Họ đã tìm thấy sự điều chỉnh bất cân xứng của các chỉ số giá đối với những thay đổi trong tỷ giá hối đoái, và nguyên nhân là do các yếu tố vĩ mô, bao gồm tỷ lệ lạm phát, độ lớn thay đổi
Trang 1NGUYỄN TẤN THÀNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ
MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY CHUYỂN TIẾP TRƠN (STAR)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2NGUYỄN TẤN THÀNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ
MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY CHUYỂN TIẾP TRƠN (STAR)
Chuyên ngành : Tài Chính - Ngân Hàng
Mã ngành : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Tấn Thành
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 2
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 5
2.1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá: 5
2.1.1 Khái niệm truyền dẫn tỷ giá (ERPT) 5
2.1.2 Các kênh truyền dẫn tỷ giá 5
2.1.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến? 8
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá 11
2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ERPT và các mức giá cả .11
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng theo mô hình VECM 11
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền kinh tế vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR .14
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan đến quan hệ giữa ERPT và lạm phát 19
+ Nghiên cứu về sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát .19
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát ở những quốc gia trải qua các cơ chế lạm phát khác nhau .23
+ Nghiên cứu sự truyền dẫn thấp của tỷ giá vào lạm phát và mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và truyền dẫn tỷ giá .24
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về ERPT sử dụng mô hình ước lượng phi tuyến 26
Trang 5lạm phát .28
2.2.4 Bảng tóm tắt, so sánh một số nghiên cứu trước về truyền dẫn tỷ giá .30
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 32
3.1 Mô hình STAR 32
3.1.1 Mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR) 32
3.1.2 Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) 33
3.1.3 Chiến lược mô hình hóa của các mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) 36
3.1.3.1 Giai đoạn thiết lập mô hình: 36
3.1.3.2 Giai đoạn ước lượng các tham số hồi quy 38
3.1.3.3 Giai đoạn đánh giá sự phù hợp của mô hình 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu .40
3.3 Dữ liệu 43
3.3.1 Mô tả dữ liệu 43
3.3.2 Thống kê mô tả 46
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN 48
4.1 Kiểm định tính dừng .48
4.2 Kiểm định tuyến tính dựa theo chỉ định mô hình STAR .49
4.3 Kết quả ước lượng từ mô hình ESTAR 51
4.4 Kết quả ước lượng mô hình DLSTAR đối xứng .54
4.5 Kết quả ước lượng mô hình DLSTAR bất đối xứng .58
4.6 Kiểm định việc lựa chọn mô hình STAR .60
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DLSTAR (Double Logistic Smooth Transition Autoregressive Model): Mô hình tự
hồi quy chuyển tiếp trơn hai hàm Logistic
ESTAR (Exponential Smooth Transiton Autoregressive Model): Mô hình tự hồi
quy chuyển tiếp trơn lũy thừa
ERPT (Exchange Rate Pass – Through): Truyền dẫn tỷ giá hối đoái
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
HICP (Harmonized Index of Consumer Price): Chỉ số giá tiêu dùng đã hiệu chỉnh IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
IMP (Import Price Index): Chỉ số giá nhập khẩu
LCP (Local Currency Pricing): Chiến lược định giá tiền tệ địa phương - đồng nội
tệ
LSTAR (Logistic Smooth Transition Autoregressive Model): Mô hình tự hồi quy
chuyển tiếp trơn Logistic
LSTR (Logistic Smooth Transiton Model): Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn
Logistic
NLS (Non-linear least squares): Bình phương bé nhất phi tuyến
NEER (Nominal effective exchange rate): Tỷ giá có hiệu lực danh nghĩa
OLS (ordinary least squares): Bình phương bé nhất
PCP (Producer currency pricing): Chiến lược định giá tiền tệ của nhà sản xuất PTM: Pricing To Market
PPI (Producer Price Index): Chỉ số giá sản xuất
STAR (Smooth Transiton Autoregressive Model): Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp
trơn
STR (Smooth Trasition Models): Mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn
TAR (Threshold Autoregressive): Mô hình tự hồi quy ngưỡng
VAR (Vector Autoregression): Mô hình vectơ tự hồi quy
VECM (Vector Error Correction Model): Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số
Trang 7Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau 16
Bảng 3: Thống kê mô tả số liệu được sử dụng trong mô hình thực nghiệm .47
Bảng 4: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị .49
Bảng 5 : Kiểm định tính tuyến tính dựa theo chỉ định mô hình STAR .50
Bảng 6 : Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình STAR .62
Trang 8của các quốc giá G7 ngoại trừ US .17
Hình 3 :Tác động của một gia tăng vĩnh viễn trong cung tiền .21
Hình 4: Tác động của sự gia tăng tạm thời trong cung tiền .22
Hình 5 : Đồ thị của các hàm số chuyển tiếp 35
Hình 6 : Chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá nhập khẩu từ 01/1995 đến 05/2014 .44
Hình 7 : Tỷ giá hiệu lực danh nghĩa từ 01/1995 đến 05/2014 45
Hình 8 : Diễn biến của lạm phát từ 01/1995 đến 05/2014 .46
Hình 9 : ERPT so với biến chuyển tiếp: Mô hình ESTAR 52
Hình 10 : ERPT theo thời gian (kết quả từ mô hình ESTAR) 53
Hình 11 : ERPT theo thời gian tính theo trung bình trượt 12 tháng (kết quả từ mô hình ESTAR) 54
Hình 12 : ERPT so với biến chuyển tiếp: Mô hình DLSTAR 56
Hình 13 : ERPT liên thời gian: Mô hình DLSTAR đối xứng 57
Hình 14 : ERPT liên thời gian theo trung bình trượt 12 tháng: Mô hình DLSTAR 57 Hình 15 : ERPT so với biến chuyển tiếp: mô hình DLSTAR bất cân xứng .59
Hình 16 : ERPT liên thời gian: mô hình DLSTAR bất đối xứng .59
Trang 9TÓM TẮT
Luận văn này cung cấp bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) và lạm phát ở Việt Nam thông qua việc sử dụng các lớp của mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) Trong đó sử dụng 3 hàm số chuyển tiếp khác nhau và biến trễ của lạm phát được dùng làm biến chuyển tiếp để ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát là đồng biến nhưng theo cách phi tuyến, kết luận này cũng phù hợp với quan điểm của Taylor (2000), Devereux và Yetman (2010) Luận văn cũng phát hiện sự truyền dẫn
là bất cân xứng trong trường hợp lạm phát cao so với lạm phát thấp
Từ khóa: Sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá nhập khẩu, lạm phát, mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn
Trang 10CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Trong khuôn khổ một nền kinh tế mở, nhất là đối với một nền kinh tế có quy
mô nhỏ và đang phát triển như Việt Nam, mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá
cả trong nước là một trong những yếu tố then chốt đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ Trong vài thập kỷ gần đây, đã có nhiều công trình ở trong và ngoài nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào mối quan hệ tuyến tính, các nhà mô hình khi đối mặt với các trường hợp phi tuyến thường xử lý bằng cách lấy xấp xỉ tuyến tính Nhưng trên thực tế, từ cuối những năm 1990 đến nay việc áp dụng mô hình chuỗi thời gian tuyến tính trong phân tích thực nghiệm về tài chính và kinh tế vĩ mô không còn phù hợp đối với những quốc gia trải qua những thay đổi trong thể chế chính sách, sự phát triển của hệ thống tài chính, xu hướng hội nhập, khủng hoảng dầu mỏ, biến động chu kỳ kinh tế, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và thậm chí là sự can thiệp chính sách của chính phủ trong điều tiết kinh tế Những tác động như vậy ít nhiều đã gây
ra những thay đổi cấu trúc dữ liệu của các biến hệ thống tài chính cũng như các biến kinh tế vĩ mô, làm cho các chuỗi dữ liệu xuất hiện quan hệ phi tuyến Bởi thế, việc
