Đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập nền kinh tế của đất nước vào nền kinh tế thế giới, một trong nhữngvấn đề mà các doanh doanh nghiệp quan tâm hàng đầu đó
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa, các doanhnghiệp luôn quan tâm đến việc khuyến khích tăng năng suất lao động và chấtlượng sản phẩm, tăng năng suất lao động đã trở thành vấn đề sống còn của mỗidoanh nghiệp, năng suất lao động đã trở thành lợi thế cạnh tranh của mỗi doanhnghiệp và của mỗi quốc gia Đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập nền kinh tế của đất nước vào nền kinh tế thế giới, một trong nhữngvấn đề mà các doanh doanh nghiệp quan tâm hàng đầu đó là làm thế nào để nângcao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, làm thế nào để tạo ra nhữngsản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhất Saumột thời gian khá dài chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, dẫn tớihiệu quả sản xuất kinh doanh và năng suất lao động của các doanh nghiệp ViệtNam vẫn còn thấp hơn rất nhiều lần so với các nước trên thế giới và trong khu vực
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu để đề xuất các biện phápnâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp của Việt Nam là hết sức cầnthiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đềxuất các biện pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty cổ phần đóng tàu SôngCấm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của Công ty
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về năng suất lao động đểphân tích, đánh giá và đưa ra các biện pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty
cổ phần đóng tàu Sông Cấm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đã nghiên cứu tổng quan các nhân tố tác động đến năng suất laođộng tại công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm2014
Trang 2Luận văn đã đưa ra các biện pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty
cổ phần đóng tàu Sông Cấm và các doanh nghiệp có quy mô sản xuất và cơ cấusản phẩm tương đương tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp sử dụng: phương pháp thu thập, thống kê; phương pháp
phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh và khảo sát thực tế
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về năng
suất lao động
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn đã đánh giá thực trạng về năng suất lao động tại
công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm và đề xuất áp dụng các biện pháp nâng caonăng suất lao động tại công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm và các doanh nghiệp cóquy mô sản xuất, cơ cấu sản phẩm tương đương tại Việt Nam
6 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Về kết cấu của luận văn ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung của luận văn gồm có:
Chương 1 Cơ sở lý luận về năng suất lao động
Chương 2 Đánh giá thực trạng năng suất lao động tại công ty cổ phần đóngtàu Sông Cấm
Chương 3 Biện pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty cổ phần đóngtàu Sông Cấm
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm về năng suất lao động
Năng suất lao động là hiệu quả của hoạt động có ích của con người trong
Trang 3một đơn vị thời gian, nó được biểu hiện bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trongmột đơn vị thời gian hoặc hao phí để sản xuất ra được một sản phẩm [1].
Hay năng suất lao động cũng có thể được khái quát một cách rất ngắn gọn
là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó [2]
Đầu ra có thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng hoặc khối lượnghàng hóa tính bằng đơn vị hiện vật Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia đểsản xuất ra đầu ra Đó là lao động, nguyên liệu vốn, thiết bị máy móc, vật trunggian mua vào Như vậy năng suất lao động trở thành nhân tố quan trọng nhất đánhgiá khả năng cạnh tranh của hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thờicũng thể hiện trình độ phát triển của các doanh nghiệp và các quốc gia
Như vậy, với quan niệm năng suất lao động chỉ thuần tuý thể hiện mốitương quan giữa “đầu ra” và “đầu vào” Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầuvào thì có thể nói năng suất lao động cao hơn Quan niệm truyền thống đề cập vềmặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng Còn theo quan niệm mới thì năngsuất lao động được hiểu rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng thời với tăngchất lượng đầu ra Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản xuấtmột khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất lượng cao hơn Vớiquan niệm như vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà khôngtổn hại đến chất lượng Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào số lượng màcòn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trongsản xuất Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năngsuất và chất lượng được xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất lượngngười ta phải hy sinh năng suất và ngược lại, để có năng suất cao phải hy sinh chấtlượng Nhưng ngày nay, năng suất và chất lượng đã trở thành đồng hướng thốngnhất với nhau năng suất lao động cao phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ cócác đặc tính kinh tế kỹ thuật và chức năng sử dụng thoả mãn nhu cầu của kháchhàng và những đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tàinguyên, ít gây ô nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất
Theo quan điểm tiếp cận mới về năng suất lao động do Uỷ ban năng suất
Trang 4của Hội đồng năng suất châu Âu đưa ra: Năng suất lao động là một trạng thái tưduy Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại Có một
sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua
và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay Hơn nữa đó đòi hỏi những cố gắng khôngngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi,luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới Đó là sự tin tưởng chắc chắntrong quá trình tiến triển của loài người [3]
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của laođộng cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng(hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thờigian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm Năng suất lao động làchỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, mộtđơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất Năng suất lao động được quyếtđịnh bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ pháttriển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy
mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên Năng suất laođộng là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánhgiữa một chỉ tiêu đầu ra với lao động để sản xuất ra nó Năng suất lao động là mộttrong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh Đặc biệt, năng suất laođộng lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động là yếu tố cốt lõi của sự pháttriển trong sự cạnh tranh toàn cầu, phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh
tế tri thức hiện nay
Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng năng suất lao động là hiệuquả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian Tăng năng suất laođộng không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nóthể hiện mối quan hệ giữa năng suất, hiệu quả, việc làm và sự phát triển bền vững
Trang 51.2 Các loại năng suất lao động
Năng suất lao động có thể chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, xét theophạm vi năng suất lao động có thể chia làm hai loại năng suất lao động của quốcgia và năng suất lao động của doanh nghiệp
1.2.1 Năng suất lao động quốc gia
Năng suất lao động quốc gia là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất làm việc một laođộng của một quốc gia, năng suất lao động quốc gia thường đo bằng tổng sảnphẩm trong nước tính bình quân trên một lao động trong thời kỳ tham chiếu
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở mộtnước Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và là tiêuchuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống Năng suất quốc gia làchỉ số của nềnkinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước
Năng suất lao động quốc gia được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội(GDP) trên một lao động và tỷ lệ sử dụng lao động được tính là tỷ lệ số lao độngđang làm việc trên tổng dân số Vì vậy sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội(GDP) trên một đầu người có thể do tăng năng suất lao động hoặc do tăng tỷ lệ sửdụng lao động
Có nhiều loại chỉ tiêu để chúng ta có thể tính và đánh giá năng suất laođộng quốc gia, nhưng hiện nay người ta thường dùng chỉ tiêu tính năng suất laođộng quốc gia bằng giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng giá trị giatăng (GVA)để tính năng suất lao động của một quốc gia
Công thức tính:
Trong đó:
W: Năng suất lao động của một người lao động (tính bằng tiền)
Q: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) hoặc
tổng giá trị gia tăng (GVA - Gross Value Added)
T: Tổng số dân của một quốc gia (hoặc tổng giờ công lao động, lực lượng
lao động, số lượng lao động đang làm việc)
W =
Q T
Trang 61.2.2 Năng suất lao động doanh nghiệp
Năng suất của doanh nghiệp là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp vớitổng đầu vào của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định Có nhiềuloại chỉ tiêu để chúng ta có thể tính và đánh giá năng suất lao động của doanhnghiệp, nhưng dùng loại chỉ tiêu nào lại tùy thuộc vào việc lựa chọn một thước đocho phù hợp với tình hình và đặc điểm của từng doanh nghiệp
Hiện nay, người ta thường dùng ba loại chỉ tiêu để tính và đánh giá năngsuất lao động của doanh nghiệp gồm: chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiệnvật, chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng giá trị và chỉ tiêu tính năng suất lao độngbằng thời gian lao động, trong khuôn khổ bài luận văn này ta chỉ sử dụng hai chỉtiêu để đánh giá năng suất lao động của doanh nghiệp, gồm:
1.2.2.1 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng giá trị
Chỉ tiêu tính năng suất lao động của doanh nghiệp dựa trên giá trị sảnlượng tính bằng tiền của tất cả các loại sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra đểtính năng suất lao động của một lao động hay một công nhân
Công thức tính:
Trong đó:
W: Năng suất lao động của một người lao động (tính bằng tiền)
Q: Giá trị sản lượng, giá trị doanh thu, lợi nhuận
T: Tổng số lao động hoặc công nhân.
