1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo Trình Đại Cương Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ

259 3K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

10PDD Rối loạn phát triển diện rộng Pervasive Developmental Kiến thức: Người học nắm được những kiến thức cơ bản có liên quan đến giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ: Khái niệm, nguyên nhân,

Trang 1

GIÁO TRÌNH ĐẠI CƯƠNG GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

GIÁO TRÌNH ĐẠI CƯƠNG GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

PGS TS NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN (Chủ biên)

ThS ĐỖ THỊ THẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ cái

viết tắt

AAMR Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ

American Association of Metal Retardation

ADD Rối nhiễu giảm tập trung Attention Deficit Disoder

AD/HD Tăng động/giảm tập trung Attention Deficit/ Hyperactivity

Disoder

thơ

Childhood Disintegrative Disorder

DSM- IV Sổ tay chẩn đoán và thống kê

các rối nhiễu tinh thần – Mĩ

Diagnostic and Statiscal Menual of Mental Disorders

IASSID Tổ chức nghiên cứu khoa học

quốc tế về người khuyết tật trí tuệ

International Association for the Scientific Study of Mental Deficiency

ICD 10 Hệ thống phân loại quốc tế các

bệnh và các vấn đề sức khoẻ liên quan - Xuất bản lần thứ 10

International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems ICD

Trang 2

10PDD Rối loạn phát triển diện rộng Pervasive Developmental

Kiến thức: Người học nắm được những kiến thức cơ bản có liên quan

đến giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ: Khái niệm, nguyên nhân, các hội chứngthường có liên quan đến khuyết tật trí tuệ, đặc điểm tâm lí của trẻ khuyết tậttrí tuệ; phương pháp phát triển giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ và quản líhành vi của trẻ khuyết tật trí tuệ

Kĩ năng: Người học có được những kĩ năng trong việc tìm hiểu những

vấn đề liên quan đến trẻ khuyết tật trí tuệ (những khó khăn về thể chất - tâmthần, đặc điểm tâm lí…), có kĩ năng giao tiếp và quản lí hành vi của trẻ khuyếttật trí tuệ

Thái độ: Có thái độ trân trọng khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật trí

tuệ, tôn trọng, khích lệ trẻ học tập; yêu nghề, tận tâm với giáo dục trẻ khuyếttật trí tuệ, tích cực, chủ động tìm kiếm và áp dụng kiến thức, kĩ năng vào thựctiễn giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

1 Khái niệm khuyết tật trí tuệ (Intellectual disability)

Ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX vấn đề nghiên cứu trẻ khuyết tậttrí tuệ (KTTT) đã được nhiều nhà khoa học quan tâm như: các bác sĩ, các nhàtâm lí học, giáo dục học, sinh học, giải phẫu…

Alfred Binet và Theodore Simon là những người đầu tiên phát minh raTrắc nghiệm chỉ số trí tuệ vào đầu thế kỉ XX, họ cho rằng những người có chỉ

số trí tuệ dưới 70 bị coi là KTTT

Theo Edgardoll (1941) định nghĩa, một trẻ KTTT phải biểu hiện ở 6 tiêuchí sau: 1) Không thích nghi được với xã hội; 2) Trí thông minh thấp hơn mứcbình thường; 3) Không có khả năng phát triển trí tuệ cao hơn nữa; 4) Chỉ đạt

ở mức độ phát triển nhất định; 5) Mức độ phát triển tuỳ theo sự phát triển củathể chất; 6) Không có khả năng chữa trị được

Năm 1954 Benda cho rằng: KTTT là người không có khả năng điềukhiển bản thân và xử lí các vấn đề của riêng mình, hoặc phải được dạy mớibiết làm, họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻcủa bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng

Theo Luria (1966) thì: “Trẻ KTTT là những trẻ mắc phải bệnh về não rấtnặng từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời Bệnhnày cản trở sự phát triển của não, do vậy nó gây ra những sự phát triểnkhông bình thường về tinh thần… Trẻ KTTT dễ dàng được nhận ra do khảnăng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế”

AAMR cho rằng: KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng

kể trong việc thực hiện chức năng trí tuệ và các kĩ năng thích nghi thực tế,thích nghi xã hội, kĩ năng nhận thức Loại tật này bắt đầu trước 18 tuổi

Năm 1991, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: KTTT (còn gọi là chậmkhôn hay thiểu năng trí tuệ) là hiện tượng thấp kém về trí tuệ của một cá nhân

so với các thành viên khác trong xã hội Biểu hiện qua việc cá nhân đó không

Trang 4

có khả năng hoàn thành các công việc trí óc và các hoạt động khác tươngứng với lứa tuổi hoặc gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong thích nghi xã hội Vềphương diện bệnh lí, cần phân biệt KTTT với mất trí hay tổn thương trí tuệ

Theo chúng tôi, KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng

kể trong việc tiếp thu, hạn chế về khả năng thực hiện chức năng trí tuệ củamột cá nhân so với các thành viên khác trong xã hội, khó khăn trong các kĩnăng thích nghi thực tế Điều này làm cho một cá nhân KTTT khó khăn trongviệc hoàn thành các công việc trí óc và các hoạt động khác tương ứng với lứatuổi hoặc gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong thích nghi xã hội

Theo khái niệm về KTTT như trên, chúng ta có thể thấy rằng nhân tốchủ yếu quyết định các đặc điểm và đặc thù của một người KTTT là sự hạnchế về trí tuệ, về khả năng nhận thức và kém thích nghi với xã hội

2 Các nguyên nhân gây nên khuyết tật trí tuệ

Theo DSM- VI, KTTT có thể do các nguyên nhân sinh học hoặc xã hộigây nên hoặc do cả hai nguyên nhân Trong số những người bị KTTT thì cókhoảng 30 - 40% không rõ nguyên nhân Số người bị KTTT xác định đượcnguyên nhân có tỉ lệ phân bổ như sau:

- Nguyên nhân di truyền: chiếm khoảng 5%

- Biến đổi bất thường trong thời kì đầu của sự phát triển: chiếm khoảng30%

- Bất thường khi mang thai hoặc khi sinh: chiếm khoảng 10%

- Tổn thương thời kì mới sinh hoặc thời ấu thơ: chiếm khoảng 5%

- Môi trường và các khuyết tật tinh thần khác: chiếm khoảng 15 - 20%

2 1 Những nguyên nhân có trước khi sinh

2.1.1 Những yếu tố nội sinh

Đột biến nhiễm sắc thể gây nên hội chứng: Down, Klinefelter, Turner,thể ba ở cặp nhiễm sắc thể 13, 18… Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây

Trang 5

nên tật KTTT Với những đứa trẻ mắc phải hội chứng này, người ta còn cóthể quan sát được nhiều rối loạn bên ngoài chỉ bằng mắt thường

- Hội chứng Down (Down syndrome): Do sự không phân li của cặpnhiễm sắc thể thứ 21 nên ở những người này có ba cặp nhiễm sắc thể ở cặp

21 (gọi là thể ba) và bộ nhiễm sắc thể của người mang hội chứng Down là 2n

= 47, + 21  

- Thể ba ở cặp nhiễm sắc thể 13 (2n = 47, +13) thường gây chết ở trẻ

sơ sinh, dưới ba tháng tuổi nên hiếm thấy ở người lớn Một số ít sống đến 5tuổi Triệu chứng là não teo đi, mất trí, bị điếc và nhiều dị dạng khác ở nộiquan và các cơ quan bên ngoài

- Thể ba ở cặp nhiễm sắc thể 18 (2n = 47, +18), biểu hiện mất trí vànhiều tật bẩm sinh Trẻ sinh ra bị hội chứng này thường do các bà mẹ lớntuổi

- Hội chứng Turner (Turner syndrome) (2n = 45, X): Người bị hội chứngnày có 44 NST thường và một nhiễm sắc thể giới tính X Hội chứng đượcH.H Turner phát hiện vào năm 1938 Những trẻ em bị hội chứng này thườngchết trong bào thai, hơn 90% sảy thai đột ngột, rất ít người sống đến tuổitrưởng thành (1/15000) Nếu sống đến tuổi trưởng thành thì thường có những

dị hình như không có buồng trứng, thiếu các tính trạng giới tính thứ cấp do đókhông có con, KTTT và nhiều dị dạng bên ngoài khác Nguyên nhân có thể domột tinh trùng không có nhiễm sắc thể giới tính, cũng có thể mất đi một NSTgiới tính XX hay XY Dạng thứ hai này thuộc “thể khảm” thường có ít dị hìnhhơn, có thể tạo tính cái và vẫn có thể có con

- Hội chứng Klinefelter (47, XXY): Hội chứng này do H.F Klinefelter mô

tả năm 1942, chỉ xuất hiện ở nam giới nhưng không bình thường về tuyếnsinh dục, có một số đặc điểm giống nữ (có vú như nữ), không có con, KTTT,thân hình cao không cân đối, chân quá dài, mù màu Nguyên nhân có thểtrong quá trình thụ tinh, hợp tử được hình thành từ tinh trùng có NST giới tính

Y với một trứng đặc biệt có NST giới tính XX, kết quả là tạo ra bộ NST lưỡng

Trang 6

bội gồm 22 cặp NST thường và cặp NST giới tính kiểu XXY (thừa một NSTX)

* Lỗi gen: (chủ yếu do thiếu một chất men nào đó) dẫn đến rối loạn các

chuyển hoá: Hội chứng PKU, San filippo, chứng xơ cứng dạng củ, gây nhiễmsắc thể, Rett, William Beuren, Angelman, Prader Willy

- Hội chứng Phenylketonuria (PKU), do gen lặn gây ra Do một nguyênnhân nào đó gen bị đột biến Lúc mới sinh thường vẫn khoẻ, nhưng sau một

số tuần thì bị mất trí, nhiều trẻ không đi được, không nói được, lên cơn độngkinh, KTTT và có thể dẫn đến bị điên Việc rối loạn chuyển hoá bẩm sinh dẫnđến sự thừa (tích tụ) một số chất, đồng thời có thể thiếu một số chất khác,hơn nữa có thể xuất hiện những chất mới vốn không có và không cần cho cơthể, từ đó dẫn đễn sự đầu độc cơ thể làm xuất hiện bệnh Bệnh này cần đượcphát hiện sớm, có thể phát hiện ngay từ khi còn nằm trong tử cung Khi đãphát hiện được khâu bị rối loạn có thể không dùng những chất mà cơ thểkhông chuyển hoá được hoặc bổ sung những chất cơ thể còn thiếu

- Hội chứng Alcaptonuria (còn gọi là Ancapton) do một gen lặn gây ra,thường xảy ra trong những gia đình có người trong họ (cùng dòng họ) lấynhau Lúc còn bé, trẻ thường chưa bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng về saudẫn đến nhiều biến loạn khác nhau như trẻ bị KTTT

- Hội chứng Gãy NST X (Fragile X syndrome): Năm 1991, các nhà khoahọc phát hiện ra gen gây ra gãy nhiễm sắc thể X (gọi là gen FMR 1) Đối vớinhững cá nhân bị hội chứng gãy nhiễm sắc thể X, một đột biến ở FMR1 làmcho gen gãy gập