áp dụng các mô hình tuyến tính để giải thích các mối quan hệ kinh tế vĩ mô hiện nay chỉ giải quyết được một số các trường hợp riêng lẻ Vì vậy luận văn này sử dụng mô hình chuỗi thời gian phi tuyến để nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam
Sự truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá là một vấn đề quan trọng trong các thảo luận về những chính sách tỷ giá và tiền tệ Những lý thuyết truyền thống cho rằng
sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là ngoại sinh đối với chính sách tiền tệ Một quan điểm thay thế đã được đưa ra bởi J Taylor (2000), ông cho rằng sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá vào các mức giá là do môi trường lạm phát thấp Taylor giải thích sự tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn trong điều kiện các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền và thiết lập giá thay đổi Một doanh nghiệp thiết lập các mức giá trước cho một vài kỳ, các mức giá này dễ dàng thay đổi hơn đối với sự gia tăng chi
Trang 11phí (do tỷ giá giảm hoặc nguồn gốc khác) nếu chi phí thay đổi được coi là dai dẳng hơn Môi trường lạm phát cao có khuynh hướng làm cho các chi phí dai dẳng hơn,
do đó môi trường lạm phát cao sẽ làm tăng sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái
Gần đây, vấn đề phi tuyến là một trong các chủ đề đang phát triển trong lý thuyết truyền dẫn tỷ giá Trong thực tế, có nhiều trường hợp khác nhau có thể tạo ra
sự điều chỉnh bất cân xứng của giá cả đối với những thay đổi tỷ giá mà chúng ta không thể mô hình hóa được trong khuôn khổ tuyến tính Những nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn phi tuyến còn khá ít ỏi Trong đó hai mô hình phi tuyến phổ biến có thể kể đến, thứ nhất là mô hình hồi quy ngưỡng mà sự chuyển tiếp thông qua cơ chế thay đổi đột ngột Thứ hai, mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) với sự chuyển tiếp giữa các cơ chế mượt mà hơn
Liên quan đến mô hình STR, có 2 nghiên cứu về ERPT bằng mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn Shintani và cộng sự (2013) đã ước lượng ERPT vào giá cả trong nước ở Mỹ Họ tìm thấy rằng thời kỳ ERPT thấp có liên quan đến môi trường lạm phát thấp Một nghiên cứu đầy đủ hơn, Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008)
đã kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa ERPT và lạm phát ở một loạt các quốc gia khác nhau Họ đã tìm thấy sự điều chỉnh bất cân xứng của các chỉ số giá đối với những thay đổi trong tỷ giá hối đoái, và nguyên nhân là do các yếu tố vĩ mô, bao gồm tỷ lệ lạm phát, độ lớn thay đổi tỷ giá, sự bất ổn kinh tế và tăng trưởng sản lượng
Mục tiêu của bài này là nghiên cứu giả thuyết của Taylor về mối quan hệ cùng chiều giữa ERPT và lạm phát bằng mô hình ước lượng phi tuyến với dữ liệu chuỗi thời gian Đặc biệt, luận văn này sử dụng các lớp của mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) để ước lượng mức độ ERPT vào chỉ số giá tiêu dùng với
số liệu trong thời kỳ từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 5 năm 2014 Luận văn chọn thời gian nghiên cứu từ 1995 – 2014 bởi vì, thứ nhất diễn biến của lạm phát trong thời kỳ này chia thành hai giai đoạn, từ 1995 đến 2007 lạm phát thấp và tương đối
Trang 12ổn định, từ sau 2007 đến 2014 lạm phát biến động hơn và theo xu hướng tăng cao hơn Thứ hai, để đảm bảo số liệu được thu thập đầy đủ từ các nguồn đáng tin cậy
Với mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời cho hai câu hỏi về truyền dẫn tỷ giá và lạm phát Thứ nhất là mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát
ở Việt Nam là như thế nào Thứ hai là có hay không sự bất cân xứng của truyền dẫn
tỷ giá hối đoái vào lạm phát trong trường hợp lạm phát thấp so với lạm phát cao
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát là đồng biến nhưng theo cách phi tuyến Trong môi trường lạm phát ổn định thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng là không đáng kể nhưng khi lạm phát tăng lên thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái cũng tăng lên và đạt mức hoàn toàn khi lạm phát tăng trên một giá trị ngưỡng nhất định
Phần còn lại của luận văn được trình bày như sau Chương kế tiếp sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn tỷ giá cùng với các nguyên nhân có thể dẫn đến sự phi tuyến trong ERPT Trong chương này cũng giới thiệu tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái, trong đó có các nghiên cứu gần đây về sự tương quan giữa ERPT và lạm phát bằng các mô hình hồi quy phi tuyến Chương III giới thiệu lý thuyết mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR), mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn này Những kết quả nghiên và thảo luận được trình bày trong chương IV Cuối cùng là phần kết luận được trình bày trong chương V
Trang 13CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU
2.1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá:
2.1.1 Khái niệm truyền dẫn tỷ giá (ERPT)
Theo Goldberg và Knetter (1997), truyền dẫn tỷ giá (ERPT) được xác định như
là “phần trăm thay đổi giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ khi tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu thay đổi 1%” Những thay đổi trong giá nhập khẩu ở một chừng mực nào đó cũng truyền dẫn đến giá sản xuất và giá tiêu dùng từ đó sẽ tác động đến chỉ số lạm phát trong nước nhập khẩu Do đó, trong luận văn này ERPT được nhìn nhận rộng hơn như là “sự thay đổi của tỷ lệ lạm phát dưới tác động của
sự thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa”
2.1.2 Các kênh truyền dẫn tỷ giá
Theo Goldberg và Knetter (1997) thì có hai kênh truyền dẫn tỷ giá quan trọng: truyền dẫn tỷ giá trực tiếp và gián tiếp
+ Kênh truyền dẫn trực tiếp phụ thuộc vào yếu tố của thị trường nước xuất
khẩu Gọi e là tỷ giá của đồng tiền nội tệ trên một đơn vị đồng ngoại tệ và p * là giá
hàng hóa nhập khẩu từ thị trường nước ngoài theo ngoại tệ, thì khi đó e.p * là giá
hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng nội tệ Nếu tỷ giá e tăng nhưng giá p *
không thay đổi (trong trường hợp này có nghĩa là đồng nội tệ mất giá) thì giá hàng hóa nhập khẩu theo nội tệ sẽ tăng tương ứng Kết quả này gọi là truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu Đến lượt mình, sự tăng lên trong giá nhập khẩu sẽ truyền dẫn vào giá sản xuất, giá tiêu dùng nếu các doanh nghiệp nhập khẩu tăng giá bán đối với nhà sản xuất hàng hóa cuối cùng, và do đó sẽ làm gia tăng lạm phát
+ Kênh truyền dẫn gián tiếp của tỷ giá đề cập đến tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế Một sự giảm sút trong tỷ giá làm cho sản phẩm nội địa trở nên rẻ hơn đối với người tiêu dùng nước ngoài và hệ quả là xuất khẩu và tổng cầu
Trang 14sẽ tăng dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa Bởi vì những hợp đồng lương danh nghĩa được cố định trong ngắn hạn, tiền lương thực tế giảm và sản lượng sẽ tăng Tuy nhiên khi tiền lương thực tế được đẩy lên theo thời gian, chi phí sản xuất
sẽ tăng, mức giá tổng thể sẽ tăng và sản lượng giảm Do đó, cuối cùng sự giảm sút trong tỷ giá về lâu dài sẽ tác động đến chỉ sổ giá trong nước
Trang 15Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng
Chi phí sản
xuất gia tăng
Giá tiêu dùng gia tăng
Nhu cầu trong nước đối với hàng thay thế
Cầu xuất khẩu tăng lên
Hàng hóa thay thế và xuất khẩu trở nên đắt hơn
Cầu lao động tăng lên
Tiền lương tăng
Trang 16Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ERPT, tuy nhiên hầu hết đều tập trung giải thích sự tác động của ERPT đến chỉ số giá, mức độ ảnh hưởng của ERPT đến lạm phát với giả định được ngầm hiểu sự tương tác của ERPT là tuyến tính Nhưng thực tế, có nhiều lý do làm cho hành vi của ERPT là phi tuyến và bất cân xứng Chúng ta sẽ nhận diện những nguyên nhân này từ các công trình nghiên cứu trước ngay sau đây
2.1.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến?
