thụ củacải trong xã hội làm xuất hiện chế độ tư hữu, sự phân chia xã hội thành giai cấp Vớinền kinh tế này, nam giới tỏ rõ ưu thế và vai trò nổi trội hơn nữ giới Và vì vậy chế độphụ quyền đã thay thế chế độ mẫu quyền

+ C Mác và Ph đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử cótính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấyquyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sựdâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần ”“người vợ trở thànhngười đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội”1 “Tình trạngkhông bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta,tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặtkinh tế”2

Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ cóthể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới

và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”3

- Quan điểm của V.I.Lênin

+ V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX - XX kế thừaquan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân laođộng trong các nhà máy, công xưởng

+ V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”9,

“Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phânbiệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”10; “ bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà laođộng nữ chiếm đa số”11; “thành lập chế độ cộng hòa , thực hiện chế độ nhân dân bầu

cử quan chức, nam nữ bình đẳng”12; “hủy bỏ tất cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạnchế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới”13.Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu khônggiành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”14

Trang 9

Tóm lại,Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sự bất bình đẳng nam - nữ có 2 nguyên nhân:Trước hết là nguyên nhân kinh tế Khi cơ sở kinh tế của xã hội biến đổi thì tính

chất của quan hệ nam – nữ về mặt xã hội cũng biến đổi theo Angghen viết: “Sự thốngtrị của đàn ông trong hơn nhiều thế kỷ chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ

về kinh tế và sự tiêu vong cùng với sự tiến bộ về mặt kinh tế” và Nguyên nhân về nhận thức chính trị, văn hoá, tôn giáo, dân tộc.

+ Chủ nghĩa Mác – Lênin còn chỉ ra con đường và giải pháp thực hiện giải phóngphụ nữ, bình đẳng nam – nữ

* Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất ở thời đại công nghiệp sẽ mở racon đường giải phóng phụ nữ, xác lập sự bình đẳng vững chắc giữa nam và nữ Trình độphát triển của đại công nghiệp cơ khí trong thời đại mới làm cho “Toàn bộ nữ giới trởlại tham gia nền sản xuất xã hội”

* Phải xây dựng và ban hành hệ thống pháp lụât bảo đảm quyền bình đẳng nam

nữ đưa nữ giới vào tham gia quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền, giảm nhẹ gánhnặng việc nội trợ của phụ nữ

* Tư tưởng Hồ Chí Minh

- Vận dụng sáng tạo CN M - Lê nin về bình đẳng giới vào Việt Nam

Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đãthấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dânphong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị ápbức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn Ngay từ đầu, Đảng vàNhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳngvới đàn ông”.Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giải phóng phụ nữ là cuộc cách mạng

to lớn nhất, quan trọng nhất”

- Đề cao vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và cách mạng

Người nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai BàTrưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà gặpnguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sựnghiệp giải phóng dân tộc

- Phụ nữ bình đẳng, bĩnh quyền với đàn ông Đảng, NN phải thực hiện binh đẳngnam nữ, giúp đỡ phụ nữ

Trong Lời kêu gọi chống thất học (tháng 10/1945), Người chỉ rõ: “Đây là lúc cácchị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, cóquyền bầu và ứng cử”16

Trang 10

Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch HồChí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có

đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứngngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”17

Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua,Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trongnước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, giađình thật sự hạnh phúc”18

Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ ta đảm đang đãgóp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có

kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụtrách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo

- Chống định kiến, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia mọi mặt đời sống xã hội.Phụ nữ tránh mặc cảm, tự ti; nỗ lực học tập vươn lên

Người phê bình những thành kiến, hẹp hòi của một số cán bộ đối với phụ nữvà

“Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụnữ ”.Người căn dặn: “Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cáchmạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”19

* Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng giới

- Thời kỳ 1930 - 1945: phụ nữ là lực lượng cách mạng rất trọng yếu, binh quyềncho phụ nữ, đấu tranh xóa bỏ các hủ tục đối với phụ nữ

Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện

xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi:

một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữ bìnhquyền”.Bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng vớiđàn ông

