1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng

88 145 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 573,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp, và do sự bảo lãnh của người thứ ba.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng tự do hóa tài chính đã làm cho hoạt động ngân hàng trở nên phức tạp hơn và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn hơn và cùng với nó, mức độ rủi ro cũng tăng lên Rủi ro hầu như có mặt trong từng nghiệp vụ ngân hàng Ngân hàng muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận rủi ro, phải chấp nhận có nghĩa là phải sống chung cùng với những rủi ro phát sinh trong từng nghiệp vụ của hoạt động tín dụng Sự đổ bể của các khoản tín dụng không chỉ làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của một ngân hàng mà nó có thể gây phản ứng dây chuyền tới sự ổn định của toàn hệ thống vì chúng có mối quan hệ với nhau thông qua hệ thống thanh toán Nguy hiểm hơn, điều này còn làm thiệt hại đến quyền lợi của người gửi tiền, gây ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định xã hội và của toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, để hoạt động tín dụng có hiệu quả trong một môi trường luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro thì công tác quản trị RRTD phải rất được quan tâm và ngày càng được hoàn thiện

Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - bởi chúng không đủ điều kiện tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp Cao hơn thế, khả năng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng còn góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích

tụ tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng còn được sử dụng như công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn cho mỗi khoản tín dụng ngân hàng là điều bắt buộc Để thực hiện được yêu cầu trên cũng như hạn chế tối đa các tổn thất cho ngân hàng, các ngân hàng cần đề ra các phương hướng và thực hiện tốt công tác quản trị RRTD

Trong cơ chế thị trường, hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, nhất là hoạt động tín dụng Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng Thực tế hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời

Trang 2

chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực và chưa có khuynh hướng giảm vững chắc Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các NHTM Việt nam đang là vấn đề cấp thiết cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn Vì thế, với mong muốn đóng góp một phần nào đó cho sự phát triển của ngành ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An nói riêng, em đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao

chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến

An – Hải Phòng”.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về RRTD và công tác quản trị RRTD trong hoạt động của NHTM, các biện pháp phòng ngừa và kinh nghiệm quốc tế về quản trị RRTD Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị RRTD tại NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An, khóa luận đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của công tác quản trị RRTD

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là RRTD và công tác quản trị RRTD.

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kiến An

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải kết hợp với tổng hợp thống kê

5 Kết cấu khóa luận

Khóa luận gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về hoạt động quản trị RRTD của NHTM

Chương II: Thực trạng công tác quản trị RRTD tại NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An

Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị RRTD tại NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN

DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng

1.1.1 Khái niệm

Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

1.1.2 Đặc trưng của quan hệ tín dụng

Một quan hệ tín dụng cần phải thỏa mãn các đặc trưng sau:

(i) Thứ nhất, quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời: Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó,nó là kết quả của

sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan

hệ tín dụng Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền

sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong 1 khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó

(ii) Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hi sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hi sinh quyền sử dụng đó

(iii) Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình

Trang 4

thành quan hệ tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp, và do sự bảo lãnh của người thứ ba.

1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng

RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD

do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết (theo khoản 1 điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN)

Căn cứ vào nội dung kinh tế có thể chia thành hai loại RRTD như sau:+ Rủi ro mất vốn: xảy ra khi khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng (gồm cả gốc và lãi), làm cho doanh thu của ngân hàng bị chậm lại hoặc mất, dẫn đến các chi phí phát sinh như: chi phí cho việc đôn đốc, tăng cường giám sát đòi nợ, chi phí cơ hội do mất đi khả năng có các khách hàng tiềm năng mới, chi phí pháp chí cho việc xử lí khoản vay, chi phí DPRR

+ Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không hoàn trả đúng hạn, làm ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc chi trả cho người gửi tiền, là nguy cơ dẫn dến rủi ro thanh khoản

1.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân

hàng và nền kinh tế xã hội

1.2.2.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những

Trang 5

trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.

1.2.2.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội

Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại Do đó, thực chất quyền

sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng

Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định

Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính toàn thế giới năm (2008) đã làm rung chuyển toàn cầu Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên RRTD tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan

Tóm lại, RRTD của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất

là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân

Trang 6

thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu RRTD.

1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của các NHTM nhưng đây cũng chính là lĩnh vực nghiệp vụ phức tạp và ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Do đó, việc đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến RRTD là thực

sự cần thiết để các NHTM có được các giải pháp cần thiết để hạn chế rủi ro này

và đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất Chúng ta đã biết, RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Rủi ro này có nguyên nhân sâu xa xuất phát từ nhiều phía: từ phía người cho vay, từ phía người đi vay, từ TSBĐ và cả các nguyên nhân khách quan khác

1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan

(i) Nguyên nhân từ chính trị - pháp luật

Một nền chính trị ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất, tập trung vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu môi trường chính trị không ổn định, xảy ra cuộc xung đột, chiến tranh làm cho doanh nghiệp không quan tâm đến sản xuất, sản xuất đình trệ, thì khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn

Yếu tố pháp luật bao gồm: hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực thi cũng ảnh hưởng đến việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Luật pháp không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng và ổn định làm cho hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng

(ii) Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: Các yếu tố điển hình thường được

đề cập đến trong môi trường kinh tế là nguyên nhân dẫn đến RRTD bao gồm: chu kì kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá Sự biến động của các yếu tố này ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của các doanh nghiệp và khách hàng cá nhân của các ngân hàng Từ đó có thể dẫn đến RRTD cho ngân hàng Ví dụ: khi nền kinh tế suy thoái, các ngân hàng thường gặp rủi ro lớn với các khoản cho vay

Trang 7

các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng cao cấp, các khoản cho vay bất động sản Bởi trong thời kì bày, người tiêu dùng thường cắt giảm chi tiêu cho những nhu cầu cao cấp và chỉ duy trì các nhu cầu chi tiêu thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.

(iii) Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: Những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như: động đất, bão lụt, hạn hán, tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng

(iv) Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến rủi

ro tín dụng thông qua ý thức trả nợ của khách hàng, trình độ dân trí cao thì ý thức trả nợ cao hơn, ngân hàng cho vay sẽ gặp ít rủi ro hơn

1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng

(i) Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa

số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác

(ii) Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi khách hàng vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít khách hàng nào dám mạnh dạng đổi mới cung cách quản lý, đầu

tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kết toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế

(iii) Tình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các khách hàng vay vốn Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách

kế toán vẫn chưa được các khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do

Trang 8

mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống RRTD.

