1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam

68 3,5K 40
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn ThS. Đào Mai Hường
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 525 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾKHOA LUẬT - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYEĐN NGAØNH: TÖ PHAÙP DAĐN SÖÏ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 8

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 8

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 8

6 Cơ cấu của đề tài 9

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM 10

1.1 Khái niệm kết hôn và các điều kiện kết hôn 10

1.1.1 Khái niệm kết hôn 11

1.1.2 Khái niệm các điều kiện kết hôn 13

1.1.3 Điều kiện kết hôn theo pháp luật của một số nước trên thế giới .13

1.2 Các điều kiện kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 15

1.2.1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 16

1.2.2 Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn 17

1.2.3 Về những trường hợp cấm kết hôn 20

1.2.3.1 Cấm kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc có chồng .20

1.2.3.2 Những người kết hôn không mất năng lực hành vi dân sự .22

1.2.3.3 Cấm những người cùng dòng máu trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thuộc với nhau 24

1.2.3.4 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính 26

1.2 Điều kiện đăng ký kết hôn 31

1.3.1 Điều kiện đăng kí kết hôn trước 03/01/1987 32

Trang 3

1.3.2 Điều kiện đăng kí kết hôn từ 03/01/1987 đến ngày

01/01/2001 32

1.3.3 Điều kiện đăng kí kết hôn từ 01/01/2001 đến nay 33

1.4 Điều kiện kết hôn trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC ĐIỀU KỆN KẾT HÔN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 41

2.1 Thực tiễn trong việc thực hiện áp dụng các điều kiện kết hôn 41

2.1.1 Tình hình thực hiện đăng ký kết hôn từ năm 2009 đến năm 2012 tại địa bàn tỉnh Thừa Thên Huế 41

2.1.2 Những vướng mắc trong áp dụng quy định pháp luật hiện hành về các điều kiện kết hôn và việc làm thủ tục khi đăng kí kết hôn 46

2.1.2.1 Về điều kiện kết hôn 47

2.1.2.2 Về việc đăng ký kết hôn 51

2.1.1.2 Về việc đăng ký kết hôn đối với người bị tâm thầm phân liệt 52

2.1.2.3 Về việc đăng ký kết hôn cho người có đăng ký tạm trú tại địa phương 53

2.1.2.4 Đăng ký kết hôn trong trường hợp đã bỏ hộ khẩu cũ mà chưa nhập hộ khẩu mới 55

2.2 Những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về các điều kiện kết hôn 57

2.2.1 Trong các quy định của pháp luật 57

2.2.2 Trong việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật khi thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền 60

2.2.3 Về công tác cán bộ và tuyên truyền pháp luật 60

2.2.4 Về phía cơ quan nhà nước 62

PHẦN KẾT LUẬN 63

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành cảm ơn tới giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ Đào Mai Hường, người đã hướng dẫn tận tình chu đáo, tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian vừa qua.

Em xin cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo của Khoa Luật - Đại học Huế đã dạy dỗ em trong suốt những năm trên giảng đường đại học.

Em xin chân thành cảm ơn tới các anh, chị, các chú tại Uỷ ban nhân dân các phường An Cựu, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tư vấn và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận này.

Huế, ngày 21 tháng 02 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Hương

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môitrường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hộitốt thì gia đình càng tốt Qua một chặng đường dài của lịch sử thì những tếbào ấy ngày càng tăng lên với số lượng đáng kể Tuy nhiên để xây dựngđược một gia đình thực sự được pháp luật thừa nhận và bảo vệ thì việc kếthôn chính là một sự kiện pháp lí đặc biệt quan trọng, một yếu tố cơ bản cầnthiết cho sự ra đời của gia đình, vì đây là một yếu tố quan trọng cho nênviệc kết hôn phải tuân thủ những điều kiện mà pháp luật quy định Chính vìthế, quy định điều kiện kết hôn là tiền đề nhằm thực hiện chức năng xã hộicủa mình là tái sản xuất ra con người - lực lượng sản xuất quan trọng cho

xã hội

Đất nước ta hiện nay đang phát triển, nền kinh tế, chính trị , xã hộingày càng có những biến chuyển hết sức quan trọng trong đời sống vănhóa tinh thần, những đổi thay trong tiềm thức, tư tưởng cũng như cách nhìnnhận của con người về hôn nhân là không thể tránh khỏi, nhất là đối vớinhững điều kiện kết hôn - một quy định mà con người bắt buộc phải tuânthủ khi muốn thiết lập mối quan hệ hôn nhân hợp pháp

Tuy nhiên với nhu cầu mới, cuộc sống mới này càng đa dạng phức tạpthì hôn nhân tất yếu sẽ có những thay đổi theo nhiều chiều hướng khácnhau Song song với vấn đề đó là lối sống cũng như sự ảnh hưởng củanhững nước phát triển nói chung trong đó có các quốc gia phương Tây đãlàm cho ý thức và tư tưởng con người xa rời dần những quy phạm mangtính tập quán cũng như những quy định của pháp luật, cách nhìn về kết hôn

và điều kiện kết hôn đã tiến bộ hơn trước đây rất nhiều như tuổi tác giữanam và nữ, hôn nhân đồng tính thậm chí còn để lại những hậu quảnghiêm trọng đối với xã hội như tảo hôn hay ảnh hưởng tới thuần phong

Trang 8

mỹ tục, đạo đức con người Trong khi "pháp luật là bức tranh phản ánh đời

sống con người" thì bức tranh ấy đã gặp không ít khó khăn nhất là trong quá

trình xây dựng cũng như áp dụng Một trong những phần của bức tranh đóchính là quy định về các điều kiện kết hôn

Để giải quyết những khó khăn đó ngay trong hiện tại cũng như tươnglai, việc bảo đảm những giá trị văn hóa tốt đẹp, bảo đảm đúng tinh thần củapháp luật mà không làm ảnh hưởng tới những nhu cầu hay gọi cách khác làquyền được hạnh phúc của con người thì việc quy định quy định các điềukiện kết hôn là thực sự cần thiết và mang tính tất yếu

Vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản pháp luật quan trọngtrong đó có Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2000 được Quốchội khóa X kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/06/2000, có hiệu lực thi hànhngày 01/01/2001 đã quy định khá đấy đủ về quy định điều kiện kết hôngiữa nam và nữ Trên cơ sở những phong tục tập quán đã có từ lâu đời vềcác điều kiện kết hôn kết hợp với những quy định vẫn còn phù hợp củaLuật Hôn nhân và gia đình cũ như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và

1986 thì Luật Hôn nhân và gia đình có những điểm mới phù hợp với tìnhhình phát triển của đất nước cũng như các quan hệ đang tồn tại trong xãhội Ngoài Luật Hôn nhân và gia đình 2000 về các điều kiện kết hôn thìTòa án còn ban hành những văn bản pháp luật hướng dẫn về chế định nàynhư Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn ápdụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000; Nghị định70/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết một số quyđịnh của Luật Luật Hôn nhân và gia đình 2000; Nghị định số 68/2002/NĐ-

CP ban hành ngày 10/07/3002 của Chính phủ quy định chi tiết một số quyđịnh của Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh trong trường hợp hôn nhân

có yếu tố nước ngoài, Nghị định 158/2008 NĐ-CP ngày 27/12/2005 củaChính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch

Trang 9

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay nhất là mấy năm trở lại đây thìviệc kết hôn tuy đã được pháp luật quy định chặt chẽ nhưng việc vi phạmmột trong những điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn vẫn diễn ra Việcgiải quyết những vi phạm đó lại càng gặp những khó khăn phức tạp, có lúckhông biết phải xử lý ra sao bởi vì một mặt xuất phát từ sự thay đổi, cáchnhìn nhận của con người đối với xã hội Ngoài ra, trong chế độ pháp lý còn

có nhiều văn bản pháp luật quy định về chế định này như Bộ luật Dân sự2005 Do đó, trong các quy định của pháp luật còn nhiều mâu thuẫnchồng chéo nhau, nhiều trường hợp chưa có luật điều chỉnh dẫn tới việc ápdụng quy định pháp luật còn nhiều khó khăn, gây nhiều tranh luận cho các

cơ quan xử lý

Ngày nay, với sự cải cách của hệ thống pháp luật nói chung cũng nhưtrên đà lấy ý kiến cho dự án sửa đổi bổ sung pháp luật hôn nhân và gia đìnhnói riêng thì việc hoàn thiện quy định các điệu kiện kết hôn cũng đặc biệtđược chú trọng nhằm góp phần giải quyết tốt hơn cũng như khắc phục cáckhó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật Vì vậy tác giả thấy

việc nghiên cứu đề tài "Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam"

là một vấn để thực tiễn và thực sự cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở có những văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình nóichung, những bài viết của các tác giả nói riêng về chế định các điều kiện

kết hôn như cuốn "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt

Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện năm 2002, cuốn "quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài - một số vấn đề lí luận và thức tiễn" của tác

giả Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc cũng như có tham khảo nhữngbài viết đăng trên các tạp chí pháp luật như tạp chí Luật học của trường Đạihọc luật Hà Nội, tạp chí Nghề luật và các giáo trình, tài liệu liên quan.Tuy có những công trình nghiên cứu mang tình tổng quát chung hay đã đisâu để làm rõ từng khía cạnh của vấn đề này nhưng tôi vẫn mạnh dạn chọn

Trang 10

đề tài " Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam" với mong muốn tìm

hiểu và đi sâu hơn nữa nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn đốivới quy định này, góp phần hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình ViệtNam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu để tài nhằm khái quát một cách có hệ thống nhữngvấn đề lý luận chung về các điệu kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn có liên quan Mặt khác nghiêncứu về việc thực tiễn áp dụng luật về hôn nhân và gia đình vào thực từ đóđưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc vàhoàn thiện pháp luật một cách đúng đắn, phù hợp nhất

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Về quy định các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam, do trongtừng giai đoạn lịch sử thì việc quy định về chế định này có những khácbiệt Chính vì vậy trong phạm vi ngiên cứu đề tài thì tôi đi sâu để làm rõhơn những quy định trên cơ sở quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

1959, Luật Hôn nhân và gia đình 1986 và đặc biệt tập trung đi sâu nghiêncứu quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cùngnhững văn bản hướng dẫn liên quan và một số Hiệp định tương trợ tư pháp

mà Việt Nam là thành viên kết trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài.Đồng thời, để làm rõ hơn vấn đề này thì bản thân cũng có nghiên cứu trên

cơ sở thực tiễn khảo sát tại các cơ quan ở địa phương trên địa bàn thànhphố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế để phục vụ cho việc hoàn thiện đề tài

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài " Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam" được thực hiện

trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử với quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh

Trang 11

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như phương pháp

so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê trong quátrình bình luận, đánh giá và nghiên cứu các vấn đề của đề tài

6 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội dung của đề tàiđược chia làm 2 chương:

Chương 1 Các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Chương 2 Thực trạng áp dụng các điều kiện kết hôn tại địa bàn tỉnh

Thừa Thiên Huế và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1.1 Khái niệm kết hôn và các điều kiện kết hôn

Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội Trongmỗi chế độ xã hội thì gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mangtính chất xã hội của nó Một trong những chức năng cơ bản của gia đình lànhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống

Theo quan điểm của các nhà khoa học xã hội thì gia đình có nhữngchức năng chủ yếu sau:

- Chức năng tái sản xuất ra con người

có hiệu quả nhất và chính Nhà nước sẽ là một chủ thể để thừa nhận Phápluật Nhà nước ta hiện nay quy định việc kết hôn của nam và nữ phải dựatrên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa

và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân lao động

Để nói về vấn đề này thì ngay trong Ðiều 16 của Tuyên ngôn nhânquyền và dân quyền quốc tế - một văn bản tiến bộ nhất cũng nói rằng kết

hôn là một quyền cơ bản của con người, cụ thể: " nam và nữ trong tuổi

Trang 13

trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý

do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn" và khẳng định hôn nhân

giữa nam và nữ phải thực sự tự nguyện " hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi

cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự ".

Và ngay trong Hiến pháp 1992, một đạo luật có giá trị pháp lí cao nhấtcủa nước ta cũng đã quy định như sau:

"Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng " (điều 64).

Để cụ thể hóa điều trên thì tại điều 39 Bộ luật Dân sự 2005 có quyđịnh về quyền kết hôn tức ghi nhận kết hôn là một quyền tự do của con

người, cụ thể như sau: " Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của

pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn".

Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khácnhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dânViệt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

Như vậy có thể thấy rằng "kết hôn" là một quyền cơ bản mà mỗi con

người ai cũng có, nó cũng giống như là quyền được sống, quyền được tự dongôn luận, quyền được hạnh phúc, được học tập và quyền đó được phápluật quy định và Nhà nước bảo vệ thừa nhận

1.1.1 Khái niệm kết hôn

Pháp luật Việt Nam thời kì phong kiến không có điều khoản nào định

nghĩa về khái niệm "giá thú" hay "kết hôn" mà đây chỉ là những khái niệm tổng

quát để chỉ việc hai bên nam nữ lấy nhau thành vợ thành chồng Đến phápluật thời kì Pháp thuộc, những quy định về hôn nhân và gia đình được tiếptục sử dụng như những quy định thời kì phong kiến và có sự bổ sung củanhững quy định của Bộ luật Dân sự Napoleon 1804 của Pháp Chính vì vậynhư thế nào là kết hôn cũng không được quy định rõ ràng cụ thể

Trang 14

Cho tới khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt NamDân Chủ Cộng Hòa ra đời Ngay từ khi ra đời thì nhà nước ta lần lượt banhành 3 đạo luật hôn nhân và gia đình để điều chỉnh quan hệ hôn nhân vàgia đình đó là Luật Hôn nhân và gia đình 1959, Luật Hôn nhân và gia đình

1986 và Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình 1986chưa đưa ra khái niệm kết hôn mà khái niệm này được giải thích trong phần

giải nghĩa một số danh từ :" kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ thành

chồng theo quy định của pháp luật", việc kết hôn phải tuân theo các điều 5,

6, 7 và 8 của Luật Hôn nhân và gia đình

Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời thì ngay trongkhái niệm kết hôn đã đề cập luôn tới các điều kiện kết hôn điều này chothấy sự gắn kết chặt chẽ trong quy định của pháp luật và coi đó là yếu tố

song hành không thể thiếu, cụ thể như sau: " Kết hôn là việc nam và nữ xác

lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn " (khoản 2 điều 8 Luật HN&GĐ Việt Nam 2000) Vì vậy,

việc kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố là phải thể hiện ý chí của cả nam và

nữ là mong muốn được kết hôn với nhau và phải được Nhà nước thừa nhậntức là nam nữ kết hôn là mong muốn được gắn bó với nhau trong quan hệ

vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng,bền vững Và điều kiện để đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và cơ

sở xây dựng gia đình bền vững Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhậnkhi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật vềđiều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn

Như vậy, nếu trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng mà không tuân thủđiều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì khôngđược Nhà nước ta thừa nhận và bảo vệ Chính điều này cho thấy rằng nếu

việc đăng kí kết hôn là "điều kiện đủ" thì các điều kiện kết hôn là "điều kiện

cần" làm phát sinh một quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trang 15

1.1.2 Khái niệm các điều kiện kết hôn

Pháp luật là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, pháp luật

ra đời được quy định như thế nào đều phụ thuộc và ý chí của giai cấp thốngtrị Ở nước ta trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, vì vậy mỗi giaiđoạn có những quy định khác nhau về quan hệ pháp luật hôn nhân và giađình trong đó có các điều kiện kết hôn nhưng nó đều được dựa trên nềntảng của những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà con người phải tuânthủ theo

Về khái niệm các điều kiện kết hôn, theo từ điển giải thích thuật ngữLuật học (trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân,

năm 1999) thì "điều kiện kết hôn là điều kiện để nhà nước công nhận việc

kết hôn của hai bên nam nữ" Hay nói cách khác điều kiện kết hôn là những

đòi hỏi của pháp luật đặt ra khi kết hôn, chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điềukiện đó thì việc kết hôn mới được coi là hợp pháp và được pháp luật thừa

nhận và bảo vệ Chiếu theo khái niệm kết hôn : " Kết hôn là việc nam và nữ

xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn

và đăng ký kết hôn " (khoản 2 điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000) Từ khái

niệm này cho thấy điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn là các điều kiện màpháp luật quy định bắt buộc phải tuân thủ khi nam nữ kết hôn với nhau.Nếu trường hợp thiếu đi một trong những điều kiện quy định thì hôn nhân

đó là trái pháp luật và sẽ không được nhà nước thừa nhận Khái niệm trênchính là minh chứng nhằm khẳng định rằng các điều kiện kết hôn chính là

sự kết hợp căn bản và tất yếu giữa "điều kiện cần" và "điều kiện đủ" cho một

quan hệ hôn nhân hợp pháp như đã đề cập ở trên

1.1.3 Điều kiện kết hôn theo pháp luật của một số nước trên thế giới

Mỗi quốc gia trên thế giới có nền kinh tế - chính trị và xã hội cũngnhư văn hóa, hệ tư tưởng khác nhau vì vậy quy định pháp luật nói chung,các điều kiện kết hôn nói riêng tất yếu có sự khác biệt Ngay cả nhữngnước có cùng chế độ kinh tế, chính trị - xã hội nhưng do sự khác nhau về

Trang 16

phong tục tập quán, lối sống văn hóa, sự phát triển không đồng đều giữacác nước mà pháp luật có quy định cụ thể khác nhau về điều kiện kết hôn.Tuy nhiên, các quy định đó đều là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trịnên về bản chất thì nó cũng có những điểm tương đồng là mang tính áp đặt

và bắt buộc cao

Trong quy định về các điều kiện kết hôn, bên cạnh những quy định thểhiện sự bình đẳng trong quan hệ nam nữ, trong quan hệ vợ chồng Tuynhiên, hiện nay cũng còn một số quốc gia còn duy trì những nguyên tắc cótính chất phân biệt chủng tộc, tôn giáo trong kết hôn, duy trì chế độ đa thênhư những quốc gia Hồi giáo như Ảrập Saudi, Afganistan

Về độ tuổi kết hôn, một số nước như Tây Ban Nha, Chi Lê hay một sốbang của Mỹ thì tuổi kết hôn đối với nam là 14 tuổi và nữ là 12 tuổi; ở HàLan, Pháp thì tuổi kết hôn với nam là 18 tuổi, nữ là 16 tuổi; ở Anh thì tuổikết hôn đối với nam và nữ đều là 16 tuổi; Trung Quốc tuổi kết hôn với nam

là 22 và với nữ là 20

Ngoài ra, pháp luật mỗi nước cũng có quy định khác nhau về nhữngđiều kiện cấm kết hôn như pháp luật nước Pháp, Mỹ hay Thụy Sỹ thì cấmnhững người có họ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau; tuy nhiên ởnước Anh hay Bungary (điều 10 Bộ luật gia đình Bungary) thì lại quy địnhcấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi 4 đời

Ngoài những quy định về các điều kiện kết hôn và cầm kết hôn ở trênthì một số nước còn có những quy định khác chặt chẽ hơn nhiều như điều

1313 Bộ dân luật Đức quy định người vợ góa hoặc ly dị chồng phải saumột thời gian là 10 tháng mới được tái giá hoặc là 300 ngày theo quy địnhtại điều 296 Bộ dân luật Pháp, hay theo luật pháp Hàn Quốc thì trường hợp

nữ đủ 15 tuổi mà có sự cho phép của cha mẹ thì cũng được kết hôn, khiđăng ký kết hôn thì không cần có mặt của hai bên nam nữ cũng như khôngyêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Trang 17

Chính vì có mỗi nước có những quy định khác nhau như vậy cho nêntất yếu sẽ dẫn tới hiện tượng xung đột pháp luật khi có một quan hệ hônnhân có yếu tố nước ngoài Và để giải quyết xung đột pháp luật về các điềukiện kết hôn thì việc làm mang tính pháp lý là các nước ký kết với nhaunhững Hiệp định tương trợ tư pháp trong đó nguyên tắc được hầu hết cácquốc gia trên thế giới áp dụng là nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae).

1.2 Các điều kiện kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000

Quy định về các điều kiện kết hôn được được xác định trên phươngdiện lý luận, dưới góc độ là một chế định pháp luật thì điều kiện kết hônchính là một bộ phận quan trọng thiết yếu trong tổng thể quy định trongLuật Hôn nhân và gia đình, cho ta thấy những điều kiện căn bản và cũng là

cơ sở để xác định tính hợp pháp trong việc thiết lập một quan hệ hôn nhân,tạo ra những chuẩn mực phù hợp trong pháp luật cũng như trong thực tiễncuộc sống

Xuất phát từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa(XHCN), ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên 1946 và Luật Hôn nhân và giađình năm 1959 đã cho thấy rõ những quan điểm và những nguyên tắc mớitrong vệc quy định chế độ hôn nhân và gia đình nói chung, về các điều kiệnkết hôn nói riêng Những quy định đó đã góp phần thiết thực trong việc xâydựng một chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ bình đẳng, thúc đẩy xã hộiphát triển thể hiện sự dân chủ văn minh hơn trong cuộc sống mới

Kế thừa những điểm tiến bộ trong những văn bản pháp lý trước đâyđồng thời có những sửa đổi bổ sung mới đã làm hoàn thiện hơn, phù hợphơn với thực tiễn cuộc sống cũng như các quan hệ xã hội và quan hệ phápluật Để làm rõ hơn nữa về quy định các điều kiện kết hôn cũng như theoquy định thể hiện rõ trong điều luật thì các điều kiện kết hôn ( gồm có 7điều kiện) và điều kiện về đăng ký kết hôn sẽ được phân tích để làm rõràng, cụ thể hơn dưới đây

Trang 18

1.2.1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn

Trước đây, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định "con

trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng

ép hoặc cản trở" Quy định độ tuổi kết hôn "con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn".

Kế thừa những quy định trên thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

đã đưa quy định về độ tuổi kết hôn lên đầu, điều này cho thấy rằng độ tuổikết hôn thực sự cần thiết phải và việc quy định như vậy là một tất yếu Trên cơ sở hai Luật Hôn nhân và gia đình và nhất là Luật Hôn nhân vàgia đình năm 1986 trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tiếp tục giữlại quy định về điều kiện về độ tuổi kết hôn của hai bên nam nữ

Hiện tại cho thấy rằng, tùy vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa cũngnhư đặc điểm con người của mỗi quốc gia thì việc quy định độ tuổi kết hôncũng khác nhau Các nước trên thế giới quy định khác nhau về độ tuổi kếthôn như Tây Ban Nha, Chi Lê hay một số bang của Mỹ tuổi kết hôn vớinam là 14 tuổi-nữ là 12 tuổi; Hà Lan, Pháp quy định nam là 18 tuổi- nữ 16tuổi; tại Anh cả nam và nữ đều 16 tuổi; tại Trung Quốc thì tuổi kết hôn củanam là 22 nữ là 20

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định " Nam từ hai mươi tuổi

trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên" Như vậy khác với Luật Hôn nhân và

gia đình năm 1986 là nam phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi thì Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2000 có quy định "mềm dẻo" hơn Điều này một phần

xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc điểm tâm sinh lý, thểtrạng của con người Việt Nam là muốn kết hôn thì nam phải đạt độ tuổi là

20 tuổi trở lên và nữ là 18 tuổi Theo quy định này thì "không bắt buộc

nam không phải đủ từ 20 tuổi trở lên, nữ phải đủ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi" (mục 1 điểm a Nghị quyết số

Trang 19

02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ 2000).

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này có thể thấy ở trường hợp dưới đây:

Anh Phạm Văn N sinh ngày 20/01/1990 thì tới 20/01/2009 anh N tròn

19 tuổi, vậy chỉ cần sau ngày 20/01/2009 (tức là 19 tuổi 1 ngày) thì anh N

có quyến kết hôn mà không bị coi là vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn.Ngoài ra, để làm rõ hơn về cách tính tuổi kết hôn, tại điều 3 Nghị định70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân

và gia đình 2000 có quy định rõ "nam đang ở tuổi 20, nữ đang ở tuổi 18 thì

đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000".

Để xác định về độ tuổi kết hôn của nam và nữ khi tới đăng kí kết hônthì việc làm đơn giản nhất là căn cứ vào sổ hộ khẩu và xuất trình giấychứng minh nhân dân của cả hai bên nam nữ

Tại Nghị định 32/2002 NĐ-CP ngày 27/03/2002 của Chính phủ quyđịnh việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đối với các dân tộc

thiểu số cũng có quy định về điều kiện kết hôn " Nam từ hai mươi tuổi trở

lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn để bảo đảm sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình " Quy định này nhằm ngăn chặn nạn

tảo hôn (là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổikết hôn theo quy định của pháp luật) vẫn diễn ra phổ biến ở các dân tộcthiểu số và nhằm xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ cũng như đảm bảonhững điều kiện về tâm sinh lý, sức khỏe cho hai bên nam nữ khi kết hônvới nhau

1.2.2 Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986 đều quy định việc kết

hôn "do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên

nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở" Tuy nhiên, để quy định một

Trang 20

cách rõ ràng và cụ thể hơn trường hợp này thì Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000 có bổ sung thêm một chi tiết rất quan trọng và thiết thực đó là "

không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào "

Sự tự nguyện kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kếthôn và thể hiện ý chí trở thành vợ chồng của nhau Cả hai bên đều đềukhông bị tác động bởi bên kia hay bất cứ một ai khác khiến họ phải kết hônvới nhau không đúng nguyện vọng của mình tức là sự tự nguyện phải thốngnhất về ý chí, hai bên nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng xuất phát từ tìnhyêu chân chính và nhằm mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc ấm no

Sự tự nguyện cũng là cơ sở quan trọng đảm bảo cho hôn nhân được tồn tạilâu dài và bền vững

Cũng để xác định các bên có hoàn toàn tự nguyện khi kết hôn haykhông thì pháp luật quy định khi đến nộp tờ khai đăng ký thì cả hai bênđều phải có mặt, người thực hiện việc đăng ký sẽ yêu cầu hai bên nam nữcho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý thì sẽ tiến hành cho

họ ký vào sổ đăng ký kết hôn

Tuy nhiên trường hợp đặc biệt nếu một bên không tới mà có lý dochính đáng thì có thể gửi cho Uỷ ban nhân dân nơi tiến hành đăng ký kếthôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt có xác nhận của Ủy ban nơi người đó cưtrú Vào ngày Ủy ban nhân dân tiến hành đăng ký kết hôn và trao giấychứng nhận kết hôn thì cả nam và nữ phải có mặt một lần nữa, hai ngườiphải trả lời trước cơ quan và cán bộ hộ tịch rằng họ hoàn toàn tự nguyệnkết hôn với nhau

Ngoài ra, quyền kết hôn là một quyền nhân thân không thể chuyểngiao vì vậy để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì pháp luật quyđịnh không cho phép cử đại diện trong việc đăng kí kết hôn, đồng thời cũngkhông cho phép một trong hai bên nam nữ vắng mắt tại lễ đăng ký kết hôn.Tuy nhiên, nếu trường hợp vì một lý do nào đó mà khi tổ chức đăng ký kếthôn chỉ có một trong hai bên nam nữ thì theo mục 2 điểm c Nghị quyết số

Trang 21

02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì việc kết hôn của họ vẫn được coi là

hợp pháp "nếu trước khi tổ chức đăng ký kết hôn đã thực hiện đúng quy

định tại khoản 1 Điều 13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ thực sự về chung sống với nhau, thì không coi là việc đăng ký kết hôn đó là không theo nghi thức quy định tại Điều 14".

Nhằm xóa bỏ phong tục kết hôn lạc hậu dựa trên các hình thức mê tín

dị đoan tại các dân tộc thiểu số nơi mà hiểu biết của con người về pháp luậtcòn nhiều hạn chế tại Nghị định 32/2002/NĐ-CP ngày 23/07/2002 của

Chính phủ có đề cập tới sự tự nguyện của các bên kết hôn " việc kết hôn do

nam và nữ tự nguyện quyết định; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng; không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào không được cưỡng

ép hoặc cản trở việc lấy vợ, lấy chồng của con " Và tại khoản 2 điều này

nói rõ "nghiêm cấm tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ."

Quy định này đã góp phần bảo vệ và nâng cao quyền lợi của nhữngngười phụ nữ đồng thời tạo ra sự tiến bộ vượt bậc trong chế độ hôn nhângia đình các dân tộc thiểu số ngày nay

Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bênnhằm bảo đảm cho họ thể hiện ý chí và tình cảm của mình khi kết hôn Vớinhững quy định trên cho thấy rằng sự tự nguyện của hai bên khi kết hônvới nhau thực sự là một yếu tố quan trọng vì nó là nhân tố bảo đảm cho sựhạnh phúc lâu dài sau khi kết hôn cũng như đảm bảo cho cuộc hôn nhânbền vững

Đảm bảo cho việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, cụ thể pháp luật quyđịnh việc kết hôn phải không có sự cưỡng ép, lừa dối hoặc cản trở Do vậynhững trường hợp kết hôn mà có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kếthôn đều bị coi là kết hôn trái pháp luật bởi vì nếu có những hiện tượng đóxảy ra thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống sau hôn nhân cũng như tạo

ra hậu quả xấu cho gia đình và xã hội Vì vậy, nếu nam nữ kết hôn với nhau

Trang 22

nhưng không nhằm mục đích xây dựng gia đình cũng như chung sống lâudài thì cho dù có sự tự nguyện nhà nước sẽ không công nhận hôn nhân đó

là hợp pháp, vì hôn nhân ngoài sự tự nguyện thì cũng phải đảm bảo sự tiến

bộ, dân chủ và văn minh

Nói tóm lại thì việc quy định vể độ tuổi và sự tự nguyện của nam nữtrong việc kết hôn với nhau đã khẳng định việc áp dụng một cách linh hoạtquy định pháp luật đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha

mẹ của kiểu gia đình thời phong kiến đồng thời góp phần lớn quan trọngcho việc xây dựng chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, dân chủ hơn

1.2.3 Về những trường hợp cấm kết hôn

Ngoài những điều kiện kết hôn trên thì theo quy định tại điều 10 LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định rõ những trường hợp cấm kếthôn và những điều đó được coi là nhưng điều kiện kết hôn cần thiết khôngthể thiếu mà khi kết hôn hai bên nam nữ phải tuân thủ

1.2.3.1 Cấm kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc có chồng

Trên cơ sở quy định Luật Hôn nhân và gia đình 1959 tại điều 5 "cấm

người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác" và trường hợp cấm kết

hôn " đang có vợ hoặc có chồng" (Luật HN&GĐ 1986) cũng như trên cơ sở tuân thủ quy định ở điều 64 Hiến pháp 1992 " Hôn nhân theo nguyên tắc

tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng" Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 khẳng định hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sởnguyên tắc một vợ một chồng Vì vậy, điều 4 và khoản 1 điều 10 luật nàyquy định cấm người đang có vợ hoặc đang có chồng kết hôn hoặc chungsống như vợ chồng với ngưới khác hoặc người chưa cố vợ, chưa có chồng

mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với với người đang có chồng có

vợ Việc chung sống như vợ chồng bất hợp pháp sẽ ảnh hưởng tới quyềncũng như những lợi ích của người vợ hay chồng hợp pháp kia đồng thờicũng gây ảnh hưởng không nhỏ cho xã hội Cũng xuất phát từ bản chất củanhà nước ta là nhà nước XHCN, vì vậy chỉ tồn tại chế độ hôn nhân một vợ

Trang 23

một chồng, như vậy mới đảm bảo hôn nhân tồn tại bền vững, vợ chồngthực sự yêu thương chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau.

Theo nguyên tắc trên thì chỉ những người chưa kết hôn hoặc tuy đãkết hôn nhưng vợ (chồng) của họ đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn thì mới

có quyền kết hôn, tức là những người có vợ (chồng) bị cấm kết hôn vớinhau và cũng bị cấm kết hôn với những người chưa có vợ (chồng)

Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm người đang

có vợ, có chồng chung sống như vợ chồng với người khác là nhằm chống lại

sự ảnh hưởng từ lối sống của xã hội tư sản trong hôn nhân vì như chúng tathấy những trường hợp trên diễn ra khá phổ biến ở các nước tư bản trên thếgiới Đồng thời tạo ra một lối sống lành mạnh trong gia đình và xã hội, gópphần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ hoặc người chồng.Pháp luật quy định như vậy nhằm xóa bỏ chế độ đa thê thời kỳ phongkiến, lấy cơ sở tình yêu xác lập quan hệ hôn nhân và lấy tình yêu giữa vợ

và chồng duy trì quan hệ này Chỉ có như vậy thì hôn nhân mới thực sự tiến

là hôn nhân thực tế đồng thời cũng theo từng thời gian mà họ kết hôn đểxác định hôn hân của họ có hợp pháp hay không

Tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồngthẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định củaLuật Hôn nhân và gia đình 2000 thì người đang có vợ hoặc có chồng làngười đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hônnhân và gia đình nhưng chưa ly hôn; người sống chung với người khác như

Trang 24

vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn; người sống chung với người khác như

vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đangchung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưngkhông đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyếtnày có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003)

Ngoài ra, hiện nay ở nước ta vẫn còn tồn tại những trường hợp nhiều

vợ nhều chồng do trong khoảng thời gian xảy ra chiến tranh; các cán bộ, bộđội miền Nam đã có vợ có chồng ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lại lấy

vợ hay chồng khác, vì vậy xảy ra hiện tượng tồn tại một người có nhiều vợhoặc nhiều chồng Theo hướng dẫn của Thông tư số 60/DS ngày22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao thì các trường hợp trên không phải

do ảnh hưởng từ chế độ hôn nhân thời kì phong kiến mà do hoàn cảnhchiến tranh, do đó việc kết hôn của họ tuy có vi phạm nguyên tắc hôn nhânmột vợ một chồng cũng như điều kiện cấm kết hôn nhưng sẽ không bị coi

là việc kết hôn trái pháp luật Pháp luật quy định như vậy thực sự rất phùhợp với thực tiễn của đất nước nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đángcủa các bên đương sự, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em

1.2.3.2 Những người kết hôn không mất năng lực hành vi dân sự

Theo pháp luật Dân sự cụ thể là tại điều 22 Bộ luật Dân sự 2005 thìngười mất năng lực hành vi dân sự là người do bị mắc bệnh tâm thần hoặcmắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi củamình và bị Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vidân sự khi có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và trên cơ sởcủa tổ chức giám định có thẩm quyền

Khi kết hôn, giữa nam và nữ phát sinh quan hệ hôn nhân, đồng thờicũng phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ vàcon cũng như trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình và xã hội Nhưngnhững người bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể

Trang 25

nhận thức làm chủ được hành vi của mình thì cũng không thể nhận thức vàthực hiện trách nhiệm làm vợ làm chồng hay làm cha làm mẹ được, tráchnhiệm đối với xã hội.

Mặt khác, một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho hônnhân có gia trị pháp lý là phải có sự tự nguyện của các bên nam nữ Vì thế,người đang mắc bệnh tâm thần hoặc những bệnh khác mà không thể nhậnthức và làm chủ được hành vi của mình thì không thể thể hiện ý chí của họ

là có tự nguyện hay không được cũng như pháp luật không thể đánh giá sự

tự nguyện của họ Đồng thời, theo nghiên cứu và kết luận của các nhà khoahọc thì bệnh tân thần là một loại bệnh có tính di truyền nên cũng cần thiếtquy định những người này được kết hôn nhằm đảm bảo cho con cái sinh rađược khỏe mạnh và đảm bảo cho nòi giống phát triển tốt cũng như thựchiện tốt chức năng xã hội của gia đình Đây cũng là một quy định mangtính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho các đương sự

Luật Hôn nhân và gia đình 1959 trước đây có quy định "những người

sau đây không được kết hôn: người mắc các bệnh , hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi" (điều 10) Luật Hôn nhân và gia đình 1986 đã có quy định

rõ ràng hơn về quy định về việc cấm kết hôn "đang mắc bệnh tâm thần

không có khả năng nhận thức hành vi của mình " Kế thừa và phát triển của

Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cấmngười bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có năng lực nhậnthức, làm chủ được hành vi của mình mà bị tòa án tuyên bố mất năng lựchành vi dân sự của cá nhân khi có yêu cầu Trước kia, Luật Hôn nhân vàgia đình 1986 còn quy định cấm người đang mắc bệnh hoa liếu kết hôn vìtrong thời gian này bệnh hoa liễu là bệnh lây, khó chữa khỏi nên nhữngngười này cũng không thể kết hôn, nhưng sau này khi nền y học phát triểnnên căn bệnh này có thể chữa khỏi vì vậy Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Trang 26

đã bỏ quy định này thể hiện sự phù hợp của pháp luật cũng như bảo vệquyền lợi và nhu cầu chính đáng của họ.

1.2.3.3 Cấm những người cùng dòng máu trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thuộc với nhau.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 1959 đã từng quy định "cấm những

người có cùng dòng máu trực hệ kết hôn với nhau, cũng như những ngưới

có họ trong phạm vi năm đời kết hôn với nhau" cấm kết hôn giữa những

người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Cấm kếthôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ kháccha Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan

hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tậpquán (điều 9)

Tuy nhiên trong Luật Hôn nhân và gia đình 1986 đã giữ lại quy định

là "cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ " nhưng đã quy định hẹp hơn về phạm vi cấm kết hôn là "giữa những người khác có họ

trong phạm vi ba đời ".

Kế thừa những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 1986, tạikhoản 3 và 4 điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 xác định rõ nhữngngười cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đờihoặc những người đã từng có quan hệ thích thuộc bị cấm kết hôn với nhau.Theo cuốn từ điển Luật học (Nhà xuất bản từ điển Bách khoa) thì cùngdòng máu trực hệ là những người có quan hệ máu mủ: đó là giữa cha mẹvới con; ông bà với cháu nội ngoại Cụ thể là cấm kết hôn giữa bố đẻ vàcon gái, mẹ đẻ với con trai, giữa ông với cháu gái nội, cháu gái ngoại; bàvới cháu trai nội, cháu trai ngoại

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người có cùng mộtgốc sinh ra, được tính theo cách: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùngcha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị emcon chú, con bác, con cô, con dì là đời thứ ba Như vậy cấm kết hôn giữa

Trang 27

những người này với nhau, cụ thể là: cấm kết hôn giữa anh chị em cùngcha mẹ, khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; cấm bác ruột, chú ruột, cậu ruộtkết hôn với cháu gái; cấm cô ruột, dì ruột kết hôn với cháu trai; cấm anh,chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau Cónghĩa là những người từ đời thứ tư trở đi có thể kết hôn được với nhau.Dựa trên cơ sở khoa học hiện đại đã kết luận rằng, nếu những ngườinày có kết hôn với nhau thì con cái của họ khi sinh ra sẽ không được bìnhthường và sẽ mang niều bệnh tật cũng như dị dạng như câm, điếc Vì vậy,pháp luật quy định cấm những người có cùng dòng máu trực hệ, nhữngngười có họ trong phạm vi ba đời không được kết hôn với nhau nhằm đảmbảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh,đảm bảo lợi ích cho gia đình và xã hội Mặt khác, việc quy định như vậy làthực sự phù hợp vì nó làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đìnhvớinhững thuần phong mỹ tục cũng như bảo vệ những giá trị đạo đức, luânthường đạo lý của nhân dân ta từ xa xưa, góp phần xóa bỏ những hủ tục lạc

hậu lâu đời ở các dân tộc thiểu số như tục nối dây." Các dân tộc thiểu số chỉ

được phát huy những phong tục tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc

mà không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật thì được tôn trọng và phát huy" (điều 6 Luật HN&GĐ 2000) đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ về mặt

nhận thức cũng như tạo cho đồng bào dân tộc có cuộc sống vật chất và tinhthần được tốt đẹp hơn

So với Luật Hôn nhân và gia đình 1986 chỉ quy định cấm kết hôn

"giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha

mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi" thì Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có quy định cụ thể hơn về điều

kiện kết hôn này đó là không chỉ cấm kết hôn giữa những người có quan hệhuyết thống mà còn cấm kết hôn giữa những người có quan hệ cha, mẹnuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể hoặc đã từng là bố chồng với con

Trang 28

dâu, mẹ vợ với con rể; giữa những người đã từng là bố dượng với con riêngcủa vợ; giữa những người đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng.

Quy định này nhằm làm ổn định mới quan hệ trong gia đình đồng thờicũng góp phần ngăn chặn hiện tượng tiêu cực trong xã hội đó là lợi dụngviệc nuôi con nuôi để cưỡng ép kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi Tuynhiên, trong thực tế cuộc sống thì dựa vào những chuẩn mực cũng nhưnhững quy tắc đạo đức thì việc kết hôn giữa những người trước đây đã từng

là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, mẹ

kế với con riêng của chồng, bố dượng với con riêng của vợ Vì vậy LuậtHôn nhân và gia đình 2000 quy định như vậy nhằm phát huy những truyềnthống tốt đẹp của gia đình Việt Nam cũng như gia đình trong chế độ xã hộichủ nghĩa tiến bộ và lành mạnh

1.2.3.4 Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính

Kết hôn giữa những người cùng giới tính (hay còn gọi là đồng tính)được hiểu là những người nam hoặc người nữ không có trạng thái tình cảm

mà ta gọi là tình yêu khác giới mà lại có tình cảm yêu đương với ngườicùng giới (nam – nam; nữ - nữ) mà kết hôn với nhau

Theo quy định của nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Thụy Sỹ,Đan Mạch thì pháp luật những quốc gia này công nhận những ngườiđồng tính (giới tính thứ ba) cũng như cho phép họ được kết hôn với nhaugiống như những người nam nữ bình thường khác Cũng có một số quốcgia trên thế giới không công nhận việc thiết lập quan hệ vợ chồng giữa họnhưng cho phép họ có quyền lập hội và hưởng quyền như những công dânbình thường (như luật của Pháp cho phép người đồng tính luyến ái lập hội

từ tháng 10/1999)

Trước kia, trong Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và Luật Hôn nhân

và gia đình 1986 chưa có quy định về việc cấm kết hôn giữa những người cócùng giới tính bởi vì trong thời gian này thì hiện tượng này chưa thực sự phổbiến trong xã hội, nếu có cũng không được thể hiện công khai như hiện nay

Trang 29

Cho tới những năm sau này, với sự ảnh hưởng của trào lưu của cácnước trên thế giới cũng như tính dân chủ và quyền con người ngày càngđược mở rộng và nâng cao, hiện tượng này diễn ra một cách phổ biến vàcông khai rầm rộ trong xã hội, pháp luật nước ta mới để tâm tới những vấn

đề này và coi đó là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội Cho nên tại LuậtHôn nhân và gia đình 2000 cụ thể tại khoản 5 điều 10 quy định cấm kết hôngiữa những người cùng giới tính với nhau

Nhà nước ta cho rằng hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và một nữnhằm xây dựng gia đình, gia đình phải thực hiện chức năng xã hội của nó

là tái sản xuất ra con người nhằm duy trì và phát triển nòi giống Như vậychỉ có những người khác giới tình kết hôn với nhau thì mới có thể thực hiệnđược chức năng đó của gia đình, việc hai người cùng giới tính với nhauthực sự là trái với quy luật của tự nhiên và xã hội

Tại điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái niệm

kết hôn : "kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định

của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn".

Trong Bộ luật Dân sự 2005 tại điều 39 có quy định rõ :"Nam, nữ có đủ

điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn ".

Từ những quy định trên cho thấy rằng pháp luật nhà nhà nước ta chỉthừa nhận việc kết hôn chỉ có thể diễn ra giữa nam và nữ tức là nhữngngười khác nhau về giới tính chứ không thừa nhận việc kết hôn giữa nhữngngười có giới tính nam với nam hay nữ với nữ với nhau Đồng thời đây làmột hiện tượng xã hội không lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục,không phù hợp với đạo đức xã hội Cũng theo quy định của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 quy định trên là cơ cở pháp lý cho Uỷ ban nhân dân

cơ sở không tiến hành đăng ký kết hôn và Tòa án hủy việc kết hôn trái phápluật giữa hai người cùng giới tính khi có yêu cầu

Trang 30

Về điều kiện kết hôn trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài, theokhoản 1 điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như điều 10Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ thì việc kếthôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài thì mỗi bên phải tuântheo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiếnhành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nướcngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình vềđiều kiện kết hôn Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tạiViệt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo cácquy định tại điều 9 và điều 10 về điều kiện kết hôn cũng như các trườnghợp cấm kết hôn

Từ những cơ sở lý luận trên cho thấy rằng, các điều kiện kết hôn làmột trong những quy định quan trọng trong hệ thống pháp luật Hôn nhân

và gia đình và thực sự cần thiết bởi vì:

Thứ nhất, quy định các điều kiện kết hôn là một trong những quy địnhpháp lý chiếm vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật nóichung nà Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng, thể hiện tầm quan trọng củaquan hệ hôn nhân trong đời sống con người, là cơ sở cần thiết để thực hiệnmột trong những chức năng xã hội của gia đình

Thứ hai, việc quy định các điều kiện kết hôn trong pháp luật nhằm bảođảm ý chí, tinh thần của Hiến pháp và pháp luật đồng thời bảo đảm sự phùhợp với các quan hệ pháp luật khác như quan hệ pháp luật đất đai, quan hệpháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự

Thứ ba, quy định các điều kiện kết hôn là căn cứ giúp cho việc kết hôngiữa nam và nữ phải biết tuân thủ những chuẩn mực của đạo đức và chuẩnmức của pháp luật Trong đó điều kiện đăng ký kết hôn cũng là cơ sở pháp

lý xác định quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ có thực sự hợp pháp và đượcnhà nước ta công nhận và bảo vệ hay không

Trang 31

Thứ tư, quy định các điều kiện kết hôn là cơ sở để giải quyết nhữngtrường hợp vi phạm các điều kiện kết hôn cũng như những vấn đề kháctrong quan hệ hôn nhân và gia đình như phân định, quản lý, sử dụng tài sảngiữa vợ chồng, việc nuôi dưỡng chăm sóc con cái cũng như việc xác lậpcác giao dịch trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại hay trong trườnghợp đại diện hay giám hộ Chế định này cũng tạo cơ sở pháp lý trong việcđược thừa hưởng những lợi ích vật chất như thừa kế cũng như xác địnhnghĩa vụ khi một bên còn sống phải thực hiện như nợ nần

Mặt khác, trong xã hội hiện đại với sự thay đổi tư duy, cách suy nghĩcũng như do sự ảnh hưởng của các nước trên thế giới thì việc quy định cácđiều kiện kết hôn chính là cơ sở tạo một cách nhìn chuẩn mực về hôn nhân

và gia đình, cũng là bức rào chắn cực kì hiệu quả để tránh khỏi những yếu

tố tiêu cực như tảo hôn hay hôn nhân đồng giới

Thứ năm, các điều kiên kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình cũnggóp phần tạo điều kiện để nhà nước điều tiết và quản lí các quan hệ xã hộiđược tốt hơn, nhằm xây dựng chế độ hôn nhân tích cực, bền vững, bìnhđẳng, đảm bảo mục tiêu xây dựng và phát triển xã hội công bằng dân chủ

mô của đạo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã đạt mức độ hoàn chỉnh cao

về dung lượng, nhắm tới việc đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu điều chỉnh cácquan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đọan phát triển mới của đất nước.Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định các điều kiện kết hôn đã cónhững bước thay đổi rất tiến bộ trong lý luận cũng như thực tiễn

Nhưng việc đánh giá hiệu qủa và sự hoàn chỉnh của một văn bản phápquy quan trọng không chỉ căn cứ vào số lượng điều khoản, mà vấn đề căn

Trang 32

bản là phải xem xét những ưu điểm của chế định điều kiện kết hôn về nộidung mà văn bản thể hiện Những ưu điểm như vậy trong Luật Hôn nhân

và gia đình mới được thể hiện một cách cụ thể rõ nét

Về căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn giữ quy định về

3 điều kiện tối thiểu phải có để được phép kết hôn vốn đã định hình vàmang tính truyền thống trong hai đạo Luật Hôn nhân và gia đình trước đây

là độ tuổi, sự tự nguyện của nam nữ và thủ tục đăng ký việc kết hôn tại cơquan nhà nước có thẩm quyền (các Điều 9 và Điều 11)