Các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái Số lượng nghiên cứu sự phi tuyến trong bối cảnh hiện nay tương đối ít ỏi, hầu hết các nghiên cứu trước đó giả định sự truyền dẫn tỷ giá là tuyến tính hơn là kiểm định nó Thực tế, có nhiều trường hợp khác nhau có thể tạo ra sự bất đối xứng trong cơ chế truyền dẫn Những bằng chứng hiếm hoi trong phạm vi nghiên cứu này đã đưa ra một vài vai trò của tỷ giá trong việc tạo ra sự phi tuyến Theo các lý thuyết này, khả năng truyền dẫn bất cân xứng
có thể tăng lên đối với chiều hướng thay đổi tỷ giá, nghĩa là, phản ứng lại với sự tăng giá và mất giá của tiền tệ (Gil-Pareja (2000) và Olivei (2002)) Mặt khác, mức
độ truyền dẫn cũng phản ứng bất đối xứng với quy mô thay đổi của tỷ giá, bởi vì có
sự tác động khác nhau của những thay đổi tỷ giá lớn so với những thay đổi tỷ giá nhỏ (Coughlin và Pollard (2004) và Bussière (2007)) Có một số lý thuyết (kinh tế
vĩ mô) cho rằng khả năng tiềm ẩn mối quan hệ bất đối xứng giữa tỷ giá và mức giá
cả, chủ yếu, chúng ta đề cập đến ba lý do cho khả năng ERPT là bất đối xứng: + Mục tiêu thị phần: đối với sự mất giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu, các doanh nghiệp nước ngoài có thể tuân theo chiến lược định giá theo thị trường (PTM) bằng việc điều chỉnh lại mức giá để duy trì thị phần Tuy nhiên, với trường hợp tăng giá, họ duy trì mức tăng giá của chúng và chấp nhận giá nhập khẩu giảm trong đồng tiền của thị trường đến Đo đó, mức độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác nhau đối với chiều hướng thay đổi của tỷ giá Nếu các doanh nghiệp cố gắng duy trì sự
Trang 17cạnh tranh và duy trì thị phần, thì sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có thể gây ra tuyền dẫn cao hơn sự mất giá
+ Những ràng buộc: cũng như đã được đề cập trong các lý thuyết kinh tế vi mô,
đa số doanh nghiệp có thể bị những hạn chế trong ngắn hạn Thực tế là, đối mặt với
sự tăng giá của đồng tiền quốc gia nhập khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ gia tăng năng lực cạnh tranh về giá bằng việc chuyển những thay đổi trong tỷ giá vào trong mức giá của họ Nhưng nếu các doanh nghiệp thực sự có đủ năng lực mà khả năng gia tăng doanh số trong thị trường đến bị giới hạn, họ có thể bị cám dỗ để gia tăng mức tăng giá thay vì hạ thấp mức giá theo đồng tiền của nhà nhập khẩu Cũng như lập luận của Knetter (1994), nếu các doanh nghiệp xuất khẩu chịu sự ràng buộc về hạn chế số lượng, thì một sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có thể gây ra truyền dẫn thấp hơn sự mất giá
Điều quan trọng cần lưu ý là hai lập luận trên đã có một ý nghĩa rõ ràng khả năng phi tuyến trong ERPT, nhưng đồng thời chúng cũng làm phát sinh cách giải thích trái ngược nhau của sự bất cân xứng Theo sự giải thích “mục tiêu thị phần”, truyền dẫn sẽ lớn hơn khi đồng tiền của nhà nhập khẩu tăng giá so với mất giá Trong khi giả thuyết “điều kiện ràng buộc” cho rằng ngược lại, và truyền dẫn tỷ giá
sẽ lớn nhất khi tỷ giá hối đoái giảm Về thực nghiệm, các nghiên cứu trước đây cũng đã cung cấp những bằng chứng không rõ ràng về sự bất cân xứng của ERPT Trong một vài trường hợp truyền dẫn có liên quan đến sự mất giá đồng tiền hơn là
sự tăng giá; tuy nhiên trong một số trường hợp khác, kết quả hoàn toàn ngược lại Gil-Pareja (2000) đã phân tích sự khác nhau của truyền dẫn trong một số ngành công nghiệp thông qua một mẫu gồm các nước ở khu vực Châu Âu Theo Coughlin
và Pollard (2004), hướng trái chiều nhau của những kết quả nhấn mạnh một điều quan trọng của sự phân tích truyền dẫn ở mức độ công nghiệp Nếu sự bất cân xứng khác nhau giữa những ngành công nghiệp thì có thể làm mơ hồ sự bất cân xứng hiện hữu ở mức độ tổng thể
Trang 18+ Chi phí thực đơn: vì các chi phí liên quan đến thay đổi trong mức giá, các nhà xuất khẩu có thể từ bỏ việc thay đổi mức giá của họ khi đồng tiền của nhà nhập khẩu thay đổi nhỏ Tuy nhiên, khi tỷ giá thay đổi vượt qua một vài ngưỡng nào đó thì các doanh nghiệp sẽ thay đổi mức giá của họ Do đó, theo giả thuyết chi phí thực đơn, ERPT có thể là bất cân xứng đối với độ lớn của các cú sốc tỷ giá, vì mức giá sẽ được điều chỉnh thường xuyên đối với những thay đổi tỷ giá lớn hơn là so với một thay đổi tỷ giá nhỏ Trong nghiên cứu của Coughlin và Pollard (2004) đối với giá nhập khẩu của 30 ngành công nghiệp tại Mỹ, họ tìm thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp phản ứng bất cân xứng đối với những thay đổi lớn và nhỏ của tỷ giá hối đoái, và ERPT có tương quan dương với độ lớn của thay đổi
Chúng ta đã nhận thấy rằng các lý thuyết hiện tại đặc biệt quan tâm đến tính phi tuyến trong truyền dẫn tỷ giá liên quan đến độ lớn và chiều hướng của những thay đổi tỷ giá Bên cạnh đó, có một vài yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ làm thay đổi hành vi các doanh nghiệp nước ngoài, và do đó có thể là nguồn gốc của sự phi tuyến trong truyền dẫn Một trong những yếu tố kinh tế vĩ mô đó là môi trường lạm phát Như
đã được lập luận bởi Taylor (2000), với cơ chế lạm phát thấp và ổn định sẽ kéo theo
sự suy giảm trong mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở nhiều nước công nghiệp phát triển Theo đó, ERPT sẽ thấp hơn trong môi trường lạm phát ổn định Do đó, có thể nghĩ rằng thay đổi năng động của sự truyền dẫn phụ thuộc vào cơ chế lạm phát, mà
nó có thể được mô hình hóa theo cách phi tuyến Đã có một số công trình nghiên cứu ERPT liên quan đến mức độ lạm phát trong khuôn khổ phi tuyến Sử dụng mô hình ngưỡng dựa theo đường cong Phillips, Przystupa và Wróbel (2011) bác bỏ giả thuyết truyền dẫn bất đối xứng do môi trường lạm phát ở Ba Lan Theo hướng ngược lại, Shintani et al (2013) và Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008) đã tìm thấy sự tương quan dương và có ý nghĩ thống kê giữa ERPT và lạm phát trong khuôn khổ mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR)
Một nguồn gốc quan trọng khác của sự truyền dẫn phi truyến là chu kỳ kinh tế Người ta cho rằng khi nền kinh tế bùng nổ, ERPT sẽ cao hơn trong thời kỳ suy
Trang 19thoái Một cách trự giác, các doanh nghiệp thấy rằng sẽ dễ dàng hơn để truyền dẫn những thay đổi tỷ giá hối đoái khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, so với khi đang trong thời kỳ suy thoái và doanh số đang sụt giảm Trong thực nghiệm, trực giác này được xác nhân bởi Goldfajn và Werlang (2000) Phân tích dữ liệu bảng của 71 quốc gia, họ tìm thấy rằng đồng tiền mất giá có mức truyền dẫn lớn hơn vào trong các mức giá cả khi nền kinh tế tăng trưởng Correa và Minella (2006) và Przystupa
và Wróbel (2011) đã cũng cố hành vi bất cân xứng của ERPT với sự tăng trưởng trong khuôn khổ ngưỡng đường cong Phillips Với mô hình STR, Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008) tìm thấy ba trong số sáu quốc gia có sự truyền dẫn phản ứng phi tuyến với tăng trưởng sản lượng
Do đó, mục tiêu luân văn này là đóng góp thêm một bằng chứng thực nghiệm
về mối quan hệ phi tuyến giữa ERPT và làm phát với số liệu thụ thập tại Việt Nam Với mục tiêu này, luận văn sẽ phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo giả thuyết của Taylor (2000) về sự tương quan thuận giữa ERPT và lạm phát bằng các mô hình tự hồi quay chuyển tiếp trơn (STAR) Phương pháp nghiên cứu của luận văn này có liên quan chặt chẽ với bài nghiên cứu của Shintani và cộng sự (2013)
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá
2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ERPT và các mức giá cả
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng theo mô hình VECM
Theo Menon (1995) có một số thiếu sót của những nghiên cứu thực nghiệm về tuyền dẫn tỷ giá hối đoái trước thời điểm này Đầu tiên, phạm vi nghiên cứu phần lớn tập trung ở Mỹ (khoảng 35% những nghiên cứu truyền dẫn đến năm 1995 tập trung ở Mỹ và 7% ở Đức) Thứ hai, nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phân tích OLS truyền thống và ít quan tâm đến thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu Thứ ba, những nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào dữ liệu các ngành công nghiệp hay các sản phẩm cụ thể chứ không tập trung vào số liệu tổng thể Trong số những hạn chế này, Menon đặc biệt chỉ trích rằng hầu hết những nghiên cứu thực nghiệm
Trang 20sử dụng một kỹ thuật ước lượng OLS mà nó không tính đến thuộc tính của chuỗi thời gian, ví dụ như thuộc tính không dừng của dữ liệu
Trong những năm qua (nghĩa là sau Menon, 1995) có một số nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện thiếu sót của những nghiên cứu trước đó Một nghiên cứu toàn diện là McCarthy (2000), ông nghiên cứu truyền dẫn
tỷ giá trên mức độ tổng thể đối với những nền kinh tế công nghiệp Ông sử dụng mô hình VAR để ước lượng giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong thời kỳ
1976 – 1998 và tìm thấy rằng sự truyền dẫn của những thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng là khiêm tốn ở hầu hết các quốc gia được phân tích Tiếp theo là nghiên cứu của Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002), đã làm theo tinh thần của McCarthy (2000) và sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM để nắm bắt thuộc tính không dừng của một vài biến Nghiên cứu này tập trung vào số liệu tổng thể chứ không phải một ngành công nghiệp hay một số sản phẩm nhất định, chủ yếu quan tâm đến tác động tổng thể của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng, một vấn đề có liên quan nhất đến chính sách tiền tệ
Đây là một nghiên cứu ở thị trường Châu Âu, “tác động của sự truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng ở thị trường Châu Âu (Exchange Rate Pass-Through to Consumer Prices: A European Perspective)” Hai ông phân tích ERPT ở sự thay đổi trong giá đồng nội tệ từ sự biến động tỷ giá, điển hình là giá tiêu dùng ở khu vực Châu Âu Những ước lượng đầu tiên của nhóm tác giả về hệ số truyền dẫn ở một số quốc gia cụ thể là 5 quốc gia lớn ở khu vực Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha và Hà Lan) sử dụng dữ liệu trong thời kỳ 20 năm Theo đó các tác giả xây dựng bình quân gia quyền của những hệ số này sử dụng tầm quan trọng của mỗi nước trong chỉ số HICP (Harmonized Index of Consumer Prices) Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình VECM (Vector Error Correction Models) để nắm bắt thuộc tính không dừng của hầu hết các biến sử dụng và mối tương quan đồng liên kết giữa chúng Ngoài ra, khi phần lớn học thuyết trước thời điểm này tập trung vào câu hỏi
Trang 21tại sao có truyền dẫn không hoàn toàn đến giá nhập khẩu thì các tác giả lại tiến hành
đo lường những ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 1981 đến 2001 và bao gồm các biến chỉ số tỷ giá hiệu lực quốc gia, lãi suất ngắn hạn, chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng (output gap), giá dầu và ba mức giá của chuỗi phân phối: giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng Sau khi làm một số kiểm nghiệm cơ bản, các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến cho mỗi quốc gia trong mẫu Do đó, tác giả ước lượng VECM cho 5 quốc gia với hàm phản ứng xung nhằm lượng hóa tác động cú sốc tỷ giá đến giá tiêu dùng
Đối với kết quả cụ thể của các quốc gia các tác giả nhận thấy rằng Hàn Lan có
sự truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng nhanh nhất (đạt mức 0.12 chỉ sau 6 tháng), nhưng tác động lâu dài nhất là Ý, Pháp Hệ số truyền dẫn là tỷ trọng mà sự thay đổi
tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá tiêu dùng, dao động từ 7% (pháp) đến 12% (Ý) sau một năm Sau 2 năm, hệ số từ 8% (Tây Ban Nha) đến 18% (Ý) Như kỳ vọng, quy mô truyền dẫn suy giảm theo chuỗi phân phối với ảnh hưởng lớn nhất xảy ra ở giá nhập khẩu
Bảng 1 :Phản ứng của giá tiêu dùng CPI với 1% cú sốc tỷ giá
Bằng cách tính toán và phân tích sự khác nhau giữa mỗi quốc gia, tác giả thu dược dãy liên quan về độ lớn tác động của tỷ giá theo các nước để giải thích cho sự thay đổi giá Phần lớn nhất của thay đổi giá nhập khẩu giải thích bởi thay đổi tỷ giá
Trang 22được tìm thấy ở Đức, Hà Lan và Pháp Tác động đến giá sản xuất liên quan phần lớn ở Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức còn Hà Lan và Pháp biểu thị tác động mạnh nhất đến giá tiêu dùng Cuối cùng các tác giả giải thích sự tác động mạnh hơn ở Hà Lan là bởi phần nhập khẩu của quốc gia này là lớn nhất trong 5 nước nghiên cứu Kết quả chỉ ra rằng tỷ giá khu vực Châu Âu có tác động đến giá tiêu dùng ở khu vực này và do đó những người điều hành chính sách cần lưu tâm tới vấn đề này
Đối với Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Trang (2012) đã nghiên cứu sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi quy để nghiên cứu về sự chuyển dịch tỷ giá hối đối vào các mức giá ở VN trong dài hạn Cụ thể là tác giả đã khảo sát tác động chuyển dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa
có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam Ngoài ra tác giả cũng xem xét tác động bất cân xứng của tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu Kết quả kiểm định cho thấy (1) Sự chuyển dịch từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá sản xuất là hoàn toàn trong dài hạn (2) Kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động của chi phí sản xuất của nhà xuất khẩu nước ngoài cũng được chuyển dịch hoàn toàn vào chỉ số giá nhập khẩu trong dài hạn (3) Bài viết cũng phát hiện rằng không có sự chuyển dịch bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi
có sự biến động lớn và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái (4) Sự chuyển dịch từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng (5) Phân tách phương sai cho thấy chỉ số giá sản xuất tác động đến chỉ số giá tiêu dùng lớn nhất (36% – 38%)
+ Nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá trong các mô hình nền kinh tế vĩ mô mở mới nỗi khác nhau dựa vào mô hình VAR
Cho đến năm 2005 đã có sự quan tâm trở lại của những hiểu biết về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái như thế nào đến các mức giá, một vấn đề được rất nhiều sự quan
Trang 23tâm là thay đổi tỷ giá có tác động rất thấp đến giá tiêu dùng Đã có một vài lý thuyết xuất hiện để giải thích vấn đề này, trong đó một nhánh lý thuyết giả định rằng giá nhập khẩu trong mỗi thị trường là cứng nhắc tạm thời theo đồng tiền trong nước, sự cứng nhắc này có thể do chi phí giao dịch của thay đổi tỷ giá đến giá tiêu dùng trong ngắn hạn Trong khi một nhánh lý thuyết khác cho rằng các mức giá cứng nhắc theo đồng tiền của nhà sản xuất, mà nhà nhập khẩu xem xét những hàng hóa trung gian trong quy trình sản xuất và phân phối trước khi chúng được tiêu thụ bởi
hộ gia đình Việc sản xuất hay phân phối hàng hóa có thể làm giảm tác động của thay đổi tỷ giá lên giá tiêu dùng thông qua quy trình sản xuất và phân phối trước khi chúng được tiêu thụ bởi hộ gia đình