- Thời kỳ kháng chiến: phát huy vai trò của phụ nữ trong sản xuất và đánh giặc,trong hoạt động xã hội; quan tâm công tác phụ nữ

- Thời kỳ đổi mới: Hoàn thiện hệ thống pháp lý về bình đẳng giới

- Bình đẳng giới ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta coi là một động lực vàmục tiêu phát triển quốc gia

- Quan tâm phát triển phụ nữ một cách toàn diện trên các lĩnh vực

Có thể nói, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, hơn 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay hoà bình, Đảng ta luôn nhất

Trang 11

quán quan điểm nhằm phát huy vai trò của phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, đồng thờithúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và xã hội Trong suốt 65 năm qua, đội ngũ cán

bộ nữ ngày càng đông đảo, trưởng thành ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đặc biệt,những thành tích về chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) là 0,725, xếp ở vị trí116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển giới (GDI) xếp vị trí 94/155 nước(theo Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2009) là những minh chứngsinh động về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

* Phê phán quan điểm sai trái:

Vấn đề 3: Đồng chí hãy đánh giá các quan niệm khác nhau về giới Phê phán quan điểm sai trái và rút ra ý nghĩa thực tiễn?

ĐVĐ: Vấn đề giới hay quan niệm địa vị thấp kém của phụ nữ so với nam giới đã

xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại Vì thế cũng đã có từ rất sớm các cuộc đấutranh của phụ nữ giành quyền bình đẳng với nam giới và phong trào vận động ủng hộphụ nữ trong cuộc đấu tranh ấy dần xuất hiện, phát triển ngày càng sâu rộng Cơ sở thựctiển đó làm nảy sinh các lý thuyết nữ quyền và lý thuyết giới Các lý thuyết này đã pháttriển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau dẫn đến sự ra đời của khoa học giới vàonhững năm 70 của thế kỷ XX

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những luận cứ khoa học để phân tích một cáchthuyết phục và phù hợp với thực tiễn lịch sử về nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữanam giới và nữ giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội Cũng như con đường, giảipháp thực hiện BĐG

- Khái niệm giới

+ Khái niệm: Giới (GENDER) là khái niệm khoa học ra đời từ khoa học về nhân

loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về mặt xã hội - địa vị - chức năng(vai trò, vị thế) xã hội, trách nhiệm và quyền lợi của nam giới và nữ giới mà xã hội quanniệm hay quy định cho nam giới và nữ giới

Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò củanam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

+ Đặc điểm của giới:

- Giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiênsinh ra

- Giới có tính đa dạng

- Giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian

Trang 12

- Giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặcđiểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan

hệ xã hội

* Các quan niệm về giới

- Quan niệm của thuyết Nữ quyền và phong trào Nữ quyền về Giới: Trong lịch sử

về giới thì thuyết Nữ quyền là một tâm điểm với mục tiêu cao nhất là: “đấu tranh cho

quyền bình đẳng của phụ nữ”

+ Thời kỳ cận hiện đại

Nữ quyền là một phong trào xã hội có tổ chức của phụ nữ ở Tây Âu và Mỹnhằm đấu tranh để bảo vệ, mở rộng các quyền của phụ nữ, đấu tranh xóa bỏ cái họ gọi

là “Chế độ nam trị” Mặt khác, nữ quyền cũng là lý thuyết, là khái niệm xã hội về sựkhác biệt và bất bình đẳng giới, những con đường và cách thức để đạt được sự bìnhđẳng giới

Quan điểm giới có nguồn gốc từ lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển ở cácnước phương Tây từ giữa thế kỷ XX

Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phong trào phụ nữ mạnh mẽ; đấu tranh chống lại sựthống trị và áp bức phụ nữ Như: phụ nữ trong phát triển, phụ nữ và phát triển, giới và sự pháttriển

Các lý thuyết Nữ quyền có ảnh hưởng như: Nữ quyền tự do; Nữ quyền mácxít;

Nữ quyền XHCN; Nữ quyền triệt để; Nữ quyền hiện sinh; Nữ quyền phúc lợi…

Các lý thuyết Nữ quyền tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xãhội; đề cấp đến vần đề áp bức xã hội đối với phụ nữ, những vấn đề kinh tế, xã hội đểgiải phóng phụ nữ, mang lại quyền bình đẳng toàn diện giữa nam giới và nữ giới