Điểm mới cần ghi nhận ở đây là: các quy định về việc đăng ký kết hôn

đã cụ thể hơn và mang tính thực tiễn với xã hội hơn

Về các trường hợp cấm kết hôn thì ngoài việc làm rõ thêm các quyđịnh đã có, trong điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn thể hiệnmột sự điều chỉnh và bổ sung rất đáng kể Như tại khoản 4 Điều 10 nêutrên, trong khi cụ thể hóa trường hợp cấm kết hôn giữa người đã từng là

cha, mẹ nuôi với con nuôi thì đã bổ sung thêm việc cấm kết hôn giữa “ bố

chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng” Đây là sự bổ sung sáng suốt góp phần bảo vệ

nền tảng đạo đức, sự trong sáng, lành mạnh và tôn ti trật tự trong quan hệgia đình mang bản sắc luân lý đặc trưng của dân tộc Việt Nam

Đối với một vấn đề gây tranh cãi đó là ở nước ta quan hệ đồng giớitính là một hiện tượng không mới nhưng hiện nay lại đang nổi lên khá côngkhai, nhất là trong cư dân đô thị Tuy trên thế giới có những cách giải quyếtkhác nhau việc kết hôn của những người cùng giới tính thì thái độ của cácnhà lập pháp Việt Nam thể hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

là dứt khoát "cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính" (khoản 5, điều

10 Luật HN&GĐ 2000)

Bên cạnh các quy định trên thì chúng ta không còn tìm thấy trong đạoluật mới quy định cấm người đang mắc bệnh hoa liễu, cấm anh chị emcùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha kết hôn với nhau như đã từng đặt

Trang 33

ra trong Điều 9 và 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; các điểm b và cđiều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

Về trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình bỏ quy định cấm đoán kếthôn đối với người đang mắc bệnh hoa liễu (và chúng ta liên tưởng đến cảngười nhiễm HIV-AIDS) mang nhiều ý nghĩa nhân đạo hơn Bởi lẽ, nhữngcăn bệnh trên không thể là lý do để tước bỏ quyền kết hôn của công dân khi

họ có tình yêu thương và thật sự tự nguyện chấp nhận cuộc sống lứa đôi tronghoàn cảnh bệnh tật khó khăn đó Mặt khác, đối với y học ngày nay thì việcngăn ngừa sự lây lan và chữa trị bệnh hoa liễu không còn là vấn đề nan giải.Việc không có quy định trực tiếp cấm kết hôn giữa hai người là anhchị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha được hiểu là những ngườinày có quan hệ về huyết thống, do đó căn cứ đoạn 2, mục 3 Điều 10 LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 thì họ thuộc diện có họ trong phạm vi bađời, không được kết hôn với nhau Giữa những người có họ trong phạm vi

ba đời (bao gồm trực hệ và bàng hệ) đều bị cấm kết hôn, trong đó anh chị

em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thuộc trường hợp không thểcho kết hôn với nhau được

Tóm lại, những quy định về điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 đã có sự hoàn chỉnh hơn những văn bản quy định trước

đó, những cấm đoán kết hôn không còn cần thiết cần được dỡ bỏ, công dânđược tạo thuận lợi nhiều hơn để hưởng quyền kết hôn xây dựng mái ấm giađình – một trong những quyền con người cơ bản nhất của mỗi cá nhân

1.2 Điều kiện đăng ký kết hôn

Như đã phân tích ở những phần trên thì nam nữ muốn kết hôn vớinhau ngoài việc tuân thủ các điều kiện kết hôn và cấm kết hôn quy định,nếu muốn được công nhận là kết hôn hợp pháp thì hai bên phải đến cơ quan

có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp

luật Vì vậy "điều kiện cần " và "điều kiện đủ" luôn là hai yếu tố song hành với

Trang 34

nhau cho nên nếu thiếu một trong hai yếu tố thì việc kết hôn không có giátrị pháp lý.

1.3.1 Điều kiện đăng kí kết hôn trước 03/01/1987

Trước ngày 03/01/1987 thì Luật Hôn nhân gia đình 1959 đang có hiệulực, ngoài việc quy định về các điều kiện kết hôn thì tại điều 11 có quy định

"việc kết hôn phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên

người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật".

Từ quy định này cho thấy việc kết hôn phải được đăng ký và sau khiviệc kết hôn được ghi vào sổ kết hôn thì việc kết hôn đó mới thực sự hợppháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, dễ nhận thấy rằng việc đăng kýkết hôn có thể được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền nơi trú quán củabên nam hoặc bên nữ chứ pháp luật không bắt buộc phải đăng ký ở cả hainơi của hai bên Nơi trú quán được hiểu là nơi ở thường xuyên, cũng đượchiểu là nơi mà người đó đăng ký hộ khẩu thường trú Quy định này chothấy Nhà nước ta có sự quản lý chặt chẽ vấn đề đăng ký hộ tịch nhất làngay sau khi lần đầu tiên ban hành Luật Hôn nhân và gia đình Điều nàycho thấy sự cần thiết trong việc xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình hợppháp được pháp luật thừa nhận

1.3.2 Điều kiện đăng kí kết hôn từ 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001

Trong thời gian này Luật Hôn nhân gia đình 1959 được thay thế bởiLuật Hôn nhân gia đình 1986 Quy định về việc đăng kí kết hôn thể hiện tại

điều 8 "việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú

của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định".

Tại Nghị định 83/1998/ NĐ-CP ban hành ngày 10/10/1998 của Chínhphủ về đăng ký và quản lý hộ tịch cũng quy định cụ thể Uỷ ban nhân dâncấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn,khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, các bên phải xuất trình

Ngày đăng: 28/06/2013, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam", Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
18. "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài - Một số vấn đề lí luận và thức tiễn", Tiến sĩ Nông Quốc Bình và Tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc, Nxb Trẻ, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài - Một số vấn đề líluận và thức tiễn
Nhà XB: Nxb Trẻ
20. Tạp chí Nghề luật (Bài "Một số điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam", Tiến sĩ Chu Hải Thanh, số 1/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và giađình Việt Nam
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959,1986, 1992, Nxb Chính trị quốc gia.2. Bộ luật Dân sự 2005 Khác
7. Nghị định 70/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khác
8. Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam có yếu tố nước ngoài Khác
9. Nghị định 32/2002/NĐ-CP ngày 27/03/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số Khác
10. Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Khác
11. Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực Khác
12. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khác
13. Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Khác
15. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tiến sĩ Đoàn Đức Lương, Nxb Đại học Huế, năm 2010 Khác
16. Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Giáo dục 1998 Khác
17. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2008 Khác
19. Tập bài giảng Chuyên đề giải quyết án hôn nhân và gia đình, Thạc sĩ Đào Mai Hường, năm 2012 Khác
21. Số liệu đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường An Cựu, Uỷ ban nhân dân phường Xuân Phú, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế các năm 2009, 2010, 2011, 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số 2 - Các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam
Bảng th ống kê số 2 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w