Lúc bấy giờ, một câu hỏi đặt ra liệu rằng có hay không các mức giá được thiết lập theo đồng tiền trong nước và nhà sản xuất hàm ý một chính sách quan trọng Mô hình dựa vào định giá đồng tiền nhà sản xuất (PCP) ủng hộ quan điểm tỷ giá linh hoạt trong khi mô hình định giá đồng tiền địa phương (LCP) ủng hộ quan điểm tỷ giá cố định Khả năng các mô hình kinh tế có lồng ghép LCP và PCP tương thích với bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá đến các giá khác nhau không được nghiên cứu đầy đủ Năm 2005, Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005 đã
có một nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về hiệu quả của các mô hình kinh tế vĩ mô
mở mới nổi trong việc giải thích truyền dẫn tỷ giá đến một loạt các mức giá Các phiên bản định lượng của những mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau được sử dụng để thu được phản ứng năng động của một loạt các mức giá khác nhau đối với cú sốc tỷ giá Các phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau này được so sánh với bằng chứng thực nghiệm dựa vào mô hình VAR để kiểm tra xem các mô hình kinh
tế vĩ mô khác nhau phù hợp tốt như thế nào với dữ liệu Với mục đích này, Choudhri và cộng sự đã phát triển mô hình kinh tế nhỏ lồng ghép LCP và PCP, và kết hợp một vài đặc tính khác của đơn giá tiền lương và chi phí phân phối Mô hình giả định hai hàng hóa khác nhau, một là hàng hóa tiêu dùng cuối cùng được giao dịch quốc tế và một là phi giao dịch, và một yếu tố quan trọng khác đó là lao động Cấu trúc đơn giản này làm tăng đến 5 chỉ số giá cho một nền kinh tế: chỉ số giá tiêu
Trang 24dùng, chỉ số giá xuất khẩu và sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu và giá tiền lương Các phiên bản mô hình định lượng được sử dụng để rút ra phản ứng của 5 mức giá từ một cú sốc tỷ giá, các mô hình được cho như bảng sau
Bảng 2: So sánh các mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau
Mô hình Hành vi định giá Giá cả hàng hóa Tiền lương Chi phí phân phối
Mô hình 7 Kết hợp Cứng nhắc Linh hoạt Có
Mô hình 8 Kết hợp Cứng nhắc Cứng nhắc Có
Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Phản ứng dự báo từ các mô hình vĩ mô khác nhau được so sánh với bằng chứng
về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá để kiểm tra xem các biến khác nhau phù hợp tốt với dữ liệu như thế nào Bằng chứng về những cú sốc truyền dẫn tỷ giá tác động đến những mức giá khác nhau dựa vào hàm phản ứng xung xuất phát từ mô hình VAR Nhóm tác giả đã cung cấp những bằng chứng về ERPT đến các mức giá ở nhóm quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ, dựa vào hàm phản ứng đẩy từ mô hình VAR Sử dụng
dữ liệu của 7 biến nội sinh và hai biến ngoại sinh Các biến nội sinh bao gồm: lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng, và tỷ lệ tiền lương Các biến ngoại sinh là lãi xuất nước ngoài và chỉ số tiêu dùng nước ngoài Chuỗi dữ liệu theo quý được điều chỉnh tính mùa vụ, thời gian mẫu từ 1979:1 đến 2001:3 Mục tiêu của họ là tìm kiếm bằng chứng sự tác động của các cú sốc tỷ giá đối với các mức giá theo thời gian là như thế nào, do đó
họ xác định tất cả cấu trúc khác nhau của mô hình VAR, nhưng họ cũng dựa vào những giả định phù hợp với khuôn khổ lý thuyết để áp đặt các ràng buộc tối thiểu
đủ để xác định phản ứng năng động của mỗi biến đối với cú sốc tỷ giá
Trang 25Mô hình VAR với bốn độ trễ cho cả biến nội sinh và ngoại sinh được sử dụng
để ước lượng cho mỗi quốc gia trong mẫu Kết quả cho thấy phản ứng của giá nhập khẩu đối với cú sốc tỷ giá là khác biệt so với các biến còn lại, tác động của cú sốc tỷ giá đến giá nhập khẩu gắn chặt từ giữ quý đầu tiên, sự tác động gia tăng đến quý 4 nhưng sau đó sụt giảm nhanh chóng Các cú sốc tỷ giá có tác động rất ít trong giá tiêu dùng và sản xuất cũng như tiền lương Sự phản ứng của các biến, đặc biệt là giá tiêu dùng và sản xuất, gia tăng theo thời gian nhưng ở mức vừa phải Tác động của một đơn vị cú sốc tỷ giá lên giá tiêu dùng sau 10 quý là 0,2
Hình 2 : Phản ứng của các mức giá khác nhau từ một cú sốc tỷ giá: Tính Bình quân của các quốc gia G7 ngoại trừ Mỹ
Nguồn: Choudhri, E.U., Faruqee, H., Hakura, D.S., 2005
Để đánh giá hiệu quả của mỗi mô hình kinh tế vĩ mô khác nhau, Choudhri cùng cộng sự thiết lập một hàm số để đo lường sự phù hợp của mỗi mô hình với dữ liệu VAR Kết quả cho thấy những mô hình dựa vào LCP có thể dự báo phản ứng của các mức giá trong nước (tiêu dùng và sản xuất) và tiền lương cũng với điều kiện những mô hình này được mở rộng để bao gồm các chi phí phân phối đối với hàng
Trang 26nhập khẩu Thực tế, một mô hình kinh tế lồng ghép LCP và chi phí phân phối là phù hợp hơn với số liệu mô hình VAR so với mô hình PCP Tuy nhiên, cả LCP và PCP đều thể hiện sự phù hợp của phản ứng giá nhập khẩu và xuất khẩu với bằng chứng
từ mô hình VAR Mô hình tiền lương cứng nhắc tốt nhỉnh hơn so với mô hình tiền lương linh hoạt Do đó mô hình kinh tế vĩ mô phù hợp nhất không chỉ giả định giá
cả hàng hóa cứng nhắc với một sự kết hợp của LCP và PCP, mà còn kết hợp tiền lương cứng nhắc và các chi phí phân phối đối với hàng nhập khẩu
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ERPT bằng phương pháp VAR và VAR cấu trúc Trong đó, Tác giả Võ Văn Minh (2009) đã sử dụng mô hình VAR để tính toán mức độ tác động của tỷ giá hối đoái lên IMP và tỷ lệ lạm phát trong nước với dữ liệu nghiên cứu từ tháng 01 năm 2001 đến tháng 02 năm 2007 Kết quả định lượng cho thấy mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối vào chỉ số IMP sau 6 tháng là 1.04 và sau 1 năm là 0.21 Tuy nhiên mức độ truyền dẫn đến CPI trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy trong 1 năm sau chỉ là 0.13 – thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Do những tác động thấp này mà tác giả khuyến nghị Chính phủ nên áp dụng một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn với biên độ biến động lớn hơn Tuy nhiên nghiên cứu này có hai điểm hạn chế: thứ nhất
là chưa sử dụng chỉ số giá sản xuất PPI trong quá trình ước lượng, thứ hai là tác giả chưa có được nguồn số liệu về IMP chính thức mà tiến hành tự tính toán lại thông qua chỉ số giá xuất khẩu của các quốc gia có tỷ lệ giao thương lớn với Việt Nam Một nghiên cứu toàn diện hơn, Bạch Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu
“Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2011” Tác giả sử dụng mô hình VAR đệ qui với 2 ứng dụng là hàm phản ứng đẩy để xem xét tác động của cú sốc tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước và phân rã phương sai
để đo lường vai trò của từng cú sốc đến sự biến động của các chỉ số giá
Bài viết đã khái quát được những kiến thức nền tảng nhất về vấn đề truyền dẫn
tỷ giá hối đoái, ngoài ra tác giả còn cung cấp cho người đọc những biến động tỷ giá hối đoái, các chỉ số giá IMP, PPI, CPI và lạm phát của Việt Nam trong thời kì từ
Trang 272001 đến 2011 Tác giả đã nêu ra một vài nguyên nhân có khả năng gây ảnh hưởng đến mức độ lạm phát cao ở Việt Nam và rút ra một số kết luận: (1) Quyền số cao của lương thực thực phẩm trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam không phải là nguyên nhân cơ bản gây nên lạm phát bởi một số quốc gia khác trong khu vực cũng
có quyền số lương thực thực phẩm cao như Thái Lan (36.06%), Philippin (45,58%),