1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng

(i) Chính sách tín dụng không hợp lí: Chính sánh tín dụng có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng,nó định hướng về cơ cấu tín dụng, lĩnh vực đầu tư tín dụng, lãi suất Nếu ngân hàng xác định chính sách tín dụng mở rộng, tăng trưởng lợi nhuận trước mắt, thì sẽ ít quan tâm đến cơ cấu tín dụng, chất lượng tín dụng, thường áp dụng lãi suất cho vay thấp để tăng khả năng cạnh tranh, việc lựa chọn khách hàng không chặt chẽ, cho vay tràn lan và cho vay không có cơ

sở đảm bảo.Với chính sánh như vậy rất dễ gây rủi ro về sau này đối với hoạt động tín dụng và cơ cấu nguồn vốn huy động

(ii) Nguyên nhân từ khâu thẩm định tín dụng: Quy trình thẩm định khách hàng được coi là quan trọng nhất, tuy nhiên, để có thể thẩm định có hiệu quả, chất lượng thì việc thu thập thông tin phải có chất lượng Song khi thẩm định hồ

sơ khách hàng, các ngân hàng đôi khi thẩm định dựa trên ý kiến chủ quan cảm tính, không thu thập thông tin đầy đủ về khách hàng, không dựa trên hiệu quả thực sự của dự án, chưa đánh giá dựa trên luồng tiền của khách hàng

(iii) Nguyên nhân từ việc kiểm tra giám sát tín dụng: Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Sau khi giải ngân, ngân hàng cần phải thực hiện giám sát tín dụng nhằm theo dõi việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích hay không, tình hình hoạt động kinh doanh có đúng như trong kế hoạch để đảm bảo trả nợ cho ngân hàng hay không, kiểm tra tài sản đảm bảo về tình hình bảo quản, giá trị thị trường từ đó ngân hàng có những biện pháp kịp thời khi khoản vay có những dấu hiệu rủi ro Tuy nhiên, công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay nếu không được coi

Trang 9

trọng, ngân hàng không thực sự coi hoạt động tín dụng là cùng kinh doanh với khách hàng thì rủi ro xảy ra là tất yếu.

(iv) Rủi ro đạo đức và trình độ của cán bộ tín dụng: Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng

(v) Vấn đề thông tin không đầy đủ: Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể trách khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả các ngân hàng

1.2.3.4 Nguyên nhân về tài sản đảm bảo

(i) Sự biến động bất lợi về giá cả thị trường của tài sản đảm bảo: Trong khi xác định cho vay, ngân hàng có thể yêu cầu người vay phải có TSĐB, tuy nhiên, do không đánh giá được sự biến động của thị trường, tài sản bị giảm giá, giá trị tài sản không đủ thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng, dẫn đến rủi ro

(ii) Đánh giá không đúng giá trị của tài sản đảm bảo: Do việc đánh giá giá trị tái sản đảm bảo không dựa trên khả năng chuyển nhượng, và việc đánh giá thiếu cơ sở, vì vậy, TSĐB được định giá cao hơn giá trị thực của nó, khi phát mại, khả năng thu hồi đủ vốn rất khó khăn

Trang 10

(iii) Tài sản không đủ giấy tờ pháp lí: Khi khách hàng không trả nợ, việc thu hồi từ phát mại tài sản đảm bảo là hết sức khó khăn Trong trường hợp có tranh chấp về pháp lí, tài sản đảm bảo là tang vật của vụ án và bị tịch thu.

1.3 Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng

1.3.1 Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng

Tín dụng là hoạt động chính yếu của ngân hàng Nếu quản lý tốt, tín dụng

sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm giảm giá trị ngân hàng Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm giảm tối đa rủi ro tín dụng Điều đó được thể hiện qua quá trình quản trị rủi ro của ngân hàng

Quản trị kinh doanh ngân hàng là quá trình hoạt động liên tục, có tổ chức,

có hướng đích của chủ thể quản trị lên các đối tượng quản trị và các khách thể kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ quốc tế

Quản trị RRTD ngân hàng là thông qua một hệ thống các công cụ tác động tới rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, nhằn tìm ra nguyên nhân và

xử lí các tình huống xảy ra RRTD với mục tiêu giảm thiểu các tổn thất do rủi ro gây ra Nội dung của công cụ này được thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng cả về

kĩ thuật, kĩ năng, phương pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro, và xử lí RRTD

1.3.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng

Rủi ro trong hoạt động tín dụng nói chung và trong hoạt động cho vay nói riêng được biết đến như một đặc thù, là yếu tố tất yếu khách quan của kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Rủi ro thường gây ra những tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, tuỳ theo cấp độ rủi ro mà hoạt động kinh doanh phải chịu tổn thất lớn hay nhỏ Khi một ngân hàng gặp phải RRTD thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các định chế tài chính có liên quan, sẽ gây ra sẽ gây ra hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền trên toàn hệ thống Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền

Trang 11

kinh tế thế giới vì trong thời đại nền kinh tế phát triển hiện nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới

Về phía các ngân hàng, khi gặp RRTD, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho các khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này khiến ngân hàng mất cân đối trong thu chi Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm, làm giảm doanh thu của ngân hàng, hạn chế khả năng thanh toán Ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Điều này tác động mạnh tới uy tín của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới lượng khách hàng đang gửi tiền tại ngân hàng, cũng như các khách hàng sẽ sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Do đó, quy mô hoạt động của ngân hàng bị ảnh hưởng và gây ra những tổn thất không thể lường trước về tài chính

Tóm lại, RRTD của một ngân hàng có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau: nhẹ là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay; nặng sẽ khiến ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỉ lệ cao khiến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này bị kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng

Như vậy, quản trị RRTD sẽ giúp ngân hàng giảm chi phí, tăng lợi nhuận, nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của ngân hàng trên thị trường trong vả ngoài nước, làm tăng sự tin tưởng của công chúng vào sự vững mạnh của hệ thống tài chính cũng như hiệu lực của chính sách tiền tệ Nhưng trong thời điểm hiện nay, hoạt động quản trị RRTD của các ngân hàng thương mại Việt Nam lại chưa được xem xét, đánh giá một cách khác quan, khoa học, chưa áp dụng được các chuẩn mực quốc tế Nhận thức được tầm quan trọng của quản trị RRTD, các ngân hàng thương mại phải hết sức quan tâm và coi trọng công tác này nhằm đạt được các mục tiêu sau:

+ Nhằm đạt kết quả cao trong kinh doanh, trong giới hạn rủi ro có thể giám sát, chấp nhận được

Trang 12

+ Thực hiện tốt các quy định của nhà nước, quy định của pháp luật, và phù hợp với thông lệ quốc tế.

+ Đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, phát triển

1.3.3 Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng

Nhận biết được tầm quan trọng của quản trị RRTD, các ngân hàng thương mại phải xây dựng nội dung quản lí rủi ro này, phù hợp với điều kiện của ngân hàng mình

1.3.3.1 Xây dựng chiến lược và thiết kế mô hình quản trị rủi ro tín dụng

(i) Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng

Chiến lược quản trị RRTD của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục đích, mục tiêu cơ bản, cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế của NHTM, nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đặt ra trong việc kiểm soát RRTD của ngân hàng

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp thì dự báo chính xác và một chiến lược quản trị rõ ràng sẽ đảm bảo cho bản thân các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa, xử lí tốt những rủi ro tín dụng có thể xảy ra Nó góp phần định hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao Chiến lược này có thời gian dài nên việc thiết lập và xem xét lại chiến lược một cách định kì là điều kiện quan trọng trong hoạt động quản trị RRTD Có thể đưa ra những căn cứ để xây dựng chiến lược quản trị RRTD một cách hợp lí như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào chính sách tín dụng của ngân hàng : Là chính sách

do hội đồng quản trị ban hành, được thiết kế nhằm hướng dẫn, kiểm tra định hướng và hoạt động của ngân hàng Chính sách này thể hiện đường lối tín dụng

mà ngân hàng sẽ thực hiện và có tác dụng hướng dẫn các cán bộ ngân hàng về mục tiêu, phạm vi, cách thức cho vay, căn cứ vào các điều kiện và môi trường kinh doanh cụ thể của ngân hàng đó Dựa vào chính sách tín dụng ngân hàng sẽ xây dựng được các nguyên tắc quản trị RRTD như sau:

+ Chiến lược quản trị RRTD phải phù hợp với chiến lược phát triển và chính sách tín dụng của ngân hàng

Trang 13

+ Tuân thủ các quy tắc tín dụng đề ra Quản trị RRTD được thực hiện trên toàn bộ danh mục cho vay cũng như đối với từng khoản vay riêng lẻ.