- Ưu điểm: Đây là chỉ tiêu tính năng suất lao động thông dụng nhất, có khả
năng tính cho nhiều loại sản phẩm khác nhau, khắc phục được nhược điểm chỉ tiêutính bằng hiện vật Phạm vi sử dụng của nó rộng hơn từ doanh nghiệp, ngành, giữacác ngành và nền kinh tế quốc dân, có thể dùng để so sánh mức năng suất lao độnggiữa các doanh nghiệp, giữa các ngành với nhau và các quốc gia khác nhau
- Nhược điểm: Chỉ tiêu này không khuyến khích việc tiết kiệm vật tư và vật
dụng rẻ tiền mau hỏng, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản lượng theo phươngpháp công xưởng, nếu sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều cơ cấu sản phẩm thay đổi
W =
Q T
Trang 7sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của bản thân doanh nghiệp Chỉ dùng trongtrường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi (hoặc có sự thay đổi ít) vìcấu thành sản phẩm thay đổi nhiều sẽ làm sai lệch mức và tốc độ tăng năng suấtlao động.
1.2.2.2 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao động
Chỉ tiêu này dùng lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động Giảm chiphí lao động cho một đơn vị sản phẩm dẫn tới tăng năng suất lao động
Công thức tính:
Trong đó:
L: Số lượng lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm (tính bằng đơn vị
thời gian)
T: Thời gian lao động đã hao phí.
Q: Số lượng sản phẩm hoặc giá trị.
Số lượng lao động này được tính bằng cách tổng hợp chi phí thời gian laođộng của các bước công việc hoặc bước công nghệ, các chi tiết sản phẩm (đơn vịdùng để tính là giây, phút, giờ) Người ta chia ra:
- Số lượng lao động công nghệ (L cn)
- Số lượng lao động chung (L ch)
- Số lượng lao động sản xuất (L sx)
- Số lượng lao động đầy đủ (L đđ)
- Số lượng lao động công nghệ (L cn) bao gồm chi phí thời gian lao độngcủa công nhân chính hoàn thành quá trình công nghệ chủ yếu
- Số lượng lao động chung (L ch) bao gồm chi phí thời gian lao động củacông nhân hoàn thành quá trình công nghệ cũng như phục vụ quá trình công nghệđó
Công thức tính: L ch = Lcn + Lpvq
Q
Trang 8Trong đó:
Lpvq: Số lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ
- Số lượng lao động sản xuất (L sx) bao gồm chi phí thời gian lao động củacông nhân chính và công nhân phụ trong toàn doanh nghiệp
Công thức tính: L sx = Lch + Lpvsx
Trong đó:
L pvsx : Số lượng lao động phục vụ sản xuất.
- Số lượng lao động đầy đủ (L đđ) bao gồm hao phí lao động trong chế tạosản phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp
- Ưu điểm: phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm thời gian lao động để sản
xuất ra sản phẩm
- Nhược điểm: Tính toán khá phức tạp, không dùng để tính tổng hợp được
năng suất lao động bình quân của một ngành hay một doanh nghiệp có nhiều loạisản phẩm khác nhau
Ngoài ra, trong quản lý người ta phân biệt các loại năng suất lao động theonăm, tháng, ngày, giờ
1.3 Nâng cao năng suất lao động
1.3.1.
Khái
NSLĐ ngày =
Tổng giá trị sản lượng (hay tổng doanh thu)
Số ngày làm việc thực tế của người lao động
NSLĐ giờ =
Tổng giá trị sản lượng (hay tổng doanh thu)
Số giờ làm việc thực tế của người lao động
Trang 9niệm nâng cao năng suất lao động
Nâng cao năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suấtlao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sựthay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hànghoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị
sử dụng hơn
Nâng cao năng suất lao động và tăng việc làm là nguồn gốc của tăngtrưởng kinh tế, sự cần thiết phải nâng cao năng suất lao động trong các doanhnghiệp sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, dưới tác động của thị trường và sức
ép cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và đặc biệt là các doanhnghiệp nhà nước đã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của năng suất lao động Để tồntại và phát triển các doanh nghiệp đã tiến hành một cuộc cải cách lớn, tinh giản laođộng, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, tổ chức sản xuất và quản lý Nhờ đónhiều doanh nghiệp đã vượt qua khó khăn, ngày càng phát triển hơn trong cơ chếthị trường
Kết quả sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã có những tiến bộ đáng kểtrong năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế, của các doanh nghiệp nhà nước
và cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Cơ chế thị trường đã tạo điều kiện chocác doanh nghiệp phát huy tinh sáng tạo chủ động, nỗ lực tìm mọi biện pháp phấnđấu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu, lợi nhuận và khả năngcạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp đều nhận thức được năng suất, chấtlượng và hiệu quả quyết định sự tồn tại và phát triển Nâng cao giá trị và chấtlượng sản phẩm tạo ra cơ sở giảm chí phí là con đường chủ yếu để tăng khả năngcạnh tranh của sản phẩm Mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động, tăng thu nhậpcủa người lao động và doanh nghiệp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Năng suất laođộng đã thực sự trở thành động lực cho sự phát triển của mọi doanh nghiệp
Mức tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp của Việt Nam đã cómức tăng khả quan, tốc độ tăng trưởng của một số chỉ tiêu có thể xếp vào loại caotrên thế giới Tuy vậy xét về tổng thể mức tăng năng suất lao động ở các doanh
Trang 10nghiệp Việt Nam vấn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.Nguyên nhân của thực trạng này là do cơ sở hạ tầng còn thấp, trình độ công nghệcòn lạc hậu, trình độ quản lý còn bất cập, đội ngũ lao động chưa được đào tạo đểđáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh Với thực trạng năng suất laođộng như hiện nay sẽ là một khó khăn lớn cho các doanh nghiệp có thể đứng vững
và cạnh tranh trên thị trường với các doanh nghiệp nước ngoài
Nâng cao năng suất lao động sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ củatổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân , cho phép giải quyết thuận lợi các vấn đề
về tích lũy, tiêu dùng Vì năng suất lao động tăng lên thì sản lượng tăng lên và tổnggiá trị sản lượng tăng lên Khi giá trị sản lượng tạo điều kiện cho việc tăng lợinhuận, giúp cho các doanh nghiệp cá thể tích luỹ đầu tư mở rộng sản xuất
Việc nâng cao năng suất ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triểnkinh tế, khi mà nền kinh tế hiện nay đang chuyển sang hướng phát triển mới Năngsuất lao động tăng có thể do chất lượng của lao động tăng lên, giúp cho một giờlàm việc đem lại nhiều sản lượng hơn, thay đổi về thành phần hay chất lượng củavốn khiến cho sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn, có thể do tiến bộ công nghệ xuấtphát từ công tác nghiên cứu và phát triển trong nước, vay mượn từ tri thức toàncầu, hay chỉ đơn giản là rút kinh nghiệm từ thực tế làm việc, cũng có thể do táiphân bổ nguồn lực, một người lao động chuyển từ một công việc đồng áng có năngsuất thấp sang một công việc có năng suất cao trong nhà máy sẽ trở nên có hiệuquả hơn, dù trình độ học vấn không thay đổi Có thể tóm tắt những yếu tố cơ bảnđóng góp vào việc nâng cao năng suất như sau:
Phát triển nguồn nhân lực: Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng năng lực
cho lực lượng lao động Nói một cách tổng quát, những công nhân được đào tạo tốthơn sẽ làm việc năng suất hơn và tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ có chất lượnghơn
Cơ cấu vốn: Đầu tư phát triển công nghệ sản xuất mới là yêu cầu đòi hỏi tất
yếu nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ Công nghệ mới sẽ giúp nângcao năng lực cạnh tranh và giảm chi phí sản xuất Thông qua cơ cấu lại vốn, doanh
Trang 11nghiệp sẽ hoạch định tốt hơn nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tái cơ cấu kinh tế: Cơ cấu lại nền kinh tế là việc chuyển các nguồn lực từ
các ngành và thành phần kinh tế kém năng suất sang ngành và thành phần kinh tế
có năng suất cao Việc phân bổ lại các nguồn lực để có được các ngành và thànhphần kinh tế có năng suất cao hơn sẽ dẫn đến sử dụng có hiệu suất và hiệu quả cácnguồn lực và dẫn đến năng suất tăng cao
Tăng nhu cầu: Việc tăng nhu cầu trong nước và nước ngoài đối với các sản
phẩm và dịch vụ sẽ dẫn đến tỷ lệ sử dụng sản phẩm tiềm năng cao hơn, như vậy sẽkích thích sản xuất và sáng tạo
Ứng dụng tiến bộ của khoa học và công nghệ: Thể hiện tính hiệu lực và
việc sử dụng có hiệu quả công nghệ thích hợp, sự đổi mới, nghiên cứu và pháttriển, thái độ làm việc tích cực, hệ thống quản lý và tổ chức sản xuất tốt, quản lýchuỗi cung ứng và sử dụng các phương pháp thực hành tốt nhất Với trình độ côngnghệ cao, người lao động được khuyến khích và hệ thống quản lý hiệu quả, doanhnghiệp và nền kinh tế sẽ có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăngcao hơn Tính sáng tạo, sự đổi mới và tư duy năng suất sẽ định hướng sự tích tụ,phổ biến và sử dụng kiến thức nhằm tăng năng suất lao động
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao năng suất lao động
Nâng cao năng suất lao động có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triểncủa xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, là cơ sởquan trọng trong các quyết định ở tầm vi mô và vĩ mô Tác động tổng hợp nhất hay
là mục tiêu của tăng năng suất lao động hiện nay là nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa người dân
Nâng cao năng suất lao động là nhân tố đảm bảo sản xuất phát triển và đờisống con người được nâng cao Nhờ nâng cao năng suất lao động mà khối lượngsản phẩm vật chất, dịch vụ, doanh thu và lợi nhuận tăng lên Nâng cao năng suấtlao động xã hội hay năng suất lao động của doanh nghiệp là yếu tố quyết định nângcao năng lực cạnh tranh của Quốc gia hay của doanh nghiệp
Nâng cao năng suất lao động có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
Trang 12của xã hội loài người, nó là động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọiquốc gia, là cơ sở quan trọng trong các quyết định ở tầm vi mô và vĩ mô Tác độngquan tổng hợp nhất hay là mục tiêu của tăng năng suất lao động hiện nay là hoànthiện chất lượng cuộc sống của con người trên toàn thế giới Vấn đề trung tâm củanăng suất lao động hiện nay là đảm bảo xã hội tốt hơn thông qua kỹ thuật cải tiếnnhằm sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực và công nghệ sẵn có.
Ý nghĩa xã hội: Nâng cao năng suất lao động gắn liền với việc nâng cao
thỏa mãn của người lao động và tiết kiệm thời gian lao động Vì vậy việc nâng caonăng suất lao động không chỉ là vấn đề quan tâm của bộ phận lãnh đạo mà còn làvấn đề quan tâm của tất cả mọi người lao động Nâng cao năng suất lao động cũng
có nghĩa là nâng cao đời sống vật chất của chính bản thân người lao động
Trong xã hội tư bản cùng với sự việc nâng cao năng suất lao động, lợinhuận tư bản cũng tăng lên, giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề hơn, giai cấpcông nhân bị bần cùng hóa Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là tăng năng suất laođộng gắn liền với tăng cường độ lao động Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và hệthống kinh tế xã hội chủ nghĩa quyết định tính tất yếu khách quan của việc nângcao năng suất lao động Mục đích sản xuất của chủ nghĩa xã hội là thỏa mãn ngàycàng cao nhu cầu của mọi người trong xã hội
Ý nghĩa kinh tế: Trong phạm vi một tổ chức, một đơn vị, hay một doanh
nghiệp trước hết nâng cao năng suất lao động làm cho giá thành sản phẩm giảm vìtiết kiệm được chi phí tiền lương trong một đơn vị sản phẩm Nâng cao năng suấtlao động cho phép giảm được số người làm việc, do đó cũng dẫn đến tiết kiệmđược quỹ tiền lương, đồng thời lại tăng được tiền lương cho từng người lao động
do hoàn thành vượt mức sản lượng, năng suất lao động cao và tăng nhanh sẽ tạođiều kiện tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân,cho phép giải quyết các vấn đề tích lũy và tiêu dùng Nâng cao năng suất lao độnglàm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
Trong phạm vi một quốc gia, nâng cao năng suất lao động quốc gia tạo rasức mạnh kinh tế của đất nước và được xem như một chỉ số quan trọng nhất để
Trang 13đánh giá tiêu chuẩn sống Nâng cao năng suất lao động quốc gia cũng là chỉ sốdùng để so sánh giữa các quốc gia, so sánh mức tăng năng suất lao động giữa cácquốc gia cho thấy nước nào có sức mạnh kinh tế trên thế giới Vì vậy, việc nângcao năng suất quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đất nước nhằm củng
cố vị trí của nước mình trên trường quốc tế
Đối với Việt Nam, vấn đề nâng cao năng suất lao động càng có ý nghĩaquan trọng vì năng suất lao động của Việt Nam hiện nay còn quá thấp do chưa khaithác được hết tiềm năng, đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu nhập quốcdân tính trên đầu người vẫn còn rất thấp so với các nước trên thế giới và các nướctrong khu vực Muốn tăng trưởng, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, ViệtNam phải tìm mọi cách để nâng cao năng suất lao động, đó là biện pháp nhằm biếnViệt Nam từng bước trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đối với các doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động càng có ý nghĩaquan trọng, nó là một trong những chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và là một yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp, điều đó thể hiện:
+ Tăng năng suất lao động góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường Có thể nói, nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn
đề quan trọng hàng đầu đặt ra đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh
tế thị trường như hiện nay Bởi nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệpbán được nhiều sản phẩm hơn trên thị trường, tăng được thị phần, tăng được lợinhuận, năng suất lao động tăng thì lại làm giảm giá thành sản phẩm, nhưng đồngthời chất lượng sản phẩm cũng được cải tiến vì tiết kiệm được chi phi về tiền lươngtrên một đơn vị sản phẩm Giá cả và chất lượng chính là hai yếu tố quyết định đếnkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
+ Tăng năng suất lao động góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Bởi khi tăng năng suất lao động có nghĩa là hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm, vì thế nó cho phép giảm số người làm
Trang 14việc, tiết kiệm được quỹ lương Mà tiền lương là một trong những chi phí của quátrình sản xuất, do đo tăng năng suất lao động góp phần làm giảm chi phí nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động
Năng suất lao động là yếu tố trung tâm chịu tác động của nhiều nhân tốkhác nhau Như vậy, hầu hết các nhân tố tác động đến đầu ra và đầu vào đều lànhững nhân tố tác động đến năng suất lao động, bao gồm:
1.4.1 Nhóm yếu tố gắn liền với sự phát triển và sử dụng tư liệu sản xuất
Các yếu tố này bao gồm khoa học, kỹ thuật, công nghệ sản xuất, năng
lượng, nguyên vật liệu, cơ sở hạ tầng Trong đó khoa học kỹ thuật, công nghệ sảnxuất có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, đây là yếu tốmạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động Trình độ kỹ thuật của sản xuất đượcbiểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình độ sáng chế và sử dụngcác đối tượng lao động, các quá trình công nghệ sản xuất Ngày nay, ai cũng thừanhận máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ làm tăng năng suất lao động Thật vậy
sự phát triển của lực lượng sản xuất thường bắt đầu từ sự thay đổi của công cụ sảnxuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế
cho máy cũ Tính năng nâng cao trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao
động được thể hiện ở chỗ: Nó ứng dụng rộng rãi các nguyên vật liệu mới, cónhững tính năng cao hơn, giá rẻ hơn, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm lao động,trong một đơn vị thời gian sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn Nó không chịu tácđộng các giới hạn sinh lý như con người, cho nên khả năng tăng năng suất laođộng lớn
Trang 151.4.2 Nhóm yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người
Lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác động đến năng suất laođộng Năng suất lao động của mỗi quốc gia, ngành và doanh nghiệp phụ thuộc lớnvào trình độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, năng lực của đội ngũ laođộng, gồm:
Trình độ văn hoá: là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và
xã hội.Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độvăn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không nhữngvận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo rahiệu quả làm việc cao nhất
Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó ,có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhấtđịnh Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thànhthạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó gópphần nâng cao năng suất lao động
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với năngsuất lao động của con người.Trình độ văn hoá tạo khả năng tiếp thu và vận dụngmột cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểubiết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề càng thành thạo bao nhiêuthì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng caonăng suất Trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động không chỉ giúpcho người lao động thực hiện công việc nhanh mà góp phần nâng cao chất lượngthực hiện công việc Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng pháttriển với tốc độ nhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏingười lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên mônngười lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt đượccác công nghệ hiện đại
Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới năng suất
Trang 16lao động Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trungtrong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việcgiảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩmcũng giảm , thậm chí dẫn đến tai nạn lao động.
Thái độ lao động: Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của
người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó cóảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việccủa người tham gia lao động, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu khác nhau, cả kháchquan và chủ quan nhưng chủ yếu là:
Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao
động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mựcđạo đức xã hội Nó bao gồm các điều khoản quy định hành vi lao động trong lĩnhvực có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ như số lượng, chất lượng công việc, antoàn vệ sinh lao động, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luậtlao động, các hình thức xử lý vi phạm kỷ luật
Tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ khát
khao, hy vọng cảu người lao động trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổchức, nếu người lao động thấy được vai trò, vị thế, sự cống hiến hay sự phát triển,thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thị
họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức, Đây là cơ sở để nâng caotính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên mônnghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
Sự gắn bó với doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp ngoài mục đích lao động
để kiếm sống họ còn coi tổ chức như một chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinhthần Nếu quá trình lao động và bầu không khí trong tập thể lao động tạo ra cảmgiác gần gũi, chan hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa những người công nhân, tạo cảmgiác làm chủ doanh nghiệp, có quyền quyết định đến hiệu quả của hoạt động sảnxuất kinh doanh, tạo ra tính độc lập tự chủ sáng tạo, được quan tâm chăm lo đếnđời sống và trợ giúp khi gặp khó khăn thì người lao động sẽ có lòng tin, hy vọng,
Trang 17sự trung thành và gắn bó với doanh nghiệp.
Cường độ lao động: Cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng
suất lao động vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động và từ đó ảnhhưởng tới năng suất lao động
1.4.3 Nhóm yếu tố gắn với tổ chức lao động
Trình độ và khả năng tổ chức lao động của mỗi doanh nghiệp có tác động mạnh
mẽ tới năng suất lao động thông qua việc xác định phương hướng phát triển, phâncông lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng, tổ chức phục vụ nơi làm việc
Phân công lao động: là sự chia nhỏ toàn bộ các công việc được giao cho
từng người hoặc tưng nhóm người lao động thực hiện Về bản chất thì đó là quátrình gắn từng người lao động với những nhiệm vụ phù hợp với khả năng của họ.Thực chất của phân công lao động là sự tách biệt, cô lập các chức năng lao độngriêng biệt và tạo nên các quá trình lao động độc lập và gắn chúng với từng ngườilao động, đấy chính là sự chuyên môn hoá (cho phép tạo ra những công cụ chuyêndùng hợp lý và hiệp tác lao động có tác dụng to lớn trong việc nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh và tăng năng suất lao động
Tiền lương, tiền thưởng: Đây là một yếu tố quan trọng góp phần tạo động
lực thúc đẩy người lao động làm việc nâng cao năng suất lao động Tiền lương ảnhhưởng trực tiếp đến mức sống của người lao động Phấn đấu nâng cao tiền lương làmục đích của mọi người lao động, mục đích này tạo động lực để người lao độngphát triển trình độ và khả năng lao động của mình
Tiền lương: là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao
động theo giá trị sức lao động đã hao phí trong những điều kiện xã hội nhất địnhtrên cơ sở thoả thuận của hai bên trong hợp đồng lao động Số tiền này nhiều hay ítcòn phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả làm việc, trình độ hay kinh nghiệmlàm việc Trong quá trình lao động Nhưng cái mà người lao động các loại hànghoá dịch vụ cần thiết mua được từ số tiền đó, chính là tiền lương thực tế Tiềnlương phản ánh đóng góp nhiều cho xã hội và càng thể hiện giá trị xã hội trongcuộc sống của người lao động Do vậy tiền lương thoả đáng sẽ là động lực để
Trang 18người lao động làm việc hiệu quả và đạt năng suất lao động cao
Tiền thưởng: Là số tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao
động trong những điều kiện đặc biệt theo sự thoả thuận của hai bên hoặc theo sự tựnguyện của bên sử dụng lao động trong các trường hợp như: Khi công nhân hoànthành xuất sắc nhiệm vụ, tiết kiệm được nguyên vật liệu, có những sáng kiến sángtạo trong hoạt động lao động Nếu tiền thưởng đảm bảo gắn trực tiếp với thành tíchcủa người lao động, gắn với hệ thống chỉ tiêu được nghiên cứu, phân loại cụ thể vàmức thưởng có giá trị tiêu dùng trong cuộc sống thì tiền thưởng sẽ là công cụ đểngười sử dụng lao động kích thích sự hăng say, gắn bó, sự tích cực, tinh thần tráchnhiệm, năng suất và hiệu quả của người lao động Ngoài tiền lương, tiền thưởngcác phúc lợi xã hội cũng góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất lao động Phúc lợi
xã hội là phần thù lao gián tiếp đượctrả dưới dạng các bổ trợ về cuộc sống chongười lao động Phúc lợi xó thể là tiền, vật chất hoặc những điều kiện thuận lợi màngười sử dụng lao động cung cấp cho người lao động trong những điều kiện bắtbuộc hay tự nguyện để động viên hoặc khuyến khích và đảm bảo anh sinh chongười lao động Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cũng như gópphần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, từ đó thúc đẩy vànâng cao năng suất lao động
Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Nơi làm việc là không gian sản xuất được
trang bị máy móc thiết bị, phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để người laođộng hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất đã định, là nơi diễn ra các quá trình laođộng Nơi làm việc là nơi thể hiện rõ nhất khả năng sáng tạo và nhiệt tình củangười lao động Tổ chức phục vụ nơi làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến quá trìnhlao động của con người Nơi làm việc được tổ chức một cách hợp lý và phục vụ tốtgóp phần bảo đảm cho người lao động có thể thực hiện các thao tác trong tư thếthoải mái nhất Vì vậy tiến hành sản xuất với hiệu quả cao, nâng cao năng suất laođộng
Thái độ cư xử của người lãnh đạo: lãnh đạo là việc định ra chủ trương,
đường lối, nguyên tăc hoạt động của một hệ thống các điều kiện môi trường nhất
Trang 19định.Lãnh đạo là một hệ thống cá tổ chức bao gồm người lãnh đạo, người bị lãnhđạo,mục đích của hệ thống, các nguồn lực và môi trường Người lãnh đạo là mộttrong các yếu tố quan trọng của hệ thống lãnh đạo,là người ra mệnh lệnh, chỉ huyđiều khiển những nguời khác thực hiện các quyết định đề ra nhằm đảm bảo giảiquyết tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hoạt động vàhoàn thiện bộ máy quản lý Người lãnh đạo có vai trò rất quan trọng trong tổ chức,
họ quản lý tập thể bằng quyền lực và uy tín của mình Quyền lực là những quyềnhạn của người lãnh đạo trong khuôn khổ quyền hạn của nhà nước hoặc tập thể traocho người lãnh đạo Uy tín là khả năng thu phục các thành viên dưới quyền, nó gắnliền với những phẩm chất tài và đức của người lãnh đạo Phong cách, phương phápcũng như thái độ của người lãnh đạo quyết định đến sự phát triển của các tổ chức.Với phong cách uy quyền tức là người lãnh đạo hành động độc đoán, khi ra quyếtđịnh không tham khảo ý kiến của bất kỳ ai, dẫn đến việc ra lệnh cứng nhăc, khôngtôn trọng ý kiến của tập thể thì nhân viên thường không làm việc tự giác và độclập, không phát huy được tính sáng tạo và hứng thú trong lao động, cuối cùng cótác động xấu đến tập thể Với phong cách dân chủ tự do tức là người lãnh đạo traoquyền chủ động sáng tạo, độc lập tối đa và tự do hành động cho nhân viên để hoànthành nhiệm vụ, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để họ có ý kiến đónggóp và tham gia vào quá trình xây dựng, phát triển tổ chức Việc lựa chọn phongcách này hay phong cách lãnh đạo khác có một ý nghĩa quan trọng đối với việccũng cố giáo dục tập thể lao động Mỗi phong cách lãnh đạo có đặc thù riêng vàthích ứng với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.Phong cách lãnh đạo khác nhautạo ra thái độ của người lãnh đạo khác nhau Thái độ của người lãnh đạo ảnhhưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa người lãnh đạo với tập thể, đóng vai trò tolớn trong việc xây dựng và cũng cố tâp thể vững mạnh từ đó ảnh hưởng tới hiệuquả làm việc và năng suất lao động Vì vậy người lãnh đạo phải hiểu rõ bản chất vàvận dụng các phong cách lãnh đạo trong những hoàn cảnh cụ thể, chính xác vàhiệu quả
Bầu không khí của tập thể: Tập thể lao động là nhóm người mà tất cả các
Trang 20thành viên trong quá trình thực hiện những trách nhiệm của mình hợp tác trực tiếpvới nhau, luôn có sự liên quan cà tác động qua lại lẫn nha Mức độ hoạt động, hoàhợp về các phẩm chất tâm lý cá nhân của mọi người trong tập thể lao động đượchình thành từ thái độ của mọi người đối với công việc, bạn bè, đồng nghiệp vàngười lãnh đạo tạo nên bầu không khí của tập thể Trong tập thể lao động luôn có
sự lan truyền cảm xúc từ người này sang người khác, nó ảnh hưởng rất lớn đếntrạng thái tâm lý, thái độ đổi với lao động , với ngành nghề và với mỗi thành viên
Từ đó ảnh hưởng tới năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh
1.4.4 Nhóm yếu tố thuộc về môi trường lao động
Môi trường tự nhiên: Thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng không nhỏ đến
năng suất lao động Nó tác động đến năng suất lao động một cách khách quan vàkhông thể phủ nhận Thời tiết và khí hậu của các nước nhiệt đới khác với các nước
ôn đới và hàn đới, do đó ở các nước khác nhau có những thuận lợi và khó khănkhác nhau trong sản xuất Ở mỗi một ngành sản xuất thì nó tác động khác nhau.Trong nông nghiệp thì độ phì nhiêu của đất, của rừng, của biển khác nhau sẽ đưalại năng suất khác nhau.Trong công nghiệp khai thác mỏ thì các vấn đề như hàmlượng của quặng, độ nông sâu của các vỉa than, vỉa quặng, trữ lượng của các mỏđều tác động đến khai thác, đến năng suất lao động Con người đã có nhiều hoạtđộng nhằm hạn chế các tác động có hại của thiên nhiên đến sản xuất và đạt đượckết quả rõ rệt như trong dự báo thời tiết, trong diệt trừ côn trùng phá hoại mùamàng Tuy nhiên, vẫn chưa khắc phục được hết Vì thế yếu tố thiên nhiên là yếu tốquan trọng, cần phải đặc biệt tính đến trong các ngành như nông nghiệp, khai thác
và đánh bắt hải sản, trồng rừng, khai thác mỏ và một phần nào trong ngành xâydựng
Điều kiện lao động: Quá trình lao động của con người bao giờ cũng diến ra
trong môi trường sản xuất nhất định, mỗi môi trường khác nhau lại có các nhân tốkhác nhau tác động đến người lao động, mỗi nhân tố khác nhau lại có mức độ tácđộng khác nhau, tổng hợp các nhân tố ấy tạo nên điều kiện lao động.các nhân tố
Trang 21tích cực tạo ra điều kiện thuận lợi còn nhân tố tiêu cực tạo ra điều kiện khôngthuận lợi cho con người trong quá trình lao động Điều kiện lao động là tổng hợpcác yếu tố của môi trường làm việc tác động tới sức khoẻ và khả năng thực hiệncông việc của người lao động Cụ thể là cường độ chiếu sáng, độ ẩm, tiếng ồn, độrung, bụi, các chất độc hại ảnh hưởng tới con người Nếu nơi làm việc có điều kiệnlàm việc không tốt như quá sáng hoặc quá tối sẽ ảnh hưởng đến thị giác của ngườilao động, giảm khả năng lao động Hoặc nơi làm việc có môi trường bị ô nhiễm,mức độ an toàn không cao, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động Mặt khác,làm cho người lao động có cảm giác không yên tâm nên không chuyên tâm vàocông việc, làm giảm năng suất lao động
Nói tóm lại, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất lao động, trong đó phải
kể đến thứ nhất là chất lượng nguồn nhân lực và tác phong, ý thức làm việc củangười lao động Rồi đến trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và chất lượng củaviệc tổ chức lao động, quản lý lao động khoa học và đến việc ổn định sản xuất củadoanh nghiệp Trong các nhân tố kể trên, chất lượng nguồn nhân lực và tác phong,
ý thức làm việc của người lao động có tác động mạnh nhất đến năng suất lao động,
vì việc kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất và đối tượng lao động để tạo rasản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Trình độ lành nghề và tác phong, ý thức làm việc củangười lao động được thể hiện ra khi họ sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo,đáp ứng những yêu cầu về số lượng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cótính chuyên nghiệp cao Người lao động có trình độ nghề nghiệp, không những cần
có kỹ năng lao động mà còn phải có sáng tạo trong quá trình sản xuất, kết hợp vớitác phong, ý thức làm việc thì mới đẩy mạnh năng suất lao động Thực tế cho thấychỉ khi nào người lao động, người quản lý có kiến thức và trình độ nghề nghiệp thìmới tiếp cận, nhanh chóng tiếp thu, vận dụng sáng tạo những thành tựu khoa học,công nghệ tiên tiến, hiện đại vào việc làm ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có chấtlượng, năng suất cao Gắn liền với người lao động để tăng năng suất lao động làcông cụ sản xuất, máy móc thiết bị có công nghệ, kỹ thuật ngày càng cao; công cụsản xuất, máy móc thiết bị hiện đại cùng với quy trình sản xuất và quản lý tiên tiến
Trang 22làm giảm bớt những chi phí trung gian Khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến,hiện đại, phải luôn gắn liền với tổ chức bộ máy quản lý, điều hành hợp lý có trình
độ cao, quá trình hợp lý hóa sản xuất sẽ thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy người lao độnglàm việc hiệu quả hơn
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÓNG TÀU SÔNG CẤM 2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm
2.1.1 Giới thiệu sự ra đời và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm có trụ sở chính tại số 08 đường ChiLăng, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng và 1 Chi nhánh hoạt động phụ thuộctại thôn Ngô Hùng, xã An Hồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng Công ty
cổ phần đóng tàu Sông Cấm tiền thân là xí nghiệp Hải Phòng cơ khí được thànhlập từ ngày 28/05/1959 theo Quyết định số 152/QĐ của Ủy ban hành chính thànhphố Hải Phòng
Tháng 03/1961 được sáp nhập với xưởng đóng tàu 2, đổi tên thành Cơ khíHải Phòng và trở thành xí nghiệp quốc doanh của trung ương do Bộ giao thông vậntải quản lý với nhiệm vụ chủ yếu là đóng mới và sửa chữa các loại phương tiện vậntải thủy
Ngày 28/03/1983, Bộ giao thông vận tải ra Quyết định số 373/QĐ-GTVTđổi tên thành Nhà máy đóng tàu Sông Cấm
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và Bộ giao thông vận tải vềviệc đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, ngày 30/07/2007 Tập đoàn công nghiệptàu thủy Việt Nam (nay là Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy) đã ra Quyết định
số 2349/QĐ-CNT-ĐMDN về việc phê duyệt phương án và chuyển nhà máy đóngtàu Sông Cấm thành công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm
Tháng 4 năm 2008 Công ty chính thức chuyển sang hoạt động theo môhình Công ty cổ phần
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Chức năng nhiệm vụ chính của Công ty là đóng mới và sửa chữa các loạitàu thủy, thiết bị và phương tiện nổi Đóng thuyền, xuồng thể thao và giải trí Sảnxuất các cấu kiện kim loại Lắp đặt máy móc và các thiết bị công nghiệp phục vụtrong nước và xuất khẩu
Trang 242.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Bảng 2.1 Kết quả SXKD của Công ty từ năm 2010 đến 2014
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: số liệu lấy theo báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty
Qua số liệu của bảng 2.1 ta thấy các chỉ tiêu về giá trị tổng sản lượng, giátrị tổng doanh thu, lợi nhuận sau thuế, nộp ngân sách nhà nước và thu nhập bìnhquân của người lao động hàng năm của Công ty liên tục tăng trưởng năm sau caohơn năm trước trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, cụ thể:
Về chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng có mức tăng bình quân là 23,92% Về chỉtiêu tổng doanh thu có mức tăng bình quân là 27,01% Về lợi nhuận sau thuế cómức tăng bình quân là 19,20%
Về chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước có mức tăng bình quân là 29,44% vàchỉ tiêu thu nhập bình quân của người lao động có mức tăng bình quân là 10,77%
So sánh tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng, giá trị tổng doanh thu, lợinhuận sau thuế và nộp ngân sách nhà nước đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc
độ tăng về thu nhập bình quân của người lao động trong giai đoạn 5 năm 2010
-2014 Như vậy ta thấy tốc độ tăng trưởng của Công ty là tương đối toàn diện vàphù hợp với quy định của Nhà nước
2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Mức tăng bình quân
Trang 25Bảng 2.2 So sánh sự biến động về kết quả sản xuất kinh doanh
của Công ty từ năm 2010 - 2014
Đơn vị: Tỷ đồng
Các chỉ tiêu
So sánh năm 2011/2010
So sánh năm 2012/2011
So sánh năm 2013/2012 So sánh năm 2014/2013
(+,-) (%) (+,-) (%) (+,-) (%) (+,-) (%) Giá trị tổng sản lượng 190 123,34 100 109,96 450 140,76 336 121,62
Thu nhập bình quân 0,001 8,33 0,001 8,46 0,001 10,39 0,0005 5,88
Nguồn: số liệu lấy theo báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty
So sánh sự biến động về kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của Công
ty trong giai đoạn 5 từ năm 2010 - 2014 ta thấy:
So sánh năm 2011 so với năm 2010 về số lượng sản phẩm giảm 1 sảnphẩm, tương đương giảm 7,69% nhưng giá trị sản lượng lại tăng tuyệt đối là 190 tỷđồng, tương đương với mức tăng tương đối là 23,34% và giá trị doanh thu tăngtuyệt đối là 120 tỷ đồng, tương đương với mức tăng tương đối là 38,71%
Trang 26So sánh năm 2012 so với năm 2011 ta thấy số lượng sản phẩm không tăngnhưng giá trị sản lượng đã tăng tuyệt đối là 100 tỷ đồng, tương đương với mứctăng tương đối là 9,96%, giá trị doanh thu giảm tuyệt đối là 11 tỷ đồng, tươngđương với mức giảm tương đối là 2,56%, nguyên nhân giảm chủ yếu là do biếnđộng của tỷ giá ngoại tệ giữa đồng Việt Nam và đồng Euro và do đơn giá sản phẩmgiảm từ 5 đến 10% so với những năm trước.
So sánh năm 2013 so với năm 2012 ta thấy tổng số sản phẩm đã tăng thêm
5 sản phẩm, tương đương tăng 41,6%, giá trị sản lượng tăng tuyệt đối là 450 tỷđồng, tương đương với mức tăng tương đối là 40,76%, nguyên nhân tăng là docông ty đã mở rộng sản xuất đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị để nâng cao nănglực sản xuất của Công ty, giá trị doanh thu tăng tuyệt đối là 91 tỷ đồng, tươngđương với mức tăng tương đối là 21,72%
So sánh năm 2014 so với năm 2013 ta thấy số lượng sản phẩm đã tăng gấpđôi tăng từ 17 sản phẩm lên đến 34 sản phẩm, tăng 17 sản phẩm, tương đương tăng100%, giá trị sản lượng tuyệt đối là 336 tỷ đồng, tương đương với mức tăng tươngđối là 21,62%, giá trị doanh thu tăng tuyệt đối là 256 tỷ đồng, tương đương vớimức tăng tương đối là 50,20% so với năm 2013 Ở đây ta thấy mặc dù số lượngsản phẩm tăng gấp đôi song giá trị sản lượng và giá trị doanh thu lại đang có xuhướng giảm do ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và kết cấu sản phẩm của Công tyđang có sự thay đổi
2.2 Đánh giá thực trạng năng suất lao động tại công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm từ năm 2010 đến năm 2014
2.2.1 Thực trạng ngành đóng tàu của Việt Nam và một số nước trên thế giới
Đóng tàu là ngành thường xuyên biến động cùng với sự tăng trưởng củakinh tế toàn cầu và thương mại quốc tế Trong quá khứ, thậm chí đến gần đây,đóng tàu là ngành thâm dụng lao động, nên những nước có mức lương thấp rất phùhợp cho các hoạt động này Do vậy, đóng tàu thường được xem là ngành quantrọng chiến lược ở các nước đang phát triển Lợi thế của ngành này thường giảmkhi nền kinh tế phát triển do nhân công trở nên đắt đỏ hơn Chính điều này đã dẫn
Trang 27đến vị trí đầu thế giới về sản lượng luôn thay đổi Trước năm 1956, là sự độcchiếm của các nước EU Nhật Bản giữ vị trí quán quân trong suốt 44 năm Từ năm
2000, Hàn Quốc đã thay thế Nhật Bản Dự kiến trong thập niên tới, Trung Quốc sẽdẫn đầu thế giới Hiện tại, trung tâm đóng tàu thế giới đang ở Đông Á với ba nướcNhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm đến 85% tổng sản lượng EU chiếm11% Các nước còn lại, trong đó có Việt Nam chỉ vẻn vẹn hơn 4% thị phần đóngtàu thế giới
Ngành đóng tàu của các nước EU: EU được xem là cái nôi của ngành đóng
tàu Họ đã dẫn đầu ngành này trong nhiều thế kỷ Vị trí dẫn đầu về sản lượng đã bịNhật Bản chiếm lĩnh vào năm 1956 Tuy nhiên, thế mạnh hiện nay của EU là pháttriển công nghệ với chi phí nghiên cứu và phát triển lên đến 10% doanh thu, họluôn tập trung vào các phân khúc thị trường có giá trị gia tăng cao Tuy chỉ chiếm11% thị phần về sản lượng, nhưng lại chiếm gần 30% doanh thu toàn cầu
Ngành đóng tàu Nhật Bản: Khi thế chiến lần thứ hai chấm dứt, kinh tế
Nhật Bản nói chung, ngành đóng tàu nói riêng gần như kiệt quệ Nhưng cái màNhật Bản không mất đi là nguồn vốn nhân lực Nhờ đó mà chỉ sau một thập kỷtriển khai chương trình "Keikaku Zosen" (kế hoạch phát triển ngành đóng tàu), vàonăm 1956 sản lượng đóng tàu của Nhật Bản đã đạt 1,529 triệu tấn (trong đó giá trịxuất khẩu đạt 1,119 triệu tấn, chiếm đến 73%), vượt qua Anh Quốc và luôn dẫnđầu thế giới cho đến năm 2000 Trong giai đoạn này, Nhật Bản chỉ mất 10 năm để
có được 20% thị phần và 20 năm để chiếm lĩnh gần 40% thị phần đóng tàu thếgiới
Năng suất lao động tính theo dung tích đóng mới trên một đầu
người (GT/người, CGT/người): Việc xem xét cẩn thận sự thay đổi của “dung tích
đóng mới trên đầu người”, thường được dùng như số đo năng suất, trong năm
1975, tổng sản lượng công việc đóng mới của ngành đóng tàu Nhật là khoảng 17triệu GT Nói một cách khác, dung tích đóng mới trên đầu người đạt 66,3GT/người hoặc 30,6 CGT/người, một con số năng suất khá cao
Tuy nhiên sau đó năng suất giảm xuống cùng với việc giảm dung tích đóng
Trang 28mới Trong những năm 90, cùng với việc tăng dung tích đóng mới, việc tăng năngsuất được theo đuổi tích cực nhờ vào những biện pháp cắt giảm nhân công và hợp
lý hoá sản xuất Do đó vào năm 1998, khi dung tích đóng mới đạt xấp xỉ 10,20triệu GT, năng suất tăng rõ rệt tới 134,3 GT/người hoặc 98,8 CGT/người Nói cáchkhác, năng suất GT/người năm 1998 tăng 2,03 lần so với năm 1975 và năng suấtCGT/người tăng 3,23 lần Điều đó cho thấy năng suất đã được cải thiện rõ rệt mặc
dù có phần do tăng việc đóng mới những con tàu có giá trị gia tăng cao Như đãthấy ở trên, những cố gắng của ngành đóng tàu Nhật trong 23 năm qua trong việcđầu tư trang thiết bị, hợp lý hoá sản xuất và cắt giảm quyết liệt nhân công để tăngnăng suất đã mang lại thành quả rõ rệt trong việc tăng năng suất Chiều hướng tăngcủa những con số trên thể hiện qua những số liệu thống kê không chỉ trong toànngành mà còn trong các công ty đóng tàu lớn, năng suất ở một số nhà máy đóngtàu lớn đã cho thấy năng suất năm 1998 tăng 3,79 lần so với năng suất năm 1975
Năng suất theo dung tích đóng mới trên một công lao động: Có một số đothường dùng như một tiêu chuẩn chỉ ra sản lượng công việc đóng mới trên một giờcông trong năm “dung tích đóng mới trên một giờ công” Số đo đó phản ánh bất kỳmột sự thay đổi (tăng hoặc giảm) của năng suất, nghĩa là việc tăng (giảm) sảnlượng công việc đóng mới đã hoàn thành do việc tăng hoặc giảm hiệu quả sản xuấtđược đo qua giờ công thực hiện
Xem xét lại các số liệu quá khứ về số công sử dụng tại các nhà máy lớn chothấy tổng số công từ 234,74 triệu công ứng với 13,84 triệu GT năm 1975 - giảmcòn 70,60 triệu công ứng với 9,18 triệu GT năm 1997, công bằng 30%, dung tíchđóng mới bằng 66% so với mức năm 1975 Như vậy năng suất trên một công tăng
từ 0,059 năm 1975 lên 0,130 năm 1997, tăng 2,30 lần (tuy nhiên trong số công nêutrên có cả công của bộ phận sửa chữa tàu) Còn một đại lượng nữa dùng đo năngsuất: trọng lượng vỏ thép của tàu/số nhân công Tuy nhiên do có những thay đổi:trong quy phạm về kết cấu tàu (tàu dầu hai vỏ) và thép đóng tàu (từ thép trung bìnhsang thép cường độ cao) nên các số liệu thống kê về trọng lượng vỏ sẽ không cònphản ánh đúng năng suất nữa
Trang 29Như vậy, về năng suất của ngành đóng tàu Nhật, cần thấy rằng trong nhữngthời kỳ sản lượng đóng tàu cao như khoảng những năm 1975, các nhà máy đóngtàu Nhật có những cường độ lao động nặng ngoài khả năng bình thường của côngnhân Do đó, số giờ công bao gồm cả giờ làm việc ngoài giờ tăng lên dẫn đến sảnlượng tăng và năng suất cao.
Tuy nhiên sau đó, sản lượng giảm và do vậy năng suất giảm Nhưng ởnhững nơi có biện pháp giảm số nhân công thừa và hợp lý hoá sản xuất, tự độnghoá, năng suất vẫn tăng Vì Nhật theo đuổi các biện pháp tăng năng suất tích cựchơn các nước khác nên họ có thể tăng được năng suất trong những năm 90, đồngthời với việc tăng sản lượng Vấn đề đặt ra là bằng cách nào mà mỗi công ty đóngtàu Nhật giải quyết việc giảm nhân công và giữ được ưu thế công nghệ so với cácđối thủ cạnh tranh Ngoài ra, một vấn đề còn quan trọng hơn là ngành đóng tàuNhật sẽ có thể đương đầu được không với nhu cầu tiếp tục tự động hoá nhờ xâydựng những hệ thống máy tính tinh vi để tăng năng suất và giảm nhân công
Ngành đóng tàu Hàn Quốc: Đóng tàu đã trở thành một trong những ngành
trọng điểm trong Kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp nặng và hoá chất vàonhững năm đầu thập niên 1970 Với việc tập trung cao độ của Chính phủ HànQuốc dành cho lĩnh vực này làm cho công suất đóng tàu của Hàn Quốc luôn được
mở rộng bất chấp sự đi xuống của xu hướng thị trường trong thập niên 1990 Kếtquả đến năm 1999, lượng đặt hàng mới của Hàn Quốc đã vượt qua Nhật Bản và từnăm 2000, nước này đã thay thế Nhật Bản trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới vềsản lượng Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, Hàn Quốc đã phải mất 10 năm (1974 -1984) để thêm được 7% thị phần và 20 năm để có được 21,5% thị phần Hàn Quốc
đã phải trả một giá rất đắt để có được vị trí này Hơn thế nữa, rắc rối vẫn đang đeođuổi họ, vào năm 2003, nước này đã bị EU kiện ra WTO về bán phá giá tàu màxuất phát từ những trợ giúp của chính phủ cho ngành công nghiệp này Nhiềungười cho rằng việc phát triển ngành đóng tàu của Hàn Quốc là một sự điên rồ.Thực ra, thành tựu lớn nhất của Hàn Quốc hiện nay lại là các ngành công nghệ cao,điều mà họ đã được hưởng lợi nhờ việc đầu tư rất tốt vào giáo dục và nguồn nhân
Trang 30lực ngay từ những ngày đầu.
Năng suất tính theo sản lượng đóng mới trên đầu người năm 1975, sản
lượng đóng mới tính theo đầu người là 11,7 GT/người tương ứng với sản lượngđóng mới thấp (khoảng 410.000 GT) Đến năm 1998, năng suất này vọt lên tới95,7 GT/người (tăng 8,18 lần so với năm 1975) do sản lượng đóng mới tăng rất lớntới 7,24 triệu GT Mặc dù người ta thường nói rằng năng suất đóng tàu của Hànquốc trong những năm 80 chỉ bằng khoảng 1/3 năng suất của Nhật, Hàn quốc đãnhanh chóng thu hẹp khoảng cách đó nhờ sức mạnh công nghệ tiên tiến mà họ đã
có được từ những kinh nghiệm đóng tàu phong phú tích lũy trong những năm gầnđây Từ đó, năng suất đóng tàu của Hàn quốc đã tăng từng năm Kết quả đến năm
1999, năng suất của các công ty đóng tàu chính tại Hàn quốc đã nằm trong khoảng
từ 2/3 đến 3/4 năng suất của Nhật Do việc đóng hàng loạt tàu cùng kiểu cùng cỡ làđặc biệt hiệu quả để tăng năng suất, xu hướng gần đây của ngành đóng tàu Hànquốc nhận một khối lượng lớn các đơn hàng đóng tàu tiêu chuẩn hóa sẽ đóng gópvào việc tăng năng suất của ngành trong tương lai
Tuy nhiên, nói một cách chặt chẽ thì mặc dù năng suất đóng vỏ của Hànquốc tăng nhanh nhưng năng suất lắp ráp máy và thiết bị vẫn chỉ bằng 1/3 củaNhật Điều đó cho thấy khoảng cách giữa Nhật và Hàn quốc trong lĩnh vực sảnxuất các thiết bị có giá trị gia tăng cao
Do việc không chính xác trong con số nhân công của Hàn quốc có đúng là
số nhân công chỉ của bộ phận đóng tàu hay không nên cũng khó mà so sánh trựctiếp các số liệu đã có của Hàn quốc với số liệu của Nhật Khi tính đến những yếu tốnhư việc đóng những tàu tuần dương có giá trị gia tăng cao tại Hàn quốc từ năm
2000 trở đi thì có thể Hàn quốc sẽ vượt Nhật về sản lượng đóng mới và tính đếnkhả năng số nhân công trong ngành đóng tàu của Hàn quốc sẽ giảm thì rất có thể làsản lượng đóng mới trên đầu người của Hàn quốc sẽ gần sát với của Nhật
Ngành đóng tàu Trung Quốc: Trước những năm 2000, tốc độ tăng trưởng
của ngành đóng tàu ở Trung Quốc tương đối khiêm tốn, bình quân trong 5 nămtrước đó chỉ là 11,5% Nhưng kể từ khi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Trang 31Trung Quốc quyết định củng cố và đưa đóng tàu trở thành ngành công nghiệp dẫnđầu thế giới thì mọi chuyện đã bắt đầu khởi sắc Tốc độ tăng sản lượng bình quântrong 5 năm gần đây là 30%/năm Hiện Trung Quốc đang chiếm 15% thị phần vềsản lượng sản xuất và 17% thị phần số lượng đặt hàng trên toàn thế giới Chậmnhất vào năm 2015, Trung Quốc sẽ thay thế vị trí của Hàn Quốc để trở thành nước
có sản lượng đóng tàu lớn nhất thế giới Tuy nhiên, còn khó khăn hơn cả HànQuốc, Trung Quốc phải mất 10 năm để có thêm hơn 3% thị phần và 20 năm để cóđược 11,7% thị phần
Ngành đóng tàu Việt Nam: Ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam bắt đầuđược đầu tư mạnh mẽ từ năm 2002, và mới chỉ đang trong giai đoạn tiếp nhậnchuyển giao từ các trung tâm đóng tàu lớn ở châu Á Ngoài Vinashin được thànhlập từ năm 2006 (nay là Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC)) giữ vai trònòng cốt, ngành đóng tàu của Việt Nam còn có các cơ sở đóng tàu thuộc sở hữucủa Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, một
số Tập đoàn và Tổng Công ty Nhà nước khác, các cơ sở đóng tàu thuộcquản lý của Bộ Quốc phòng, các doanh nghiệp địa phương, tư nhân và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Việt Nam có 120 nhà máy đóng và sửa chữa tàu với trọng tải trên 1.000DWT, với 170 công trình nâng hạ thủy Tổng công suất thiết kế của các nhà máykhoảng 2,6 triệu DWT/năm, nhưng năng lực thực tế đạt 800.000 - 1.000.000DWT/năm (31 - 39% công suất thiết kế), trong đó đảm nhận 50% nhu cầu trongnước (300.000 - 400.000DWT/năm); xuất khẩu 500.000 - 600.000 DWT/nămchiếm 0,3 - 0,4% thị phần đóng tàu thế giới
Năng suất đóng tàu của Việt Nam nếu tính theo sản lượng đóng mới trênđầu người theo tổng công suất thiết kế của các nhà máy năm 2010 khoảng26GT/người/năm, song trên thực tế năng suất tính theo sản lượng đóng mới trênđầu người khoảng 1GT/người/năm, do công suất và sản lượng đóng tàu của ViệtNam nói chung mới chỉ đạt được từ 30% đến 50% công suất thiết kế
Trang 322.2.2 So sánh năng suất lao động của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm với
một số công ty đóng tàu của Việt Nam
Sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu luôn gắn liền với tình hìnhkinh tế thế giới Vì vậy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có thể coinhư một cú sốc lớn cho toàn ngành Suy thoái kinh tế khiến hoạt động thương mạigiảm sút và do đó, số lượng đơn đặt hàng đóng tàu cũng giảm nhanh chóng, gâythiệt hại nghiêm trọng cho các công ty đóng tàu trên toàn thế giới Điểm được xem
là lợi thế duy nhất của ngành đóng tàu Việt Nam là nhân công rẻ, tuy nhiên yêu tốnày hiện nay rất khó cạnh tranh với Trung Quốc Còn lại, theo những người amhiểu lĩnh vực này thì ngành đóng tàu Việt Nam có năng lực nhỏ bé, trình độ lạchậu, đầu tư phân tán và manh mún và không có lợi thế so sánh trong ngành màngày càng đòi hỏi kỹ thuật cao và trở nên thâm dụng vốn Thêm vào đó, nhữngngành công nghiệp phụ trợ gần như không thể phát triển làm cho tỷ lệ nội địa hóathấp, giá trị gia tăng không đáng kể và tỷ suất lợi nhuận hết sức khiêm tốn (dưới2% giá trị con tàu) Chỉ cần có một biến động nhỏ về giá đầu vào thì lợi nhuận dễdàng chuyển từ dương sang âm Thậm chí, con số lợi nhuận nêu trên có thể chưabao gồm phần chi phí khấu hao và chi phí sử dụng vốn đầu tư vào các xưởng đóngtàu mà bình quân có thể lên đến 6 - 10 triệu USD cho một con tàu
Mặc dù chiếm thị phần rất nhỏ bé trên thế giới song sự ảnh hưởng của toànngành đóng tàu của Việt Nam trong thời gian qua là không hề nhỏ, hàng loạt cácdoanh nghiệp đóng tàu bị phá bỏ hợp đồng, sản xuất bị đình trệ nhiều doanhnghiệp gần như phải ngưng hoạt động, do vậy, đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của các doangh nghiệp Nếu so sánh năng suất laođộng theo doanh thu của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ không phản ánh một cáchkhách quan và chính xác, do năng suất lao động của các doanhn nghiệp sẽ thay đổitheo chỉ tiêu doanh thu, nếu chỉ tiêu doanh thu cao thì năng suất lao động cao vànếu chỉ tiêu doanh thu thấp thì năng suất lao động thấp, trong khi đó có rất nhiềuyếu tố tác động làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu này Do vậy, khi so sánh năng suất laođộng của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm với một số doanh nghiệp đóng tàu
Trang 33khác thì chỉ mang tính chất so sánh về tính ổn định và sự biến động về năng suấtlao động, còn việc phản ánh thực chất về năng suất lao động của các doanh nghiệpchưa hẳn đã mang tính chính xác.
Nguồn: số liệu lấy theo báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng Công ty CNTT
Hình 2.1 NSLĐ tính theo doanh thu từ năm 2010 - 2014
Ta thấy qua hình 2.1 đã minh họa được sự biến động về năng suất lao độngtại một số công ty đóng tàu của Việt Nam giai đoạn từ 2010 - 2014 Qua đó ta thấy
sự biến động về năng suất lao động của các Công ty là rất lớn trong giai đoạn 5 từnăm 2010 - 2014
Bảng 2.3 Năng suất lao động bình quân của các Công ty tính theo doanh thu từ
năm 2010 đến 2014
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: số liệu lấy theo báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng Công ty CNTT
Qua số liệu của bảng 2.3 ta thấy mức tăng năng suất lao động bình quâncủa công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm trong giai đoạn 5 từ năm 2010 - 2014 chỉđạt mức 7,26%, trong khi đó mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty
2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Mức tăng bình quân
Trang 34TNHH MTV đóng tàu Phà Rừng trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014 đạt mức60,98%, cao hơn mức tăng năng suất lao động bình quân của công ty cổ phần đóngtàu Sông Cấm là 53,72%.
Mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty TNHH MTV đóng tàuNam Triệu trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014 đạt mức 38,02%, cao hơn mức tăngnăng suất lao động bình quân của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 30,76%
Mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty TNHH MTV đóng tàu
Hạ Long trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014 đạt mức 65,05%, cao hơn mức tăngnăng suất lao động bình quân của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 57,79%
Mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty TNHH MTV đóng tàu
và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014đạt mức 15,28%, cao hơn mức tăng năng suất lao động bình quân của công ty cổphần đóng tàu Sông Cấm là 8,02%
Như vậy, ta thấy trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 tốc độ tăngnăng suất lao động bình quân của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là thấp nhấttrong các doanh nghiệp, mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty đang
có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Có rất nhiều nguyên nhân ảnhhưởng đến mức tăng năng suất lao động bình quân của Công ty, song có thể kể đếnmột số nguyên nhân chủ yếu sau đây: do các đơn hàng đang có xu hướng giảmdần, đơn giá sản phẩm giảm, các chi phí đầu vào của Công ty lại có xu hướng tăng,
tỷ giá đồng ngoại tệ đang có biến động rất lớn, nguồn vốn dùng để đầu tư nâng caonăng lực sản xuất hàng năm của Công ty đang bị hạn chế, môi trường và điều kiệnlàm việc của người lao động chưa được cải thiện nhiều, công tác điều hành sảnxuất và chuẩn bị sản xuất của các đơn vị còn nhiều bất cập, tiến độ cung cấp vật tư,bản vẽ thiết kế của khách hàng còn chậm Do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến mứctăng năng suất lao động bình quân của Công ty
Trang 35Bảng 2.4 So sánh thời gian để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của các Công ty từ năm 2010 đến năm 2014
Đơn vị: Giờ
2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Số giờ bình quân
Số giờ để tạo ra 1 triệu đồng
Số giờ để tạo ra 1 triệu đồng
Số giờ để tạo ra 1 triệu đồng
Số giờ để tạo ra 1 triệu đồng
Số giờ để tạo ra 1 triệu đồng
Trang 36Nguồn: số liệu lấy theo báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng Công ty CNTT
Qua số liệu của bảng 2.4 ta thấy thời gian bình quân để tạo ra một triệuđồng giá trị sản lượng trong giai đoạn 5 từ năm 2010 - 2014 công ty cổ phần đóngtàu Sông Cấm phải mất 1,36 giờ, trong khi đó để tạo ra một triệu đồng giá trị sảnlượng của Công ty TNHH MTV đóng tàu Phà Rừng trong giai đoạn 5 năm 2010 -
2014 phải cần 8,27 giờ, cao hơn mức tuyệt đối là 6,91 giờ và tương đương cao hơnmức tương đối là 608% so với công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm
Để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng của Công ty TNHH MTV đóngtàu Nam Triệu trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014 phải cần 7,36 giờ, cao hơn mứctuyệt đối là 6 giờ và tương đương cao hơn mức tương đối là 541% so với công ty
cổ phần đóng tàu Sông Cấm
Để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng của Công ty TNHH MTV đóngtàu Hạ Long trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2014 phải cần 7,30 giờ, cao hơn mứctuyệt đối là 5,94 giờ và tương đương cao hơn mức tương đối là 536% so với công
Năm 2010: Thời gian bình quân để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 1,55 giờ, trong khi đó Công ty TNHHMTV đóng tàu Phà Rừng là 11,05 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Nam Triệu
là 5,08 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long là 10,09 giờ và Công tyTNHH MTV đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) là 5,51 giờ
Năm 2011: Thời gian bình quân để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 1,32 giờ, trong khi đó Công ty TNHH
Trang 374,81 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long là 9,7 giờ và Công ty TNHHMTV đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) là 5,33 giờ.
Năm 2012: Thời gian bình quân để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 1,37 giờ, trong khi đó Công ty TNHHMTV đóng tàu Phà Rừng là 7,69 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Nam Triệu là13,42 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long là 10,93 giờ và Công ty TNHHMTV đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) là 12,39 giờ
Năm 2013: Thời gian bình quân để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 1,28 giờ, trong khi đó Công ty TNHHMTV đóng tàu Phà Rừng là 10,11 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Nam Triệu
là 9,9 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long là 2,91 giờ và Công ty TNHHMTV đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) là 10 giờ
Năm 2014: Thời gian bình quân để tạo ra một triệu đồng giá trị sản lượng
của công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm là 1,29 giờ, trong khi đó Công ty TNHHMTV đóng tàu Phà Rừng là 3,08 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Nam Triệu là3,59 giờ, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long là 2,85 giờ và Công ty TNHHMTV đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn (Shipmarin) là 5,21 giờ
2.2.3 Đánh giá thực trạng năng suất lao động tại công ty cổ phần đóng tàu
Sông Cấm từ năm 2010 đến năm 2014
2.2.3.1 Đánh giá năng suất lao động theo giá trị tổng sản lượng
Kể từ cuối năm 2007 trở lại đây do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đãảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của đất nước, trong đó có ngành đóng tàu ViệtNam nói chung và công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm nói riêng cũng gặp vô vànnhững khó khăn trong việc duy trì ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty, sự biến động về năng suất lao động của các doanh nghiệp đóng tàu trongnhững năm qua là rất lớn Do thị trường vận tải hàng hóa bằng đường thủy trongnhững năm qua có những biến động rất lớn, dẫn đến nhu cầu về đóng mới tàu đãgiảm sút rất mạnh, sản lượng đóng tàu trong những năm qua liên tục sụt giảm, dokhông ký được đơn hàng mới và một số đơn hàng đã bị giãn tiến độ hoặc bị hủy