Ấn Độ (48.47%) nhưng mức độ lạm phát ở các quốc gia này vẫn thấp hơn nhiều so với Việt Nam (2) Ý kiến cho rằng lạm phát cao là do biến động giá hàng hóa của thế giới cũng không được chấp nhận vì nhiều quốc gia khác cũng ở tình trạng nhập siêu như Việt Nam nhưng không phải chịu một mức lạm phát cao (3) Cung tiền tăng nhanh trong những năm qua chính là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên mức độ lạm phát cao (4) Đầu tư không hiệu quả cũng được xem là một nguyên nhân của lạm phát (5) Kỳ vọng lạm phát quá cao của người dân Việt Nam cùng với tình trạng tham nhũng cao cũng được tác giả xem xét như những yếu tố đóng góp vào tình trạng lạm phát cao của Việt Nam
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan đến quan hệ giữa ERPT và lạm phát + Nghiên cứu về sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát
Phần lớn những nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá trong thập niên 2000 đều kết luận rằng quan hệ truyền dẫn và lạm phát là ổn định theo thời gian Tuy nhiên, quan điểm này ngày càng bị thách thức, đặc biệt đối với những quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu dường như đã làm giảm lạm phát Cùng thời điểm này, một vài nghiên cứu cũng tìm thấy rằng truyền dẫn có mức độ khác nhau khi xem xét sự tăng giá và giảm giá, nghĩa là truyền dẫn là bất cân xứng Taylor (2000) đã cho rằng sự sụt giảm của truyền dẫn tỷ giá có liên quan đến môi trường lạm phát thấp
Bài báo của Taylor (2000) kiểm tra khả năng lạm phát thấp và ổn định là nguyên nhân của sự sụt giảm trong mức độ mà các doanh nghiệp truyền dẫn sự gia tăng của chi phí do những biến động tỷ giá vào trong mức giá Sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá này có thể được giải thích như sự suy giảm trong quyền định giá của các doanh nghiệp đã được dẫn chứng bởi nhiều quan sát trong những năm gần
Trang 28đây, đặc biệt ở Mỹ Đây có thể là lý do đã giúp cho lạm phát được giữ ở mức thấp khi phải đối mặt với áp lực lớn của phía cầu ở Mỹ vào cuối những năm 1990 Có hay không truyền dẫn thấp hay quyền định giá giảm đã ảnh hưởng đến lạm phát, những điểm chính của bài báo này đó là truyền dẫn thấp không nên xem là yếu tố ngoại sinh cho môi trường lạm phát thấp
Để kiểm tra khả năng lạm phát thấp đã dẫn đến quyền định giá thấp, tác giả đã đưa ra một mô hình kinh tế vĩ mô rất đơn giản Mô hình này chỉ ra rằng những thay đổi trong quyền định giá được quan sát một phần là do thay đổi trong sự kỳ vọng của những biến động giá cả và chi phí Nói cách khác, mức độ mà một doanh nghiệp thích ứng với sự gia tăng trong chi phí hay giá cả tại những doanh nghiệp khác bằng sự gia tăng mức giá riêng của nó phụ thuộc vào sự gia tăng được kỳ vọng
là dai dẳng như thế nào Mô hình định giá gồm có 3 phương trình như sau:
nghiệp trong kỳ t, là giá bình quân trong kỳ t, là cung tiền và sản lượng
trong kỳ t Có nhiều cách để giải quyết hệ phương trình này, Taylor sử dụng thuật
toán khai triển của Fair và Taylor (1983)
Bằng cách mô phỏng và giải quyết hệ phương trình này cho các hướng đi khác nhau của cung tiền, tác giả đã chỉ ra rằng sự tương quan giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát là như thế nào, những kết quả này có thể được tóm tắt như sau:
- Khi cung tiền tăng dần và được giữ ổn định sau đó, các doanh nghiệp sẽ tăng giá và duy trì mức gia tăng này lâu dài, khi này sự truyền dẫn là lớn hơn và sẽ có một sự gia tăng lớn trong lạm phát
Trang 29Hình 3 : Tác động của một gia tăng vĩnh viễn trong cung tiền.
Nguồn: Taylor (2000)
- Khi cung tiền tăng lên tạm thời và sau đó quay về mức ban đầu, các doanh nghiệp sẽ tăng giá nhưng ở mức thấp và giá cả sẽ quay về mức ban đầu, do đó sự truyền dẫn sẽ thấp hơn
Trang 30Hình 4: Tác động của sự gia tăng tạm thời trong cung tiền
Nguồn: Taylor (2000)
Từ những kết quả mô phỏng, Taylor cho rằng lạm phát thấp có thể chính nó đã làm giảm mức truyền dẫn hay làm giảm quyền định giá của các doanh nghiệp Đặc biệt, mô hình định giá lệch pha của ông trong điều kiện các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền, ngụ ý là quyền định giá và việc duy trì sự gia tăng của chi phi đối với doanh nghiệp có liên quan trực tiếp với nhau Để một doanh nghiệp quyết định điều chỉnh giá cả của nó bao nhiêu phụ thuộc vào lạm phát, vì lạm phát thấp có thể liên quan đến sự duy trì những thay đổi ít trong chi phí và mức giá ở những doanh nghiệp khác Nếu giá đã được thiết lập cho vài kỳ trước đó thì sự thay đổi ít của chi phí được duy trì, kết quả truyền dẫn sẽ nhỏ hơn, đó là đặc trưng của việc làm giảm quyền định giá Đều này là đúng cho dù sự gia tăng chi phí đến từ thay đổi trong giá nhập khẩu do sụt giảm tỷ giá hay thay đổi trong giá tiêu dùng hay tiền lương
Ở Việt Nam, cũng đã có những nghiên cứu về sự truyền dẫn bất cân xứng của tỷ giá hối đoái Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2012) đã nghiên cứu Sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại VN Bài này sử dụng phương pháp đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi quy Trong đó tập trung vào sự chuyển dịch bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu Tuy nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng không có sự chuyển dịch bất cân
Trang 31xứng (sự chuyển dịch là như nhau) vào giá nhập khẩu trong trường hợp thay đổi tỷ giá hối đoái lớn so với thay đổi tỷ giá hối đoái nhỏ
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát ở những quốc gia trải qua các cơ chế lạm phát khác nhau
Lý thuyết truyền thống về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu cho rằng sự truyền dẫn tỷ giá được xác định bởi các yếu tố vĩ mô và ngoại sinh với chính sách tiền tệ Nhưng ngược lại, J Taylor (2000) cho rằng sự sụt giảm trong truyền dẫn là kết quả của môi trường lạm phát thấp Môi trường lạm phát cao sẽ có
xu hướng làm tăng ERPT Theo quan điểm này, truyền dẫn phụ thuộc vào cơ chế chính sách
Đến năm 2006, Choudhri, E.U., Hakura, D.S đã thực hiện một nghiên cứu toàn diện quan điểm được đề xuất bởi J Taylor (2000) Choudhri và cộng sự (2006) đã thiết lập một mô hình lý thuyết kết hợp kiểu định giá thay đổi của Taylor, và sử dụng mô hình lý thuyết này để ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng Để kiểm định các giả thuyết của J Taylor, bài báo khởi sự từ một mô hình kinh tế vĩ
mô mở Một cơ sở dữ liệu lớn từ 1979-2000 của 71 quốc gia được sử dụng để ước lượng mối quan hệ này Có một bằng chứng mạnh về tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa truyền dẫn và lạm phát bình quân qua các quốc gia và các thời
kỳ Hơn nữa bằng chứng hỗ trợ mạnh mẽ sự tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn ở một số quốc gia mà nó đã trải qua sự chuyển đổi đáng kể trong môi trường lạm phát Bên cạnh đó, lạm phát giữ một vai trò quan trọng hơn hẳn các biến vĩ mô khác trong việc giải thích sự thay đổi của truyền dẫn tỷ giá hối đoái Nhóm tác giả xem xét mối quan hệ dựa trên phương trình sau trong đó đại diện CPI trong nước, và
là tỷ giá hiệu lực danh nghĩa và CPI nước ngoài ERPT vào CPI qua N kỳ có thể
được xác định như lũy kế tác động của 1 đơn vị tăng lên trong log của tỷ giá danh
nghĩa trong kỳ t lên log CPI trong kỳ t+N (nghĩa là, tổng của các hệ số năng động:
∑
)
Trang 32Đầu tiên họ giả định rằng những biến trong phương trình trên là không có quan
hệ đồng liên kết và ước lượng mối quan hệ này trong dạng sai phân bậc nhất Sau