+ Ngân hàng cần có một bộ phận quản trị RRTD riêng hoạt động độc lập với các bộ phận kinh doanh khác trong ngân hàng, đảm bảo sự độc lập của nhà quản trị rủi ro trong việc nhìn nhận các rủi ro riêng của từng bộ phân kinh doanh cũng như toàn cảnh rủi ro của ngân hàng

+ Thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lí, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm Phân định trách nhiệm để tránh xung đột quyền lợi

và ngăn chặn lừa đảo Không ngừng kiểm tra – đảm bảo các bộ phận liên quan thực hiện đúng quyết định (Sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1: Vai trò của từng vị trí trong quy trình quản lý rủi ro

+ Dùng nguyên tắc “bốn mắt” tại mọi giai đoạn nhằm ngăn ngừa lừa đảo

- Phân bổ các nguồn lực và vốn

- Đánh giá các danh mục đầu

tư, chọn các tối ưu

- Duy trì danh mục đầu tư đã được đa dạng hóa thích đáng

- Phát triển chiến lược lựa chọn EVA (Giá trị kinh tế gia tăng) tối ưu

- Thiết kế hệ thống áp dụng

- Cơ cấu giao dịch

- Lựa chọn các giá trị kinh tế cộng thêm tại mức độ khách hàng

- Loại bỏ các tài sản kém chất lượng

Nhóm lãnh đạo

Quản lý bộ phận kinh doanh chính

Quan hệ khách hàng

Trang 14

+ Quản trị RRTD được đặt trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác và cần thực hiện đồng thời với các công việc như xác định, định lượng, giám sát và quản trị RRTD cũng như thực hiện DPRR để bù đắp tổn thất khi RRTD xảy ra.

+ Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi ích thu về, chi phí quản trị RRTD phải thấp hơn thu nhập mang lại từ việc thực hiện nó

+ Quyền truy cập hệ thống cần được quyết định một cách đúng đắn và định kỳ xem xét lại nhằm ngăn ngừa sai sót và lừa đảo

+ Kế hoạch đối phó với trường hợp khẩn cấp của doanh nghiệp phải được đánh giá thường xuyên và chạy thử để hạn chế tổn thất phát sinh do những yếu

tố bên ngoài không kiểm soát được (động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, khủng bố )

Thứ hai, căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Bất kì

một hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng cũng diễn ra trong một môi trường nhất định Do vậy, khi xây dựng chiến lược quản trị RRTD, ngân hàng cần lưu ý đến sự tác động của các yếu tố thị trường như: Tình hình kinh tế xã hội trong địa bàn hoạt động của ngân hàng; Tính chất lĩnh vực mà ngân hàng cấp tín dụng; Khả năng của đối thủ cạnh tranh với ngân hàng

Thứ ba, căn cứ vào thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất

và trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên : đây là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những khu vực thị trường nhất định Chính những nhân tố này sẽ phát huy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Thứ tư, căn cứ vào các chính sánh kinh tế vĩ mô của nhà nước và các quy

định của cơ quan quản lý: Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng của thị trường Do đó, ngân hàng phải có sự phù hợp thống nhất với điều chỉnh vĩ mô của Chính phủ và việc xây dựng chiến lược quản trị RRTD của ngân hàng luôn phải dựa trên những quy định của các cơ quan có thẩm quyền

Thứ năm, căn cứ vào những phân tích, dự báo rủi ro trong hoạt động kinh

doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Đây là những phân tích mang tính chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, điển hình là những phân tích dự báo

về tình hình tài chính tiền tệ như lãi suất, lạm phát, ngoại tệ

(ii) Thiết kế mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Trang 15

Các ngân hàng cần phải có một mô hình quản trị RRTD hợp lý để giảm thiểu tối đa RRTD, việc thiết kế mô hình quản trị RRTD có thể tham khảo các thông lệ tốt nhất về quản lý RRTD tại các ngân hàng quốc tế sau đây:

+ Cam kết mạnh mẽ và rõ ràng từ ban lãnh đạo cấp cao nhất: Ban lãnh đạo cấp cao cần tham gia vào các quy trình quản lý RRTD Ví dụ, quản lý rủi ro

là nội dung cốt lõi trong đối thoại giữa CEO và các bộ phận kinh doanh, các quan chức điều hành tham gia tích cực vào các cuộc họp về quản lí rủi ro, khi tiếp xúc với các nhân viên luôn nhấn mạnh về vấn đề này Các vị trí quan trọng được trao cho những người có tài, có uy tín, trách nhiệm cao; bổ sung các nguồn lực đầy đủ cho các công tác quản lý rủi ro

+ Giám sát từ trung tâm đối với công tác quản lý rủi ro trong toàn doanh nghiệp: Chức năng quản lý rủi ro công ty được xác định rõ ràng sẽ duy trì được thẩm quyền chung đối với việc hoạch định chính sách sau khi được CEO và HĐQT phê duyệt, phê duyệt các chính sách ở cấp đơn vị kinh doanh về RRTD, hình thành nên một cách nhìn tổng hợp cho toàn doanh nghiệp về rủi ro Xây dựng và duy trì các mối quan hệ công tác với các đơn vị kinh doanh để hỗ trợ phát triển năng lực quản lí rủi ro của mình

+ Quan điểm minh bạch và nhất quán về rủi ro: Ban lãnh đạo cấp cao nắm chắc về tất cả các loại hình rủi ro trong nội bộ tổ chức và có quan điểm nhất quán về những khả năng lựa chọn giữa rủi ro và thu nhập trong phạm vi danh mục đầu tư Cần có các quy trình rõ ràng để xác định và phân tích những rủi ro liên quan đến các hoạt động hay giao dịch mới

+ Phân định trách nhiệm: Cần chia rõ ràng giữa một bên là lập chính sách, giám sát và kiểm tra việc thực hiện chính sách và bên kia là tổ chức quản lý rủi

ro và thực hiện quản lý rủi ro Ví dụ như, chức năng kiểm toán tách khỏi chức năng quản lý rủi ro, quyết định về chính sách tín dụng tách khỏi chức năng quản

lý danh mục, phân tách giữa bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập

+ Trách nhiệm được xác định rõ ràng: Cần xác định rõ trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và kiểm soát rủi ro Hệ thống đánh giá và khuyến khích chất

Trang 16

lượng hoạt động của cá nhân và nhóm được gắn liền với trách nhiệm và quy trình hoạt động nhất quán.