- Hội chứng Prader - Willi syndrome (viết tắt là PWS) là một rối loạn genphức tạp Trong hầu hết trường hợp, PWS được coi là do một lỗi về gen xảy

ra một cách tự phát tại hoặc gần thời điểm thụ thai vì những lí do chưa đượcphát hiện Trong một tỉ lệ nhỏ PWS (dưới 2%), một đột biến gen không ảnhhưởng đến cha mẹ được truyền sang cho đứa con và ở những gia đình này,

có thể hơn một trẻ sẽ bị ảnh hưởng Một rối loạn giống như PWS cũng có thểxuất hiện sau khi sinh nếu như phần hypothalamus của não bị tổn thương do

Trang 7

chấn thương hoặc phẫu thuật Hội chứng này thường gây ra trương lực cơthấp, tầm vóc nhỏ, phát triển tình dục không đầy đủ, chậm phát triển nhậnthức, có vấn đề về hành vi (HV) và một cảm giác đói kinh niên mà dẫn đến ănquá nhiều và sự béo phì có thể nguy hiểm đến tính mạng, về cơ bản PWSxảy ra là do việc thiếu một số gen trên một trong hai NST số 15 - thường làNST do người bố truyền cho Trong hầu hết các trường hợp, có hiện tượng

“biến mất” những gen quan trọng trên NST Đối với các trường hợp còn lại,toàn bộ NST từ người bố bị mất và thay vào đó sẽ có 2 NST số 15 từ mẹ.Việc thiếu những gen quan trọng từ người bố ở những người PWS làm rốiloạn cảm giác ăn uống Nguyên nhân gây ăn nhiều là do ở người PWS cómột khe hở trên phần hypothalamus của não mà thường là nơi tạo cảm giác

về đói và no Mặc dù nguyên nhân gây hở vẫn chưa được tìm ra nhưng rõràng là những người có khe hở này không bao giờ thấy no và luôn muốn ăn

mà không thể kiềm chế được Thêm vào vấn đề này, những người PWSthường có ít nhu cầu về thức ăn hơn những người không có PWS vì cơ thể

họ có ít cơ hơn và có xu hướng tiêu thụ ít calo hơn

- Bệnh U bã nhờn: Đây là một bệnh trội của nhiễm sắc thể thường Gầnđây, người ta phát hiện thấy rằng sự đột biến ở gen và ở NST cặp 9 và 16chính là nguyên nhân gây bệnh Khoảng 60% các trường hợp mắc bệnh xuấthiện dạng đột biến mới/tự nhiên ở những cha mẹ khoẻ mạnh bình thường.Trong những trường hợp này, nguy cơ sinh thêm con mang bệnh tăng dần:1/100 đến 1/10000 Khoảng 40% cha mẹ khác có những hội chứng nhẹ củabệnh, nếu được kiểm tra sẽ phát hiện chồng hoặc vợ là người mắc chứng độtbiến Có khoảng 50% cặp vợ chồng này sẽ sinh con bị bệnh U bã nhờn Hiệnnay, vẫn chưa có đủ khả năng để tiến hành chẩn đoán trước khi sinh Tỉ lệ trẻmắc bệnh U bã nhờn là: 1/10.000 Các loại u rải rác xuất hiện trong não, mặt,tay, chân, lưng, tim, phổi… Trẻ mắc bệnh này thường có có vấn đề về ngủ,rối loạn HV, KTTT, động kinh…

- Hội chứng Rett (Rett syndrome): Được phát hiện vào năm 1996 doAdreas Rett (người Áo) Hiện nay chưa rõ nguyên nhân một cách chính xác,

Trang 8

tuy nhiên rất có thể hội chứng này là bệnh di truyền trội liên quan đến nhiễmsắc thể giới tính: thường là bé gái mang bệnh này, còn bé trai mang bệnh sẽchết trước khi sinh Các cặp vợ chồng không phải lo ngại sẽ sinh thêm congái bị hội chứng này do “những đột biến mới” Tỉ lệ xuất hiện: 1/10000 bé gái.Triệu chứng của bệnh là: Trẻ phát triển bình thường cho đến lúc 6 tháng tuổi,sau đó dừng lại; cử động của đôi tay giảm dần, trẻ giao tiếp và liên hệ bằngmắt cũng ít hơn Sau hai năm, sự suy giảm thể hiện rõ ràng và diễn ra nhanhhơn, chẳng hạn như về ngôn ngữ và vận động của tay: cọ sát tay theo mộtkiểu nhất định, “cử động vò quần áo”, và “mút tay”, về sau, trẻ có thể lên độngkinh và tự làm mình bị tổn thương theo nhiều cách, chẳng hạn như cắn vàongón tay, cấu, véo hoặc đánh vào mặt mình Sau 3 đến 10 tuổi, vận động củatrẻ sẽ giảm dần: bị liệt cứng, thất điều: hầu hết các bé gái đều phải sử dụng

xe lăn sau 10 tuổi Có thể thấy rõ trẻ bị vẹo cột sống và phát triển kém Trẻthường mắc phải chứng thở quá nhanh hoặc ngừng thở Đôi khi, vào cuối giaiđoạn này, bệnh động kinh giảm đi và khả năng giao tiếp của trẻ có tiến triểnhơn so với trước  

- Hội chứng Angelman (Angelman syndrome): Nãm 1965, HarryAngelman, một bác sĩ nhi khoa người Anh đã phát hiện ra bệnh Hầu hết trẻmắc phải hội chứng này đều bị mất đoạn NST ở cặp số 15 và di truyền từ mẹ.Không chỉ xét nghiệm nhiễm sắc thể của người mẹ mà ngay cả các chị emgái của người mẹ đó Nguy cơ sinh thêm con có hội chứng này là 1 - 50% Tỉlệ: 1/20 - 30000 Trẻ có triệu chứng như: gặp khó khăn khi bú sữa mẹ và pháttriển không bình thường Lúc mới sinh, diện mạo bên ngoài vẫn bình thường,nhưng sau này mắt trở nên vô hồn, miệng luôn cười tươi và cằm rất pháttriển Đầu thường nhỏ quá cỡ (chu vi của đầu quá bé) Cơ bắp của các chi rấtphát triển (khi được ẩm trong vòng tay của mẹ, trẻ tỏ ra không được thoảimái, người cứng lại) Khi trẻ bắt đầu biết đứng và biết đi, sự phát triển bấtthường của cơ bắp là lí do gây nên những bước đi rộng và chân luôn cứng.Khi lên bốn tuổi, cử động đập tay trở nên tự nhiên hơn mỗi khi trẻ bước đi.Trẻ hay mút tay, hiếu động và lười liên hệ bằng mắt (hiện tượng này giảmdần khi trẻ lớn lên), hay thò lò mũi xanh và chảy nước dãi Trẻ hay thè lưỡi

Trang 9

Chúng thích chơi nước, bóng và các đồ chơi bằng nhựa có nhiều màu sắc.Trẻ thường bị rối loạn về giấc ngủ: chúng thức dậy về đêm do hoạt độngnhiều hơn trẻ bình thường Sau năm thứ nhất, trẻ bị động kinh (85% trẻ bịđộng kinh) Tật vẹo đốt sống và giảm sắc tố da xuất hiện rõ rệt

* Rối loạn nhiều yếu tố: Nứt đốt sống, quái tượng không não, tràn dịch

màng não, tật đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp

- Nứt đốt sống: Do sự không khép kín được máng thần kinh ở phầnsau, có vài đốt sống không đóng kín được ống thần kinh (tuỷ sống) Kết quả

là vùng tuỷ sống không được bảo vệ có thể phình ra ngoài tạo thành một cáitúi đen “Túi thần kinh” này được bao bọc bởi một lớp màng rất mỏng có thể

để dịch tuỷ sống vào não rỉ qua Nguyên nhân của dị tật này hiện nay vẫnchưa được tìm ra Nhưng cứ 250 đến 5000 trẻ sinh ra có một trẻ bị tật nứt đốtsống

Nứt đốt sống là một dị tật bẩm sinh nặng, thường chết thai hoặc sơsinh bị chết, nếu có sống sót thì thường tật nguyền và KTTT Khi phát hiệntật, cần phải tiến hành phẫu thuật sớm để bảo vệ túi thần kinh cho trẻ, nếukhông trẻ sẽ bị chết sớm  

- Tật đầu to (Não úng thuỷ): Là tình trạng “ứ đọng trong não” thườnggặp ở 4 trong số 5 trẻ bị tật nứt đốt sống Dịch hình thành trong não khôngchảy xuống tuỷ sống như bình thường mà tích tụ lại và gây tăng áp lực trongnão và hộp sọ Mặc dù trẻ đẻ ra đầu trông như bình thường nhưng dần dần tolên và chứa đầy dịch Hội chứng này có thể xuất hiện ngay sau khi sinh vàtiến triển nặng dần trong vòng hai năm đầu, có thể dẫn tới tử vong Một sốtrường hợp bệnh ngừng tiến triển, trạng thái tinh thần và cơ thể tốt lên rõ rệt.Bệnh có thể được điều trị bằng các phương pháp phẫu thuật, dùng các thuốcgiảm áp lực dịch não tuỷ

- Tật đầu nhỏ: Là kết quả của sự phát triển bất bình thường của não.Tật đầu nhỏ có thể là khuyết tật riêng biệt, cũng có thể là khuyết tật do sự tácđộng của nhiều tác nhân trong quá trình thai nghén hoặc sau đó như nhiễmtrùng, chấn thương khi đẻ, mẹ mắc bệnh Phênylxêtôn niệu, bị nhiễm xạ… Tật

Trang 10

não nhỏ di truyền theo cơ chế di truyền lặn nhiễm sắc thể thường, cũng cótrường hợp di truyền theo cơ chế di truyền trội nhiễm sắc thể thường Nếuđược chăm sóc tốt, các trẻ mắc tật này có thể tăng tuổi thọ cao hơn, giáo dụctốt có thể giúp trẻ thích nghi một phần trong cuộc sống

2.1.2 Do các yếu tố ngoại sinh

* Do lây nhiễm khi bà mẹ mang thai: Sởi rubella hay còn gọi là sởi Đức,

nhiễm Toxoplasma, vi rút cự bào, giang mai, nhiễm HIV Do có tác động đếnbào thai gây nên KTTT, vi rút thường tác động ở thời kì phôi, kí sinh trùng ởthời kì thai, còn vi trùng có thể lây bệnh ở cả thời kì phôi và thai

- Sởi Rubella:

Do bác sĩ Geeg tìm ra, ông mô tả trẻ bị KTTT kèm đục thuỷ tinh thểbẩm sinh bởi những bà mẹ bị nhiễm Rubella, nhất là trong thời kì 3 - 4 thángđầu mang thai Trẻ có nhiều dị tật bẩm sinh khi nhiễm bệnh này như: mắt nhỏ,bệnh tim bẩm sinh, điếc, dị dạng xương sọ, tăng động - giảm tập trung, múavờn, động kinh Trước khi mang thai, các bà mẹ cần kiểm tra và tiêm thuốcphòng bệnh, không nên mang thai trong tình trạng mang bệnh hoặc gần nơingười mang bệnh