đó, nhóm tác giả phân tích độ nhạy của kỹ thuật ước lượng này Quan hệ tryền dẫn được ước lượng riêng biệt cho mỗi cơ chế lạm phát (Lạm phát thấp, vừa và cao được xác định là bao gồm những quốc gia với lạm phát trung bình thấp hơn 10%, giữa 10% và 30%, và trên 30%) Một số bằng chứng về ERPT mà bài này đã tìm thấy như sau:
- ERPT trung bình cho mỗi nhóm tăng lên theo thời gian, đối với tất cả các nhóm sự tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn là dương Sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái thấp nhất cho nhóm lạm phát thấp và cao nhất cho nhóm lạm phát cao
- Bằng chứng về sự ảnh hưởng của lạm phát đối với sự truyền dẫn tỷ giá ở những quốc gia chỉ trải qua lạm phát vừa và cao (Argentina, Brazil và Peru), cho thấy rằng truyền dẫn cho cơ chế lạm phát cao là cao hơn cơ chế lạm phát vừa phải trong mỗi kỳ quan sát
- Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy sự tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa lạm phát và truyền dẫn ở những quốc gia chỉ trải qua một cơ chế lạm phát và cả những quốc gia trải qua hai cơ chế lạm phát khác nhau
- Từ những kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã kết luận rằng sự truyền dẫn tỷ giá hối đối phụ thuộc vào môi trường lạm phát của một quốc gia Kết luận này hàm
ý một ý nghĩa quan trọng đối với người điều hành chính sách
+ Nghiên cứu sự truyền dẫn thấp của tỷ giá vào lạm phát và mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và truyền dẫn tỷ giá
Từ sau Taylor (2000) đã có những tranh luận gay gắt về những nguyên nhân của sự truyền dẫn tỷ giá thấp Có nhiều giải thích khác nhau, đầu tiên là lạm phát thấp bị đổ lỗi cho các đặc tính khác nhau của thị trường hàng hóa, chẳng hạn như các doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo định giá hàng hóa theo thị trường, danh mục các hàng hóa trong nước được giao dịch, tầm quan trọng của những hàng
Trang 33hóa phi mậu dịch, hay là vai trò của những hàng hóa thay thế trong việc phản ứng lại những thay đổi tỷ giá Tuy nhiên, nhiều lập luận khác cho rằng sự suy yếu của truyền dẫn tỷ giá hối đoái liên quan đến việc chậm thay đổi của giá cả hàng hóa ở mức độ tiêu dùng
Một câu hỏi là liệu rằng truyền dẫn tỷ giá là do giá cả cứng nhắc hay do đặc điểm cấu trúc của thương mại quốc tế là quan trọng hơn Nếu mức độ truyền dẫn thấp là do giá cả cứng nhắc thì giống với đề xuất của Taylor (2000) Devereux và Yetman (2010) đã phát triển một mô hình lý thuyết có thể sử dụng để giải thích các yếu tố quyết định của truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá tiêu dùng Kết luận của nghiên cứu này chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá thấp vào chỉ số lạm phát ít nhất một phần là do chậm điều chỉnh giá danh nghĩa Hơn nữa, ngoài việc những kết quả thực nghiệm cung cấp sự hỗ trợ mạnh mẽ cho sự tồn tại của giá cứng nhắc trong xác định mức độ truyền dẫn, mô hình lý thuyết còn cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát Một vài kết quả nghiên cứu quan trọng của Devereux
và Yetman (2010) như sau:
- Đối với những quốc gia lạm phát thấp, truyền dẫn tỷ giá nhìn chung là thấp hơn nhiều so với mức hoàn toàn Nhưng đối với những quốc gia tỷ lệ lạm phát cao hơn thì truyền dẫn tỷ giá cao hơn, vì các doanh nghiệp thấy rằng các chi phí thực đơn của thay đổi giá được bù đắp nhiều hơn bởi vì giá cả hàng hóa hiện tại đang cách xa mức mong muốn của họ Hơn nữa, mối quan hệ này là phi tuyến Vì lạm phát tăng trên một vài giá trị ngưỡng, không có sự tác động nhiều hơn đến lạm phát
từ những thay đổi của tỷ giá
- Để tăng tính thuyết phục của kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đã thêm vào mô hồi quy biến lạm phát trung bình và biến độ lệch chuẩn của lạm phát để xem xét ảnh hưởng của sự biến động lạm phát đến sự truyền dẫn tỷ giá, kết quả hồi quy cũng có
ý nghĩa thống kê tốt, cho thấy sự biến động của lạm phát và tỷ giá cũng là nguyên nhân làm gia tăng sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái
Trang 34- Tác giả cũng mở rộng phân tích bằng cách loại ra những quan sát lạm phát cao, chia thời kỳ quan sát thành 4 giai đoạn phụ để hạn chế sự thiên lệch những kết quả hồi quy, và cuối cùng là kết hợp vừa ước lượng những giai đoạn phụ vừa loại trừ những quan sát lạm phát cao Kết quả cho thấy rằng có bằng chứng thống kê mạnh mẽ mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và sự truyền dẫn tỷ giá như đã dự đoán bởi mô hình lý thuyết trong tất cả các trường hợp, với hệ số ước lượng âm của biến bình phương lạm phát có ý nghĩa cao Một lần nữa, cũng tìm thấy một vài bằng chứng cho thấy sự biến động của lạm phát và tỷ giá cũng giải thích tốt sự gia tăng truyền dẫn tỷ giá Truyền dẫn cao hơn đối với những quốc gia lạm phát cao hơn và mối quan hệ này là phi tuyến Khi lạm phát tăng lên trên một ngưỡng nhất định, sự gia tăng trong truyền dẫn có xu hướng giảm xuống
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về ERPT sử dụng mô hình ước lượng phi tuyến
Như những nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá đã trình bày ở bên trên, chúng ta thấy rằng hầu hết những nghiên cứu trước đây về quan hệ giữa ERPT và lạm phát ngầm giả định rằng cấu trúc dữ liệu là tuyến tính, trong đó có các phân tích của Calvo và Reinhart (2002), Choudhri và Hakura (2006), và Devereux và Yetman (2010) Trong lý thuyết thực nghiệm về sự điều chỉnh phi tuyến của tỷ giá thực, mô hình STAR được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu, tuy nhiên, mô hình STAR hiếm khi được sử dụng trong phân tích ERPT
Cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa ERPT và lạm phát bằng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR), các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài sử dụng mô hình STR để đánh giá mức độ của ERPT cũng tương đối ít
ỏi Trong số ít đó, có thể kể đến ba nghiên cứu: Shintani và cộng sự (2013), Nogueira Jr & Leon-Ledesma (2008, 2011) và Herzberg và công sự (2003) Bài báo được đề cập sau cùng quan tâm đến đo lường ERPT vào giá nhập khẩu nhưng không tìm thấy bằng chứng của sự phi tuyến Do đó, luận văn này chỉ giới thiệu hai
Trang 35nghiên cứu được đề cập đầu tiên trong phần này, đó là Shintani và cộng sự (2013)
∑
∑ ( )
(∑
∑ ( )
)
Trong đó là lạm phát (được tính theo chỉ số giá sản xuất PPI) và giá thanh toán bằng đồng đô la Mỹ của nhà nhập khẩu tại Mỹ, ~ i.i.d.(0, ) Theo mô hình lý thuyết của họ thì ERPT là một hàm đối xứng của các biến trễ lạm phát xung quanh giá trị zero Để nắm bắt đặc điểm này, một hàm chuyển tiếp lũy thừa hình chữ U đã được sử dụng
{ }
Trong đó z t là biến chuyển tiếp và (>0) là hệ số xác định của chuyển tiếp trơn Chỉ có một biến chuyển tiếp được sử dụng trong nghiên cứu này, đó là trung bình trượt của tỷ lệ lạm phát quá khứ, ∑ Ngoài mô hình ESTAR, nhóm tác giả này cũng xem xét mô hình STAR khác được xây dựng từ việc kết hợp hai hàm logistic, nó tạo ra một hàm chuyển tiếp hình chữ U khác Hàm chuyển tiếp này
có dạng như sau:
G(zt ; 1 , 2 , c1 , c2) = (1 + exp{ - 1(zt – c1)})-1 + (1 + exp{ 2(zt + c2})-1
Trang 36Shintani cùng cộng sự (2013) gọi đây là mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn hai hàm logic (DLSTAR) nhằm nhấn mạnh sự hiện diện của hai hàm logistic Theo Shintani cùng cộng sự (2013) có hai lý do để sử dụng mô hình DLSTAR Thứ nhất, hàm chuyển tiếp trong ESTAR sẽ sụp đổ khi tiến đến vô cùng, và nó không lồng