+ Quan điểm hiện nay

Cho đến nay phong trào nữ quyền và thuyết nữ quyền đã có nhiều nhưng vẫn tìm

ra quan điểm thống nhất, bởi đây là một khái niệm lỏng, bao gồm nhiều lý thuyết xã hộikhác nhau Tuy vậy nó cũng đã đạt được sự tương đồng trong giải thích nguyên nhâncủa tình trạng phụ nữ bị áp bức trong xã hội, gia đình và phong trào nữ quyền là một lựclượng xã hội để thay đổi quan hệ giới, nâng cao địa vị phụ nữ Hiện hay các quan điểmtập trung vào mở rộng quyền của PN trong gia đình, xã hội và cả cuộc sống riêng tư; làgiai đoạn bùng nổ các luật về giới, BĐG trên phạm vi quốc gia, dân tộc và thế giới

Trên cơ sở lý luận Mác xít và XHCN thì các mục tiêu và phong trào nữ quyền cóảnh hưởng ở tất cả các nước, đặc biệt là châu Á, phi, Mỹ La Tinh ở Việt Nam, ảnhhưởng của thuyết nữ quyền trong BĐG tập trung vào: nghiên cứu phân công lao động

Trang 13

theo giới cả trong gia đình và xã hội; quan hệ giới và vị thế của người PN trong gia đình

và xã hội; và nghiên cứu các vấn đề về giới như mại dâm, bạo lực gia đình, buôn bán

PN, xâm hại tình dục trẻ em gái

* Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra nguồn gốc của sự tồn tại bất bình đẳng về mặt xã hội của nam giới và nữ giới; và con đường và giải pháp thực hiện giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ.

Trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” C.Mác

- Ph.Ăngghen đã phân tích chỉ rõ nguyên nhân của BBĐG:

+ Chỉ rõ nguồn gốc của sự tồn tại bất bình đẳng về mặt xã hội giữa nam giới và

nữ giới là có nguồn gốc từ kinh tế:

* Ở trong xã hội nguyên thuỷ (thị tộc) do lực lượng sản xuất lúc này còn thấp kém,con người sống chủ yếu dựa vào hái lượm, giai đoạn sau có làm nghề trồng trọt nhưng cònkém phát triển Phù hợp với công việc này hơn là nữ giới Nữ giới nổi trội hơn nam giới Vìthế họ có vai trò địa vị nổi bật hơn nam giới.Xã hội lúc đó là chế độ xã hội mẫu quyền

Ăngghen viết: “Kinh tế gia đình cộng sản … là cơ sở hiện thực của quyền thốngtrị của đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thuỷ”

* Ở các giai đoạn sau, do sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất đã đưađến sự chuyển dịch của xã hội từ hái lượm sang sản xuất trồng trọt với năng suất caohơn Điều kiện ấy đã tạo ra sự “dư thừa” sản phẩm và sự chênh lệch về hưởng thụ củacải trong xã hội làm xuất hiện chế độ tư hữu, sự phân chia xã hội thành giai cấp Vớinền kinh tế này, nam giới tỏ rõ ưu thế và vai trò nổi trội hơn nữ giới Và vì vậy chế độphụ quyền đã thay thế chế độ mẫu quyền

* C Mác và Ph đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử cótính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấyquyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sựdâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần ” “người vợ trở thànhngười đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội”1 “Tình trạngkhông bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta,tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặtkinh tế”2

Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ cóthể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới

và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”3

Trang 14

* V.I Lênin kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnhkhốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng.