+ Chính sách rủi ro do ban lãnh đạo cấp cao nhất xác định rõ ràng bao gồm: Những loại rủi ro mà công ty có đủ khả năng giải quyết tốt nhất, mức độ rủi ro mong muốn so với các mục tiêu tăng trưởng về vốn/lợi nhuận Chính sách rủi ro chung được chuyển xuống các đơn vị và tổng hợp trong các quy trình phân bổ vốn, xác định hạn mức

+ Hoàn toàn chủ động về rủi ro và quản lý rủi ro ở cấp đơn vị kinh doanh: Doanh nghiệp là người hiểu về rủi ro của mình hơn cả, và cần được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý rủi ro này

+ Các đơn vị kinh doanh chính thức tham gia và coi công tác quản lý rủi

ro như một công việc của mình: Quản lý rủi ro được chính thức đưa vào cùng với quy trình phát triển chiến lược, người quản lý rủi ro cấp cao có quyền định hướng và ra quyết định

Dựa trên các căn cứ để xây dựng mô hình quản lý RRTD và những nguyên tắc của thông lệ tốt nhất về quản lý RRTD tại các ngân hàng quốc tế ta

có thể đưa ra một lưu đồ quản lý RRTD như sau:

Trang 17

Sơ đồ 1.2 : Lưu đồ quản lý rủi ro tín dụng

- Xác định thị trường và thị trường mục tiêu

(được trích từ kế hoạch chiến lược)

- Cán bộ cấp cao

- Kì hạn

- Thanh toán

- Thế chấp

- Các đ/k ràng buộc…

- Mục đích

- Hoạt động kinh doanh

- Ban lãnh đạo…

Lập hồ sơ và giải ngân

Thanh toán

Mất mát Gốc Lãi Gốc Lãi

Trang 18

1.3.3.2 Phân tích rủi ro tín dụng

Việc phân tích tín dụng được thưc hiện trước, trong và sau khi cấp tín dụng, là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản tín dụng nhằm đảm bảo tính chính xác, tính kinh tế, đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả, nhằm đánh giá mức sinh lời của tín dụng, đảm bảo được mục đích kinh doanh của ngân hàng, tìm kiếm những tình huống có thể gây rủi ro đồng thời đánh giá khả năng xử lí rủi ro của ngân hàng, và đề ra những biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra Quá trình này chấm dứt khi khoản tín dụng được hoàn trả đúng thời hạn và đầy đủ Trong quá trình thực hiện chiến lược quản trị RRTD, ngân hàng sẽ lựa chọn cho mình mô hình phân tích thích hợp

(i) Mô hình chất lượng 6C:

+ Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng…

+ Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia Đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

+ Thu nhập của người đi vay (Cash): Trước hết, phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

+ Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng

+ Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHTW theo từng thời kỳ

Trang 19

+ Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?

RRTD còn được đánh giá qua xếp hạng tình trạng hoạt động của doanh nghiệp Những đánh giá này thường được thực hiện bởi các hãng nổi tiếng hiện nay như Moody và Standard & Poor hoạt động không những tại thị trường Mỹ

mà còn nhiều thị trường khác trên thế giới

Bảng 1.1 : Xếp hạng tín dụng của các tổ chức xếp hạng thế giới

AAA Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*

BB Ba Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

(ii) Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model): Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người

đi vay và phụ thuộc vào:

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,99X5

Trang 20

X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng VCSH / giá trị hạch toán của nợ X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản

Trị số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao

(iii) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:

Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Bảng dưới đây là những hạn mục và điểm thường được sử dụng ở các ngân hàng của Hoa Kỳ

Bảng 1.2 : Các hạng mục cho điểm các khoản vay tiêu dùng STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm

1 Nghề nghiệp của người vay

- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh

- Công nhân có kinh nghiệm

- Nhân viên văn phòng

- Sinh viên

- Công nhân không có kinh nghiệm

- Công nhân bán thất nghiệp

1087542

2 Trạng thái nhà ở

- Nhà riêng

- Nhà thuê hay căn hộ

- Sống cùng bạn hay người thân

642

3 Xếp hạng tín dụng

- Tốt

- Trung bình

105

Trang 21

- Không có hồ sơ

- Tồi

20

4 Kinh nghiệm nghề nghiệp

- Nhiều hơn 1 năm

- Từ 1 năm trở xuống

52

5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành

- Nhiều hơn 1 năm

- Từ một năm trở xuống

21

6 Điện thoại cố định

- Có

- Không có

20

8 Các tài khoản tại ngân hàng

- Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành Sec

- Chỉ tài khoản tiết kiệm

- Chỉ tài khoản phát hành Sec

- Không có

4320

Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục tiêu trên là 43điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết mức 28 điểm là ranh giới giữakhách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, từ đó ngân hàng hìnhthành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm số như sau:

Bảng 1.3 : Điểm đánh giá cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng Mỹ Tổng số điểm của khách hàng Quyết định tín dụng

Trang 22

29 - 30 điểm Cho vay đến 500 USD

1.3.3.3 Đo lường rủi ro tín dụng

(i) Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

+ Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợquá hạn

Số dư nợ quá hạnTổng dư nợ

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ

Tỉ lệ nợ quá hạn dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng Nếu chỉ số này cao thì nợ quá hạn lớn, xác xuất rủi ro mất vốn lớn

+ Tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ

nợ xấu

Số dư nợ xấuTổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỉ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của

tổ chức tín dụng Theo quy định hiện nay của NHNN,cho phép dư nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 3%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 3 đồng

Trang 23

+ Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

+ Tỷ lệ mất vốn

Đối với các khoản nợ có khả năng mất vốn ngân hàng phải sử dụng quĩ dự phòng bù đắp rủi ro để xử lý, đồng thời đưa khoản nợ này ra khỏi bảng tổng kết tài sản Tỷ lệ này càng cao thì RRTD đối với ngân hàng càng lớn

Mất vốn đã xóa cho kì báo cáo

Dư nợ trung bình cho kì báo cáo

Trang 24

Đo lường RRTD là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro giúp nhà điều hành xác định rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát Hiện nay, NHTM các nước áp dụng nhiều phương pháp đo lường RRTD Ví dụ như phương pháp RAROC (Risk adjusted return on capital – Tỉ số sinh lợi có điều chỉnh theo rủi ro): Đây là phương pháp đo lường mức độ rủi ro trong danh mục tín dụng của ngân hàng cũng như lượng vốn cần thiết để hạn chế mức độ rủi ro của người gửi tiền với một xác suất rủi ro nhất định

Thứ nhất, PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các

số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được

Thứ hai, EAD - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì vấn đề lại khá phức tạp Do đó EAD được tính như sau:

EL = PD x EAD x LGD

EAD = Dư nợ bình quân + LED x HMTD chưa sử dụng bình quân

Trang 25

Trong đó, LEQ - là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân.