mô hình TAR Nhưng ngược lại, mô hình DLSTAR bao hàm mô hình TAR vì mặc cho 1 , 2 tiến đến vô cùng Thứ hai, quan trọng hơn, mô hình này có thể tích hợp
cả sự điều chỉnh đối xứng ( 1 = 2 = và c1 = c2 = c) và bất đối xứng xứng ( 1 ≠ 2 ,
c1 ≠ c2) giữa hai miền giá trị âm và giá trị dương
Kết quả thu được của họ là tìm thấy mức độ ERPT lớn hơn khi biến chuyển tiếp trên 2% (theo giá trị tuyệt đối) Họ phát hiện ba thời kỳ ERPT riêng biệt Đầu tiên, thời kỳ ERPT cao từ sau cú sốc giá dầu thập niên 1970 Suốt hai thập niên 1980 và
1990, ERPT gần như là ổn định trừ những năm đầu thập niên 1990 khi mà chỉ số giá sản xuất khá là biến động Những năm đầu thập niên 2000, ERPT tăng cao trở lại do sự biến động của lạm phát tăng cao Do đó, Shintani và cộng sự (2013) kết luận rằng thời kỳ lạm phát thấp có liên quan đến môi trường lạm phát thấp, và ngược lại
+ Nghiên cứu giải thích sự tồn tại cơ chế phi tuyến của sự truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát
Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008, 2011) đã thực hiện một nghiên cứu toàn diện hơn về cơ chế phi tuyến của sự truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát cho 12 quốc gia
ở khu vực Châu Âu Sử dụng mô hình chuyển tiếp trơn, tác giả đã giải thích sự tồn tại của phi tuyến liên quan đến 3 yếu tố kinh tế vĩ mô, tỷ lệ lạm phát, sự biến động
tỷ giá hối đoái và chu kỳ kinh tế Kết quả của Nogueira và cộng sự cho thấy rằng sự chuyển dịch của tỷ giá sẽ cao hơn khi lạm phát vượt qua một mức ngưỡng Nghiên cứu này đã đưa ra một bằng chứng hỗ trợ quan điểm của Taylor đó là “Sự truyền dẫn giảm trong môi trường lạm phát thấp và ổn định” Kế tiếp, nhóm tác giả kiểm tra sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá với cả chiều phản ứng và độ lớn của tỷ giá Một mặt, những kết quả cung cấp sự truyền dẫn tỷ giá là bất cân xứng với sự tăng
Trang 37giá và giảm giá, nhưng không có xu hướng rõ ràng của bất đối xứng Mặt khác, mức
độ truyền dẫn được tìm thấy là cao hơn đối với những thay đổi lớn của tỷ giá hơn là một thay đổi nhỏ, mà nó dường như là một bằng chứng cho sự tồn tại của các chi phí biên Cuối cùng, trong khi sự phi tuyến của truyền dẫn tỷ giá liên quan đến chu
kỳ kinh tế, tác giả cũng cho thấy sự truyền dẫn có quan hệ cùng chiều với mức độ hoạt động kinh tế; đó là, khi sự tăng trưởng GDP thực trên một mức ngưỡng, mức
độ truyền dẫn trở nên cao hơn
Sử dụng dữ liệu theo tháng, thời kỳ quan sát từ 1983 đến 2005 đối với các quốc gia phát triển, và từ 1992 đến 2005 cho các thị trường mới nỗi Tác giả sử dụng mô hình như sau:
Trong đó là lạm phát giá tiêu dùng, là thay đổi của giá nhập khẩu,
là tăng trưởng sản lượng và là sự thay đổi của tỷ giá Nogueira Jr và Ledesma (2008, 2011) sử dụng cả hàm chuyển tiếp logistic và lũy thừa Họ kiểm định với một vài biến chuyển tiếp quan trọng để nắm bắt khả năng phi tuyến và bất đối xứng của ERPT Vì vậy, họ xem xét một loạt các biến vĩ mô mà nó tác động đến ERPT, đó là tỷ lệ lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng sản lượng và hai thước đo sự bất ổn kinh tế vĩ mô1 Với mục đích này, họ sử dụng mô hình ESTAR được để nắm bắt sự bất đối xứng của tỷ giá đối với độ lớn của thay đổi tỷ giá Mặt khác, mô hình LSTAR được sử dụng cho các biến chuyển tiếp khác nhau (lạm phát, sản lượng và thước đo sự bất ổn vĩ mô), như vậy sự thay đổi sẽ khác nhau đối với những giá trị ngưỡng này
1
Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008, 2011) sử dụng hai chỉ số đo lường sự bất ổn kinh tế vĩ mô: chênh lệch lãi suất thực ở Mỹ và chênh lệch chỉ số trái phiếu các nền kinh tế mới nổi mở rộng (EMBI+) – một chỉ số quan trọng của lòng tin
Trang 38Kết quả nghiên cứu của Nogueira Jr và Leon-Ledesma (2008, 2011) nhấn mạnh nguồn gốc tuyến tính của ERPT khác nhau đáng kể giữa các quốc gia Thứ nhất, bốn trong sáu quốc gia cho thấy sự tương quan thuận giữa ERPT và lạm phát Theo tác giả, việc hướng đến mức lạm phát mục tiêu, kéo theo đó là lạm phát thấp hơn ở các quốc gia trong mẫu quan sát, đã góp phần làm giảm sự truyền dẫn Tác giả cũng tìm thấy ERPT có thể tăng lên trong thời kỳ suy giảm của kinh tế vĩ mô, nhấn mạnh sự quan trọng của môi trường lạm phát trong sự sụt giảm của ERPT Khi xem thay đổi của tỷ giá là biến chuyển tiếp thì chỉ có hai quốc gia có sự tương quan thuận giữa truyền dẫn và độ lớn thay đổi tỷ giá Cuối cùng, ERPT có thể bị tác động phi tuyến bởi tăng trưởng sản lượng, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên một mức ngưỡng xác định, ERPT sẽ cao hơn, kết quả này có ý nghĩa cho ba trong số sau quốc gia trong mẫu nghiên cứu
2.2.4 Bảng tóm tắt, so sánh một số nghiên cứu trước về truyền dẫn tỷ giá
STT Bài nghiên cứu Phương pháp Kết quả nghiên cứu
mô hình VECM, VAR, TAR
Truyền dẫn tỷ giá vào IMP và PPI là hoàn toàn trong dài hạn; không có sự truyền dẫn bất cân xứng vào IMP theo độ lớn của thay đổi tỷ giá
3 Võ Văn Minh
(2009)
Mô hình VAR Sự tác động của một cú sốc tỷ
giá đến IMP là hoàn toàn sau 6 tháng, nhưng đối với CPI là không đáng kể
4 Taylor (2000) Mô hình lý thuyết
về định giá thay
Sự truyền dẫn tỷ giá là bất cân xứng trong trường hợp lạm phát
Trang 39đổi thấp so với lạm phát cao
5 Choudhri và cộng
sự (2006)
Mô hình lý thuyết của tác giả kết hợp kiểu định giá lệch pha của Taylor (2000)
Sự tương quan dương giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát; lạm phát là yếu tố có vai trò quan trọng hơn hẳn các yếu tố khác trong việc quyết định truyền dẫn tỷ giá
6 Devereux và cồng
sự (2010)
Mô hình lý thuyết của các doanh nghiệp nhập khẩu được đề xuất bởi tác giả
Sự truyền dẫn thấp của tỷ giá vào lạm phát là do giá hàng hóa chậm thay đổi; mối quan hệ giữa ERPT và lạm phát là cùng chiều nhưng theo cách phi tuyến
7 Shintani và cộng sự
(2013)
Các lớp khác nhau của mô hình STAR
Mối quan hệ giữa ERPT và lạm phát là đồng biến và phi tuyến ERPT theo thời gian có thể được tính bằng một hàm phi tuyến theo biến trễ lạm phát
8 Nogueira Jr và
cộng sự (2008,
2011)
Mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn
Truyền dẫn tỷ giá là bất cân xứng trong trường hợp lạm phát thấp so với lạm phát cao, tỷ giá giảm so với tỷ giá tăng và tăng trưởng kinh tế cao so với thấp
Trang 40CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
3.1 Mô hình STAR
Trong phân tích đữ liệu chuỗi thời gian, về lý thuyết thì có nhiều mô hình chuỗi thời gian phi tuyến Trước khi thảo luận về mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR), đầu tiên chúng ta sẽ xem xét một mô hình đơn giản: Mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR)
3.1.1 Mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR)
Mô hình tự hồi quy ngưỡng có thể được xem như một sự mở rộng của các mô hình tự hồi quy (AR), cho phép các tham số trong trong mô hình thay đổi theo giá trị của biến ngưỡng ngoại sinh Nếu thay thế nó bằng giá trị quá khứ của y (y là
biến phụ thuộc), có nghĩa là , chúng ta gọi là mô hình tự hồi quy ngưỡng Self-Exciting (SETAR) Một số trường hợp cơ bản được trình bày như sau:
Trong đó d là tham số trễ, hiển thị những biến chuyển giữa hai cơ chế khác
nhau Những mô hình này có thể được áp dụng cho dữ liệu chuỗi thời gian mà nó có hành vi thay đổi cấu trúc Tuy nhiên, giá trị ngưỡng trong mô hình này là rời rạc,
mô hình TAR có thể được khái quát thành mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR)