Kinh nghiệm trong điều chỉnh bằng pháp luật của các quốc gia trên thế giới về chế độ trách nhiệm sản phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong luận văn này, tác giả chủ yếu nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế và của một số quốc gia về trách nhiệm sản phẩm để bảo vệ người tiêu dùng. Qua đó, rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện, áp dụng các quy định pháp luật và thực thi các quy định pháp luật về vấn đề này trong điều kiện hiện nay.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội, bên cạnh quan hệ giữa các nhà sảnxuất với nhau, là quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, là lực lượnghết sức đông đảo Nhưng vì chưa nhận thức đầy đủ các quyền và trách nhiệmcủa mình, không có đầy đủ kiến thức về mọi mặt và thường hành động riêng
lẻ nên trong mối quan hệ giữa họ và nhà sản xuất kinh doanh, người tiêu dùngthường đứng ở thế yếu và chịu nhiều thiệt thòi Bên cạnh đó, người tiêu dùngcòn có nguy cơ sử dụng hàng hoá, dịch vụ thiếu độ an toàn đặc biệt là đối vớihàng hoá, dịch vụ thiết yếu và hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp tớisức khoẻ con người Điều này thực sự đã kìm hãm sự phát triển của xã hội.Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã thấy sự cần thiết của việc bảo vệngười tiêu dùng, có chính sách tôn trọng các quyền của người tiêu dùng vàcác biện pháp chống lại sự lạm dụng của những nhà sản xuất, kinh doanh
Ở Việt Nam, chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng đã được quan tâm,đặc biệt là sau khi Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng năm 1999
ra đời Với quy định pháp luật đó bước đầu đã tạo được hành lang pháp lý choviệc bảo vệ người tiêu dùng, các quyền của người tiêu dùng được ghi nhận,các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng được thành lập Nhưng do nhiều nguyênnhân mà các quy định trên đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế như: quy địnhcòn chung chung, chưa thực sự đảm bảo cơ chế cho việc thực thi các quyềncủa người tiêu dùng… Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần xây dựng, banhành và bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng
Tuy nhiên, do xu hướng chung của thế giới là toàn cầu hoá, hội nhập kinh
tế quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội nên không nằm ngoài
xu thế đó, việc ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùngcủa Việt Nam cũng như vấn đề thực thi các quy định pháp luật đó phải có sự
Trang 2phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế và cần học hỏi kinh nghiệm củanước ngoài
Vì vậy, với yêu cầu trên tác giả đã chọn đề tài cho luận văn là: “Pháp luật
về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”
1 Tính cấp thiết và điểm mới của đề tài
Việc nghiên cứu pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng là vấn đề cầnthiết bởi:
- Các quy định trước đây của Việt Nam về vấn đề này đã trở lên lỗi
thời, không còn phù hợp với thực tiễn
- Hiện nay, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng là vấn đề cấp bách khôngchỉ tại Việt Nam mà của cả trên toàn thế giới
- Thực trạng ngày càng tăng các hàng hoá, dịch vụ gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khoẻ của người tiêu dùng
- Việc thực thi các quy định về bảo vệ người tiêu dùng còn chỉ nằm
trên giấy tờ, chưa thực sự triển khai có hiệu quả trên thực tế
- Yêu cầu các quy định của pháp luật quốc gia phải phù hợp với quy
định của pháp luật quốc tế
Chính vì những nguyên nhân trên mà việc nghiên cứu pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng là một vấn đề cấp thiết
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu nghiên cứu quy định của phápluật quốc tế và của một số quốc gia về trách nhiệm sản phẩm để bảo vệ ngườitiêu dùng Qua đó, rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng,hoàn thiện, áp dụng các quy định pháp luật và thực thi các quy định pháp luật
về vấn đề này trong điều kiện hiện nay
Trang 32 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiêm cứu trên thế giới
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng hay trách nhiệm sản phẩm của doanhnghiệp luôn được coi là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới.Hầu như năm nào, các bài nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngliên quan đến trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đăng tải.Trong số đó, nhiều bài nghiên cứu đề cập tới chế độ trách nhiệm sản phẩm ởnhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản Sauđây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- Bài viết “The Japanese Products Liability Law (Pháp luật tráchnhiệm sản phẩm của Nhật Bản)” của Jason F.Cohen (nghiên cứu sinh Đại họcFordham – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “Fordham International Law Journal,November 1997” đã làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản củachế độ trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản
- Bài viết “The future of products liability in America (Tương lai củapháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ)” của ba luật sư của Hoa Kỳ làGary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O.Fallon đăng trên tạp chí WilliamMitchell Law Review (năm 2000) đã bàn về chế độ trách nhiệm sản phẩm ởHoa Kỳ hiện tại, những tồn tại, bất cập và đề xuất một số hướng cải cách đổimới
- “Products Liability – Why the EU does not need the restatement(third) (Chế định trách nhiệm sản phẩm – Vì sao Cộng đồng Châu Âu khôngcần theo mô hình của Hoa Kỳ)” của Giáo sư Rebekah Rollo (Đại họcMaryland - Đức) trong bài viết đăng trên tạp chí “Brooklyn Law Review,Spring, 2004” đã nghiên cứu chế độ trách nhiệm sản phẩm theo quy định củaCộng đồng Châu Âu (EU) và tác động của những thay đổi trong chính sáchtrách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ tới chính sách tương tự của Cộng đồng
Trang 4Châu Âu
- Công trình “The Evolution of Products Liability Law (Quá trình pháttriển của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm)” của Giáo sư Luật DavidG.Owen (Đại học South Carolina – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “The Review
of Litigation (Symposium 2007)” đã nghiên cứu khá tỉ mỉ quá trình phát sinh,phát triển của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ, nguồn gốc, những ýtưởng cơ bản của chế độ trách nhiệm ấy
- “Products Liability in the United Kingdom (Chế định trách nhiệmsản phẩm ở Vương quốc Anh)” Giáo sư Jane Stapteton (Đại học quốc giaAustralia), đăng trên tạp chí “Texax International Law Journal, Winter 1999”
đã đề cập khá chi tiết về nguồn gốc, chức năng và các đặc điểm cơ bản trongchế định trách nhiệm sản phẩm ở Anh quốc Trong năm 2000, cũng chínhgiáo sư Jane Stapleton đã đăng bài viết “Products Liability, an Anglo –Australia Perspective (Chế định trách nhiệm sản phẩm - từ cách nhìn của châuÚc)” trên tạp chí “Washburn Law Joural, Spring, 2000” trong đó ông làm rõquan niện của Úc về chế độ trách nhiệm sản phẩm
- Chuyên khảo “Products liability” của giáo sư D.Cray, trường đại ọcCarleton, Otawa, Canada, đã xem xét vấn đề trách nhiệm sản phẩm trongpháp luật của các quốc gia dưới cách nhìn luật học so sánh
Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, trách nhiệm sảnphẩm là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người tiêudùng trong nền kinh tế thị trường Nhưng do điều kiện của mỗi quốc gia màviệc áp dụng chế định này còn khác nhau, nhất là về phạm vi của chế định và
cơ chế đảm bảo thực thi chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng đã được đề cập đến từ rất lâu và
đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới
Trang 5Tại Việt Nam nó cũng đã được ghi nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi củangười tiêu dùng năm 1999, Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 thay thếPháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 và nhiều văn bản pháp luật khácnhau như: Bộ luật dân sự 2005, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá 1999 (đượcthay thế bàng Luật chất lượng sảm phẩm hàng hoá 2007), Luật cạnh tranh
2004, Luật thương mại 2005, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 vàcác Nghị định hướng dẫn thi hành… Bên cạnh đó, phải kể tới là các bài viếttrên nhiều tạp chí chuyên nghành luật như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạpchí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Luật học, tuynhiên số lượng vẫn còn chưa nhiều
Không những thế, liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, ViệnKhoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã phối hợp với Dự án Hỗ trợ cải cách phápluật của Canada tại Việt Nam (dự án Lerap) tổ chức Hội thảo “Cơ chế pháp lýbảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (tổ chứctại Khách sạn Melia trong 03 ngày từ ngày 14/8/2007 đến ngày 16/8/2007)với sự tham gia của gần 70 đại biểu là đại diện các cơ quan bảo vệ người tiêudùng (Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại, Cục quản lý thị trường – BộThương mại, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ Y tế…), đại diện Bộ Tưpháp, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dânthành phố Hà Nội, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng ViệtNam, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng một số tỉnh, thànhphố, các chuyên gia pháp lý, đại diện phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam, đại diện một số hiệp hội doanh nghiệp, đại diện của một số doanhnghiệp, các cơ quan truyền thông, báo chí, một số chuyên gia của Canada.Với hơn 10 bài tham luận tại Hội thảo, các đại biểu đã nêu rõ những khoảngtrống pháp lý trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay,trong đó có khoảng trống về chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh
Trang 6nghiệp Nhiều ý kiến tham luận tại Hội thảo đã đề xuất việc hoàn thiện chếđịnh trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam[1] Trên cơ sở đó, năm 2010, ViệnKhoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã xây dựng Đề tài nghiên cứu “Trách nhiệmsản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng” Cóthể nói đây là một Đề tài nghiên cứu tiếp cận rất sâu về bản chất, đặc điểmcủa chế định trách nhiệm sản phẩm Đề tài đã luận giải mô hình chế địnhtrách nhiệm sản phẩm của doanh ghiệp và từ đó có các đề xuất hoàn thiệnpháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong điều kiện kinh tế thị trường ở ViệtNam hiện nay
Tuy nhiên, kể từ khi Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 (có hiệulực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2011) ra đời, mặc dù đã góp phần tạo điềukiện thuận lợi cho việc bảo vệ người tiêu dùng được tốt hơn so với trước đây,nhưng tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, khó khăn trong việc
áp dụng luật vẫn là vấn đề rất phức tạp Bên cạnh đó, các quy định vẫn cònchưa bắt kịp với sự phát triển của xã hội và còn chưa phù hợp với xu hướngchung của thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Chính vìvậy, việc nghiên cứu các quy định về trách nhiệm sản phẩm của các nước trênthế giới, các kinh nghiệm xây dựng Luật bảo vệ người tiêu dùng để hoàn thiệnpháp luật về bảo vệ người tiêu dùng cũng như phương thức thực thi pháp luật
là vấn đề cần thiết
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận về chếđịnh trách nhiệm sản phẩm của một số nước trên thế giới để bảo vệ người tiêudùng Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện và nâng cao hiệu quảthực thi các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, qua đógóp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, kịp thời xử
Trang 7lý những nhà sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ kém chất lượng, gópphần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá các quy định pháp luật quốc tế vàquốc gia về bảo vệ người tiêu dùng
- Rút ra kinh nghiệm và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luậtViệt Nam về vấn đề này
- Đề xuất cơ chế thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêudùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn.
- Hệ thống các quy định pháp lý của quốc tế về bảo vệ người tiêudùng
- Các quy đinh của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng
- Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng, nhữnghạn chế còn tồn tại, phương hướng hoàn thiện và cơ chế để thực thi có hiệu
quả những quy đinh đó
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” giúp chúng ta có thể:
- Hệ thống hóa các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc, các nghị quyếtcủa Đại hội đồng Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng;
- Có được một số thông tin tổng quan về kết quả nghiên cứu pháp luậtcủa một số quốc gia về bảo vệ người tiêu dùng;
- Hiểu rõ hơn các nguyên lý, quan điểm của một số học giả trên thế giới
về bảo vệ người tiêu dùng;
Trang 8- Đưa ra các khuyến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện cũng như việcthực thi các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng.
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: trong luận văn này tác giả tìm hiểunghiên cứu các quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo vệngười tiêu dùng Từ đó có sự so sánh, đối chiếu với nhau để tìm ra các quyđịnh mới và phát triển
- Phương pháp phân tích các quy phạm của pháp luật quốc tế cũngnhư các quốc gia khác về bảo vệ người tiêu dùng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo Luận vănđược triển khai theo 3 chương:
Chương 1 Cơ sở pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng
Chương 2 Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
của một số quốc gia trên thế giới
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Trang 9Vì vậy, để quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ, nước ta đã ban hành cácquy định pháp luật về vấn đề này Mặc dù vậy, trong thời đại hội nhập kinh tếquốc tế, để các quy định của pháp luật Việt Nam được áp dụng một cáchthuận lợi và nghiêm chỉnh cũng như hạn chế hành vi vi phạm của các chủ thểtham gia thì các quy định này cần phải phù hợp với quy định của pháp luậtquốc tế về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng
1.1 Các quy định của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng
Liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, năm 1985, Bản hướngdẫn bảo vệ người tiêu dùng đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thứcthông qua Đây là một tài liệu cơ bản và toàn diện về bảo vệ người tiêu dùng.Bản hướng dẫn này giúp ích cho các chính phủ, đặc biệt là các nước đangphát triển, trong việc hoạch định các chính sách và luật pháp bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng Bản hướng dẫn đã được gửi cho các chính phủ thành viênLiên hợp quốc, trong đó có chính phủ Việt Nam Sau 10 năm ban hành, năm
1996, Liên hợp quốc đã gửi văn bản chính thức cho các chính phủ thành viên
đề nghị kiểm điểm lại việc thi hành Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu
Trang 10dùng Sau năm 1999, Liên hợp quốc đã bổ sung thêm phần về bảo vệ môitrường vào Bản hướng dẫn Theo đó, nội dung cơ bản của hướng dẫn của Liênhợp quốc về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gồm:
Bản hướng dẫn cũng ghi nhận rằng người tiêu dùng thường phải chịu
sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thươnglượng trong mua bán; và ý thức được rằng người tiêu dùng có quyền được sửdụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triểnkinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý Chính vì vậy, mụctiêu của hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng bao gồm:
- Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân củamình với tư cách là người tiêu dùng;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đápứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng;
- Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sảnxuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng;
- Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanhnghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng;
- Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập;
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng;
- Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho
Trang 11người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;
- Khuyến khích tiêu dùng bền vững
1.1.2 Các nguyên tắc chung
Nguyên tắc là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chất chỉ đạo,bao trùm có giá trị bắt buộc chung đối với các chủ thể là thành viên của Liênhợp quốc Theo đó, trong việc quy định về bảo vệ người tiêu dùng các nhucầu pháp lý mà Bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:
Một là, bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe
và an toàn;
Hai là, ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;
Ba là, thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng
suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;
Bốn là, giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về
mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;
Năm là, thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng; Sáu là, cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu
dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm củamình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ
Bảy là, thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Bản hướng dẫn nêu cụ thể việc sản xuất và tiêu dùng không bền vững,đặc biệt là ở các nước công nghiệp, là nguyên nhân chính của sự xuống cấpcủa môi trường toàn cầu Tất cả các nước cần thúc đẩy tiêu dùng bền vững;các nước phát triển cần đi đầu trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững; cácnước đang phát triển cần tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu dùng bền vững trongquá trình phát triển của mình, cần quan tâm thích đáng tới nguyên tắc chung
và các trách nhiệm cụ thể Tình hình cụ thể và nhu cầu của các nước đangphát triển cần phải được ghi nhận đầy đủ Chính sách khuyến khích tiêu dùng
Trang 12hợp lý cần phải lưu ý mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thỏa mãn các nhu cầu cơbản của con người, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội và giữa cácnước Bản hướng dẫn yêu cầu Chính phủ các nước cần phát triển, củng cố vàduy trì đủ cơ sở hạ tầng để phát triển, thực hiện và điều hành các chính sáchbảo vệ người tiêu dùng Bên cạnh đó, các nước cần quan tâm đặc biệt để bảođảm các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện vì quyền lợi củatoàn dân, đặc biệt là người dân sống ở vùng nông thôn và người nghèo Tất cảcác tổ chức kinh doanh phải tuân theo pháp luật và những quy định của nhànước, đồng thời phải phù hợp với những quy định của tiêu chuẩn quốc tế vềbảo vệ người tiêu dùng mà cơ quan chức năng của nước đó đã thỏa thuận Vaitrò tích cực của việc nghiên cứu trong các trường đại học và các doanh nghiệpkinh doanh tư nhân hay nhà nước cần được xem xét khi hoạch định các chínhsách bảo vệ người tiêu dùng.
1.1.3.1 An toàn sản phẩm
Đây là một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu liên quan trựctiếp và phổ biến nhất đến người tiêu dùng Do đó, Bản hướng dẫn yêu cầu cácnước cần phê chuẩn hoặc khuyến khích việc phê chuẩn các biện pháp thíchhợp bao gồm những hệ thống pháp lý, những quy định về an toàn, các tiêu
Trang 13chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, các tiêu chuẩn tự nguyện và lưu trữ hồ sơ antoàn để đảm bảo rằng các sản phẩm phải an toàn cho sử dụng theo mục đích,hoặc bình thường có thể dự đoán trước được.
Những chính sách thích hợp đó cần đảm bảo các sản phẩm được sảnxuất ra phải an toàn cho việc sử dụng có mục đích hoặc bình thường có thể dựđoán được Những người có trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường đặc biệt
là những người cung cấp, xuất nhập khẩu, những người buôn bán lẻ và tương
tự (sau đây gọi là những nhà phân phối) cần phải đảm bảo rằng trong quátrình lưu thông, những hàng hóa này không trở thành độc hại do lưu kho hoặcquản lý không tốt Người tiêu dùng cần được hướng dẫn đầy đủ về cách sửdụng hàng hóa và phải được thông báo về sự cố có thể xảy ra khi sử dụngtheo mục đích, hoặc trong khi sử dụng bình thường có thể thấy trước được.Thông tin quan trọng về an toàn phải được truyền đạt tới người tiêu dùngbằng những ký hiệu quốc tế dễ hiểu nếu có
Không những thế, cần có chính sách thích hợp để đảm bảo rằng nếunhà sản xuất hoặc nhà phân phối thấy được tác hại sau khi hàng hóa đã đượcđưa ra thị trường, thì họ phải khai báo ngay với những người có trách nhiệm,
và tốt hơn là với toàn thể công chúng Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nướccũng cần quan tâm đến các phương thức để bảo đảm rằng người tiêu dùngđược thông tin chính xác về những tác hại ấy
Để ràng buộc trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc đảm bảo chấtlượng sản phẩm với người tiêu dùng, Bản hướng dẫn ghi nhận khả năng linhhoạt cho các quốc gia Theo đó, các quốc gia cần ban hành các chính sách đểnếu một sản phẩm được phát hiện là kém chất lượng một cách nghiêm trọnghoặc gây ra những tác hại thực sự nghiêm trọng ngay cả khi được sử dụngđúng, thì nhà sản xuất hoặc nhà phân phối phải thu hồi và thay thế, hoặc sửachữa, hoặc đổi sản phẩm khác Nếu không thể thực hiện được việc này trong
Trang 14một thời gian hợp lý, thì người tiêu dùng phải được bồi hoàn thỏa đáng Vớiquy định này, người tiêu dùng được bảo vệ quyền lợi trong nghĩa vụ bảo hànhsản phẩm của nhà sản xuất với những cam kết cụ thể về chất lượng hàng hóa.
1.1.3.2 Thúc đẩy và bảo vệ những quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng
Bản hướng dẫn đã nêu rõ việc yêu cầu các quốc gia khi hoạch định cácchính sách phải đảm bảo cho người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều nhất từcác nguồn lực kinh tế của họ Những chính sách này phải cố gắng để hoànthiện phương thức phân phối, thực hiện buôn bán ngay thẳng, tiếp thị có đầy
đủ thông tin, bảo vệ có hiệu quả chống lại những thủ đoạn có thể phương hạiđến quyền lợi kinh tế và sự lựa chọn của người tiêu dùng trên thị trường
Thêm vào đó, các nước cần cố gắng ngăn chặn những thủ đoạn gây tổnhại đến quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng, bằng cách bảo đảm các nhà sảnxuất, nhà phân phối và những người có liên quan đến việc cung cấp hàng hóa
và dịch vụ phải tuân theo những luật pháp đã định và các tiêu chuẩn bắt buộc.Các tổ chức của người tiêu dùng cần được khuyến khích để giám sát nhữngviệc làm có hại như pha chất độn trong thực phẩm, quảng cáo gây nhầm lẫnhoặc gian dối trên thị trường và các gian lận trong cung cấp dịch vụ
Trong trường hợp có thể, các nước cũng nên phát triển, củng cố và duytrì những biện pháp liên quan đến việc kiểm soát các thủ đoạn hạn chế haylạm dụng trong buôn bán có thể có hại đến người tiêu dùng, bao gồm nhữngbiện pháp cưỡng chế đối với những thủ đoạn đó Theo đó, các nước phải làmtheo sự cam kết của mình đối với “Các nguyên tắc và quy tắc công bằng, nhấttrí của nhiều bên và các điều lệ về kiểm soát các thủ đoạn hạn chế buôn bán”
do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong Nghị quyết 35/63 ngày 5tháng 12 năm 1980
Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nước cần phê chuẩn hoặc duy trì cácchính sách làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất phải đảm bảo hàng hóa đáp
Trang 15ứng được nhu cầu hợp lý về độ bền, công dụng và độ tin cậy, phù hợp vớimục đích sử dụng, và người bán phải biết được những yêu cầu này đã đượcđáp ứng hay chưa Những chính sách tương tự cũng phải được áp dụng trongcác khâu cung ứng dịch vụ Bên cạnh đó, để tạo cho người tiêu dùng được lựachọn trong phạm vi rộng các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất thì cácnước cần khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả Tùy vào điều kiện
ở mỗi nước mà có sự quan tâm để nhà sản xuất hoặc những nhà bán lẻ phảiđảm bảo cung cấp các phụ tùng và dịch vụ sau bán hàng đủ tin cậy
Về vấn đề hợp đồng giao kết giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, Bảnhướng dẫn cũng yêu cầu có các quy định để bảo vệ người tiêu dùng tránhnhững gian lận trong hợp đồng, như hợp đồng do một bên quy định tiêuchuẩn, hợp đồng bỏ ra ngoài những quyền cơ bản và những điều kiện giaonhận không sòng phẳng của người bán
Việc xúc tiến thương mại và việc thực hiện buôn bán phải tuân theo cácnguyên tắc đối xử công bằng với người tiêu dùng và hợp pháp Nguyên tắcnày quy định việc cung cấp thông tin cần thiết để người tiêu dùng có thể độclập quyết định, cũng như những biện pháp để bảo đảm rằng thông tin cungcấp là chính xác Vì vậy, cần khuyến khích mọi nguồn tin tự do đưa nhữngthông tin chính xác về mọi mặt của sản phẩm cho người tiêu dùng Để ngườitiêu dùng có thể tiếp cận thông tin chính xác về tác động môi trường của cácsản phẩm và dịch vụ thì cần phải thông qua các phương tiện như các thông tin
về sản phẩm, các báo cáo về môi trường của ngành, của các trung tâm thôngtin người tiêu dùng, các chương trình dán nhãn chứng nhận về môi trường vàcác đường dây nóng thông tin về sản phẩm Hơn thế nữa, cơ quan chịu tráchnhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có sự hợp tác chặt chẽ với cácnhà sản xuất, các nhà phân phối và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêudùng, cần có các biện pháp đối với các thông tin gây nhầm lẫn về môi trường
Trang 16trong các quảng cáo và các hoạt động tiếp thị khác.
Tùy từng điều kiện của mỗi nước, các nước cần khuyến khích cácdoanh nghiệp xây dựng và thực hiện các điều luật về tiếp thị và hành vithương mại, thông qua sự hợp tác với các tổ chức người tiêu dùng, nhằm bảo
vệ người tiêu dùng một cách thỏa đáng Những thỏa thuận tự nguyện cũng cóthể được các tổ chức kinh doanh và các bên quan tâm khác cùng nhau xâydựng Những điều luật này phải được công bố rộng rãi và cần được thườngxuyên xem xét các văn bản pháp lý liên quan đến việc tính toán và đánh giáxem bộ máy thi hành có đủ năng lực không
1.1.3.3 Các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ
Để đảm bảo cho sản phẩm và dịch vụ được lưu thông trên thị trườngcũng như xuất khẩu vào các nước được thuận lợi thì tùy từng vào điều kiệncủa mỗi nước cần xây dựng hoặc xúc tiến việc soạn thảo và thực hiện các tiêuchuẩn theo hình thức tự nguyện hoặc các hình thức khác, ở cấp độ quốc gia vàquốc tế về an toàn và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ, và phải công bốcông khai những tiêu chuẩn đó Những quy định và tiêu chuẩn quốc gia về antoàn và chất lượng sản phẩm này cần phải được thường xuyên xem xét để khi
có điều kiện, đảm bảo cho những quy định và tiêu chuẩn đó phù hợp vớinhững tiêu chuẩn chung đã được quốc tế công nhận
Đối với những nước do điều kiện kinh tế mà phải áp dụng những tiêuchuẩn thấp hơn những tiêu chuẩn phổ biến được quốc tế công nhận, thì phải
cố gắng nâng cao những tiêu chuẩn đó càng sớm càng tốt
Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn và chất lượng của sản phẩm và dịch
vụ các nước cần khuyến khích và đảm bảo các phương tiện để kiểm nghiệm
và xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu củangười tiêu dùng
Trang 171.1.3.4 Các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu
Để hàng tiêu dùng thiết yếu đến tay người tiêu dùng được thuận lợi,hiệu quả thì cần có phương tiện phân phối Tuy nhiên, do địa hình, vùng miềncũng như điều kiện kinh tế của từng quốc gia khác nhau mà việc sử dụngphương tiện phân phối hàng hóa đặc trưng cho mỗi loại địa hình, vùng miềncũng khác nhau Chính vì vậy, khi tiến hành phân phối hàng tiêu dùng thiếtyếu, các nước cũng chú ý xem xét hai vấn đề sau:
Thứ nhất, phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách để đảm bảo sự phân
phối hiệu quả hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; ở nơi thích hợp, cầnxem xét các chính sách đặc biệt để đảm bảo việc phân phối những hàng hóa
và dịch vụ thiết yếu ở những nơi việc phân phối gặp khó khăn, đặc biệt đốivới các khu vực nông thôn Những chính sách ấy có thể bao gồm việc trợ giúp
để tạo ra các kho chứa và các phương tiện bán lẻ thích hợp ở các trung tâmmua bán nông thôn, khuyến khích người tiêu dùng tự giải quyết và kiểm tratốt hơn các điều kiện cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở nông thôn;
Thứ hai, khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã tiêu thụ và các
hoạt động thương mại có liên quan, cũng như thông tin về các hoạt động đó,đặc biệt ở các vùng nông thôn
1.1.3.5 Các biện pháp giúp người tiêu dùng được bồi thường
Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng là vấn đề luôn nhậnđược sự quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng Do đó, Bản hướng dẫn yêucầu các nước cần thiết lập hoặc duy trì những biện pháp hành chính và/hoặcpháp chế để giúp người tiêu dùng hoặc, nếu phù hợp, các tổ chức liên quan cóthể nhận bồi thường thông qua các thủ tục chính thức hoặc không chính thứcmột cách nhanh chóng, công bằng, không tốn kém, thuận tiện và đặc biệt chú
ý tới nhu cầu của người tiêu dùng có thu nhập thấp
Về phía các doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp giải quyết
Trang 18thắc mắc của người tiêu dùng một cách sòng phẳng, nhanh chóng và bìnhthường; nên thiết lập các cơ chế tự nguyện, bao gồm những dịch vụ tư vấn vàcác phương thức khiếu nại không chính thức để giúp đỡ người tiêu dùng.
Về phía người tiêu dùng, các nước cần phổ biến tới người tiêu dùng cácthông tin về việc bồi thường và các hình thức giải quyết tranh chấp
1.1.3.6 Các chương trình giáo dục và thông tin
Một trong những biện pháp để người tiêu dùng tự bảo vệ mình có hiệuquả là phổ biến giáo dục pháp luật về quyền lợi của người tiêu dùng cũng nhưcung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ để người tiêu dùng lựa chọn Do đó,các nước cần phát triển hoặc khuyến khích các chương trình thông tin và giáodục cho người tiêu dùng, bao gồm thông tin về tác động đối với môi trườngcủa sự lựa chọn của người tiêu dùng và hành vi và các tác dụng có thể có, baogồm các lợi ích và chi phí, của những thay đổi trong tiêu dùng, có lưu ý đếntruyền thống văn hóa của những đối tượng được giáo dục Mục đích của cácchương trình này cần tạo cho mọi người khả năng hành động độc lập, có khảnăng lựa chọn một cách có căn cứ các hàng hóa, dịch vụ và ý thức được tráchnhiệm và quyền lợi của họ Khi thực hiện các chương trình đó, cần chú ý đặcbiệt đến nhu cầu của những người tiêu dùng bị thiệt thòi ở cả hai khu vựcnông thôn và thành thị, kể cả những người tiêu dùng có thu nhập thấp vànhững người có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ Các tổ chức người tiêudùng, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác cần phải cùng tham gia vàonhững nỗ lực giáo dục này
Tùy từng vào chính sách của mỗi quốc gia, việc giáo dục người tiêudùng phải trở thành một bộ phận cấu thành của chương trình cơ bản của hệthống giáo dục, tốt nhất là lồng ghép vào các môn học hiện hành
Các chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng phải bao quátcác khía cạnh quan trọng về bảo vệ người tiêu dùng như:
Trang 19- Sức khỏe, dinh dưỡng, ngăn cản bệnh loãng xương, thực phẩm bị pha trộn;
- Tác hại của sản phẩm;
- Ghi nhãn sản phẩm;
- Pháp luật có liên quan; làm thế nào để được bồi thường, các cơ quan
và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng;
- Thông tin về cân đo, giá cả, chất lượng, điều kiện mua bán và việccung ứng các nhu cầu cơ bản;
- Bảo vệ môi trường;
- Sử dụng hợp lý vật liệu, năng lượng, nguồn nước
Để tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, các nước cầnkhuyến khích các tổ chức người tiêu dùng và các nhóm liên quan khác, baogồm báo chí tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, bao gồm các tácđộng về môi trường của việc mua sắm, bao gồm các lợi ích và chi phí củanhững thay đổi trong tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của các nhóm người tiêudùng thu nhập thấp ở cả khu vực thành thị và nông thôn Tùy từng vào cácnước, các doanh nghiệp ở nước đó còn phải đảm trách hoặc tham gia một cáchthực tiễn và thích hợp vào các chương trình thông tin giáo dục người tiêu dùng
Thể hiện sự quan tâm đến sự cần thiết phải đưa chương trình thông tin
và giáo dục người tiêu dùng đến những người tiêu dùng ở nông thôn và nhữngngười tiêu dùng không biết chữ, yêu cầu các nước cần phát triển hoặc khuyếnkhích phát triển các chương trình thông tin người tiêu dùng trên phương tiệnthông tin đại chúng
Không những thế, để hoạt động giáo dục và thông tin tới người tiêudùng đạt hiệu quả cần tổ chức hoặc khuyến khích các chương trình tập huấncho những người làm công tác giáo dục, những người công tác ở các phươngtiện thông tin đại chúng và những người làm tư vấn về tiêu dùng, để giúp họ
có thể tham gia vào việc triển khai các chương trình giáo dục và thông tin cho
Trang 20người tiêu dùng.
1.1.3.7 Thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Tiêu dùng bền vững là việc thỏa mãn được nhu cầu của các thế hệ hiệntại và tương lai đối với hàng hóa và dịch vụ một cách bền vững về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường
Tiêu dùng bền vững là trách nhiệm chung của tất cả các nước thànhviên của Liên hợp quốc, các tổ chức xã hội, người tiêu dùng, doanh nghiệp,các tổ chức lao động Các tổ chức môi trường và các tổ chức người tiêu dùngđóng vai trò đặc biệt quan trọng Người tiêu dùng có vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy tiêu dùng bền vững về mặt môi trường, kinh tế, xã hội, bao gồmthông qua tác động của sự lựa chọn các nhà sản xuất Vì vậy, các nước cầnthúc đẩy sự phát triển và thực hiện các chính sách tiêu dùng bền vững và phảithống nhất chính sách này với các chính sách công khác Việc hoạch địnhchính sách của chính phủ nên được tiến hành với sự tham vấn của doanhnghiệp, người tiêu dùng, các tổ chức môi trường và các tổ chức có liên quankhác Doanh nghiệp có trách nhiệm thúc đẩy tiêu dùng bền vững thông quaviệc thiết kể, sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ Người tiêu dùng vàcác tổ chức môi trường có trách nhiệm thúc đẩy sự tham gia tranh luận về củacông chúng đối với vấn đề tiêu dùng bền vững và hợp tác với chính phủ vàdoanh nghiệp về vấn đề tiêu dùng bền vững
Để xây dựng và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tiêu dùng bền vững,các nước cần hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức dân sự liên quan đểthông qua việc phối hợp thực hiện nhiều chính sách trong đó có thể bao gồmcác quy định pháp luật; các công cụ kinh tế xã hội; các chính sách trong cáclĩnh vực như sử dụng đất, giao thông, năng lượng và nhà ở; các chương trìnhthông tin nhằm tăng cường nhận thức về tác động của tiêu dùng; loại bỏnhững trợ cấp là nguyên nhân gây ra sản xuất và tiêu dùng bất hợp lý và thúc
Trang 21đẩy các hoạt động quản lý môi trường đối với từng ngành cụ thể.
Để việc sử dụng hàng hóa có hiệu quả, các nước cần khuyến khích việcthiết kế, phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ an toàn và tiết kiệmnăng lượng, có cân nhắc tới các tác động vòng đời Nhằm khuyến khích ngườitiêu dùng tái chế rác thải và mua bán các sản phẩm tái chế, các nước cầnkhuyến khích xây dựng và thực hiện các chương trình tái chế
Không những thế, các nước cần thúc đẩy sự phát triển và việc sử dụngcác tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia về an toàn môi trường đối với sản phẩm vàdịch vụ; những tiêu chuẩn đó không được tạo ra các rào cản thương mại;khuyến khích kiểm nghiệm tác động môi trường của sản phẩm
Việc quản lý cẩn thận việc sử dụng những vật liệu gây nguy hại đếnmôi trường và khuyến khích sự ra đời của những vật liệu thay thế là cần thiếtđối với mỗi quốc gia Những vật liệu mới tiềm tàng chứa đựng nguy cơ gâyhại tới môi trường cần phải được đánh giá trên cơ sở khoa học về tác động lâudài đối với môi trường trước khi những vật liệu đó được đem đi phân phối
Tăng cường nhận thức các lợi ích liên quan tới sức khỏe của việc tiêudùng và sản xuất bền vững, lưu ý cả các tác động đối với sức khỏe cá nhân vàđối với tập thể thông qua bảo vệ môi trường là một vấn đề mà các nước cũngcần thực hiện
Thêm vào đó, để khuyến khích thay đổi việc tiêu dùng không bền vữngthông qua phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môitrường và cho ra đời các công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin vềcông nghệ truyền thông, mà có thể vừa thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùngvừa giảm thiểu ô nhiễm và sự mất cân đối các nguồn lực tự nhiên, các nướccần phối hợp với doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức liên quan khác
Các khía cạnh của tiêu dùng bền vững cũng cần được xây dựng hoặcphát triển các cơ chế quản lý hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng
Trang 22Việc xem xét một loạt các công cụ kinh tế là cần thiết, ví dụ như cáccông cụ tài khóa về chi phí môi trường, để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, cầnlưu ý các nhu cầu xã hội, nhu cầu và động lực gây ra hành vi bền vững, trongkhi tránh những tác động tiêu cực tiềm tàng khi tiếp cận thị trường
Để xây dựng những hướng dẫn, phương pháp luận và cơ sở dữ liệu đốivới những tiến bộ theo hướng tiêu dùng hợp lý ở mọi cấp độ, các nước cầnhợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác Những thông tin nàycần được công bố công khai
Vấn đề mua sắm chính phủ cần được các nước và các tổ chức quốc tế điđầu trong việc thực hiện các hoạt động bền vững trong hoạt động của mình.Tùy từng vào mỗi quốc gia, việc mua sắm của chính phủ cần khuyến khích đến
sự phát triển và sử dụng những sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường
Việc nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng mà có liên quan tớithiệt hại đối với môi trường ở các nước cũng là một biện pháp giúp tiêu dùngngày càng bền vững
1.1.3.8 Các biện pháp liên quan tới các lĩnh vực cụ thể
Trong việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, đặc biệt ở các nước đangphát triển cần có biện pháp ưu tiên cho các lĩnh vực được quan tâm đặc biệt
về sức khỏe của người tiêu dùng như thức ăn, nước và thuốc chữa bệnh Phêduyệt hoặc duy trì các chính sách về kiểm tra chất lượng sản phẩm, về cácphương tiện phân phối an toàn và thích hợp, tiêu chuẩn hóa việc ghi nhãnquốc tế và thông tin, cũng như các chương trình giáo dục nghiên cứu ở cácnước này Đối với các lĩnh vực cụ thể, Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nướccần quy định theo khuôn khổ chung trên một số phương diện cụ thể như:
Về thực phẩm
Khi xây dựng các chính sách và kế hoạch nhà nước về thực phẩm, cácnước cần xem xét nhu cầu của tất cả những người tiêu dùng đối với sự an toàn
Trang 23thực phẩm, cần ủng hộ và nếu có thể, chấp nhận các tiêu chuẩn của Tổ chứclương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức y tế thế giới củaLiên Hiệp Quốc và Tổ chức Codex Limentarius của WHO hoặc khi không cónhững tiêu chuẩn này thì công nhận các tiêu chuẩn về thực phẩm quốc tế đãđược công nhận rộng rãi khác và cần đẩy mạnh các chính sách và hoạt độngnông nghiệp bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nước, ghinhận kiến thức truyền thống.
Về nước
Trong khuôn khổ đề ra cho chương trình cấp nước quốc tế và Thập kỷ
vệ sinh, các nước cần xây dựng, duy trì và củng cố các chính sách nhà nước
để cải tiến việc cung cấp, phân phối, và chất lượng nước uống; quan tâm thíchđáng đến việc lựa chọn những mức độ chất lượng và công nghệ phù hợp, đếnnhu cầu cho các chương trình giáo dục và tầm quan trọng của việc tham giacủa cộng đồng và đặt ưu tiên cao cho việc xây dựng và thực hiện các chínhsách và chương trình liên quan tới việc sử dụng nước, ghi nhận tầm quantrọng của sự phát triển bền vững của nước nói chung và thực tế hạn chế nguồnnước nói riêng
Về dược phẩm
Việc phát triển hoặc duy trì các tiêu chuẩn hợp lý, những quy định vàcác hệ thống điều hành phù hợp để đảm bảo chất lượng và việc sử dụng dượcphẩm một cách hợp lý thông qua các chính sách thống nhất của nhà nước vềdược phẩm cũng là cần thiết đối với các nước Những tiêu chuẩn và quy định
đó cần đề cập đến việc cung ứng phân phối, sản xuất cấp chứng nhận các hệthống đăng ký, và việc cung cấp những thông tin tin cậy về dược phẩm Trongkhi thực hiện, các nước cần chú ý đặc biệt đến công việc và những kiến nghịcủa Tổ chức y tế thế giới về dược phẩm Đối với những sản phẩm phù hợp,nên khuyến khích việc sử dụng bản kế hoạch cấp chứng chỉ về chất lượng của
Trang 24các loại dược phẩm đang lưu hành trên thương trường quốc tế và các hệ thốngthông tin quốc tế khác của Tổ chức y tế thế giới về dược phẩm Nếu được,cũng cần phải thực hiện những biện pháp đẩy mạnh việc sử dụng những têngọi quốc tế không độc quyền cho các loại dược phẩm (INNs) do Tổ chức y tếthế giới vạch ra.
Ngoài những lĩnh vực ưu tiên nói ở trên, các nước cũng cần phê chuẩnnhững biện pháp phù hợp đối với lĩnh vực khác, như thuốc trừ sâu và hóachất, và nếu được, quy định cả việc sử dụng, sản xuất, và lưu kho của các loạithuốc trên Để thể hiện sự quan tâm thích đáng đến các thông tin về sức khỏe
và môi trường, các chính phủ có thể yêu cầu người sản xuất phải cung cấpthông tin, kể cả việc ghi lại thông tin đó trên nhãn sản phẩm
1.1.4 Hợp tác quốc tế
Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ hợp tácquốc tế giữa các nước, đặc biệt trong bối cảnh khu vực hoặc tiểu khu vực,Bản hướng dẫn yêu cầu các nước cần thực hiện các biện pháp nhằm hợp táctrong vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong đó có thể kể đến các định hướngnhư:
- Phát triển, rà soát, duy trì hoặc củng cố các cơ chế trao đổi thông tin
về những chính sách và biện pháp của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ ngườitiêu dùng
- Hợp tác và khuyến khích sự hợp tác trong việc áp dụng các chính sáchbảo vệ người tiêu dùng nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong phạm vinhững nguồn lực hiện có Ví dụ như sự hợp tác trong việc lập ra hay phối hợp
sử dụng những trang thiết bị thí nghiệm, những quy trình thử nghiệm chung,thay đổi những chương trình về thông tin và giáo dục người tiêu dùng, nhữngchương trình tập huấn và phối hợp biên soạn các quy định
- Hợp tác trong việc cải thiện những điều kiện để cung ứng những sản
Trang 25phẩm thiết yếu cho người tiêu dùng, chú ý cả hai mặt giá cả và chất lượng Sựhợp tác như vậy cần bao gồm việc phối hợp cung ứng những hàng hóa thiếtyếu, trao đổi thông tin về khả năng cung ứng và những thỏa thuận về việc xácđịnh đặc tính của sản phẩm trong địa phương.
Thêm vào đó, nhằm tạo điều kiện cho các nước nhập khẩu khác tự bảo
vệ có hiệu quả tránh những hậu quả tai hại của các sản phẩm, các nước cầnphát triển hoặc củng cố các mạng lưới thông tin có liên quan tới các sản phẩm
đã và đang bị cấm, thu hồi hoặc thu hẹp phạm vi lưu hành
Bên cạnh đó, các nước cần có những hành động để đảm bảo rằng chấtlượng sản phẩm và những thông tin liên quan tới các sản phẩm đó không thayđổi trong các nước trên thế giới để có thể gây tác hại cho người tiêu dùng
Để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, các nước, các tổ chức quốc tế vàdoanh nghiệp cần hợp tác với nhau để phát triển, chuyển giao và tuyên truyền
về các công nghệ có lợi cho môi trường, bao gồm thông qua các hỗ trợ tàichính từ các nước phát triển, và để tạo ra các cơ chế mới hỗ trợ việc trao đổigiữa tất cả các nước, đặc biệt là đối với và giữa các nước đang phát triển vànhững nước có nền kinh tế chuyển đổi
Việc thúc đẩy và tạo điều kiện xây dựng năng lực trong lĩnh vực tiêudùng bền vững, đặc biệt là ở những nước đang phát triển và những nước cónền kinh tế chuyển đổi đặt ra đối với các nước và các tổ chức quốc tế Đặcbiệt, các nước cũng cần tạo điều kiện hợp tác giữa các nhóm người tiêu dùng
và các tổ chức quần chúng liên quan nhằm mục đích xây và củng cố năng lựctrong lĩnh vực này
Tùy từng nơi, các nước và các cơ quan quốc tế cần thúc đẩy cácchương trình liên quan đến giáo dục và thông tin người tiêu dùng
Liên quan đến các chế định của thương mại quốc tế, các nước cần hànhđộng để đảm bảo rằng các chính sách và biện pháp bảo vệ người tiêu dùng
Trang 26được thực hiện với sự quan tâm đúng mức để chúng phù hợp và không gâytrở ngại
1.2 Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (Consumers International – CI) 1.2.1 Lịch sử hình thành
Tuy vấn đề bảo vệ người tiêu dùng đã được đặt ra từ lâu nhưng phongtrào người tiêu dùng thế giới chỉ thực sự bắt đầu từ những năm 1950 khi một
số nước phát triển thành lập các hội người tiêu dùng và đặc biệt là từ năm
1960, khi một tổ chức người tiêu dùng có tầm hoạt động quốc tế được thànhlập
Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng được thành lập năm 1960 bởi một số
tổ chức người tiêu dùng quốc gia với nhận thức rằng phong trào người tiêudùng từng nước có thể mạnh lên nhờ hoạt động mang tình quốc tế Tên gọiban đầu là Liên hiệp các tổ chức người tiêu dùng quốc tế (InternationalOrganisation of Consumer Unions – gọi tắt là IOCU) Tổ chức đã phát triểnnhanh chóng và được công nhận là tiếng nói của phong trào người tiêu dùngquốc tế, đặc biệt trong các vấn đề quan trọng như tiêu chuẩn hóa sản phẩm vàthực phẩm, y tế và quyền của người bệnh, môi trưởng và vấn đề tiêu dùng bềnvững, những quy định về buôn bán quốc tế và về các dịch vụ công cộng…
Năm 1994, Đại hội thể giới Quốc tế người tiêu dùng họp ở Montpellier(Pháp) quyết định đổi tên tổ chức thành Quốc tế người tiêu dùng (ConsumersInternational, gọi tắt là CI) Quốc tế người tiêu dùng hỗ trợ, tập hợp và đạidiện cho các tổ chức người tiêu dùng trên thế giới Quốc tế người tiêu dùngtình đến năm 2003 có trên 250 tổ chức thành viên ở 119 nước và vùng lãnhthổ trên thế giới
Quốc tế người tiêu dùng nỗ lực cổ vũ cho một xã hội công bằng, truingthực thông qua việc bảo vệ quyền của mọi người tiêu dùng, những người tiêudùng nghèo, ngưởi bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người bị thiệt thòi, bằng
Trang 27các hoạt động chính: (1) Hỗ trợ và tăng cường nâng lực cho các tổ chức thànhviên và phong trào người tiêu dùng nói chung; (2) Đấu tranh ở phạm vi quốc
tế cho những chính sách có liên quan đến người tiêu dùng
Quốc tế người tiêu dùng là một tổ chức độc lập, không vì lợi nhuận,kinh phí hoạt động dựa vào sự đóng góp của các tổ chức thành viên, sự ủng
hộ của các tổ chức, các chính phủ và các tổ chức đa phương Trụ sở chính củaQuốc tế người tiêu dùng đặt ở Luân đôn (Anh) Các văn phòng khu vực đượcđặt tại CualaLampo, Malaixia (văn phòng CI khu vực Châu Á – Thái BìnhDương – CI-ROAP), ỏ Santiago, Chile (văn phong CI khu vực Latinh – CI-ROLAC) và ở Harare (văn phòng CI khu vực Châu Phi – CI-ROAF)
1.2.2 Những lĩnh vực hoạt động chủ yểu của Tổ chức quốc tế người tiêu dùng
Trong việc bảo vệ ngưởi tiêu dùng, ngoài việc đưa vấn đề người tiêudùng thành một hoạt động có tầm cỡ quốc tế, tổ chức còn đặc biệt quan tâmđến các lĩnh vực đó là:
Công tác tiêu chuẩn hóa
Quốc tế người tiêu dùng rất quan tâm đến công tác tiêu chuẩn hóa, coiđây là một biện pháp tích cực để bảo vệ người tiêu dùng Ủy ban tư vấn vềchính sách đối với người tiêu dùng bên cạnh Tổ chức Tiêu chuấn hóa quốc tế(ISO) COPOLCO đã hoạt động trong nhiếu năm, góp phần đưa lợi ích ngườitiều dùng vào các chính sách tiêu chuẩn hóa của ISO, tham gia các cuộc họp
về tiêu chuẩn Trong 20 năm, CI đã có ảnh hưởng chủ yếu trong các tiêuchuẩn về an toàn cho xe ô tô cho thấy các nhà chế tạo ô tô đã có nhiều cải tiếnlàm cho ô tô được an toàn hơn Quốc tế người tiêu dùng đại diện cho ngườitiêu dùng trong nhiều ủy ban tiêu chuẩn hóa quốc tế như Tổ chức Tiêu chuấnhóa quốc tế ISO, Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Ủy ban Tiêu chuẩn hóathực phẩm (CODEX)…
Trang 28Chính sách về lương thực, thực phẩm
CI đã hoạt động tích cực cho việc dán nhãn sản phẩm lương thực, thựcphẩm nhằm cung cấp những thông tin đầy đủ và trung thực cho người tiêudùng Nhiều nhà sản xuất đã phải ghi nhãn cho các sản phẩm chuyển gien đểngười tiêu dùng có thông tin trong việc lựa chọn Đây là kết quả đấu tranh của
CI và các tổ chức người tiêu dùng quốc gia nhằm thúc đẩy các chính phủ quyđịnh chặt chẽ hơn việc ghi nhãn để thông tin cho người tiêu dùng
CI cũng thành công trong việc không cho phép quy định mức độ dưlượng tối đa của một số chất độc, gây ô nhiễm thực phẩm như dư lượng thuốctrừ dịch hại, thuốc thú y được phép có trong thực phẩm vì điều này sẽ gây nênnhững tác hại lớn cho sức khỏe người tiêu dùng CI đã cố gắng đề nghị các
Ủy ban Codex quốc gia phải có đại diện của người tiêu dùng Đại diện củangười tiêu dùng ngày nay được coi như một khâu thiết yêu không thể thiếutrong việc soạn thảo và ban hành các tiêu chuẩn về thực phẩm
Đề nghị Liên hợp quốc ban hành một danh mục các sản phẩm bị cấm
Từ đầu những năm 1980, Quốc tế người tiêu dùng đã thành công trongviệc thuyết phục Đại hội đồng Liên hợp quốc thành lập một danh mục các sảnphẩm bị cấm, các sản phẩm bị hạn chế nghiêm ngặt hoặc thu hồi khỏi thịtrường Thời kỳ này, việc tìm ra những sản phẩm như thuốc trừ dịch hại,thuốc chữa bệnh và các sản phẩm tiêu dùng nào là có hại và phải loại ra khỏithị trưởng ở các nước phát triển là một việc hết sức khó khăn Những tập đoànxuyên quốc gia đấy thế lực thực tế đã đưa hàng hóa độc hại, thừa ế vào thịtrưởng các nước đang phát triển Các tổ chức người tiêu dùng ở các nước HànQuốc, Eecuado, Braxin, Meehico… đã dùng bản danh mục sản phẩm bị cấmcủa Liên hợp quốc để loại bảo các sản phẩm độc hại khỏi thị trường nước họ.Nhiều nước đã dùng bản danh mục này để tạo ra một hệ thống khống chế vàkiểm soát các sản phẩm độc hại ở nước mình Đây là kết quả tích cực trong
Trang 29nhiều năm đấu tranh của Quốc tế người tiêu dùng
Xây dựng luật bảo vệ người tiêu dùng mẫu
Dùng Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc làmđiểm xuất phát, Quốc tế người tiêu dùng đã phát triển một bản luật bảo vệngười tiêu dùng mẫu cho khu vực Mỹ Latinh, Nam Thái Bình Dương và ChâuPhi Bản luật mẫu này đã được dùng làm cơ sở cho những luật bảo vệ ngườitiêu dùng ở nhiếu nước, do các hội bảo vệ người tiêu dùng các nước và cácVăn phòng khu vực của Quốc tế người tiêu dùng để xướng và cổ vũ Gần đây,nhiều nước ở Châu Phi và Mỹ Latinh đã đưa luật mẫu về bảo vệ người tiêudùng ra thảo luận
Thông tin và giáo dục người tiêu dùng
CI đã rất thành công trong việc thuyết phục các chính phủ đưa chươngtrình giáo dục người tiêu dùng vào các trường học Nhiều giáo viên trên toànthế giới đã được tập huấn về giáo dục ngời tiêu dùng qua các chương trìnhcủa CI Trong những năm 1990, những chương trình giáo dục người tiêu dùngđầy đủ đã được triển khai ở khu vực Mỹ Latinh và Nam Thái Bình Dương
Một trong những cố gắng có ý nghĩa của CI trong năm 2001 là đã đưađược chương trình tư vấn và thông tin lên mạng Internet Hầu như tất cả các
tổ chức thành viên đã tiếp cận Internet, một phần do sự giúp đỡ tài chính vàhuấn luyện của các chương trình của CI, cho phép CI thiết lập được mạnglưới và xuất bản điện tử Tất cả các bản tin của các văn phòng khu vực hiệnnay đều được đưa lên mạng, bao gồm các bản tin điện tử, thảo luận bằng thưđiện tử và một vài trang web Tất cả các khu vực đều có mạng lưới về thựcphẩm và thương mại Ngoài ra, các chủ đề khác như dịch vụ công , giáo dụcngười tiêu dùng, luật bảo vệ người tiêu dùng, trách nhiệm xã hội của các công
ty tiêu dùng bền vững, thương mại điện tử và kỹ thuật chuyển gien… cũngđược một số văn phòng khu vực đưa lên mạng
Trang 30Tháng 11 năm 2001, tạp chí Người tiêu dùng Thế giới (WorldConsumer) đã được xuất bản Nhiều thông tin và hoạt động của CI có thể tìmthấy trên trang Web của CI, có địa chỉ www.consumeromternational.org
Thương mại
Từ năm 1997 đến 2000, CI đã thành công trong việc đưa một chươngtrình về chính sách đối với người tiêu dùng và Hiệp định thương mại giữaLiên minh Châu Âu và 71 nước ở Châu Phi, vùng Caribee và Thái BìnhDương (EU/ACP) Đây là lần đầu tiên, chính sách đối với người tiêu dùngđược đưa vào một hiệp định thương mại, bao gồm việc cam kết hỗ trợ chophát triển của các tổ chức người tiêu dùng và về những sản phẩm của EU đã
bị cấm không được xuất khẩu vào các nước này
CI đi đầu trong các hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trong thời đạithương mại điện tử, tích cực đóng góp vào Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêudùng trong thương mại điện tử của các nước phát triển OECD
Sức khỏe và thuốc chữa bệnh
Quốc tế người tiêu dùng là một trong những tổ chức chịu trách nhiệmchính trong việc thiết lập Mạng lưới quốc tế về hành động vì sức khỏe, đấutranh cho an toàn, điều kiện tiếp cận và giá cả của thuốc chữa bệnh CI cũng
là một thành viên thiết lập IBFAN, một mạng lưới đấu tranh chống việcquảng cáo các sản phẩm thay thế sữa mẹ Kết quả công việc của CI/IBFAN lànăm 1981, Liên hợp quốc đã phê chuẩn Quy tắc quốc tế về tiếp thị các sảnphẩm thay thế sữa mẹ
Bảo vệ môi trường
CI là một thành viên thiết lập và điều phối mạng lưới hành động vêthuốc trừ dịch bệnh, có ảnh hưởng đến việc Liên hợp quốc phê chuẩn quy tắc
về tiếp thị thuốc trừ dịch hại năm 1995 CI cũng là đại diện tích cực của ngườitiêu dùng trong chương trình môi trường (UNEP) trong việc ban hành nhiều
Trang 31quy tắc và công ước về bảo vệ môi trường, như Nghị định thư Montreal vềcác chất phá hủy tầng ô zôn, công ước khung của Liên hợp quốc về thay đổikhí hậu và công ước của Liên hợp quốc về đa dạng sinh học
Năm 1999, Bản hướng dẫn của Liên hợp quốc về Bảo vệ người tiêudùng được bổ sung thêm nội dung bảo vệ môi trường, một phần là do những
nỗ lực của CI Quốc tế người tiêu dùng cho rằng tiêu dùng bền vững hôm nay
sẽ tạo điều kiện để có thể thỏa mãn nhu cầu của mọi người tiêu dùng mai sau
Dịch vụ công cộng
Việc cung cấp các dịch vụ cơ bản như điện, nước, viễn thông… là vấn
đề quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng Quốc tế người tiêu dùng đã tiếnhành nhiều nghiên cứu đề xuất chính sách, tập huấn để người tiêu dùng có thểtham gia vào việc hoạch định chính sách và giám sát việc điều hành các dịch
vụ cơ bản, nhờ đó mà nâng cao được chất lượng, hạ giá cung ứng dịch vụcông cộng, làm cho việc cung ứng được minh bạch và trung thực hơn
Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất, kinh doanh
Đạo đức trong ứng xử của các công ty xuyên quốc gia là một vấn đề màQuốc tế người tiêu dùng đã tập trung sự chú ý trong nhiều năm Điều lệ củaQuốc tế người tiêu dùng trong mục nói về Thương mại toàn cầu đã nêu lênnhững vấn đề đối với nhà kinh doanh như đạo đức trong cư xử, cạnh tranh,tiêu chuẩn sản phẩm, tiếp thị, ghi nhãn và cung cấp thông tin, bồi thường chongười tiêu dùng… Những khuyến nghị về đầu tư trực tiếp của nước ngoàicũng được nêu lên một cách chi tiết trong bản báo cáo thường niên năm 1997
có tiêu đề: “Người tiêu dùng mong muốn gì ở các quy định quốc tế về đầu tưtrực tiếp”
Bên cạnh đó, do các thành viên của Quốc tế người tiêu dùng phần lớn
là ở các nước đang phát triển, trong đó việc tổ chức và động viên các nguồnlực để phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ người tiêu dùng là rất khó khăn Vì vậy,
Trang 32Quốc tế người tiêu dùng đã chú trọng trong việc giúp đỡ các nước này thànhlập các tổ chức người tiêu dùng, xây dựng thành những tổ chức lớn mạnh để
có thể có tiếng nói mạnh mẽ trong việc hoạch định các chính sách, vì lợi íchcủa người tiêu dùng cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế Quốc tế người tiêudùng đã phát triển nhiều chương trình huấn luyện, giúp đỡ về tài chính, kỹthuật, thông tin, trao đổi các chương trình và liên kết hành động, nhằm nângcao hiểu biết và kỹ năng hoạt động của các nước thành viên
Cùng với việc phát triển về kinh tế, vấn đề người tiêu dùng hiện naykhông còn chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà đã trở thành vấn đềquan tâm của toàn thế giới Ở nhiều nước, có những nhóm người tiêu dùnghoạt động theo từng lĩnh vực Quốc tế người tiêu dùng hiện nay là một tổchức của người tiêu dùng lớn nhất thế giới, hoạt động toàn diện, vì lợi ích củangười tiêu dùng Quốc tế người tiêu dùng đặc biệt quan tâm đến người tiêudùng nghèo, người tiêu dùng còn chịu thiệt thòi và người tiêu dùng ở cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các quốc gia trên thếgiới chủ yếu được quy định trong chế định về trách nhiệm sản phẩm Tráchnhiệm sản phẩm (product liability) được giải thích là trách nhiệm của ngườisản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường cho các thiệt hại gây rabởi khuyết tật của hàng hóa mà họ đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quátrình kinh doanh
Chế định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm (ProductsLiability) là một định chế pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tếthị trường phát triển Quá trình phát triển quy định pháp luật này gắn liền vớinhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất, cung ứng hànghóa, sản phẩm Cội nguồn của vấn đề là ở sự xung đột lợi ích giữa việc chạyđua lợi nhuận với sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe chongười tiêu dùng Các doanh nghiệp, do chạy theo lợi nhuận, do để cạnh tranh,
có xu hướng bỏ qua những yêu cầu về an toàn nhằm tránh chi phí sản xuấthoặc những cảnh báo về sự nguy hại tiềm tàng của việc sử dụng sản phẩmnhằm tránh việc giảm mức tiêu thụ chúng Sự phát triển của chế định này làmột bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sảnxuất, cung ứng sản phẩm vì lợi ích của công đồng Bản chất của chế định này
là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân sản xuất cung cấp sản phẩmphải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sảnphẩm nếu như sản phẩm có khiếm khuyết hay việc sử dụng chúng tiềm ẩnnhững nguy hại nhưng không được cảnh báo trước
Để hiểu rõ về chế định trách nhiệm sản phẩm này một cách cụ thể hơn,
Trang 34chúng ta cùng tìm hiểu những quy định của vấn đề này tại một số nước trênthế giới
2.1 Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, năm 1965, Viện Luật Mỹ đã ban hành Bộ pháp điển phiênbản 2 [2] Đáng chú ý trong Bộ pháp điển này liên quan đến trách nhiệm sảnphẩm là mục 402A với định nghĩa và những quy định về trách nhiện đối vớinhững sản phẩm có khuyết tật Cụ thể như sau:
“1.1 Một người bán bất kỳ một sản phẩm nào trong tình trạng có khiếm khuyết có tình nguy hiểm cao cho người sử dụng, hoặc cho khách hàng, hoặc cho tài sản của họ, sẽ phải chịu trách nhiệm đối với những thệt hại vật chất xảy ra đối với người sử dụng hoặc khách hàng hay tài sản của họ nếu:
i) Người bán tham gia vào việc kinh doanh sản phẩm đó, và
ii) Sản phẩm đó đã có thể, hoặc đã tới được những người sử dụng, hoặc khách hàng mà không có sự thay đổi đáng kể nào về điều kiện hay tình trạng của sản phẩm như lúc bán
1.2 Khoản 1.1 nêu trên cũng được áp dụng trong các trường hợp: i) Người bán đã thực hiện tất cả những sự thận trọng có thể trong việc chuẩn bị và bán sản phẩm, và
ii) Người sử dụng hoặc khách hàng đã không mua sản phẩm từ hoặc giao kết bất kỳ một thỏa thuận hợp đồng nào với người bán
iii) Theo quy định của mục 402A này thì người bán bao gồm: người bán lẻ, người bán buôn, nhà sản xuất Thiệt hại bao gồm thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và thiệt hại về kinh tế tài chính”
Tại thời điểm đó, hầu hết các bang của Mỹ đều viện dẫn áp dụng mục402A của đạo luật này cùng với pháp luật của bang để bảo vệ người tiêudùng Trong rất nhiều năm, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm cùng với điều
Trang 35402A này đã được phát triển qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi Tuy nhiên, cùngvới sự phát triển đa dạng của quan hệ thương mại, rất nhiều người cho rằngmục 402A của Bộ pháp điển hóa “Restatement of Torts” đã không còn phùhợp Hơn nữa, bản thân các khái niệm được nêu ra trong đó còn tồn tại nhiềumâu thuẫn, hạn chế sự phát triển pháp luật trách nhiệm sản phẩm nói chung
và trong việc thực thi mục 402A nói riêng
Chính vì những lý do trên mà Viện Luật Mỹ (ALI) đã quyết định sửađổi những vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm trong đạo luật
“Restatement of Torts” Năm 1995, Viện Luật Mỹ đã soạn thảo một Luật mẫucủa liên bang về trách nhiệm sản phẩm (Product Liability Fairness Act) vớimục đích nhất thể hóa mảng pháp luật này Luật mẫu này hệ thống hóa vàphát triển nhiều kết luận và các học thuyết được sử dụng trong các án lệ, cácquy định trong các đạo luật của liên bang liên quan đến trách nhiệm sảnphẩm Dự án này đã hoàn thành năm 1997 sau khi được các thành viên củaALI phê chuẩn Trong bộ pháp điển hóa chỉ có điều 402A gồm 2 mục quyđịnh về khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do thiết kế Trong khi đó, Luậtmẫu có đến gồm 21 mục đề cập đầy đủ hơn đến khuyết tật do sản xuất, khuyếttật do thiết kế, khuyết tật do cảnh báo và những hướng dẫn thi hành Phiênbản hoàn chính nhất của luật này được đưa ra công chứng ngày 6 tháng 5 năm
1998 dưới cả dạng bản cứng và bản mềm Do có rất nhiều bang đã khôngchấp nhận nên Luật này vẫn chưa có được giá trị như Bộ luật Thương mạithống nhất (UCC) Tuy nhiên, nhiều quy định trong Luật mẫu có ảnh hưởngrất lớn đến hoạt động xét xử của các tòa án Mỹ đối với các vụ kiện về tráchnhiệm sản phẩm Luật này đã quy định nguyên tắc chung và một nguyên tắc
cụ thể về trách nhiệm sản phẩm Những nguyên tắc này rất có ý nghĩa đối vớinhững người khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sử dụng sản phẩm khiếmkhuyết hay không an toàn
Trang 36So sánh giữa phiên bản năm 1965 và năm 1997 có thể thấy rõ sự khácbiệt về mức độ chi tiết trong các quy định (nhất là việc làm rõ các dạngkhuyết tật của sản phẩm) Theo giáo sư David G.Owen – Giáo sư danh dự,Đại học Nam Carolina, một trong những chuyên gia hàng đầu về Luật tráchnhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ, thì sở dĩ phiên bản năm 1965 khá đơn giản vìvào thời điểm đó, chế định về trách nhiệm sản phẩm (nhất là quy định vềtrách nhiệm nghiêm ngặt) ở Hoa Kỳ mới ở giai đoạn bắt đầu hình thành[3].
Có quan niện cho rằng khuyết tật trong sản phẩm trong thực tế chỉ tồn tại ởhoặc một trong ba dạng là: (1) khuyết tật trong quá trình sản xuất; (2) khuyếttật trong khâu thiết kế; (3) khuyết tật do thiếu sự hướng dẫn hoặc cảnh báocần thiết, chỉ được thừa nhận rộng rãi sau này
Thực tế vào cuối thập niên 1990, khi biên soạn phiên bản 3 của Điều402A, quan niệm đã được chấp nhận rất rộng rãi cả trong giới lý luận và hoạtđộng thực tiễn ở Hoa Kỳ Theo phân tích của Giáo sư David G.Owen, thì vớiviệc công nhận ba loại khuyết tật kể trên, về hình thức, Điều 402A đã đượcthiết kế theo nguyên tắc “trách nhiệm nghiêm ngặt” và yếu tố then chốt cầnxét tới là sự tồn tại hay không của khuyết tật sản phẩm chứ khong phải là yếu
tố “lỗi” Thực tế cho thấy các quy định điều chỉnh trách nhiệm bồi thường gây
ra bởi sản phẩm khuyết tật về cảnh báo thực chất là cách tiếp cận khác đối vớitrách nhiệm dựa trên lỗi bất cẩn Chỉ với loại khuyết tật trong khâu sản xuất,nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó
Có thể thấy pháp luật liên bang của Mỹ chưa thể điều chỉnh thống nhấtcác quan hệ về trách nhiệm sản phẩm Tuy nhiên, nhiều quy định trong cácvăn bản pháp luật liên bang về nghĩa vụ đảm bảo trong sản xuất và tiêu thụsản phẩm được áp dụng để xác định các khía cạnh khác nhau về trách nhiệmcủa nhà sản xuất, nhà cung ứng đối với sản phẩm của mình khi chúng gâythiệt hại cho người tiêu dùng Như vậy, nội dung cơ bản của pháp luật trách
Trang 37nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ bao gồm:
Một là, về khuyết tật của sản phẩm bao gồm ba loại: khuyết tật do thiết
kế, khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do cảnh báo không đầy đủ Cụ thể:
- Khuyết tật do lỗi thiết kế[4]: Theo nguyên tắc này, nhà sản xuất phảithiết kế các sản phẩm sao cho sản phẩm phải an toàn đối với mọi mục đích sửdụng có thể dự đoán trước Cụ thể là luật sư của bên nguyên có thể kiện nhàsản xuất do thân chủ của mình đã bị tổn hại khi sử dụng sản phẩm mà đáng racác tổn thương đó hoàn toàn có thể tránh được nếu nhà sản xuất đưa ra mộtmẫu thiết kế an toàn hơn hoặc có điều kiện giảm nhẹ nguy cơ rủi ro và việc sửdụng thiết kế này khả thi cả về điều kiện kỹ thuật và tài chính ở thời điểm sảnxuất Bên nguyên cần đưa ra các bằng chứng có tình thuyết phục và có xácnhận của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan về mẫu thiết kế chưa hợp lýcủa nhà sản xuất
- Khuyết tật sản xuất[5]: thường là khuyết tật xảy ra đối với những sảnphẩm sản xuất không theo đúng yêu cầu thiết kế hoặc tiêu chuẩn hoạt độnghoặc có sự khác biệt đáng kể so với việc sản xuất ra sản phẩm cùng loại trongcùng dây chuyền sản xuất Những hư hỏng do sản xuất bao gồm việc lắp rápkhông đúng, thiếu hụt chi tiết, các bộ phận liên kết không chặt, sử dụngnguyên vật liệu kém tiêu chuẩn hoặc nguyên vật liệu hư hỏng Khuyết tật sảnxuất trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm có một số sự khác nhau giữa các bangcủa Hoa Kỳ Nhiều bang không coi sản phẩm bị khuyết tật so sản xuất khi trongthực phẩm bị lẫn trong đó các chất bẩn tự nhiên Ví dụ: trong mứt táo còn hột táo,trong xúc xích bò còn vương vài mẩu vụn xương bò Những tạp chất này nếu lẫntrong thực phẩm thì không bị coi là khuyết tật của sản phẩm Tuy nhiên, nếu trongthực phẩm có lẫn các tạp chất ngoại lai thì được coi là khuyết tật sản xuất Ví dụ,trong Coca-Cola có sâu, trong bánh có sỏi, cát…
- Khuyết tật do lỗi cảnh báo không đầy đủ[6]: Một sản phẩm không
Trang 38mắc bất kỳ lỗi nào trong sản xuất hay thiết kế vẫn có thể bị kiện khi nó gâytổn hại đến cho người tiêu dùng do các chỉ dẫn và cảnh báo đính kèm với sảnphẩm không đầy đủ, không rõ ràng hoặc quá phức tạp để hiểu rõ Điều này cónghĩa là đối với những sản phẩm mà việc sử dụng tiềm ẩn những sự nguy hạisong khi đưa nó vào thị trường, nhà sản xuất đã không cảnh báo cho ngườitiêu dùng hoặc cảnh báo không đầy đủ Ví dụ cho việc áp đặt trách nhiệm bồithường dựa trên cơ sở này là việc hút thuốc lá Nhiều người đã thắng kiện cáccông ty thuốc lá về việc họ bị ung thư, bị các bệnh khác do hút thuốc lá.Chính vì lý do đó, các công ty thuốc lá đã đăng trên bao bì các cảnh báo về sựnguy hiểm của thuốc lá: Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ Người sản xuấtchịu trách nhiệm đối với thiệt hại của người sử dụng sản phẩm do không đượccảnh báo về mối nguy hiểm của sản phẩm Nghĩa vụ cảnh báo của người sảnxuất bao gồm cả cảnh báo việc sử dụng không đúng sản phẩm[7] Trongtrường hợp này chỉ cần luật sư của nguyên đơn chứng minh được rằng nhữngtổn hại mà nguyên đơn gánh chịu do không được chỉ dẫn và không được cảnhbáo đầy đủ về việc sử dụng sản phẩm
Những cách thức để xác định khuyết tật của sản phẩm được các bangcủa Mỹ sử dụng phổ biến là:
- Kiểm định về sự mong muốn của người tiêu dùng (ConsumerExpectation Test)
- Kiểm định về tính nguy cơ - sự hữu ích (Risk – Utility Test)
- Nguyên tắc về sự nguy hiểm rõ ràng (Open and Obvious Danger Rule)
- Sự lựa chọn thiết kế hợp lý có thể thực hiện được Feasible/ReasonableDesign Alternative)
- Học thuyết trung gian có học vấn (Learned Intermediary Doctrine)
Hai là, chủ thể chịu trách nhiệm sản phẩm bao gồm:
- Các nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ (hệ thống phân phối) phải chịu
Trang 39trách nhiệm với những thiệt hại do khuyết tật của hàng hoá gây ra cho người
sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó
- Công ty nước ngoài trực tiếp kinh doanh tại Hoa Kỳ[8]
Ba là, các nguyên tắc áp dụng của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
của Hoà Kỳ Bao gồm ba nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc áp dụng luật liên bang khi có xung đột giữa luật bang vàluật liên bang Tức là, trong trường hợp có xung đột giữa các quy định củapháp luật liên bang về trách nhiệm sản phẩm với các quy định của luật liênbang thì các thẩm phán ưu tiên áp dụng luật liên bang
- Nguyên tắc “trách nhiệm tuyệt đối” Theo nguyên tắc này thì nhà sảnxuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ có thể phải chịu trách nhiệm đối với nhữngthương tật do khuyết tật của sản phẩm gây ra, bất kể áp dụng các biện pháp đềphòng nào
- Nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành khi có xung đột giữapháp luật về trách nhiệm sản phẩm của các luật chuyên ngành Luật tráchnhiệm sản phẩm được coi là luật chung trong mối quan hệ với các luật chuyênngành khác như luật về an toàn chất lượng, luật về vệ sinh, an toàn… Cácbang, bên cạnh các luật Liên bang vẫn ban hành những luật chuyên ngànhnhư trên Vì vậy, khi có xung đột giữa luật chuyên ngành của bang và luậttrách nhiệm sản phẩm chung thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành
Bốn là, hậu quả pháp lý do vi phạm trách nhiệm sản phẩm bao gồm:
- Cấm các sản phẩm tiêu dùng nếu các sản phẩm đó không có các tiêuchuẩn bảo vệ người tiêu dùng một cách hợp lý và khả thi;
- Kiểm tra và đưa ra lệnh thu hồi sản phẩm khuyết tật hoặc yêu cầunhững sản phẩm đó được sửa chữa;
- Cấm nhập khẩu vào Hoa Kỳ những sản phẩm không phù hợp vớinhững yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng, với trách nhiệm nghiêm ngặt quy định
Trang 40trong luật trách nhiệm sản phẩm;
- Khi xác định một sản phẩm nguy hiểm, nhà sản xuất có thể bị yêu cầuthông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù hợp của sảnphẩm đó và yêu cầu nhà sản xuất hoặc phải sửa chữa, thay thế sản phẩm hoặctrả lại tiền cho người tiêu dùng;
- Ngoài ra, nhà sản xuất vi phạm luật lệ và có sản phẩm gây tổn thươngcho người sử dụng có thể bị áp dụng chế tài dân sự hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự
Năm là, các trường hợp miễn trách nhiệm đối với nhà sản xuất Bên
cạnh việc quy định cơ sở áp đặt trách nhiệm đối với sản phẩm, pháp luật Hoa
Kỳ còn quy định các điều kiện bảo vệ cho nhà sản xuất, cung ứng và ngườikhởi kiện phải luôn luôn tính đến tình trạng này Các trường hợp đó bao gồm:
- Người khởi kiện không chứng minh được rằng người sản xuất, cungứng biết được nguy cơ có khả năng chọn được giải pháp tốt hơn Đây chính làmột trong những điểm khó khăn mà bên khởi kiện phải vượt qua được nếumuốn chiến thắng
- Bên khởi kiện không chứng minh được rằng mình không biết gì vềnguy cơ gây hại của sản phẩm Tức là, nếu bên khởi kiện biết nguy cơ tiềm ẩn
mà vẫn sử dụng sản phẩm thì đó là sự tự nguyện chấp nhận rủi ro
- Sự bất cẩn của bên khởi kiện cũng có thể là cơ sở giảm nhẹ tráchnhiệm của người sản xuất nếu như sự bất cẩn đó dẫn đến thiệt hại Tình tiếtgiảm nhẹ này cũng giống như trong các vụ kiện về bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng trong pháp luật của một số nước
- Trường hợp người sử dụng sản phẩm không đúng chỉ dẫn, sai côngdụng hoặc việc thay đổi cấu trúc hay tính chất của sản phẩm là cơ sở giảmhay miễn trách nhiệm của người sản xuất Cách tiếp cận việc sử dụng sảnphẩm sai như tình tiết miễn hoặc giảm trách nhiệm của nhà sản xuất khác