- Bệnh giang mai bẩm sinh: Phôi thai bị nhiễm khuẩn giang mai củangười mẹ truyền qua nhau thai Tổn thương thường khu trú ở hệ thần kinhtrung ương gây ra trạng thái viêm não, viêm màng não, dị dạng sọ, mũi lõmhình yên ngựa, da nhạt có sắc vàng, răng mọc lộn xộn, điếc, đục thủy tinhthể, gan lách to, dị dạng xương, phản xạ gân xương không đều ở hai bên, liệt

cơ mặt… và trẻ chậm phát triển ở nhiều dạng khác nhau, thường gặp ở mức

độ nặng Biện pháp phòng chống tốt nhất là trước khi mang thai người mẹnên đến kiểm tra sức khoẻ tại bệnh viện, nếu có bệnh phải ngăn bệnh trướckhi sinh con, khi trẻ ra đời mà được phát hiện cần tiêm thuốc chống bệnhgiang mai ngay

- Bệnh nhiễm kí sinh trùng Toxoplasmosis: Là loại kí sinh trùng sống ởnhiều vật chú, hầu hết ở các loại vật có vú và chim Thường là bệnh bẩm sinh

Trang 11

do mẹ truyền sang cho con qua đường nhau thai Mức độ KTTT dựa vào thời

kì kí sinh trùng sớm hay muộn Những trẻ mắc bệnh này sau khi sinh vài tuầnthường có triệu chứng sốt cao, viêm phổi, rối loạn đường ruột, viêm màngnão, viêm võng mạc, có điểm đóng vôi ở não, ứ nước não và lên cơn co giật.Khi mang thai bà mẹ nên tránh không tiếp xúc gần với các loại vật chú đó, ví

dụ như: chó, mèo, chim, phân và nước tiểu của các con vật này, đồng thờicũng không nên ăn các loại thức ăn tái hay tiết canh…

* Do nhiễm độc: một số loại y dược mà bà mẹ dùng, chẳng hạn như

thuốc chống động kinh, chất rượu cồn, chụp tia x- quang, chất độc màu dacam (thế hệ thứ hai), kháng thể Rh

- Sự lạm dụng thuốc và dùng sai chỉ định đã trở thành nguyên nhân lớnảnh hưởng tới sức khoẻ và tàn tật hiện nay trên thế giới Điều này do mộtphần kê đơn bừa bãi và chỉ định sai (ví dụ một số loại thuốc dùng trong thời kìmang thai có thể sẽ gây dị tật bẩm sinh) Thuốc có thể chữa được bệnh, tuynhiên khi mang thai hoặc cho con bú bà mẹ nên cẩn trọng trong việc dùngthuốc

- Kháng thể Rh (sự không tương hợp nhóm máu) Yếu tố Rh là một hệnhóm máu, những người có yếu tố Rh gọi là Rh+ (dương), còn những ngườikhông có yếu tố Rh gọi là Rh” (âm) Khi bà mẹ có yếu tô Rh” lấy chồng Rh+các con có thể là Rh+ hoặc Rh” Nếu thai là Rh+, trong quá trình mang thaimột lượng nhỏ hồng cầu của thai nhi có thể lọt qua nhau thai và đi vào trongmáu của người mẹ Trong điều kiện này, cơ thể sản xuất ra kháng thể chốnglại yếu tố Rh, kháng thể này từ cơ thể của người mẹ xâm nhập vào thai nhi.tác động lên hồng cầu của thai nhi, thai nhi bị chứng thiếu máu tan huyết, ởlần có thai đầu tiên đứa trẻ vẫn phát triển và được sinh ra những lần thai saunếu vẫn là Rh+ thì tác hại càng thể hiện rõ hơn và có thể sẩy thai Trẻ đượcsinh ra trong trường họp này thường có triệu chứng của thần kinh, như: múavờn, điếc, lên cơn co giật, rung giật nhãn cầu, lác mắt, liệt nửa người, chậmphát triển với nhiều mức độ khác nhau, nhưng có nhiều trường hợp trí tuệcủa trẻ vẫn phát triển bình thường Xét nghiệm yếu tố Rh là một trong những

Trang 12

chỉ định trong trường hợp bất thường về sinh sản như trường hợp sẩy thai và

có thể thay máu cho trẻ ngay sau khi chào đời

- Rượu: Trong rượu có chất cồn làm ảnh hưởng tới sự phát triển trí nãocủa thai nhi Có tới 1/3 số con cái của những người nghiện rượu nặng bị mắcnhiều vấn đề gọi là hội chứng thai nhi nhiễm độc từ rượu Các trẻ nhỏ mắchội chứng này biểu hiện ở ba đặc điểm chính: chậm lớn, khuôn mặt có nhữngnét đặc biệt dễ nhận ra như đầu nhỏ, mắt nhỏ, tai vểnh ra phía sau

- Thuốc lá: Những phụ nữ có mang hút nhiều thuốc lá sẽ dễ dẫn đến bị

đẻ non hơn người không hút thuốc lá, trẻ sinh ra thường thiếu cân và KTTT

- Hêrôin và mêtanđon: Các chất gây ngủ này thấm qua nhau thai vàngấm vào phôi hoặc vào thai Con cái của người nghiện ma tuý cũng bịnghiện Sau khi sinh ra, những đứa trẻ này có các triệu chứng lên cơn nghiệnnhư khó thở, nôn mửa, run rẩy và co giật Để giảm bớt các tác hại này, nêncho các trẻ bị nghiện đó dùng các chất thuốc ngủ với liều lượng “duy trì” vàsau đó giảm dần dần Ngay cả khi thôi dùng thuốc ngủ, các trẻ nhỏ này vẫncòn nhiều vấn đề Khi còn bé chúng có khuynh hướng trở thành quá nhạycảm vì hệ thần kinh của chúng dễ bị “quá tải”, chúng có chiều hướng tránh né

sự kích thích và qua đó bỏ qua các cơ hội thăm dò và học tập từ môi trườngxung quanh Sau này tính nhạy cảm quá mức sẽ gây khó khăn cho việc họctập Khi lớn lên, chúng thường có những vấn đề về HV như: quá hiếu động vàkhả năng duy trì, chú ý kém

- Côcain: Phụ nữ có thai nếu dùng côcain sẽ có nguy cơ cao hơn mứctrung bình về các chuyện sảy thai, thai chết lưu trong bụng mẹ (do nhau thaisớm tách ra khỏi thành tử cung) và đẻ non Trẻ sinh ra có khả năng thiếu cân

và đầu nhỏ hơn cỡ trung bình Một số dễ bị kích động trong khi đó có nhiềutrẻ lại ủ rũ, đáp ứng môi trường xung quanh một cách uể oải Các trẻ nàyphần lớn thời gian chỉ ngủ hoặc kêu khóc

- Do nhiễm HIV: Vi rút HIV làm giảm khả năng suy giảm miễn dịch củacon người, là vi rút gây ra bệnh AIDS, là mối đe doạ cho thai nhi HIV có thể

đi qua nhau thai và xâm nhập vào thai; vi rút này cũng có thể lan truyền sang

Trang 13

đứa bé khi sinh ra do tiếp xúc với máu của người mẹ có chứa vi rút hoặc lantruyền khi bú mẹ Một phụ nữ có thể mang vi rút HIV trong mình mười mộtnăm mà không thể hiện triệu chứng gì, vì vậy không biết mình bị HIV dươngtính khi mang thai Không phải đứa trẻ nào có mẹ bị HIV cũng đều bị nhiễmHIV Các trẻ bé bị nhiễm HIV có biểu hiện những vấn đề có liên quan tới bệnhnày ngay lúc mới sinh hoặc không có triệu chứng gì sau nhiều năm Dấu hiệuđầu tiên của HIV thường là không lớn lên được, tiếp đó là mắc chứng viêmnhiễm nặng như viêm phổi chẳng hạn Quá trình phát triển não cũng bị ảnhhưởng, gây nhiều vấn đề về phát triển vận động và nhận thức

2.2 Những nguyên nhân trong khi sinh

do bệnh của người mẹ, mẹ phải lao động nặng liên tục trước khi sinh cũng lànguyên nhân gây KTTT ở trẻ Chúng ta cần lưu ý rằng tác hại của việc thiếuôxi sẽ ít đi nhờ vào những cải tiến nhanh chóng trong việc quan tâm, chămsóc những trẻ “trong tình trạng nguy hiểm” khi vừa chào đời

Sinh khó phải nhờ vào các dụng cụ trợ giúp của thuốc men cũng làm rốiloạn nguồn cung cấp ôxi Kết quả là các bộ phận nhạy cảm nhất như: não, tai,mắt sẽ bị tổn thương trước tiên

2.2.2 Tổn thương trong lúc sinh

Tổn thương não do tử cung co quá mức dẫn đến mẹ đẻ khó, do dùnghoặc do tác hại của dụng cụ y tế trợ giúp khi sinh như dùng phoóc- sép đểkéo đầu trẻ ra trong khi sinh có thể dẫn đến tổn thương não, chảy máu não

Trang 14

2.2.3 Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng (tức là thời gian mang thai của bà

mẹ đủ nhưng trọng lượng của đứa trẻ ít)

Đẻ non được xác định khi trọng lượng của trẻ lúc sinh ra dưới 2,3kg

Đẻ non thường dẫn đến KTTT hoặc điếc tiếp nhận Trong thời kì mang thai,

bà mẹ thiếu ăn, đứa con thường bị đẻ non hoặc cân nặng thấp, những trẻ này

có nguy cơ bại não Một vài dị tật bẩm sinh cũng liên quan tới tình trạng thiếu

ăn của bà mẹ trong những tháng đầu mang thai Tuy nhiên hiện nay số trẻ đẻnon bị khuyết tật ít hơn nhờ vào một số phương tiện chăm sóc, điều trị đặcbiệt sau khi sinh đã được cải tiến, tạo điều kiện cho việc sinh dễ dàng hơn,đồng thời cũng do kiến thức của chúng ta trong việc nhận biết những ảnhhưởng của việc dùng thuốc gây nên Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý tình trạngsau: 

+ Đặt trẻ sinh non trong lồng ấp (kính) để ít nhất những ngày đầu tiênsau khi chào đời môi trường xung quanh có thể được kiểm soát một cách cẩnthận

+ Khi sự chăm sóc phải chú ý không để cho ôxi được cung cấp quánhiều bởi vì chất này sẽ ảnh hưởng đến võng mạc của trẻ

+ Cần lưu ý tiếng ồn phát ra từ các loại động cơ máy móc dùng trongphòng đặt lồng ấp này Khi áp suất lớn (trên 95 dB SPL) có thể là nguyênnhân gây mất sức nghe do ảnh hưởng của tiếng ồn nhiều hơn là do việc đẻnon

+ Việc kiểm soát lưu thông ôxi là một phần quan trọng nhất trong quátrình chăm sóc trẻ sơ sinh Nếu áp suất trong máu trẻ quá thấp thì sẽ tổn hạiđến não Nếu quá cao thì mắt sẽ bị tổn thương và những tổn hại nghiêm trọngkhác có thể phát sinh

2.2.4 Lây nhiễm: vi rút Herper hoặc giang mai

Herpes, theo chữ Hi Lạp cổ có nghĩa là bò hoặc trườn, là tên của một

họ virut trong đó có virut Herpes simplex 1 (HSV- 1), và virut Herpes simplex2; (HSV- 2), là hai tác nhân gây bệnh cho người HSV- 1 thường gây các