Thứ ba, Thứ ba, LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD được tính theo công thức sau:

LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EADTrong đó, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố Như vậy, thông qua các biến số LGD, PD, và EAD ngân hàng xác định được EL từ đó tính được RAROC Nếu ngân hàng tính được chính xác tổn thất ước tính của khoản cho vay sẽ mang lại cho ngân hàng nhiều ứng dụng chứ không chỉ đơn thuần giúp ngân hàng xác định chính xác hơn hệ số an toàn vốn tối thiểu trong mối quan hệ giữa vốn tự có với RRTD

RAROC là hệ số dựa trên cơ sở đánh giá khả năng sinh lời để phân tích hiệu quả tài chính có tính đến rủi ro và đưa ra kết luận về khả năng sinh lời của các hoạt động kinh doanh Hệ thống RAROC phân bổ vốn dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: Quản trị rủi ro và đánh giá hoạt động Về mục đích quản trị rủi ro, mục tiêu chính của việc phân bổ vốn cho mỗi doanh nghiệp riêng lẻ là để xác định cấu trúc vốn tối ưu của ngân hàng RAROC cho phép các ngân hàng cấp vốn cho các đơn vị doanh nghiệp dựa trên giá trị thương mại gia tăng trên mỗi đơn vị đó Thu nhập càng lớn thường đi đôi với rủi ro càng cao Và ngược lại, rủi ro thấp thì thu nhập cũng rất thấp Nhà quản trị NHTM lại muốn có thu nhập cao, nhưng rủi ro thấp nhất Vì vậy, các NHTM mong muốn có kết quả kinh doanh cao với rủi ro có thể chấp nhận được

Trang 26

Sơ đồ 1.3 : Mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận

Vì vậy, không phải lúc nào rủi ro thấp nhất cũng tốt nhất, tùy thuộc vào từng ngân hàng mà xác định mức rủi ro cho phù hợp với quy mô của ngân hàng

đó Nếu mức độ rủi ro cao NHTM phải nâng cao hơn chất lượng tín dụng, nhưng cũng có lúc phải nới lỏng điều kiện cho vay để đảm bảo thu nhập của ngân hàng trong từng giai đoạn

1.3.3.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát RRTD là việc thực hiện những biện pháp nhằm duy trì RRTD

ở mức độ kì vọng, giảm thiểu tổn thất RRTD và không để ngân hàng rơi vào tình trạng đổ vỡ Kiểm soát RRTD giúp đảm bảo cho khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp, đồng thời theo dõi được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng Đây cũng là cơ sở giúp ngân hàng thành lập công tác kiểm soát nội bộ, nâng cao công tác quản trị RRTD của ngân hàng Để thực hiện tốt việc kiểm soát RRTD ngân hàng cần làm tốt các nhiệm vụ sau:

Mức độ mong đợi

Rủi ro

Thu nhập Max, điểm giới hạn rủi ro bắt đầu có dấu hiệu nguy hiểm

Rủi ro caoThu nhập giảm dầnKhả năng dẫn đến phá sản

Trang 27

(i) Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng: Đối tượng của giám sát RRTD là tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của khách hàng và việc thực hiện các điều khoản đã kí trong hợp đồng tín dụng Hơn nữa, việc giám sát còn nhằm phát hiện ra những dấu hiệu rủi ro thực tiễn, phát hiện những biến động của nền kinh tế ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng để kịp thời

đề ra các biện pháp xử lí thích hợp Theo Basel, để giám sát rủi ro tín dụng thì cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:

+ Định kỳ, cơ quan giám sát phải đánh giá tính hiệu quả của chính sách rủi ro tín dụng và đánh giá thực tế chất lượng khoản cho vay

+ Cơ quan giám sát phải xác nhận phương pháp tính dự phòng tổn thất cho vay của ngân hàng là phù hợp

+ Cơ quan giám sát ngân hàng phải xem xét chính sách và thực tế áp dụng đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng khi kiểm tra mức đủ vốn của ngân hàng.Xếp hạng rủi ro và xếp hạng chất lượng tài sản đảm bảo

+ Xếp hạng rủi ro: Ngân hàng cần thiết lập cho mình một hệ thông xếp hạng rủi ro cho danh mục tín dụng Điều này sẽ cho phấp ngân hàng có một nhận định chung về danh mục cho vay trong bảng cân đối của mình, có cơ sở dể định giá khoản vay chính xác hơn, phát hiện các khoản vay đi chệch hướng chính sách tín dụng hay có khả năng gây tổn thất cho ngân hàng, tạo cơ sở để xác định mức trích lập DPRR

Trang 28

Bảng 1.4 : Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng

Tín dụng ít rủi ro

Khả năng thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng là chắc chắn, đảm bảo việc trả nợ như đã thỏa thuận, có thể có một số khía cạnh yếu, rủi ro nhỏ

Tín dụng rủi ro trung

bình

Khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính của khách hàng là vững chắc, rủi ro ở mức có thể chấp nhận được nhưng có một số khía cạnh yếu kém có thể gây RRTD cần chú ý giám sát

Tín dụng trên mức rủi ro

trung bình

Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của khách hàng ở mức mạo hiểm do có một vài khía cạnh thực tế có những yếu kém lớn, các yếu kém này có dấu hiệu và có khả năng khắc phục được Mức rủi ro tiềm tàng này yêu cầu phải tăng việc giám sát để đảm bảo tình hình không xấu đi

Tín dụng rủi ro cao

Khách hàng đang trong tình trạng xấu kéo dài Ví dụ như đang thua lỗ trong kinh doanh, khó khăn trầm tronhj về khả năng thanh toán Ngân hàng cố gắng cải thiện hoặc từ bỏ mối quan

hệ để tránh thua lỗ tiềm tàng

Tín dụng khó đòi lãi Khách hàng có rủi ro cao, có thể bị thất thoát lãi song có thể hi

vọng lấy lại được gốc

Tín dụng khó đòi gốc và

lãi

Khách hàng có rủi ro rất cao, có thể bị mất cả vốn, lãi và các khoản chi phí sau khi đã nỗ lực trong việc áp dụng các biện pháp cụ thể

+ Xếp hạng chất lượng tài sản đảm bảo: Sau khi xác định được cấp độ rủi

ro của từng khách hàng, ngân hàng cần đánh giá chất lượng của tài sản đảm bảo

để có nhận định hoàn chỉnh về khoản vay và hướng xử lí sau này Để hạn chế RRTD thì khâu đảm bảo tín dụng cần lưu ý những vấn đề sau:

- Đối với cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Cần đánh giá chính xác tính sở hữu của tài sản(có tình trạng tranh chấp hay không?), đánh giá tính

Trang 29

thị trường của tài sản ở hiện tại và tương lai, xác định rõ mức độ hao mòn của tài sản trong thời hạn bảo đảm Đảm bảo quy định của pháp luật và của ngành.

- Đối với cho vay có bảo lãnh: Đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính và ý thức sẵn sàng thanh toán của người bảo lãnh Đảm bảo quy định về thủ tục bảo lãnh

Bảng 1.5 : Xếp hạng tài sản bảo đảm Xếp hạng tài sản bảo

đảm

Giá trị có thể phát mại của tài sản bảo đảm tính

bằng số % của giá trị khoản vay

Ngân hàng sử dụng dự phòng RRTD để xử lí RRTD theo nguyên tắc: Sử dụng dự phòng cụ thể để xử lí với các khoản nợ, phát mại TSBĐ để thu hồi nợ, nếu vẫn chưa đủ để bù đắp cho RRTD của khoản nợ thì mới sử dụng dự phòng chung để xử lý Việc sử dụng dự phòng chung để xử lý RRTD không phải là xóa

nợ cho khách hàng và không được cho khách hàng biết về việc xử lí RRTD

1.4 Kinh nghiệm quản lí RRTD của hệ thống NHTM ở một số nước và bài

học rút ra cho các NHTM Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm quản lí RRTD của hệ thống NHTM ở một số nước

1.4.1.1 Kinh nghiệm quản lí RRTD của Mĩ

Nước Mỹ là cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới, với nền kinh tế mạnh tổng GDP đạt tới hơn 20.000 tỷ USD/năm trong năm 2006, chiếm 25%GDP của toàn thế giới Hoạt động tài chính Mỹ có tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới

Trang 30

hàng lớn nhất trên toàn thế giới, và cũng đã phải đối phó với rất nhiều RRTD trong từng thời kỳ nhất định Họ đã biết cách hạn chế đến mức tối đa các rủi ro

có thể chấp nhận được bằng những biện pháp hiệu quả, đã tìm kiếm những khoản vay chất lượng cao hơn bằng cách đề ra các điều kiện chặt chẽ hơn

Các ngân hàng Mỹ coi trọng việc đánh giá uy tín của khách hàng xin cấp tín dụng Đánh giá các dự án và phương án kinh doanh một cách chặt chẽ và thường xuyên theo dõi tình hình kinh doanh của các khách hàng Ngoài ra, việc đánh giá chính xác tài sản thế chấp cũng làm cho hoạt động quản trị RRTD của các ngân hàng ở Mĩ ngày càng vững mạnh cho đến nay Nhưng đến năm 2008,

Mỹ đã gặp phải cuộc khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn, nó đã gây ra thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, hậu quả của nó cho đến nay vẫn chưa đánh giá được một cách đầy đủ Khủng hoảng cho vay thế chấp tại Mỹ xuất phát từ việc các ngân hàng giảm nhẹ các tiêu chuẩn cho vay, và đương nhiên các tổ chức tín dụng đã phải gánh chịu hậu quả đầu tiên bởi các khoản cho vay dễ dãi của họ không có khả năng thu hồi Các khoản vay này lại được chứng khoán hóa và bán cho giới đầu tư khiến cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi giới đầu tư bị thiệt hại nặng nề Đến lượt mình giới đầu tư lại bán tháo các khoản đầu tư đang nắm trong tay khiến chúng rớt giá thảm hại gây thiệt hại nặng cho các ngân hàng đầu tư Các ngân hàng đầu tư sụp đổ khiến các khoản ủy thác đầu tư của công chúng bốc hơi và đẩy hàng trăm ngàn người vào cảnh khánh kiệt Hậu quả là, Mỹ đã có 25 ngân hàng phải đóng của trong năm 2008 và đến cuối quí 1 năm 2009 đã có thêm 21 ngân hàng nữa đóng cửa (trong đó có ngân hàng lớn thứ 4 của Mỹ Lehman Brothers)

Để đối phó với RRTD hiện nay, FED đã giảm lãi suất và bơm tiền cho các ngân hàng Các ngân hàng lớn tại Mỹ đã đưa ra quyết định lập nguồn quỹ gần

80 tỷ USD để mua chứng khoán cầm cố và các tài sản khác, để ngăn chặn cuộc khủng hoảng tín dụng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là các biện phấp tạm thời, các ngân hàng cũng đã thấy được tầm quan trọng của việc đánh giá mức độ tín nhiệm của các khoản nợ,

Trang 31

đánh giá chẩn mực tín dụng trong thị trường thế chấp và vai trò của nhà quản trị trong việc đưa ra các chính sách tín dụng trong từng thời kì.

1.4.1.2 Kinh nghiệm quản lý RRTD ở Thái Lan

Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện gần giống

với Việt Nam Năm 1997-1998, Thái Lan là nước khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á Trước tình hình đó, các ngân hàng Thái Lan đã

đề ra một loạt các biện pháp quản trị rủi ro nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới khu vực tài chính – ngân hàng:

+ Quản trị RRTD bằng biện pháp trích lập dự phòng: Đây là cách thức hữu hiệu để quản trị RRTD Việc trích lập dự phòng phải căn cứ vào thực tế trả

nợ vay thay vì căn cứ vào khả năng trả nợ trong quá khứ của khách hàng Ở Thái Lan, việc phân loại khoản vay được đưa vào luật Các cơ quan giám sát ngân hàng có quyền yêu cầu trích lập dự phòng cho các khoản vay cần chú ý

+ Quản trị RRTD bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng Cụ thể, Thái Lan giới hạn đầu tư ở mức 10% vốn khách vay và 20% vốn của ngân hàng Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng ở mức 5% vốn ngân hàng, 50% giá trị ròng của doanh nghiệp và 25% giá trị nợ

+ Quản trị RRTD bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay: Phòng ngừa rủi

ro do tập trung tín dụng là hoạt động được xem là thường xuyên của ngân hàng các nước trong việc quản lý danh mục tín dụng của mình Biện pháp sử dụng là đặt ra các hạn mức cho vay dựa trên vốn tự có của ngân hàng đối với khách hàng vay riêng lẻ hay nhóm khách hàng vay: giới hạn cho vay khách hàng đơn

lẻ ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng

+ Quản trị RRTD bằng biện pháp kiểm tra, giám sát: Kiểm tra và giám sát

là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước, trong và sau khi cho vay; giám sát hệ số đủ vốn dự báo, có hệ thống báo cáo định kỳ

+ Quản trị RRTD bằng biện pháp quản trị hệ thống thông tin tín dụng: Tổ chức tốt hệ thống thông tin tín dụng sẽ hỗ trợ cho công tác thẩm định khách hàng, giúp phòng ngừa RRTD ngay từ khâu thẩm định hồ sơ vay Tất cả các

Trang 32

công ty tư nhân), sau đó Cục thông tin kết xuất báo cáo về khách hàng vay và lịch sử trả nợ vay hàng tháng, không cung cấp thông tin thẩm định tín dụng.

1.4.2 Bài học rút ra cho các NHTM Việt Nam

Từ kinh nghiệm quản trị RRTD tại Mỹ và Thái Lan, bài học rút ra cho Việt Nam là:

+ Hoàn thiện chính sánh tín dụng: Khi cấp tín dụng, các ngân hàng cần phải xây dựng các căn cứ ra quyết định dựa trên dòng tiền của khách hàng, từ đó tạo ra sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu, đặc điểm vốn của người vay và tạo khả năng trả nợ thuận tiện nhất cho khách hàng

+ Quán triệt hoạt động quản trị RRTD trong toàn hệ thống ngân hàng, từ cấp cao đến mỗi nhân viên

+ Nâng cao chất lượng công tác giám sát khoản vay, thường xuyên đánh giá và phân loại khách hàng Tiến hành cho điểm, xếp hạng rủi ro, xác định giới hạn tín dụng đối với mọi khách hàng Xây dựng hệ thống cho điểm chi tiết hơn, hạn chế sự tham gia của yếu tố chủ quan vào quá trình quyết định, đánh giá

+ Mỗi ngân hàng cần xây dựng cho mình một bộ phận quản trị RRTD có chất lượng cao Thành lập bộ phận chuyên trách về quản lí rủi ro, độc lập với kinh doanh, thực hiện quản lí theo ngành dọc

Kết luận chương I: Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì tín

dụng là một lĩnh vực gặp nhiều rủi ro RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biệp pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam Và để kiểm soát cũng như giảm thiểu tối đa những rủi ro đó thì chương 1 của đề tài cũng đã nêu lên những vấn đề lý luận về quản trị RRTD mà ngân hàng cần quan tâm Những nền tảng lý luận trên sẽ tạo cơ sở làm sáng tỏ việc phân tích đánh giá thực trạng về quản trị RRTD tại chi nhánh ngân hàng NHNo&PTNT Thanh Xuân Hà Nội ở chương sau

Trang 33

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NHNo & PTNT CHI NHÁNH KIẾN AN

2.1 Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT

chi nhánh Kiến An

2.1.1 Lịch sử phát triển và cơ cấu tổ chức của chi nhánh Kiến An và hệ thống NHNo&PTNT

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công sự ra đời của ngành Ngân hàng, ngày 23/07/1988 hệ thống NHNo&PTNT được tách riêng đã góp phần không nhỏ và có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của nền tiền tệ – Quốc gia Việt Nam

Sự ra đời của hệ thống NHNo&PTNT cũng xuất phát từ thực tế nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà là một đất nước có ngành sản xuất Nông nghiệp là ngành sản xuất chính trong nước ( Ngành Nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong toàn nghạch, lúc nào cũng chiếm từ 60 – 70% )

Thực tế và lịch sử cho thấy dân An Nam sống bằng trồng lúa nước từ bao đời nay do thực địa của nước ta là nhiều sông ngòi, đồng bằng, thuận tiện cho nghề trồng lúa nước phát triển…

Trước thực tế đó NHNo&PTNT ra đời nhằm đáp ứng giúp đỡ, đầu tư đẩy mạnh sự phát triển của ngành Nông nghiệp, giúp các hộ nông dân, các ngành liên quan nhằm thúc đẩy việc tăng sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng nhằm giảm tối đa thiệt hại và khắc phục, xoá đói giảm nghèo…

NHNo&PTNT Kiến An ra đời ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Việc NHNo&PTNT Kiến An được thành lập có ý nghĩa to lớn là đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển đẩy mạnh nền kinh tế của Quốc gian Việt Nam nói chung và của Quận Kiến An, thành phố Hải Phòng nói riêng được phát triển mạnh mẽ Đã là điểm nhấn trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước như : xoá đói giảm nghèo, cho hộ nông dân nghèo vay vốn vơi lãi suất

Trang 34

thấp, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ các quỹ từ thiện, khuyến học, chăm sóc trẻ em, khắc phục hậu quả thiên tai…

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh

Điều hành mọi hoạt động của chi nhánh là Ban giám đốc gồm 1 giám đốc

và 2 phó giám đốc Giám đốc trực tiếp điều hành mọi hoạt động của chi nhánh

và triển khai qua 2 phó giám đốc đến các phòng ban trong chi nhánh Hiện nay, chi nhánh có 4 phòng nghiệp vụ, gồm:

+ Phòng hành chính nhân sự+ Phòng kế toán ngân quỹ+ Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ+ Phòng kế hoạch kinh doanh

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Kiến An

2.1.2.1 Công tác huy động vốn

Công tác huy động vốn trong năm 2009 nhìn chung có tính cạnh tranh cao giữa các TCTD trên cùng địa bàn nên chi nhánh đã gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, chi nhánh đã cố gắng khắc phục và vượt qua mọi khó khăn đó để liên tục đảm bảo khả năng tự cân đối nguồn vốn để đầu tư tín dụng và đáp ứng tốt mọi nhu cầu thanh toán đối với các thành phần kinh tế Bên cạnh đó, chi nhánh còn thường xuyên có lượng nguồn vốn dư thừa để điều hòa chung trong toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam

Mặc dù có sự thay đổi mạnh mẽ về lãi suất huy động vốn và trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động không tốt nhưng nguồn vốn đến 31/12/2009

của chi nhánh đạt 278.194 triệu đồng, đạt 96,2% kế hoạch được giao, tăng

179.905 triệu đồng so với 30/11/2008 và tăng 541.654 triệu đồng so với 31/12/2007

Trang 35

Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT

chi nhánh Kiến An đến ngày 31/12/2009

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007,2008, 2009

Theo bảng trên ta thấy: Nguồn vốn huy động giảm theo các năm từ năm

2007 đến năm 2009 ở cả 2 loại hình huy động nội tệ và ngoại tệ Xét cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế ta thấy: Nguồn vốn của thành phần dân cư tăng đều, nhưng trong khi đó nguồn vốn của tổ chức kinh tế có sự giảm rõ rệt đặc biệt năm 2009 còn 17.358 triệu đồng so với năm 2008 giảm 46.022 triệu đồng, so với năm 2007 giảm 44.875 triệu đồng Có thể thấy, nguồn vốn huy động ở khối kinh tế giảm dần ở khối dân cư tăng trưởng mạnh mẽ do có sự cạnh tranh huy động của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn đối với tổ chức kinh tế

Về cơ cấu nguồn theo kì hạn: Tăng mạnh ở khoản tiền gửi có kì hạn dưới

12 tháng (tăng 27.038 triệu đồng so với năm 2008, tăng 135.578 triệu đồn so với năm 2007) đây là khoản nguồn vốn ngắn hạn lưu động tốt cần thiết cho NHNo

Trang 36

gửi không kỳ hạn (chủ yếu là tiền gửi các tổ chức kinh tế) giảm mạnh đặc biệt trong năm 2009 là một khó khăn lớn đối với NHNo Kiến An.

2.1.2.2 Công tác đầu tư tín dụng

Bảng 2.2 : Tình hình đầu tư tín dụng của NHNo&PTNT

chi nhánh Kiến An đến ngày 31/12/2009

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007,2008, 2009

Trong năm 2009, chi nhánh đã tích cực tìm kiếm và lựa chọn các cơ hội đầu tư thực sự có hiệu quả, không phân biệt thành phần kinh tế đảm bảo hiệu quả kinh doanh Mặt khác, chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc các văn bản quy định về đầu tư tín dụng của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam cũng như các quyết định 493, QĐ 18 của NHNN và quyết định 636 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam về việc phân loại chất lượng tín dụng, phân loại nợ và trích lập DPRR

2.1.2.3 Kết quả tài chính

Bảng 2.3 : Kết quả tài chính của NHNo&PTNT Kiến An năm 2009

Đơn vị tính: Triệu đồng

Trang 37

Chỉ tiêu Tổng số % so với kế hoạch

3 Chênh lệch thu chi 3.758 64.79%

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2009

+ Chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào năm 2009: 0,2%

+ Chênh lệch thu chi: 3.758 triệu đồng đảm bảo đủ chi lương cho cán bộ công nhân viên theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam Kết quả này còn thấp so với mục tiêu đặt ra do nguyên nhân khách quan là do tình hình khó khăn chung của nền kinh tế

Do vậy, trong năm 2009, chi nhánh cần tập trung triển khai toàn diện có hiệu quả, chất lượng công tác quảng cáo, quảng bá kịp thời các loại hình dịch

vụ, sản phẩm công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng phục vụ… nhằm nâng cao thương hiệu, uy tín của NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An nói riêng và NHNo&PTNT Việt Nam nói chung

2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An

2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An

2.2.1.1 Phân tích rủi ro tín dụng theo nhóm nợ xấu

Bảng 2.4 : Dự nợ tín dụng phân theo nhóm nợ giai đoạn 2007 – 2009

Đơn vị tính: Triệu đồng

+ Nhóm 1 – Nhóm 2 166.277 132.439 81.477

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh các năm 2007,2008,2009

Trong những năm vừa qua, chi nhánh cũng như toàn hệ thống gặp không

Trang 38

riêng Sức ép hội nhập và cạnh tranh buộc chi nhánh phải nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ hướng tới chuẩn quốc tế, do đó, chi nhánh đã đặt ra rất nhiều các biện pháp nhằm quản lí RRTD và nâng cao chất lượng tín dụng như: quản lí chặt chẽ dư nợ tín dụng, quản lí các khoản nợ ngoại bảng, nợ quá hạn, nợ xấu…

Vì vậy, mặc dù tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của chi nhánh qua các năm tăng trưởng mạnh mẽ nhưng tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh vẫn ở mức thấp

Như vậy, tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh qua 3 năm luôn ở mức thấp nằm trong kế hoạch dự kiến của chi nhánh Tỷ lệ nợ xấu năm 2008 là 0.92% giảm mạnh so với năm 2007 ( 2,2% ) là do chi nhánh đã xử lí dứt điểm nhiều món nợ vay xấu của một số khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân Đối với một số khoản vay phức tạp, chi nhánh đã đưa vào quản lí chặt chẽ hơn và thu dần khi có nguồn thu Đây là một kết quả rất đang khích lệ trong tình hình tỷ lệ

nợ xấu hiện nay của các TCTD đang tăng cao Nhưng đến năm 2009 tỷ lệ này lai gia tăng lên đến 3,86% do nguyên nhân chủ quan và yếu tố khách quan bên ngoài mang lại

đồng thời có các biện pháp hạn chế nợ nhóm 3 chuyển sang các nhóm nợ có mức rủi ro cao hơn

2.2.1.2 Phân tích rủi ro tín dụng theo thời hạn cho vay của nợ quá hạn

Trong những năm qua, tỷ lệ nợ quá hạn cũng giảm đáng kể và ngày càng gắn với chuẩn quốc tế, thực hiện đúng theo mục tiêu phấn đấu của chi nhánh

Bảng 2.5 : Tình hình nợ quá hạn giai đoạn 2007 – 2009

Đơn vị tính: Triệu đồng

+ Tỷ lệ NQH/Tổng dư nợ (%) 3,86% 0,92% 2,2%

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007,2008,2009

2.2.2 Thực trạng công tác quản trị RRTD tại Chi nhánh NHNo&PTNT Kiến An

2.2.2.1 Xây dựng chiến lược quản trị RRTD tại NHNo&PTNT Kiến An

Trang 39

Kể từ khi mới thành lập, nhận thức rõ được vai trò của công tác quản lí rủi

ro nói chung và quản lí RRTD nói riêng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, chi nhánh NHNo&PTNT Kiến An đã luôn chú ý và quan tâm tới việc xây dựng chiến lược quản lí RRTD Bám sát vào chính sách tín dụng được quy định trong Sổ tay tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam, tổ chức hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Kiến An được xây dựng theo mô hình quản trị phân quyền dựa trên cơ sở các chính sách và nguyên tắc được điều hành tập trung Mô hình quản lý tín dụng này hướng tới:

+ Xác định mức chấp nhận rủi ro tín dụng phù hợp

+ Xây dựng quy trình cấp tín dụng thống nhất và khoa học

+ Duy trì một quy trình giám sát và đo lường rủi ro hợp lý

+ Bảo đảm kiểm soát chặt chẽ đối với rủi ro tín dụng

+ Thu hút khách hàng và các dự án tín dụng tốt

Trong chiến lược của chi nhánh cũng đã xây dựng được thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu, xây dựng danh mục tín dụng cũng như thường xuyên xác định mức độ rủi ro chấp nhận được cho toàn bộ hoạt động tín dụng Chi nhánh cũng đã xây dựng được định hướng quản lí RRTD và có những hướng dẫn cho việc quản lí, xử lí, kiểm soát RRTD Từ đó, giúp cho công tác quản lí RRTD được dễ dàng và hiệu quả hơn Có thể khái quát công tác quản lí RRTD của chi nhánh Kiến An qua sơ đồ 2.1

Tuy nhiên, NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An vẫn chưa xây dựng được mục tiêu cụ thể của chiến lược quản trị RRTD cho từng giai đoạn hoạt động của chi nhánh Điều này, khiến cho việc đánh giá kết quả công tác quản trị RRTD là khó khăn và khó nhận biết được việc thực hiện có tốt hay không

Bên cạnh đó, chi nhánh vẫn chưa xây dựng được phòng, ban quản lí RRTD tách biệt với quá trình cấp tín dụng, giúp thực hiện chức năng giám sát và quản lí rủi ro cho ngân hàng

Trang 40

Sơ đồ 2.1 : Công tác quản lí RRTD tại chi nhánh Kiến An

Phát hiện rủi ro tín dụng

Thu thập thông tin Phân tích tình hình

Kế hoạch hành động

Phòng ngừaRRTD

Ngày đăng: 10/04/2017, 21:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Vai trò của từng vị trí trong quy trình quản lý rủi ro - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Sơ đồ 1.1 Vai trò của từng vị trí trong quy trình quản lý rủi ro (Trang 13)
Sơ đồ 1.2 : Lưu đồ quản lý rủi ro tín dụng - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Sơ đồ 1.2 Lưu đồ quản lý rủi ro tín dụng (Trang 17)
Bảng 1.2 : Các hạng mục cho điểm các khoản vay tiêu dùng STT               Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 1.2 Các hạng mục cho điểm các khoản vay tiêu dùng STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm (Trang 20)
Bảng 1.3 : Điểm đánh giá cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng Mỹ - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 1.3 Điểm đánh giá cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng Mỹ (Trang 21)
Sơ đồ 1.3 : Mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận (Trang 26)
Bảng 1.4 : Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 1.4 Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng (Trang 28)
Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT (Trang 35)
Bảng 2.2 : Tình hình đầu tư tín dụng của NHNo&PTNT - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 2.2 Tình hình đầu tư tín dụng của NHNo&PTNT (Trang 36)
Bảng 2.4 : Dự nợ tín dụng phân theo nhóm nợ giai đoạn 2007 – 2009 - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 2.4 Dự nợ tín dụng phân theo nhóm nợ giai đoạn 2007 – 2009 (Trang 37)
Sơ đồ 2.1 : Công tác quản lí RRTD tại chi nhánh Kiến An - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Sơ đồ 2.1 Công tác quản lí RRTD tại chi nhánh Kiến An (Trang 40)
Bảng 2.6 : Bảng xếp hạng khách hàng doanh nghiệp của Agribank - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 2.6 Bảng xếp hạng khách hàng doanh nghiệp của Agribank (Trang 44)
Bảng 2.7: Phân loại nợ theo chỉ tiêu định lượng - Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh Kiến An – Hải Phòng
Bảng 2.7 Phân loại nợ theo chỉ tiêu định lượng (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w