V.I Lênin khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếukhông giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”14

+ Nguyên nhân của bất bình đẳng giới:

Cùng với chỉ ra nguồn gốc nảy sinh và phát triển cuả sự bất bình đẳng trongquan hệ nam nữ, chủ nghĩa Mác – Lênin còn chỉ ra một cách khoa học nguyên nhân của

sự bất bình đẳng ấy

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sự bất bình đẳng nam - nữ có 2 nguyên nhân:

* Trước hết là nguyên nhân kinh tế Khi cơ sở kinh tế của xã hội biến đổi thì tínhchất của quan hệ nam – nữ về mặt xã hội cũng biến đổi theo Angghen viết: “Sự thốngtrị của đàn ông trong hơn nhiều thế kỷ chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ

về kinh tế và sự tiêu vong cùng với sự tiến bộ về mặt kinh tế”

* Nguyên nhân về nhận thức chính trị, văn hoá, tôn giáo, dân tộc

+ Chủ nghĩa Mác – Lênin còn chỉ ra con đường và giải pháp thực hiện giải phóngphụ nữ, bình đẳng nam – nữ

Những con đường và giải pháp:

+ Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất ở thời đại công nghiệp sẽ mở racon đường giải phóng phụ nữ, xác lập sự bình đẳng vững chắc giữa nam và nữ Trình độphát triển của đại công nghiệp cơ khí trong thời đại mới làm cho “Toàn bộ nữ giới trởlại tham gia nền sản xuất xã hội”

+ Phải xây dựng và ban hành hệ thống pháp lụât bảo đảm quyền bình đẳng nam

nữ đưa nữ giới vào tham gia quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền, giảm nhẹ gánhnặng việc nội trợ của phụ nữ

- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam - nữ

+ Kế thừa quan điểm CN Mác - Lê nin, tư tưởng HCM về BĐG và giải phóng

phụ nữ: Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng

ghi: một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữbình quyền”.Bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳngvới đàn ông

- Thời kỳ 1930 - 1945: phụ nữ là lực lượng cách mạng rất trọng yếu, binh quyềncho phụ nữ, đấu tranh xóa bỏ các hủ tục đối với phụ nữ

Trang 15

- Thời kỳ kháng chiến: phát huy vai trò của phụ nữ trong sản xuất và đánh giặc,trong hoạt động xã hội; quan tâm công tác phụ nữ.

- Thời kỳ đổi mới: Hoàn thiện hệ thống pháp lý về bình đẳng giới

+ Đề cao vai trò phụ nữ, giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng

+ Phân biệt, đối xử với phụ nữ, phát triển phụ nữ về mọi mặt

+ Có cơ chế, biện pháp, cụ thể hoá các chủ trương của Đảng về giới thành luậtpháp, chính sách, lồng ghép giới

Có thể nói, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, hơn 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay hoà bình, Đảng ta luôn nhấtquán quan điểm nhằm phát huy vai trò của phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, đồng thờithúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và xã hội Trong suốt 65 năm qua, đội ngũ cán

bộ nữ ngày càng đông đảo, trưởng thành ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đặc biệt,những thành tích về chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) là 0,725, xếp ở vị trí116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển giới (GDI) xếp vị trí 94/155 nước(theo Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2009) là những minh chứngsinh động về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

* Phê phán quan điểm sai trái:

Vấn đề 4: Chứng minh sự lồng ghép giới trong hoạch định và thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Phê phán quan điểm sai trái và rút

ra ý nghĩa thực tiễn?

ĐVĐ:Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động

mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Sự du nhập và truyền bá quan điểmgiới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau Để nâng caotác động của quan điểm giới góp phần tạo lập sự bình đẳng giới cần thực hiện một loạtgiải pháp vừa cụ thể vừa tổng thể Một trong những giải pháp đó là Lồng ghép giới

* Khái niệm lồng ghép giới

- Vấn đề giới: Là tổng thể những sự việc xảy ra trong đời sống xã hội liên quan đến quyền lợi và phận sự của nam giới và nữ giới; vấn đề bình đẳng hay là sự công bằng giữa nam giới và nữ giới trong tất cả các quan hệ xã hội, diễn ra trong gia đình, cộng đồng, xã hội, trong các hoạt động xã hội.

- Lồng ghép giới:

Còn có những quan niệm, định nghĩa, cách giải thích khác nhau về lồng ghép giới.Theo Ủy

ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam: Lồng ghép giới là phương pháp tiếp cận và

Ngày đăng: 11/04/2017, 07:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w