Trang 15

nhiễm virut vùng miệng, mặt và viêm não; trái lại, HSV- 2 thường gây cácnhiễm virut sinh dục và có thể lây truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh Cả hai virutnày đều gây nhiễm virut tiềm ẩn tại các nơron cảm giác, và một khi được táihoạt, sẽ tạo nên những tổn thương ở gần hoặc ngay nơi virut xâm nhập vào

cơ thể

Viêm não do HSV là một tai họa và được xem là nguyên nhân thườnggặp nhất của các trường hợp viêm não lẻ tẻ có gây tử vong Trên 70% bệnhnhân không điều trị bị tử vong và chỉ có 2,5% trong số bệnh nhân sống sótphục hồi được chức năng thần kinh bình thường HSV tác động đến tất cảcác vùng của hệ thần kinh, gây viêm màng não, viêm não và viêm rễ thầnkinh HSV còn được phân lập ở đường hô hấp của các bệnh nhân bị hộichứng suy hô hấp cấp tiến triển và co thắt phế quản cấp Trong tình huốngnày, nó làm gia tăng mức độ nặng và tử vong  

2.3 Những nguyên nhân sau khi sinh

Có rất nhiều các yếu tố tác động đến sự phát triển thể chất của trẻ làmảnh hưởng tới trí tuệ của các em Các yếu tố này có thể gộp thành ba nhóm:

2.3.1 Viêm nhiễm

Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thuỷ đậu và viêmphổi (có thể gây ra bệnh tràn dịch màng não sau này) Viêm màng não sẽ ítdiễn ra hơn nếu bà mẹ tiến hành các biện pháp phòng ngừa trong thời kì thainghén, sinh đẻ và nếu đứa trẻ được tiêm phòng đầy đủ

2.3.2 Tổn thương não

Tổn thương não do chấn thương đầu nặng vì tai nạn hoặc do ngạt,hoặc tổn thương do các bệnh (u não) hay do tác động của chỉnh trị: phẫuthuật, dùng phóng xạ… Nhiệt độ cơ thể hạ đột ngột, tăng đột ngột cũng gâynên tổn thương não

2.3.3 Nhiễm độc

Trang 16

Chất độc có ở môi trường xung quanh như khói xe, ống dẫn nước bằngchì, màu vẽ chì hoặc một số loại mĩ phẩm Ngoài ra chất độc còn có trongthức ăn, nước uống, không khí nơi làm việc

- Thức ăn có chất độc: ở một số nơi đây là nguyên nhân lớn gây khuyếttật Hàng ngàn người Ấn Độ được trả công bằng các loại đậu lăng độc (leltils)

và bị liệt Những người dân nghèo này biết điều đó nguy hiểm nhưng họkhông có gì khác để ăn Tình trạng này có thể được cải thiện nếu công sứclao động được trả xứng đáng, tệ nạn xã hội sẽ được giảm bớt

- Chất độc chứa Flo (Fluorosi) chủ yếu có ở trong nước uống Đó lànguyên nhân hay gặp gây biến dị xương (ưỡn gối quá mức) ở một số vùngcủa Ấn Độ và một số nơi khác Một số biện pháp về y tế cộng đồng là cầnthiết để cung cấp nước sạch cho những người dân ở vùng này

Lưu ý: Mặc dù quá nhiều Flo sẽ có hại, song Flo là chất cần thiết cho

sự phát triển của xương và răng Một vài nơi cần phải tách bớt Flo ra khỏinước uống, nhưng có nơi lại cần phải cho thêm Flo vào nước

- Điều kiện làm việc nguy hiểm: Không khí ô nhiễm và thiếu các biệnpháp bảo vệ lao động gây nên nhiều loại khuyết tật: bỏng, cụt chi, mù, chấnthương cột sống và chấn thương sọ não

- Một số loại thuốc nguy hiểm: Nhiều loại thuốc gây khuyết tật đã bị cấmsản xuất, nhưng ở một số nơi vẫn thấy tiếp tục bán các loại thuốc đó Ví dụ:Thuốc ỉa chảy có chứa Clioquynol làm cho hàng ngàn người bị mù và liệt ởNhật Bản Giá thuốc quá đắt, lạm dụng thuốc hoặc thiếu hiểu biết trong việc

sử dụng thuốc đã gia tăng số lượng người nghèo đói và khuyết tật trên thếgiới ngày nay Để việc cung cấp thuốc thiết yếu và sử thuốc một cách đúngđắn, cả thầy thuốc lẫn người dân cần được giáo dục tốt hơn và luật quốc gia,luật quốc tế cũng cần phải có hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn

- Khuyết tật do kim tiêm: Tiêm bằng kim và bơm tiêm không sạch sẽgây nhiễm trùng, đôi khi các nhiễm trùng này có thể dẫn đến liệt, tổn thươngtuỷ sống hoặc chết

Trang 17

Một vài loại thuốc tiêm có thể gây hại, phản ứng dị ứng nặng, ngộ độc,điếc và tổn thương não bộ khi không cần thiết phải tiêm

Các bác sĩ, nữ hộ sinh thường lạm dụng việc tiêm các loại hoocmonkích thích cuộc đẻ Kết quả là nhiều trẻ sơ sinh bị tổn thương não, bại não,động kinh

Khuyết tật thường gặp nhất do tiêm là bị liệt do bại liệt Một số chuyêngia cho rằng hàng năm có trên hai triệu trẻ em bị bại liệt do tiêm khi đangnhiễm vi rút bại liệt Hầu hết các loại thuốc tiêm đó là không cần thiết Điềunày xảy ra như sau: Trẻ bị nhiễm vi rút bại liệt thường có vài dấu hiệu giốngnhư cảm lạnh hoặc cảm cúm Hầu hết chúng sẽ bình phục mà không bị bạiliệt, nhưng nguy cơ bị bại liệt sẽ tăng lên nếu các cơ của trẻ bị tổn thương dothuốc kích thích Việc tiêm bất cứ loại thuốc nào cũng gây kích thích cơ Cácxung điện được truyền tới tủy từ các cơ bị kích thích và gây nên sự biến đổitại đó tạo thuận lợi cho vi rút bại liệt gây liệt cơ Điều không may là trẻ bị lạnhhay cảm cúm do vi rút bại liệt gây nên thường được các bậc cha mẹ đưa đếnthầy thuốc để tiêm, kết quả là trẻ bị liệt, thường chân bị tiêm sẽ liệt nặng hơn.Nhiều người nghĩ rằng liệt ở chân sau khi tiêm là do kim tiêm đâm vào “dâythần kinh” Hàng năm, trên thế giới nạn dịch tiêm không cần thiết đã làm chohàng triệu người ốm đau, tử vong, khuyết tật, đặc biệt là trẻ em Điều quantrọng để tránh cho trẻ nhỏ khỏi bị bại liệt và mắc các khuyết tật khác là cáccha mẹ, thầy thuốc cần nhớ rằng, không tiêm cho trẻ khi trẻ có dấu hiệu bịcảm lạnh, cúm vì rất có thể trẻ đang bị nhiễm vi rút bại liệt Nếu tiêm lúc nàytrẻ sẽ dễ dàng bị bại liệt và gây nên KTTT Đấu tranh với việc lạm dụng thuốc

và dùng thuốc không đúng chỉ định cũng là một phương pháp phòng ngừaquan trọng như tiêm chủng, dùng nước sạch, nhà vệ sinh đúng quy cách.Nhân viên y tế, GV và các tổ chức khác trong cộng đồng hãy hợp tác cùngnhau để đánh tan huyền thoại về tiêm Để giúp mọi người cân nhắc lợi hạicủa bất cứ loại thuốc nào trước khi sử dụng, nên có những bài báo, nhữngphóng sự truyền hình gợi ý, nhắc nhở giúp mọi người hiểu tác hại của việctiêm không cần thiết

Trang 18

Gần đây việc sử dụng hoá chất để diệt sâu bọ đã trở thành vấn đề lớnảnh hưởng đến sức khoẻ Để đề phòng các bệnh này, người dân cần phảibiết sự nguy hiểm không những cho họ mà cả cho trẻ em

2.3.4 Suy dinh dưỡng

- Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị thiếu ăn sẽ dễ mắc những bệnh nhiễm trùng

và bị nặng hơn Trẻ bụ bẫm thường tiêu chảy nhẹ hơn Ở những đứa trẻ gầy

gò ốm yếu, suy dinh dưỡng, tiêu chảy thường dẫn đến mất nước nặng, sốtcao, đôi khi tổn thương não kèm theo co giật hoặc bại não

- Ở một vài vùng núi cao, việc thiếu iốt trong thực phẩm cũng gây ảnhhưởng đến việc suy dinh dưỡng và tổn thương não Điều này dẫn đến mộtdạng khuyết tật gọi là bệnh ngu đần (Cretinism) Trẻ có triệu chứng da khô, íttóc, đầu nhỏ, KTTT Đây là bệnh chữa được nếu được phát hiện sớm, nhất làsau khi sinh

2.4 Các nguyên nhân do môi trường

Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đứa trẻ là:

- Không được chăm sóc đầy đủ về y tế và thể chất: Thiếu dinh dưỡng,nhiễm độc chì, không được tiêm phòng đầy đủ

- Sử dụng ngôn ngữ một cách rất hạn chế trong gia đình, cụ thể là chỉ

sử dụng những câu rất ngắn với những mẫu câu và vốn từ giới hạn

- Việc nuôi dưỡng đứa trẻ nói chung theo cách: cuộc sống của nó dongười khác định đoạt Trong một hoàn cảnh như vậy, một người thườngkhông tự kiểm soát cuộc sống của mình, do vậy họ ít khi tin rằng hành độngcủa họ là quan trọng và quyết định sự thành bại của chính họ Điều này cũng

có thể là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ học kém ở trường

- Ít có cơ hội được đến trường

- Thiếu thốn về tâm lí xã hội: Đứa trẻ sinh ra thiếu sự chăm sóc nhạycảm, không được khuyến khích hoặc bị các khiếm khuyết về giác quan, kíchthích quá mức, bị bỏ rơi hoặc bị lạm dụng

Trang 19

Nếu một đứa trẻ bình thường lớn lên mà ít nhận được sự quan tâmchăm sóc, trẻ luôn phải ở trong nhà và chơi một mình, không có gì hấp dẫn

để chơi đùa và khám phá thì sẽ phát triển trí tuệ chậm hơn rất nhiều so vớinhững đứa trẻ được nuôi nấng đầy đủ về cả thể chất lẫn tinh thần Nếu đứatrẻ được đặt trong môi trường có nhiều đồ chơi hấp dẫn, được sự giúp đỡ,chơi đùa, khám phá thì trẻ sẽ phát triển rất nhanh chóng Sự kích thích càngsớm càng đạt hiệu cao, để trẻ có thể tiến kịp với mức phát triển bình thường

Khi được sống trong môi trường văn hoá xã hội, đứa trẻ sẽ bắt chướccác hình mẫu khi giao tiếp với con người, giao tiếp bằng ngôn ngữ, biết suynghĩ, biết bò, ngồi, đi, đứng, có đời sống tình cảm, vui buồn, yêu thương

Những kích thích của môi trường văn hoá xã hội phải đầy đủ, đúng lúc,phù hợp với sự phát triển sinh học của hệ thần kinh trung ương Đặc biệt nămnăm đầu có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ Các kích thích của môi trường bịthiếu hoặc không đúng lúc đều có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ củađứa trẻ

- Những tổn thương do lạm dụng hoặc đối xử thô bạo:

Trong những năm gần đây xuất hiện hiện tượng trẻ em đến bệnh việnvới một số thương tổn trên cơ thể như bị bỏng, gãy xương, thâm tím nặng.Chúng được thông báo như những tai nạn nhưng thực ra đây là kết quả của

sự đánh đập, hành hạ của người lớn Nghiên cứu cho biết việc này đã xảy ra

ở nhiều nước, trong các gia đình giàu có cũng như các gia đình nghèo

Những tổn thương này thường gặp ở những trẻ KTTT và trẻ kém thíchnghi do những nguyên nhân sau:

+ HV của trẻ có thể thúc đẩy phản ứng dữ dội của người lớn trong giađình hoặc hàng xóm

+ Trẻ em có thể không nói lên được điều gì đã xảy ra hoặc câu chuyệncủa chúng không được tin tưởng

+ Do người lớn dễ dàng nói rằng trẻ KTTT bị “tai nạn, bị thương” vànhững người khác sẵn sàng tin vào điều đó

Trang 20

Đôi khi trẻ em bị người lớn hoặc trẻ lớn hơn hành hạ về tình dục Cóthể không tìm thấy tổn thương ở cơ thể, nhưng GV có thể nhận thấy sự thayđổi HV của trẻ, dường như trẻ buồn rầu không có nguyên cớ rõ ràng hoặc trởnên im lặng, thu mình lại

Nếu GV nhận thấy có thể trẻ bị hành hạ nghiêm trọng ở nhà (hoặc ởđâu đó) thì đầu tiên phải thảo luận với lãnh đạo nhà trường, yêu cầu cho trẻđược khám xét về mặt y tế Cần ghi chép tất cả các tổn thương trên cơ thểtrẻ Điều đó cần thiết phải làm để bảo vệ đứa trẻ, bảo vệ nhà trường khi giađình có ý định tuyên bố tổn thương xảy ra ở nhà trường Cố gắng chấm dứtnhững tổn thương xấu nhất xảy ra sau đó cho chính những đứa trẻ đó hoặccác em của nó

Tất nhiên, nếu có cả nguyên nhân văn hoá, kinh tế và xã hội thì phảithận trọng trong việc nhận định một đứa trẻ là KTTT nếu chỉ do trắc nghiệmchỉ số trí tuệ thấp

Mặc dù bảng AAMR đã phân biệt các nguyên nhân về sinh học vớinhững nguyên nhân tâm lí xã hội, nhưng hai loại nguyên nhân này có sự tácđộng qua lại khá chặt chẽ với nhau Lúc mới sinh, một đặc điểm sinh học dễquan sát thấy của trẻ thường bao hàm cả những đặc điểm do các yếu tố môitrường tạo ra Sau khi sinh, đặc điểm này của trẻ tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi

vô vàn các yếu tố môi trường Não bộ và hệ thần kinh của trẻ cực kì dễ bị tổnthươnq bởi các yếu tố môi trường và trải nghiệm; cứ như vậy những yếu tốnày sẽ còn tạo ra nhiều ảnh hưởng lớn khác trong quá trình phát triển củađứa trẻ Những thành viên trong môi trường gần gũi với trẻ, đặc biệt là người

mẹ là cực kì quan trọng đối với trẻ Thái độ và HV của người mẹ trong suốtthời kì mang thai ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thai nhi Nếu người mẹkhông quan tâm đến sức khoẻ của mình và sử dụng những chất như dượcphẩm, thuốc lá, rượu thì sẽ làm tổn hại đến sự phát triển của thai nhi Khôngđược chăm sóc đầy đủ ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, thiếu dinhdưỡng, bị ảnh hưởng của các chất độc, có thể là nguyên nhân gây dị tật bẩmsinh hoặc trong lúc sinh đối với trẻ Nếu trong thời kì mang thai mà người mẹ

Trang 21

phải chịu nhiều ức chế cũng có thể gây tình trạng đẻ non, sinh thiếu trọnglượng và dễ bị kích thích ở trẻ sơ sinh

Nhưng ngay cả khi trẻ đã ra đời, cha mẹ cũng phải tạo điều kiện đểthúc đẩy sự phát triển về tinh thần và thể chất cho đứa trẻ Nói chung mọingười đều nhận thấy rằng đứa trẻ được nuôi dưỡng như thế nào thì sẽ ảnhhưởng đến sự phát triển tinh thần như thế ấy Tuy nhiên, có nhiều trẻ đượcnuôi dưỡng trong những môi trường tốt nhưng kết quả đạt được ở trắcnghiệm chỉ số thông minh, học tập và kĩ năng cuộc sống cũng rất thấp

Một số hội chứng kể trên mang tính ổn định tức là không lây lan hoặcphát triển, chẳng hạn như chứng rối loạn nhiễm sắc thể, lây nhiễm hoặc tổnthương

Nhưng lại có một số hội chứng phát triển Sau một giai đoạn nhất định,xảy ra hiện tượng dị biến trong sự phát triển của trẻ và từ sau đó sự phát triểncủa trẻ sẽ bị ngưng lại hoặc giảm sút, chẳng hạn như do sự sai lệch vềchuyển hoá bẩm sinh như PKU, San Filippo, Rett Những vấn đề khác nhưđộng kinh và liệt cứng có thể làm cho tật của trẻ nặng thêm Chứng động kinhđôi lúc suy giảm hoặc biến mất khi trẻ lớn dần lên, đôi lúc lại xuất hiện thườngxuyên, thậm chí ở mức độ nặng Chứng liệt co cứng thường xuất hiện ở trẻ

sơ sinh dưới dạng nhược trương và sau đó thì trương lực giảm dần, trẻ mấtsức và không thể cử động được

Tóm lại: Phát hiện nguyên nhân gây tật KTTT không phải là một việc dễdàng, KTTT thường là hệ quả của sự tác động phức tạp do nhiều loại nguyênnhân

3 Các dấu hiệu phát hiện trẻ khuyết tật trí tuệ

Khi một trẻ bị nghi ngờ KTTT thường có biểu hiện sau đây:

- Trẻ chậm lẫy, chậm ngồi, chậm biết đi hơn so với trẻ cùng tuổi

- Một số trẻ có hình dáng không cân đối, ánh mắt và nét mặt khờ dại

- Không biết chơi với đồ chơi, hay ném và đập phá đồ chơi

Trang 22

- Ít giao tiếp bằng mắt, chậm nói

- Phản ứng chậm với kích thích bên ngoài

- Khả năng phối hợp tay mắt kém

- Không chủ động chơi với các bạn cùng độ tuổi

- Cư xử, nói năng ngốc nghếch hơn so với tuổi

- Tiếp thu chậm, nhanh quên, nhớ kém, khó tập trung vào hoạt động

- Khả năng tự phục vụ bản thân gần như không tự thực hiện được màcần sự hướng dẫn và giúp đỡ của người khác

- Trẻ có thể học nói muộn hơn, câu nói đơn giản, từ ngữ nghèo nàn

- Nếu đi học, trẻ gặp nhiều khó khăn hơn các bạn cùng độ tuổi, khó nhớmặt chữ, gặp khó khăn trong học đọc, viết và làm toán

Khi trẻ có các dấu hiệu này, GV cần tư vấn để cha mẹ có thể gặp gỡcác nhà chuyên môn để được đánh giá và đưa ra những lời khuyên một cáchchính thống

4 Chẩn đoán và phân loại mức độ khuyết tật trí tuệ

4.1 Chẩn đoán khuyết tật trí tuệ

4.1.1 Quá trình chẩn đoán khuyết tật trí tuệ

1 Tiếp thu không nhanh bằng các bạn;

2 Khó nhớ và không biết cách khái quát những kiên thức

đã học;

Trang 23

3 Hạn chế hơn về khả năng thích nghi so với các bạnđồng trang lứa

Khám sàng lọc Các biện pháp đánh

giá

Phát hiện ra những trẻ cần được đánh giá thêm

Khám sàng lọc y tế Bác sĩ có thể sử dụng các loại trắc nghiệm để kiểm

tra nhũng trẻ có nguy cơ bị KTTT trước tuổi đếntrường

Kết quả học tập ở

trường lớp

Một đứa trẻ không được phát hiện ra là bị KTTTtrước tuổi đến trường sẽ gặp nhiều khó khăn tronghọc tập; hạn chế về khả năng đọc hiểu; kĩ năng lígiải cũng như vận dụng toán học cũng kém

Trắc nghiệm chỉ số

thông minh theo nhóm

Trắc nghiệm chỉ số thông minh theo nhóm là rấtkhó làm bởi vì loại trắc nghiệm này nặng về những

kĩ năng đọc Điểm trí thông minh thấp hơn mứctrung bình

Trang 24

thông minh cá nhân

Hoạt động trí năng dưới mức trung bình (chiếmkhoảng 2- 3% dân số), trẻ có điểm số IQ khoảng 70đến 75 điểm Nhóm đánh giá phải đảm bảo rằng trắcnghiệm này công bằng về khía cạnh văn hoá đối vớitrẻ

Thang trắc nghiệm

HV thích nghi

Trẻ đạt điểm tương đối thấp hơn mức trung bình về haihoặc hơn hai nhóm kĩ năng thích nghi, chẳng hạn nhưnhóm kĩ năng giao tiếp, cuộc sống gia đình, tự địnhhướng và giải trí

Kết quả mang tính

chất giai thoại

Khó khăn về khả năng lĩnh hội của đứa trẻ mà khôngphải nguyên nhân từ sự khác biệt về văn hoá hay ngônngữ

Đánh giá dựa trên

chương trình học

Đứa trẻ gặp phải nhiều khó khăn trong một hoặc hơnmột môn học trong chương trình học ở trường địaphương

Quan sát trực tiếp Trẻ gặp khó khăn hoặc không đạt kết quả gì khi học

trong lớp

4.1.2 Tiêu chí chẩn đoán khuyết tật trí tuệ

Theo DSM - IV và AAMR, có ba tiêu chí để chẩn đoán KTTT:

* Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình: chỉ số thông minh đạt gần 70

hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân (đối với trẻ nhỏngười ta dựa trên những đánh giá lâm sàng để xác định)

Trang 25

* Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những lĩnh vựchành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xãhội/liên cá nhân, sử dụng các tiện ích công cộng, tự định hướng,kĩ năng họcđường chức năng, làm việc, giải trí, sức khoẻ và an toàn

* Tật xuất hiện trước 18 tuổi

Chức năng trí tuệ tổng quát là chỉ số thông minh (có thể gọi là IQ hoặc

các thuật ngữ tương đương với IQ) được qua đánh giá bằng một hoặc hơnmột trắc nghiệm trên cá nhân về trí thông minh Chức năng trí tuệ dưới mứctrung bình là chỉ số thông minh đạt khoảng từ 70 hay thấp hơn (chỉ khoảng 2điểm so với điểm chuẩn này)

Khả năng thích nghi có nghĩa là mức độ theo kịp yêu cầu của cuộc

sống chung của cá nhân và khả năng độc lập, kiến thức văn hoá xã hội vàkhả năng hoà nhập cộng đồng ở một lứa tuổi nào đó so với mức độ chuẩnmực

Khả năng thích nghi có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau,chẳng hạn như giáo dục, động cơ, cá tính, cơ hội về xã hội và dạy nghề, rốiloạn tinh thần và những vấn đề sức khoẻ có thể xuất hiện cùng với KTTT.Những khó khăn về khả năng thích nghi có thể cải thiện đáng kể nhờ sự canthiệp của các nỗ lực giáo dục, còn chỉ số trí tuệ thì khó hơn

Theo DSM - IV, ở những người KTTT, hành vi thích nghi dễ cải thiệnhơn năng lực trí tuệ Đây là một gợi ý quan trọng trong quá trình giáo dục chonhững người bị KTTT

AAMR nhấn mạnh rằng có 4 vấn đề phải cân nhắc trước khi sử dụngtiêu chí chẩn đoán này:

- Một sự đánh giá có giá trị hiệu quả thì phải tính đến tính đa dạng vềvăn hoá và ngôn ngữ, cũng như những sự khác nhau về các yếu tố giao tiếp

và HV

Trang 26

- Sự hạn chế về kĩ năng thích nghi xảy ra trong hoàn cảnh đặc thù môitrường cộng đồng đặc trưng cho lứa tuổi đồng trang lứa của cá nhân và chỉ rõnhu cầu cần hỗ trợ của người đó

- Một kĩ năng thích nghi cụ thể nào đó mà bị hạn chế cũng thường nảysinh đồng thời với một số những kĩ năng thích nghi hoặc khả năng khác

- Với sự hỗ trợ thích hợp trong khoảng thời gian thích hợp, khả năngthực hiện chức năng của một người khuyết tật trí tuệ nói chung sẽ được cảithiện

Vấn đề cuối cùng cần nhấn mạnh đến là mục tiêu quan trọng của quanniệm này là: xã hội có trách nhiệm hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu để người khuyếttật có khả năng hoà nhập tốt hơn Hệ thống hỗ trợ có nghĩa là phải có nhiềuloại hình dịch vụ và điều ứng phù hợp với nhu cầu của những người khuyếttật Nếu người càng khuyết tật nặng thì mức độ hỗ trợ lại càng phải cao đểgiúp người đó hoà nhập vào xã hội ở mức độ tối đa

Theo AAMR 10 lĩnh vực sau đây được coi là quan trọng để chẩn đoánKTTT:

1) Giao tiếp: là những kĩ năng gồm có khả năng lĩnh hội và thể hiệnthông tin thông qua các HV có tính chất biểu tượng, ví dụ như từ nói, từ viết,

…, biểu tượng bằng hình vẽ, ngôn ngữ dấu hình,v.v… hoặc các hành vi phibiểu tượng như biểu hiện nét mặt, cử động của cơ thể, xúc giác, điệu bộ…

2) Tự chăm sóc: là những kĩ năng đại, tiểu tiện, ăn uống, mặc quần áo,

vệ sinh và giữ đầu tóc gọn gàng

3) Cuộc sống tại gia đình: là những kĩ năng về cuộc sống tại gia đình,chẳng hạn như chuẩn bị và mặc quần áo, giữ gìn nhà cửa, chuẩn bị thức ăn

và nấu nướng, dự trù về chi tiêu, an toàn trong nhà, kế hoạch hàng ngày,…

4) Xã hội: là những kĩ năng giao lưu với mọi người,…

5) Cộng đồng: là những kĩ năng sử dụng các tiện ích trong cộng đồng,chẳng hạn như đi lại,…

Trang 27

6) Tự định hướng: là những kĩ năng lựa chọn Đó là khả năng cá nhânlựa chọn cách sống với những phẩm giá, sở thích và khả năng của mỗingười

7) Sức khoẻ và sự an toàn: là những kĩ năng giữ gìn sức khoẻ trongcác hoạt động như ăn uống, phát hiện ra bệnh tật, chữa trị và phòng bệnh, hỗtrợ cơ bản, giới thính, sự phù hợp về hình thức và thể chất, khả năng cânnhắc về sự an toàn ở mức độ cơ bản,…

8) Học tập: là khả năng nhận thức và những kĩ năng tiếp thu ở trườnghọc và ứng dụng trong cuộc sống Khả năng học tập là việc học các môn học

ở trường để áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là những kĩ năng

mà người học sẽ cần đến sau khi ra trường

9) Giải trí: Phát triển các hoạt động giải trí, chẳng hạn như các hoạtđộng giải trí cá nhân và tập thể, phản ảnh sở thích và sự lựa chọn cá nhân,

và các hoạt động tổ chức ở nơi công cộng, đúng lứa tuổi và theo nhóm vănhoá,…

10) Công việc: Những kĩ năng để có thể làm một việc nào đó trongcộng đồng, có thể là những công việc theo ca kíp hoặc kéo dài cả buổi, cóhành vi xã hội thích hợp và những kĩ năng liên quan đến công việc

Những kĩ năng này có tầm quan trọng ảnh hưởng đến sự thành côngtrong cuộc sống của mỗi người Sự kết hợp những kĩ năng này cho phéptừng cá nhân có thể hội nhập vào cuộc sống của cộng đồng

4.2 Phân loại mức độ khuyết tật trí tuệ

Để xác định mức độ KTTT của một trẻ cụ thể, phải dựa vào các dấuhiệu tâm vận động, về khả năng tự phục vụ, khả năng thích nghi với cuộcsống của trẻ Tuy nhiên về mặt hành chính, cần có tiêu chí nào đó dễ thốngnhất Đa số các nhà nghiên cứu chấp nhận dựa vào điểm trí tuệ được thựchiện qua các trắc nghiệm Theo cách này hiện nay có nhiều bảng phân loại(Tổ chức Y tế thế giới, bảng DSM của Hiệp hội Tâm thần Mĩ, bảng của cáchọc giả Pháp (1993)) Thông thường (tính theo trắc nghiệm Stanforrd - Benet

Trang 28

và theo Wechsler), những trẻ có chỉ số IQ < 70 được coi là KTTT Tuy nhiên,cũng có nhiều người đề xuất IQ < 80 Chẳng hạn, theo Nguyễn Khắc Viện(1991):

- KTTT loại nghiêm trọng: có chỉ số IQ dưới 20 hoặc 25

Một số tài liệu trước đây cho rằng: các mức độ KTTT thường đề cậpđến các loại giáo dục như sau:

Trang 29

Bảng 1.2 Phân loại mức độ KTTT theo trắc nghiệm của Stanford Binet và Wechsler Bảng các mức độ KTTT tính theo chỉ số IQ

Tỉ lệ % trong dân số

Mức độ KTTT

Sinh trưởng và phát triển ở tuổi chưa đi

học (0- 5 tuổi)

Huấn luyện và giáo dục ở tuổi chưa đi học (6 - 20 tuổi)

Tiềm năng xã hội và nghề nghiệp ở tuổi trưởng thành

Trầm trọng

(IQ < 20)

Chậm phát triển nhiều, tiềm năng hoạt động tối thiểu về tâm vận động cần được chăm sóc

Có phát triển được ít nhiều

về vận động, không tập làm lấy được công việc tự phục

vụ, cần được chăm sóc hoàn toàn

Phát triển chút ít về vận động và ngôn ngữ, hoàn toàn không tự lo cho bản thân, cần được chăm sóc, giám sát

Nặng

(IQ: 20- 35)

Phát triển kém về vận động, ngôn ngữ tối thiểu, không làm lấy được việc phục vụ, không có hay có rất ít kĩ năng truyền đạt

Có thể tập nói và truyền đạt; tập được thói quen vệ sinh sơ đẳng; không tập được những kĩ năng thông dụng ở nhà trường; có thể tập được thói quen nếu được huấn luyện có phương pháp

Có thể tham gia một phần vào việc lo cho bản thân, nếu được giám sát hoàn toàn; có thể phát triển kĩ năng tự vệ ở mức độ tối thiểu trong môi trường hạn chế

Trung bình

(IQ: 36- 52)

Có thể nói và tập truyền đạt; ý thức xã hội kém, phát triển khá về vận động; có thể tập tự lực cánh sinh, chỉ cần giám sát vừa phải

Nếu được huấn luyện đặc biệt có thể tập được các kĩ năng thông dụng ở trình độ lớp 3 khi 15 hay 16 tuổi

Có thể làm công việc lao động hay đòi hỏi chút ít huấn luyện chuyên môn, cần giám sát hay hướng dẫn chút ít khi gặp trở ngại

về kinh tế hay xã hội nào

đó

Trang 30

Khi đến tuổi 15, 16 có thể lập được các kĩ năng của lớp nhất tiểu học; không học được các môn tổng quát ở trung học; cần được giáo dục theo chương trình đặc biệt, nhất là ở tuổi trung học

Nếu được giáo dục và huấn luyện đúng cách, có thể sinh hoạt bình thường

về xã hội và nghề nghiệp; khi gặp trở ngại lớn về kinh tế hay xã hội cần được giám sát hay hướng dẫn

Tác dụng của việc phân loại mức độ KTTT:

Thông thường, các loại sách báo hay tạp chí thường sử dụng thuật ngữKTTT nhưng không nói rõ là KTTT ở mức độ nào Những ai đã có kinhnghiệm làm việc với trẻ KTTT đều biết rằng mức độ hoạt động của trí tuệ chongười ta những cơ sở đoán biết và kì vọng về mức độ HV của đứa trẻ, biếtđiều kiện về thể chất và cuối cùng là mức độ và hình thức chăm sóc cần thiếtcho đứa trẻ Ví dụ: Trẻ KTTT loại nặng và nghiêm trọng thường mắc cảchứng động kinh; Bé trai có hội chứng nhiễm sắc thể X thường KTTT ở mứcnhẹ và trung bình Những người đàn ông có hội chứng này thường bị KTTTtrung bình hoặc nặng

Trên đây là các mức độ KTTT, được phân loại theo điểm trắc nghiệm,tức là chủ yếu căn cứ vào các dấu hiệu được lượng hoá Việc phân mức độKTTT như trên giúp các nhà sư phạm có cơ sở đoán biết và kì vọng ở mức

độ HV của trẻ Tuy nhiên, để xác định đúng mức độ và tính chất KTTT củamỗi đứa trẻ, cần phải phân tích định tính thông qua phương pháp lâm sàng.Phát hiện ra nguyên nhân của nó, từ đó có mức độ và hình thức chăm sóc,giáo dục thích hợp Ở Việt Nam hiện nay, trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt,chúng ta sử dụng cách phân loại mức độ KTTT theo DSM- IV

5 Tính phổ biến của khuyết tật trí tuệ

5.1 Tỉ lệ khuyết tật trí tuệ theo cách tính của DSM- IV và AAMR

Khó có thể dự đoán chính xác tần số xuất hiện của KTTT Người ta chorằng tỉ lệ người KTTT chiếm khoảng 1 - 3% dân số Mỗi nghiên cứu lại đưa ra

Trang 31

những tỉ lệ khác nhau bởi vì họ sử dụng các định nghĩa, phương pháp đánhgiá và phương pháp nghiên cứu về dân số khác nhau

Theo DSM- IV dự đoán thì tỉ lệ KTTT là khoảng 1% tổng dân số

- Nhóm KTTT nhẹ là đông nhất, chiếm khoảng 85% tổng số ngườiKTTT

- Nhóm KTTT vừa chiếm khoảng 10% tổng số người KTTT

- Nhóm KTTT nặng chiếm khoảng 3% - 4% tổng số người KTTT

- Nhóm KTTT nghiêm trọng chiếm khoảng 1% - 2% tổng số ngườiKTTT

Theo khái niệm của DSM- IV và AAMR, không nên coi KTTT là một tìnhtrạng vĩnh viễn: những người KTTT mức độ nhẹ có thể sống khá độc lập, đặcbiệt là khi họ được hỗ trợ thích hợp và đúng lúc

Thường người ta chỉ phát hiện ra một đứa trẻ nào đó là KTTT khi trẻ đãđến trường vì kết quả học tập kém Nhiều trong số những học sinh này khôngđược công nhận chính thức là trẻ KTTT trong những năm tháng đi học Ngoài

ra, phần lớn trẻ KTTT loại nhẹ chỉ được hỗ trợ đặc biệt khi ở trường, còn rangoài thì không (người ta dùng thuật ngữ “chỉ KTTT trong 6 tiếng”) Chínhđiều này đã ảnh hưởng đến việc thống kê số liệu người KTTT

Thực tế, số người KTTT ở mức độ trung bình, nặng và nghiêm trọng là

ổn định Chỉ một số cá nhân (ở những mức độ KTTT này) có thể đạt được kĩnăng tự phục vụ và lao động, còn phần lớn phải phụ thuộc vào sự chăm sóccủa gia đình và các tổ chức dịch vụ xã hội khác

Cũng theo DSM- IV, thông thường nam giới thường bị KTTT nhiều hơn

so với nữ giới, tỉ lệ là: 1,5/1

5 2 Tỉ lệ khuyết tật trí tuệ ở Việt Nam

Hiện nay, dân số Việt Nam có khoảng hơn 80 triệu người, trong đó trẻ

em dưới 16 tuổi khoảng hơn 30 triệu

Trang 32

Nằm trong số những trẻ khuyết tật nói chung ở nước ta, trẻ KTTT nhìnchung chiếm tỉ lệ khá cao so với các loại khuyết tật khác

Theo ước tính của Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục Liên hợpquốc (UNESCO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỉ lệ phần trăm dân số cónhu cầu đặc biệt của một quốc gia là khoảng 10% Tỉ lệ này cao thấp còn phụthuộc vào khái niệm nhu cầu đặc biệt Nhìn chung qua các cuộc điều tra ởcác nước khác nhau trên thế giới, tỉ lệ phần trăm trẻ có nhu cầu đặc biệtkhoảng trên dưới 10% (Bergsma, 2000)

Nếu ước tính trẻ dưới 16 tuổi của Việt Nam là 30 triệu em và nếu cácnhóm trẻ thuộc độ tuổi từ 0 đến 16 ít nhiều được phân chia bằng nhau thì sốliệu trong bảng dưới đây là tỉ lệ phổ biến trẻ có nhu cầu đặc biệt ở Việt Nam

Bảng 1.4 Số liệu trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt ở Việt Nam tính theo nhóm tuổi khác nhau

Tuổi Tổng dân số Nhu cầu đặc

biệt

Dạng nặng rất nặng

Dạng nhẹ trung bình

Từ phương diện mang tính lịch sử, có thể ước tính tỉ lệ trẻ KTTT chiếmkhoảng 3% tổng dân số, tỉ lệ này được tính chủ yếu dựa vào chỉ số trí tuệ củatrẻ, với độ lệch chuẩn dưới trung bình là hai Trong trường hợp ước tính tỉ lệ

Trang 33

phổ biến trẻ KTTT có xét đến yếu tố HV thích ứng thì tỉ lệ trẻ KTTT giảmxuống khoảng 1% Bảng sau đây là con số ước lượng trẻ KTTT ở Việt Namtính theo tỉ lệ phổ biến là 1%

Bảng 1.5: số lượng trẻ KTTT ở Việt Nam tính theo tỉ lệ 1%

Tuổi Tổng dân số Nhu cầu đặc

biệt

Dạng nặng – rất nặng

Dạng trung bình

có sự tương đương với số liệu trong bảng 1.4

Theo số liệu điều tra về người khuyết tật ở các vùng triển khai chươngtrình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trên 29 tỉnh của Bộ Y tế sau 10năm hoạt động, kết quả khảo sát cho thấy trẻ KTTT chiếm khoảng 23% trongtổng số trẻ khuyết tật

Nghiên cứu của Sở Giáo dục TPHCM năm 2001 cho thấy, có khoảng

35 000 trẻ khiếm thính, khiếm thị, KTTT, trẻ có khó khăn về ngôn ngữ ởthành phố HCM và các tỉnh gần TP HCM Ước tính trong số trẻ khuyết tật này

có khoảng 22 000 trẻ KTTT, trong đó 54 trẻ được tham gia chương trình canthiệp sớm tại Trung tâm Nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật TP HCM, 113 trẻđược hội nhập vào các trường mẫu giáo và tiểu học, 900 học sinh đang họctại 15 trường chuyên biệt, còn lại khoảng gần 21.000 trẻ em chưa được thamgia vào bất cứ loại hình giáo dục đặc biệt nào

Trang 34

Như vậy, các con số ước tính phổ biến của trẻ khuyết tật nói chung vàtrẻ KTTT nói riêng là rất khác nhau Nhìn chung trẻ KTTT chiếm khoảng từ 1đến 3% dân số Thực tế tuỳ từng địa phương và khái niệm sử dụng mà tỉ lệnày có thể cao hơn hoặc thấp hơn

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Giải thích tại sao chỉ số đo trí tuệ và HV thích nghi là hai tiêu chí đểchẩn đoán tật KTTT?

2 Hãy phân tích ưu, nhược điểm của khái niệm KTTT theo quan điểm

đo lường trí tuệ

3 Phân tích khái niệm KTTT dựa trên khả năng thích nghi của cá nhân

4 Anh chị hãy cho biết khái niệm nào về KTTT được sử dụng phổ biếnhiện nay ở Việt Nam? Tại sao?

5 Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa khái niệm theo bảngphân loại của DSM- IV và khái niệm của AAMR

6 Ở Việt Nam hiện nay thường sử dụng tiêu chí phân loại KTTT nào?Tại sao chúng ta cần phân loại mức độ KTTT?

7 Trình bày các mức độ hỗ trợ cho trẻ KTTT theo AAMR AAMR đã sửdụng tiêu chí nào để phân loại mức độ KTTT?

8 Trình bày các nguyên nhân sinh học gây nên KTTT và cách phòngngừa

9 Trình bày nguyên nhân trong khi sinh gây nên tật KTTT và cáchphòng ngừa

10 Trình bày nguyên nhân sau khi sinh gây nên tật KTTT và cáchphòng ngừa

BÀI TẬP THỰC HÀNH

1 Tìm hiểu các trẻ KTTT tại các cơ sở thực hành, qua đó thu thậpnhững thông tin cơ bản về học sinh, trường và lớp thực hành

Trang 35

2 Thu thập thông tin và lập hồ sơ về một trẻ

3 Hãy tìm hiểu, quan sát, quay băng về một trẻ KTTT trong lớp thựchành của mình Giới thiệu với cả lớp về em học sinh đó trong giờ học tại lớp

về các biểu hiện KTTT

4 Tìm hiểu nguyên nhân gây nên KTTT ở các trẻ tại trường thực hành

Từ đó hãy thiết kế tờ rơi phổ biến các nguyên nhân gày KTTT cho các cha

mẹ và cộng đồng dân cư tại địa bàn thực hành

5 Đến thăm một gia đình học sinh KTTT và tìm hiểu nguyên nhân gâytật và những khó khăn mà gia đình gặp phải khi mới phát hiện ra tật KTTT ởtrẻ

Chương 2 MỘT SỐ HỘI CHỨNG ĐIỂN HÌNH LIÊN QUAN ĐẾN

Hội chứng Down là hội chứng gây nên bởi việc thừa vật chất di truyềntrong nhiễm sắc thể (NST) 21 ở con người

Mọi trẻ down trên thế giới nhìn bề ngoài đều tương đối giống nhau vàrất dễ được nhận diện dù chúng có khác nhau về chủng tộc, màu da và giớitính

Một số hình ảnh về trẻ bị hội chứng Down

1.2 Mức độ phổ biến

Trang 36

Hội chứng Down là một trong những dạng khó khăn về học phổ biếnnhất, trung bình có 1 trẻ Down trong số 1000 trẻ được sinh ra trong một năm.Với những người mẹ sinh con ở tuổi 25 thì tỉ lệ sinh con bị Down là 1/3000; ởtuổi 40 là 1/100 và ở những người mẹ trên 47 tuổi là 1/10 Nếu một cặp vợchồng đã sinh ra một đứa con bị Down thì tỉ lệ sinh ra một trẻ Down khác luônluôn cao hơn so với những cặp vợ chồng khác cùng tuổi, tỉ lệ rủi ro là 1/100đối với những cặp vợ chồng dưới 30 tuổi

1.3 Nguyên nhân

Nguyên nhân trực tiếp gây nên hội chứng Down là thừa NST ở cặp số

21 Nguyên nhân này được phát hiện vào năm 1960

Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xácgây nên việc thừa NST ở cặp số 21 Tuy nhiên, có sự liên hệ giữa tuổi củangười mẹ với nguy cơ có con bị hội chứng Down

1.4 Phân loại

Tiêu chí phân loại hội chứng Down dựa trên cách thức và số lượng tếbào mang bộ nhiễm sắc thể bất thường ở cặp số 21 Theo đó, có 3 dạngDown cơ bản: dạng tam bội, dạng khảm và dạng sai vị trí

- Dạng tam bội: Có 3 NTS ở cặp số 21 trong tất cả các tế bào Cókhoảng 95% người bị Down có ba nhiễm sắc thể ở cặp số 21  

- Dạng khảm: Có 3 NST ở cặp số 21 trong một số tế bào Có khoảng1% trẻ bị Down ở dạng khảm Nhìn bề ngoài những trẻ có hội chứng Downdạng khảm có biểu hiện mờ nhạt hơn so với những trẻ Down dạng tam bội

- Dạng sai vị trí: Khoảng 4% trường hợp trẻ Down có nguyên nhân là dochứng hoán vị nhiễm sắc thể: cha mẹ mang nhiễm sắc thể bình thườngnhưng sự hoán vị lại không cân bằng NST 21 thứ 3 gắn vào một NST kháctrong mỗi tế bào

1.5 Các đặc điểm nhận dạng bên ngoài của trẻ có hội chứng Down

Trang 37

Một số biểu hiện bên ngoài của hội chứng Down

- Hộp sọ có hình dạng khác biệt: đầu ngắn, đường kính của hộp sọngắn

- 65% luôn há miệng nhỏ (lưỡi thè ra ngoài), tai nhỏ

- Gáy mỏng và dẹt

- Bàn chân phẳng, ngón chân chim, ngón chân cái toè (ngón chân cáichoẽ ra, khoảng cách giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai khá xa) Khớpháng, cổ chân, khuỷu lỏng lẻo

- Cứ 10 trẻ Down có 1 trẻ bị tổn thương đốt sống cổ gây nên tổnthương tuỷ sống và bị liệt

- Bàn tay ngắn, to, các ngón tay ngắn, ngón út thường khoèo (ngón úpquặp vào trong vì đốt giữa của ngón út có hình tam giác), đường vân tay kéodài qua bốn ngón tay

- Trương lực cơ giảm và các khớp lỏng

1.6 Các vấn đề tâm lí và thể chất thường gặp ở trẻ có hội chứng Down

1.6.1 Các vấn đề về tâm lí

Trẻ mang hội chứng Down được coi là trẻ KTTT điển hình, với một sốđặc điểm về mặt phát triển tâm lí như sau:

- KTTT từ mức độ rất nặng đến nhẹ

Trang 38

- Có những mức độ khó khăn trong học tập khác nhau từ nhẹ tới nặng

- Những nhân tố của môi trường xã hội có vai trò quan trọng trong sựphát triển của trẻ không kém những nhân tố di truyền

- Quá trình phát triển của trẻ Down có trình tự tương tự như ở trẻ bìnhthường

- Trẻ có hội chứng Down có quá trình phát triển chậm hơn so với nhữngtrẻ đồng trang lứa, đạt được các mốc phát triển ở thời điểm chậm hơn và do

đó kéo dài hơn về mặt thời gian trong từng giai đoạn phát triển Vì vậy,khoảng cách về sự phát triển giữa trẻ có hội chứng Down và trẻ bình thườngtăng dần theo lứa tuổi

- Các kĩ năng của trẻ có hội chứng Down sẽ tiếp tục phát triển trongsuốt cuộc đời

- Trẻ Down ít có các HV bất thường, là những trẻ tình cảm, dễ tiếp xúc,nhanh quen với người lạ

Trẻ có hội chứng Down không phải gặp hạn chế về mọi mặt trong quátrình phát triển, trẻ có những đặc điểm đặc thù về mặt học tập với những thếmạnh và điểm yếu riêng Những đặc điểm sau đây cùng với các nhu cầu cánhân của trẻ cần được lưu ý tới:

Những điểm mạnh có thể hỗ trợ cho hoạt động học tập của trẻ:

- Khả năng học tập và sử dụng kí hiệu, cử chỉ điệu bộ và các hỗ trợ thịgiác

- Khả năng học tập và sử dụng ngôn ngữ viết

- Khả năng học tập các HV và thái độ đúng mực đối với bạn đồng tranglứa và người lớn

- Khả năng học được cách sử dụng các đồ dùng học tập và các hoạtđộng cần đến sự thao tác bằng tay với các đồ vật

Những hạn chế có thể gây trở ngại cho hoạt động học tập của trẻ:

Trang 39

- Hạn chế trong chức năng nhận thức

- Hạn chế về kĩ năng vận động tinh và vận động thô

- Khó khăn về thị giác và thính giác

- Suy giảm chức năng của bộ nhớ thính giác ngắn hạn

- Khả năng chú ý thấp

- Khó khăn trong việc ghi nhớ chắc chắn kiến thức và tái hiện

- Khó khăn trong khả năng tổng hợp và suy luận

- Khó khăn trong khả năng làm theo trật tự

1.6.2 Các vấn đề về thể chất

- 40% trẻ Down có bệnh tim bẩm sinh

- Chức năng tuyến giáp kém: 10% trẻ nhỏ bị Down và 30% người lớn bịDown thiểu năng tuyến giáp

- 35% trẻ Down bị lác mắt; 75% bị đục thuỷ tinh thể; 70% bị cận thị,10% có giác mạc hình chóp (giác mặc lồi ra phía trước) Ba tật cuối cùng (đụcthuỷ tinh thể, cận thị, giác mạc hình chóp) sẽ tiến triển chậm hơn trong suốtcuộc đời của trẻ

- Trẻ có hội chứng Down thường có ráy tai làm cản trở khả năng tiếpthu âm thanh; viêm tai giữa kinh niên, 60% bị điếc dẫn truyền và điếc bẩmsinh

- Đối với người trưởng thành bị Down, tỉ lệ mắc chứng Alzheimer (mấttrí) rất cao, ước tính có khoảng 30% người bị Down lứa tuổi 30 - 40 mắc hộichứng này, với nhóm tuổi 40 - 50 là 50% và nhóm tuổi trên 50 là 80%

- Trẻ Down có vấn đề về ruột bẩm sinh, khoảng 6% có đường ruột nhỏ

- Hay mắc bệnh bạch cầu, sai khớp đốt sống cổ

- Khó uống đối với trẻ sơ sinh, khó nhai nuốt với trẻ lớn hơn

Trang 40

1.7 Những điều cần lưu ý trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ có hội chứng Down

* Các lưu ý đối với của giáo viên:

Hội chứng Down nên nhận được hỗ trợ theo hướng cá biệt hoá Nhữnghoạt động bình thường trong lớp học cũng phù hợp với những trẻ này, tuynhiên, cần được điều chỉnh cho phù hợp:

- Cân nhắc về mức độ phát triển khả năng học tập của trẻ Thôngthường, trẻ Down được đánh giá là nhóm trẻ có cơ hội hoà nhập trong lớphọc và trong cộng đồng lớn, vì các em là những trẻ thân thiện, ít có HV bấtthường Tuy nhiên, khi đưa trẻ vào lớp, đặc biệt là lớp học hoà nhập, cần hếtsức cân nhắc về khả năng học tập của trẻ Trẻ Down có những khó khăn vềmặt học tập khác nhau, có những trẻ mắc KTTT mức độ nhẹ, có những trẻmắc KTTT mức độ nặng Do vậy, vấn đề chương trình, phương pháp cầnphải điều chỉnh cho phù hợp

- Có những kì vọng về HV giống như những trẻ khác Đây là kì vọngnên có ở GV và cha mẹ, vì thực tế trẻ Down rất có triển vọng trong việc họctập và bắt chước được những HV phù hợp

- Cân nhắc về việc sử dụng các nhân viên hỗ trợ nhằm giúp đỡ trẻDown khi hoạt động học tập toàn lớp diễn ra Sẽ rất tốt nếu như trong lớp cóthêm GV hỗ trợ trẻ vì những khiếm khuyết về mặt ngôn ngữ ở trẻ Down cóthể hạn chế sự tiếp nhận thông tin và các hướng dẫn từ GV chính

- Trực quan hoá cho trẻ về những tình huống học tập sắp tới, ví dụ cácthẻ nhắc việc, các đồ vật trực quan, làm mẫu các nhiệm vụ cần thực hiện

- Khả năng nghi nhớ của trẻ Down không tốt, và khi ghi nhớ các emcũng khó khăn trong việc nhắc lại, tái hiện kiến thức Hơn nữa tư duy trừutượng ở các em cũng kém phát triển, do vậy GV nên tăng cường đồ dùngtrực quan trong các tiết dạy

Ngày đăng: 10/04/2017, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Christine Miles, Harry Toren. GDĐB cho học sinh chậm phát triển tinh thần Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDĐB cho học sinh chậm phát triển tinh thần
Tác giả: Christine Miles, Harry Toren
6. Ngô Công Hoàn. Giao tiếp và ứng xử sư phạm. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và ứng xử sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Thạc - Hoàng Anh. Luyện giao tiếp sư phạm - ĐHSP Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện giao tiếp sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thạc - Hoàng Anh
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội
Năm: 1991
12. Đỗ Thị Thảo. Đại cương về chậm phát triển trí tuệ. Tài liệu bài giảng, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Đỗ Thị Thảo
Nhà XB: Tài liệu bài giảng
Năm: 2002
13. Đỗ Thị Thảo. Giao tiếp với trẻ chậm phát triển trí tuệ. Tài liệu bài giảng 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp với trẻ chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Đỗ Thị Thảo
Nhà XB: Tài liệu bài giảng
Năm: 2003
16. Tổ chức hỗ trợ và phát triển CRS. Giao tiếp với trẻ em. Tài liệu huấn luyện ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp với trẻ em
Tác giả: Tổ chức hỗ trợ và phát triển CRS
30. Achenbach, T.M. Teachers report form. (1991c). University of Vermont Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teachers report form
Tác giả: Achenbach, T.M
Nhà XB: University of Vermont
Năm: 1991
31. Barrios, B. A, &amp; Hartmann, D.P. Behavioral asessment of childhood 5. disorders. (1988). New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Behavioral assessment of childhood disorders
Tác giả: Barrios, B. A, Hartmann, D.P
Nhà XB: New York
Năm: 1988
34. Cumine, V., Leach, J. &amp; Stevenson, G. (2000). Autism in the early years: a practical guide- London: David Fulton Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Autism in the early years: a practical guide
Tác giả: Cumine, V., Leach, J., Stevenson, G
Nhà XB: David Fulton Publishers
Năm: 2000
35. Dare, A. &amp; ODonovan, M. (2002). Good practice in caring for young children with special needs (second edition). Cheltenham, UK: Nelson Sách, tạp chí
Tiêu đề: Good practice in caring for young children with special needs (second edition)
Tác giả: A. Dare, M. ODonovan
Nhà XB: Nelson
Năm: 2002
37. DeRisi, W.J., &amp; Butz, G. Writing behavioral contracts. (1975).Champaign Sách, tạp chí
Tiêu đề: Writing behavioral contracts
Tác giả: W.J. DeRisi, G. Butz
Nhà XB: Champaign
Năm: 1975
40. Finnie, N. R. (1974). Handling the young cerebral palsied child at home (2nd edition). London: Heinemann Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handling the young cerebral palsied child at home
Tác giả: N. R. Finnie
Nhà XB: Heinemann
Năm: 1974
41. Frost, L. and Bondy, A. (2002) A Pictures Worth: PECS and other visual communication strategies in autism. Woodbine House Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Pictures Worth: PECS and other visual communication strategies in autism
Tác giả: Frost, L., Bondy, A
Nhà XB: Woodbine House
Năm: 2002
42. Frost, L. and Bondy, A. (2002) The picture exchange communication system training manual. Newark: Pyramid Educational Products Sách, tạp chí
Tiêu đề: The picture exchange communication system training manual
Tác giả: L. Frost, A. Bondy
Nhà XB: Pyramid Educational Products
Năm: 2002
43. Hannah, L. (2001). Teaching young children with autistic spectrum disorders to learn: a practical guide for parents and staff in mainstream schools and nurseries). London: The National Autistic Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teaching young children with autistic spectrum disorders to learn: a practical guide for parents and staff in mainstream schools and nurseries
Tác giả: Hannah, L
Nhà XB: The National Autistic Society
Năm: 2001
44. Ingalls, R. p. Mental Retardation: The Changing Outlook. John Wiley &amp; Sons. New York, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental Retardation: The Changing Outlook
Tác giả: Ingalls, R
Nhà XB: John Wiley & Sons
Năm: 1978
45. Kraijer, D.W. and J. J. Plas. Psychodiagnostiek in de zorg voor verstandelijk gehandicapte mensen: classificatie, test- en schaalgebruik.Swets &amp; Zeitlinger Publishers, Lisse, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychodiagnostiek in de zorg voor verstandelijk gehandicapte mensen: classificatie, test- en schaalgebruik
Tác giả: D.W. Kraijer, J. J. Plas
Nhà XB: Swets & Zeitlinger Publishers
Năm: 1997
47. Manolson, A. It Takes Two to Talk, A Hanen Centre Publication, Toronto, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: It Takes Two to Talk
Tác giả: A. Manolson
Nhà XB: Hanen Centre
Năm: 1992
48. Newman, S. (1999). Small steps forward: using games and activities to help your pre- school child with special. London: Jessica Kingsley Publishers Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Small steps forward: using games and activities to help your pre- school child with special
Tác giả: S. Newman
Nhà XB: Jessica Kingsley Publishers Ltd
Năm: 1999
50. Paul Dickinson &amp; Liz Hannah publ. National Autistic Society It Can Get Better: Dealing with Common Behaviour Problems in Young Autistic Children Sách, tạp chí
Tiêu đề: It Can Get Better: Dealing with Common Behaviour Problems in Young Autistic Children
Tác giả: Paul Dickinson, Liz Hannah
Nhà XB: National Autistic Society

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w