phân tích và đánh giá chất lượng cán bộ, công chức huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 1Lời Cảm Ơn
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế – Trường Đại Học Kinh Tế Huế đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng
em trong suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt, trong học kỳ này, Khoa đã tổ chức cho chúng em được tiếp cận với thực tế mà theo em là rất hữu ích đối với sinh viên ngành Tin Học Kinh Tế cũng như tất cả các sinh viên thuộc các chuyên ngành Kinh Tế khác Đó là môn học “chuyên đề cuối khóa”
Em xin chân thành cảm ơn thầy “Nguyễn Đình Hoa Cương” đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng buổi nói chuyện, thảo luận về các phương thức hay các nội dung hỗ trợ cho chúng
em trong việc hoàn thành bài chuyên đề cuối khóa Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch này
Trang 2của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy
Bài thu hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tháng Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về môi trường làm việc bên ngoài, kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Sinh viên Phạm Hữu Dư
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2.5 Kết cấu của khoá luận 3
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 4
I VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CẤP CƠ SỞ 4
1 Quan niệm về cấp cơ sở 4
2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở 5
II ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 5
1 Quan niệm về cán bộ công chức cấp cơ sở 5
2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở 7
3 Nguồn hình thành đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở 9
III CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 10
IV CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 11
1 Chất lượng cán bộ công chức 11
1.1 Khái niệm chất lượng 11
1.2 Chất lượng cán bộ công chức 11
2 Một số hình thức biểu hiện chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở .12
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở 19
3.4 Chế độ chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối với đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở 22
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN TỈNH QUẢNG NAM 24
Trang 4I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ
HỘI HUYỆN NÔNG SƠN TỈNH QUẢNG NAM 24
II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN 27
1 Thực trạng trình độ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn 29
2 Hiệu quả thực thi công vụ 36
2.1 Kết quả đánh giá chung của các phòng, ban thuộc UBND huyện Nông Sơn đối với các xã trong huyện 36
2.2.1 Về lĩnh vực hộ khẩu 37
2.2.2 Về hộ tịch 38
2.2.3 Về chứng thực 38
2.2.4 Về địa chính, xây dựng 38
2.4.1 Những hoạt động được đánh giá là thực hiện tốt 39
2.4.2 Những hoạt động chưa được sự hài lòng của công dân 41
3 Phương pháp và kỹ năng giải quyết công việc 42
4 Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức cấp xã 44
5 Sức khoẻ, thâm niên công tác 46
III NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ VỀ CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN 47
1 Nguyên nhân khách quan 47
2 Nguyên nhân chủ quan 50
CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN 51
I CƠ SỞ ĐỂ ĐƯA RA KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN 51
1 Dựa trên quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở 51
2 Dựa trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu và tiêu chuẩn đê xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở 53
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN 54
Trang 5KẾT LUẬN 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 HĐND : Hội đồng nhân dân
2 UBND : Uỷ ban nhân dân
3 THCS : Trung học cơ sở
4 THPT : Trung học phổ thông
5 Tr cấp : Trung cấp
6 CĐ : Cao đẳng
7 ĐH, Trên ĐH : Đại học, Trên Đại học
8 UBMTTQ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế nhà nước ViệtNam, chính quyền cấp cơ sở luôn giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Chính quyền cơ sở là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền,
là cấp gần dân nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản
lý nhà nước trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống
Tuy nhiên, chính quyền cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình mộtcách hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có
đủ trình độ để đảm nhận công việc được giao Cũng như nhân tố con người trongmọi tổ chức khác, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở chính là hạt nhân, là nhân
tố quyết định đến chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở nói riêng cũngnhư toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở nói chung Chính vì vậy, việc nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động củachính quyền cấp cơ sở luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm
Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2003/NĐ - CP ngày 10tháng 10 năm 2003 về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và một số văn bảnkhác nhằm từng bước chuẩn hoá, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, một thực tế khách quan là chất lượng của độingũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ, công chức xã, thị trấn ở cácvùng nông thôn và miền núi tương đối thấp, không tương xứng với vị trí, vai tròcủa họ cũng như đáp ứng đầy đủ các chức danh theo quy định của Nhà nước.Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chínhquyền cấp cơ sở; nghiêm trọng hơn là dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất lòng tincủa nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây ra tình trạng mất ổn định cục bộ tạimột số địa phương như một số vụ việc ở Đồ Sơn, Thái Bình, Phú Quốc, TuầnChâu,… Do đó việc phân tích và đánh giá chất lượng của cán bộ, công chức ởhuyện nhằm tìm ra phương hướng cải cách và nâng cao chất lượng để đáp ứng
Trang 7tiêu chuẩn chức danh và đòi hỏi của thực tế khách quan ngày càng cao là nhiệm
vụ trọng tâm hiện nay trong công tác cán bộ cấp cơ sở
Trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua tại Ủy Ban huyện Nông sơn ,tỉnhQuảng Nam tôi có điều kiện tìm hiểu về tình hình và thực trạng đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở của huyện Chất lượng cán bộ, công chức còn thấp, trìnhđộnăng lực thực thi công vụ của đội ngũ này hiện còn nhiều bất cập so với yêucầu công việc và yêu cầu của thực tế đặt ra
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “phân tích và đánh giá chất lượngcán bộ, công chức huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng và đánh giá về chất lượng độingũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam từ đó đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở tạihuyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thực thicông vụ của đội ngũ này cũng như chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ
sở của huyện
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao chất lượng của đội ngũ cán
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, đề tài tập trung vào nghiêncứu về trình độ; hiệu quả thực thi công việc, đạo đức công việc và một số vấn đềkhác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện theo số liệu thống kê về cán
bộ, công chức cấp cơ sở của huyện
Trang 82.4 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích;
- Phương pháp so sánh, đánh giá;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Ngoài ra khoá luận còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như: phương phápphỏng vấn, phương pháp điều tra, khảo sát thực tế,…
2.5 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cán bộ, công chức cấp cơ sở
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện NôngSơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Một số đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cán bộcông chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 9CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
I VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CẤP CƠ SỞ
1 Quan niệm về cấp cơ sở
Từ khi Nhà nước xuất hiện và có sự phân chia lãnh thổ thì vấn đề phânchialãnh thổ thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ luôn là vấn đề quan trọng ỞViệt Nam, vấn đề này được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và được quyđịnh trong Hiến pháp – văn bản có tính pháp lý cao nhất Theo Hiến pháp năm
1992, sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Luật Tổ chức HĐND và UBND, chínhquyền địa phương được tổ chức thành 3 cấp:
- Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)
- Chính quyền cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làcấp huyện)
- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Chính quyền cấp
xã là chính quyền gần dân nhất, được gọi là chính quyền cơ sở trong hệ thốngchính quyền 4 cấp Gọi chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở bởi những
- Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên
Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền nàothấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn Đây là cấp gần dân nhất, sâu sát nhândân nhất so với các cấp chính quyền khác
Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ thốngchính quyền nhà nước 4 cấp
Trang 10Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có một vai trò rất quantrọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp và vị trí quan trọng đặc biệt trong hệthống chính trị cơ sở nói riêng.
2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở
Chính quyền cơ sở là cầu nối, là nơi giao lưu trực tiếp giữa Nhà nước vànhân dân, đồng thời cấp cơ sở là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưuviệt hay hạn chế của chế độ xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã làcấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được thì mọi việc đềuxong xuôi” Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnhhưởng trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước
Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trương,đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Đây là nơi trực tiếp thựcthi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chínhsách Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc vào chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở
Chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế xã hội của địaphương Những vấn đề của địa phương mà chính quyền cơ sở có thẩm quyền giảiquyết thì chính quyền cơ sở đại diện cho nhân dân địa phương trực tiếp giải quyết.Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện đồng thời phản ánh tâm tư nguyện vọng
và lợi ích của nhân dân địa phương Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đềuđược xuất phát từ cơ sở và hướng về cơ sở Không ai khác ngoài chính quyền cơ
sở hiểu rõ và đảm nhận vai trò thu thập, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhândân địa phương; đồng thời giúp Nhà nước đề ra các biện pháp tổ chức, quản lýphù hợp với đặc điểm của một địa phương, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa nhân dân địa phương
II ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
1 Quan niệm về cán bộ công chức cấp cơ sở
Trước khi có Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, cán
bộ chính quyền cơ sở là những người công tác tại bộ máy chính quyền xã,phường, thị trấn Đó là những người trực tiếp tham gia quản lý mọi mặt đời sốngkinh tế – xã hội của địa phương, tuy nhiên họ chưa được coi là cán bộ, công chức
Trang 11trong biên chế nhà nước, lương của họ không phải từ ngân sách nhà nước mà do
xã trả
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cơ sở và đội ngũ cán
bộ chính quyền cơ sở, một yêu cầu khách quan đặt ra là: đội ngũ cán bộ xã,phường, thị trấn cần được xếp vào đội ngũ cán bộ, công chức trong biên chế nhànước Chính vì vậy, Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, tạitiết (g) và (h) điều 1 chương I đã quy định cán bộ công chức cấp cơ sở bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đâygọi là cán bộ chuyên trách) gồm các chức danh sau:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ cấp cơ sở (nơi không
có Phó Bí thư chuyên trách công tác Đảng); Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ xã (nơichưa thành lập Đảng uỷ cấp cơ sở);
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm các chức danh:+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng – Thống kê;
+ Địa chính – Xây dựng;
+ Tài chính – Kế toán;
+ Tư pháp – Hộ tịch;
+ Văn hóa – Xã hội
Với quy định mới này địa vị pháp lý của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
có sự thay đổi lớn Quyền hạn và trách nhiệm của họ được quy định chặt chẽhơn, đồng thời yêu cầu đối với họ cũng cao hơn để đảm nhận trách nhiệm doĐảng, Nhà nước và nhân dân giao phó
Trang 122 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
Cán bộ, công chức cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũcán bộ, công chức nước ta Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở đều do cán bộ,công chức cấp cơ sở thực hiện Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đốivới sự nghiệp cách mạng Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) khẳngđịnh trong công cuộc đổi mới đất nước thì: “Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quantrọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ nói chung có vaitrò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở Cấp cơ sở làcấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước trong thực tế Pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt haykhông, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định là ở cơ sở Cấp cơ
sở trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ
sở xã,phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chấtlượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn”
Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm vụ được giao nên ngườicán bộ, công chức cấp cơ sở phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân để triểnkhai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dânđịa phương Như vậy, cán bộ, công chức cấp cơ sở là mắt xích, là chất keo gắnkết nhân dân với Đảng và Nhà nước
Đồng thời, để thực hiện tốt các công việc của mình người cán bộ, côngchức cấp cơ sở phải gương mẫu thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; cókhả năng lĩnh hội và thẩm thấu chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng vàNhà nước để tổ chức tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu và thuyết phụcnhân dân làm theo hay thi hành một cách nghiêm túc Về khía cạnh này, có thểnói người cán bộ, công chức cấp cơ sở không chỉ là người quản lý địa bàn màcòn phải đóng vai trò như một tuyên truyền viên tích cực Do đó chất lượng hoạtđộng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ảnh hưởng đến chất lượng, hiệulực và hiệu quả của chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước khi
đi vào cuộc sống.Mặt khác, do tính chất công việc và vị trí công tác nên ngườicán bộ, công chức cấp cơ sở phải đảm nhận quản lý mọi mặt hoạt động, nhiều
Trang 13lĩnh vực như: quản lý hành chính, lĩnh vực tài chính, đất đai, an ninh trật tự, tưpháp, văn hoá – xã hội… Vì thế, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở khôngnhững quản lý tài sản của quốc gia mà còn đảm bảo quyền và lợi ích chính đángcủa nhân dân, là “quan toà” trong việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân vàgiải quyết các tranh chấp trong thẩm quyền của mình
Thực tiễn cho thấy rằng đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng.Nơi nào quan tâm đầy đủ và làm tốt công tác cán bộ, có đội ngũ cán bộ cơ sởvững mạnh thì nơi ấy tình hình chính trị xã hội ổn định, kinh tế, văn hoá pháttriển, quốc phòng an ninh được giữ vững, cán bộ được dân tin, mọi chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai có kết quả Ngược lại, ở đâuđội ngũ cán bộ cơsở không được quan tâm, đội ngũ cán bộ không đủ năng lực,phẩm chất và uy tín, có những biểu hiện về tham ô, tham nhũng, lãng phí, hốnghách, cửa quyền với dân thì ở đó tình hình sẽ gặp khó khăn thậm chí còn bị kẻxấu kích động, gây rối trở thành những điểm nóng phức tạp, kéo dài
Đội ngũ cán bộ cơ sở cần thiết và có vai trò quan trọng như vậy nhưngkhông phải tự nhiên mà có Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tuỳthuộc vào quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tự rèn luyện một cáchchủ động sáng tạo của từng cá nhân và các cấp bộ Đảng, chính quyền đoàn thể.Quan điểm này được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng Văn kiện Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: “Dành kinh phí thoả đáng cho việcđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũcán bộ cốt cán” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Tăngcường cán bộ cho cơ sở, có chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối vớicán bộ xã, phường, thị trấn để họ hoạt động ngày càng hiệu quả góp phần tíchcực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Do đó, để nâng cao hiệu lực,hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở thì trước hết phải nâng cao chấtlượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở Họ khôngnhững chỉ cần có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn cầnphải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực công tác để hoànthành nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó
Trang 14Vì thế xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở vữngvàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, trong đó nângcao trình độ của đội ngũ này để họ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt độngthực là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của chínhquyền cấp cơ sở.
Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức và cả việc làm chúng ta vẫn còn cónhững ý niệm giản đơn về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, chưa thấy hếtvai trò, tính phức tạp, tính quyết định của họ đối với hoạt động quản lý hànhchính ở cơ sở Người cán bộ hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộcnhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết đểlàm việc, song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin
về chính sách pháp luật Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họcũng chưa tương xứng Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chếnăng lực trình độ quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ ở cơ sở
3 Nguồn hình thành đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở
Đặc điểm cơ bản của chính quyền cơ sở là cấp gần dân nhất, trực tiếp quan
hệ với nhân dân, phạm vi công tác quản lý rộng bao quát nhiều lĩnh vực hoạtđộng như hành chính, kinh tế, an ninh, văn hoá, xã hội ở cơ sở Thực tế cho thấyrằng,nguồn cán bộ cơ sở hiện nay chủ yếu là bộ đội trở về địa phương sau khihoàn thành nghĩa vụ quân sự, cán bộ Nhà nước nghỉ hưu, số còn lại trưởng thành
từ phong trào địa phương và một bộ phận rất nhỏ là cán bộ tăng cường từ cấptrên xuống Đây là một thực tế khách quan, bởi lẽ số thanh niên trưởng thành ởđịa phương ngoài số đi học nghề hoặc đi làm xa, thì số thanh niên đi làm nghĩa
vụ quân sự sau khi trở về địa phương họ sẽ trở thành nguồn cán bộ quan trọngcủa địa phương Họ là những người đã được rèn luyện thử thách trong môitrường quân đội Nên có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trong sạch, giản
dị, quan tâm, chăm lo đến sự nghiệp chung
Tuy nhiên, cũng không thể không có những hạn chế nhất định về trình độ
lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ văn hoá ở nguồn cán bộ này.Đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của họMặtkhác, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền xã, thị trấn phần lớn là người địa
Trang 15phương được hình thành chủ yếu bằng con đường bầu cử Do tính cục bộ nên cácđịa phương thường khó chấp nhận người ở địa phương khác chuyển đến Hơnnữa,sự ảnh hưởng của các quan niệm dòng họ (thường là những dòng họ lớn cóđịa vị uy tín trong xã) và quan hệ huyết thống cũng tác động đến việc hình thànhđội ngũ cán bộ của chúng ta như hiện nay dẫn đến thực trạng về đội ngũ cán bộcòn nhiều vấn đề cần phải quan tâm.
III CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP
CƠ SỞ
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đốivới sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và công cuộc cải cáchhành chính, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng để tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, côngchức cấp cơ sở hiệu quả nhất
a Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2003;
b Nghị định số 114/2003/NĐ – CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chínhphủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
c Thông tư số 03/2004/TT – BNV của Bộ Nội vụ ngày 16 tháng 01 năm
2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ – CP của Chính phủ vềcán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
d Quyết định số 04/2004/QĐ – BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộtrưởng Bộ Nội vụ về việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức
và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ – CP của Chính phủ
về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Trang 16IV CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1 Chất lượng cán bộ công chức
1.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một thuật ngữ đã tồn tại từ lâu trong lịch sử Trong từng giaiđoạn phát triển của sản xuất đã xuất hiện nhiều định nghĩa về chất lượng Sau đây
là một số khái niệm điển hình:
Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402: 2000(Quality Management and Quality Assurance): “Chất lượng là toàn bộ các đặctính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu đãđược công bố hay còn tiềm ẩn”
Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á (European Quality ControlOrganization): “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu người tiêu dùng”.Theo tiêu chuẩn Pháp: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”
Theo Giáo sư P B Crosby: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”
Theo J M Juran, một chuyên gia về chất lượng nổi tiếng của Mỹ: “Chấtlượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với các nhu cầu củakhách hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng”
Nhưng dù tiếp cận theo cách nào cũng phải đảm bảo: phù hợp với tiểuchuẩn đã được công bố, phù hợp với những đòi hỏi của người sử dụng, sự kếthợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người tiêu dùng Đó là yêu cầu không thể thiếuđược để đánh giá chất lượng của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó
Trang 17luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên để họ thấm nhuầnđạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư.Đặt chữ
“đức” lên hàng đầu, nhưng Bác Hồ vẫn luôn coi trọng cái “tài” Người nhìn nhận
“đức” và “tài” trong mối quan hệ biện chứng, như hai mặt không thể tách rờitrong một nhân cách hoàn thiện: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”,nhưng “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
Theo đó, chất lượng cán bộ, công chức ở đây được xem xét một cách toàndiện từ trình độ, năng lực; kỹ năng, phương pháp làm việc; hiệu quả thực thicông vụ; phẩm chất, đạo đức cán bộ, công chức; văn hoá ứng xử cho đến sứckhoẻ (thể chất, tâm lý) của họ Trong đó, yếu tố trình độ; yếu tố hiệu quả thực thicông vụ và yếu tố phẩm chất, đạo đức cán bộ, công chức được xem là quan trọngnhất để xem xét chất lượng cán bộ, công chức Ta có thể hiểu rõ hơn khái niệm
về chất lượng cán bộ, công chức qua việc tìm hiểu các hình thức biểu hiện chấtlượng cán bộ công chức cấp cơ sở dưới đây
2 Một số hình thức biểu hiện chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở
Trình độ của cán bộ, công chức cấp cơ sở
Trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là mức độ đạt được vềbằng cấp và mức thành thạo ở lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương cấp cơ sở.Căn cứ vào đặc thù hoạt động và phạm vi lĩnh vực công tác, cán bộ, công chứccấp cơ sở cần có các loại trình độ sau:
bộ năng lực và hiệu quả làm việc nhưng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng, đồng thời
Trang 18cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của độingũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Hạn chế về trình độ học vấn sẽ làm hạn chế khảnăng của người cán bộ, công chức trong hoạt động công tác như: hạn chế khảnăng tiếp thu, lĩnh hội đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng
và Nhà nước, sự chỉ đạo của cấp trên; làm hạn chế khả năng phổ biến những chủtrương, chính sách đó cho nhân dân; làm hạn chế năng lực tổ chức triển khai,kiểm tra, đôn đốc, vận động quần chúng…
b Trình độ chuyên môn là mức độ đạt được về một chuyên môn, mộtngành nghề nào đó Đây là những kiến thức trực tiếp phục vụ cho công việcchuyên môn của người cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức, những ngườithực hiện một công vụ thường xuyên trong cơ quan hành chính nhà nước
c Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được trong hệ thống những kiếnthức lý luận về lĩnh vực chính trị, lĩnh vực giành và giữ chính quyền, bao gồmcác kiến thức về quyền lực chính trị, đảng phái chính trị, đấu tranh chính trị… Hệthống kiến thức này trang bị và củng cố lập trường giai cấp, lập trường quanđiểm của Đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam Nó giúp cho mỗi cán bộ,công chức cấp cơ sở có quan điểm và lập trường đúng đắn trong quá trình thựchiện nhiệm vụ của mình
d Trình độ quản lý nhà nước là mức độ đạt được trong hệ thống tri thức vềlĩnh vực quản lý nhà nước, bao gồm các kiến thức về hệ thống bộ máy nhà nước,pháp luật, nguyên tắc, công cụ…quản lý nhà nước Hệ thống kiến thức này giúpngười cán bộ, công chức hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ của mình là gì và thực hiệnnhư thế nào, cụ thể là họ được làm những gì và không được làm những gì; công
cụ quản lý, kỹ năng và phương pháp điều hành ra sao, hiểu được sự vận hành của
hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và ở cơ sở nói riêng, từ đó thực thicông việc đúng pháp luật và có hiệu quả
e Trình độ tin học là mức độ đạt được về những kiến thức, những kỹ năngtrong lĩnh vực tin học Hiện nay, trong thời đại công nghệ thông tin, trong xu thếhội nhập, toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế, việc trang bị kiến thức về tin học đốivới cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp cơ sở nói riêng lạicàng trở nên cấp thiết Bởi mọi công việc từ việc quản lý hồ sơ, văn bản đến việc
Trang 19giải quyết công việc đều thông qua hệ thống máy tính và mạng internet Máy tính
và kỹ thuật tin học là những công cụ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng caohiệu quả công việc, nó giúp cho công việc được tiến hành nhanh chóng và chínhxác, làm tăng năng suất lao động và giảm bớt công việc cho người cán bộ, côngchức cấp cơ sở Những kiến thức tin học mà cán bộ, công chức cơ sở cần nhấthiện nay đó là tin học cơ bản, tin học văn phòng (Word, Excel); những kiến thức
về kế toán máy, kế toán tổng hợp,…
Tóm lại, đây là những kiến thức cơ bản mà một người cán bộ, công chứcnói chung hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhà nước trong hệ thống cơ quan nhànước cần phải có để có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo yêucầu của vị trí công tác
Hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ công chức
Kết quả thực hiện nhiệm vụ là tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình thực thihoạt động quản lý nhà nước, là tiêu chí cơ bản phản ánh năng lực thực thi hoạtđộng quản lý nhà nước của cán bộ, công chức Kết quả thực hiện nhiệm vụ baogồm kết quả thực hiện nhiệm vụ riêng của cá nhân, kết quả thực hiện nhiệm vụchung của tập thể Kết quả thực hiện nhiệm vụ còn được xem xét trên nhiều khíacạnh khác nhau ví dụ như kết quả thực hiện một vụ việc; kết quả thực hiện nhiệm
vụ trong ngày, kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng, trong năm, trong nhiệm kỳ.Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hộivốn rất phong phú và đa dạng Chính vì vậy, đánh giá kết quả thực thi hoạt độngquản lý nhà nước cũng hết sức đa dạng Có sản phẩm làm ra được kết quả ngay,
ví dụ như các quyết định xử phạt hành chính, nhưng cũng có những sản phẩmphải đến một năm thậm chí phải một thời gian dài mới có thể đánh giá được kếtquả ví dụ như kết quả thực hiện Nghị quyết của HĐND về kinh tế – xã hội, anninh, quốc phòng hàng năm hay như cho vay xoá đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở
hạ tầng
Thông thường, việc đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ của một cơ quanhoặc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của một cán bộ, công chức được tổchức đánh giá trong thời gian một năm.UBND xã thực thi hoạt động quản lýhành chính nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản:
Trang 20- Ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước mà UBND xã đượcphép ban hành.
- Triển khai các hoạt động quản lý hành chính cũng như cung cấp dịch vụ côngcho xã hội, công dân hay cho khách hàng có nhu cầu (hoạt động hành chính)
Chất lượng hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước nóichung và của UBND xã nói riêng trong nhóm thứ nhất được quyết định bởi chấtlượng của các văn bản quản lý hành chính Nhà nước mà UBND xã ban hành.Như vậy, hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức xã chính là chất lượngcủa các loại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND
xã và các quyết định hành chính của Chủ tịch UBND xã
Trong nhóm thứ hai, hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức xãđược thể hiện thông qua chất lượng của các dịch vụ công mà UBND xã phảicung cấp theo quy định của pháp luật như: chứng thực, hộ tịch, đất đai,…Chấtlượng của những dịch vụ công này được đánh giá dựa trên những tiêu chí cụ thểnhư: Việc thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ công của cán bộ, công chức
có tuân thủ theo những quy trình bắt buộc theo quy định của pháp luật haykhông; cách làm của họ đã hợp lý, hiệu quả hay chưa; người dân (người sử dụngcác loại dịch vụ này) có nhận xét và đánh giá gì, mức độ hài lòng và thoả mãncủa họ,…
Hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức cũng phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, đó là:
- Năng lực của cán bộ công chức (trong đó có trình độ, kỹ năng làm việc,phương pháp làm việc, tác phong);
- Kiến thức thực tế;
- Sức khoẻ (thể chất, tâm lý);
- Năng khiếu bẩm sinh;
- Các điều kiện khách quan như: cơ chế, chính sách, pháp luật; cơ sở vậtchất kỹ thuật; chế độ đãi ngộ;…
Như vậy hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức thể hiện một cáchtrực tiếp nhất việc nhận thức, khả năng giải quyết công việc, phương pháp và kỹnăng làm việc cũng như kết quả giải quyết công việc của cán bộ, công chức
Trang 21Đạo đức công vụ
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc xử lý các mối quan hệ trong giađình, cộng đồng hay xã hội, được thừa nhận rộng rãi Đạo đức quy định hành vi,quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội nói chung; Là nhữngnguyên lý (nguyên tắc) phải tuân theo trong quan hệ giữa người với người, giữa
cá nhân với xã hội, phù hợp yêu cầu của mỗi chế độ chính trị và kinh tế xã hộinhất định
Theo đó, đạo đức công vụ là đạo đức của cán bộ, công chức trong khi thựcthi nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, những chuẩn mực quy địnhnghĩa vụ của những người thừa hành Người công chức có đạo đức công vụ là thểhiện lương tâm và trách nhiệm của mình vì lợi ích chung và lợi ích của ngườikhác, ý thức rõ về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi íchđó.Ở nước ta, khái niệm này vẫn còn mơ hồ và chưa được luật hoá cụ thể Đây làvấn đề luôn được quan tâm, xem xét và nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.Tuy nhiên, đạo đức công vụ là biểu hiện rất quan trọng của chất lượng cán bộ,công chức nói riêng và tính hiệu quả của nền hành chính nói chung Bởi nếu cóđạo đức công vụ và có ý thức cao về đạo đức công vụ thì cán bộ, công chức sẽthực hiện nhiệm vụ một cách trung thực và không vụ lợi cá nhân, bằng hết khảnăng với tinh thần tận tụy, nhiệt tình phải luôn đúng giờ và tận dụng tối đa thờigian cho công việc; bảo vệ và sử dụng an toàn, tiết kiệm tài sản công; có thái độ
cư xử đúng mực và phải luôn hoàn thiện; lấy hiệu quả công việc làm niềm vui, lẽsống và là động cơ để phấn đấu Với những cán bộ, công chức như vậy sẽ gópphần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, nền hành chính hiệu lực, hiệu quả vàtrong sạch
Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, công chức quan liêu, hách dịch, thamnhũng; tha hóa về đạo đức, lối sống sẽ làm suy giảm uy tín của Đảng và niềm tincủa nhân dân đối với Nhà nước, làm suy yếu đội ngũ cán bộ công chức cũng nhưlàm giảm hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính
Phương pháp và kỹ năng làm việc của cán bộ công chức
Phương pháp giải quyết công việc là cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụhay một chủ trương, chính sách, một công việc cụ thể Nếu nhiệm vụ là việc phải
Trang 22làm tức là trả lời cho câu hỏi “làm gì?” thì phương pháp là cách thức phải làmtức là trả lời cho câu hỏi “làm như thế nào?” để đạt hiệu quả cao nhất.
Phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ là tiêu chí đánh giá quá trình “xử lý”
để đạt được kết quả đầu ra của thực thi hoạt động quản lý nhà nước Sẽ thật thiếusót nếu như đánh giá năng lực làm việc của cán bộ, công chức chỉ xem xét kếtquả mà không xem xét phương pháp làm việc Nếu như trình độ kiến thức là nềntảng giúp cán bộ quản lý, điều hành đạt “lý” thì phương pháp giúp cán bộ quản lýđiều hành đạt “tình” Người cán bộ có trình độ kiến thức, có phương pháp hoạtđộng tốt sẽ thực thi hoạt động quản lý nhà nước “thấu tình đạt lý”, hợp lòng dân,
có khả năng khơi dậy sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, được nhân dân tin yêu.Ngược lại, nếu có trình độ kiến thức mà không có phương pháp hoạt động tốt,phù hợp thì công việc khó hoàn thành, hoặc có hoàn thành nhưng khả năng phátsinh các vấn đề khiếu nại, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân sẽ gây ra những hậuquả đáng tiếc hoặt mất lòng dân
Phương pháp giải quyết công việc thể hiện phong cách, thái độ ứng xử và
sự sáng tạo của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ Với mỗi việc phátsinh, người cán bộ công chức có nhận định, đưa ra cách giải quyết hiệu quả nhấthoặc với mỗi đối tượng có cách ứng xử phù hợp Với kết quả giải quyết côngviệc như nhau nhưng người có phương pháp tốt sẽ cho kết quả trong thời gianngắn nhất, kết quả đạt được sẽ có sức thuyết phục cao, được nhân dân hài lònghơn, tin tưởng hơn.Kỹ năng trong thực thi hoạt động quản lý nhà nước của cán
bộ, công chức là khả năng vận dụng khéo léo, thành thạo những kiến thức vàkinh nghiệm thu được trên một lĩnh vực nào đó vào thực tế Trong thực thi hoạtđộng quản lý nhà nước đòi hỏi rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng quản lý (thu thập
và xử lý thông tin, phân tích, hoạch định, ra quyết định, tổ chức, kiểm tra, đánhgiá); kỹ năng lễ tân giao tiếp; kỹ năng vận động quần chúng; kỹ năng sử dụngcác thiết bị văn phòng; kỹ năng sử dụng các thiết bị nghiệp vụ; kỹ năng tácnghiệp Mỗi công việc, mỗi chức trách đòi hỏi có những kỹ năng khác nhau, ởnhững mức độ khác nhau
Như vậy, phương pháp và kỹ năng của cán bộ, công chức thể hiện chấtlượng thực tế của cán bộ, công chức đó trong hoạt động công vụ của họ
Trang 23Một số hình thức biểu hiện khác
Chất lượng của cán bộ, công chức còn được thể hiện thông qua một số tiêuchí thuộc về thể lực, thể chất của mỗi cán bộ, công chức như: Sức khoẻ (thể chất,tâm lý), độ tuổi, thâm niên công tác,…
Những tiêu chuẩn này đã được quy định trong Pháp lệnh cán bộ, công chứcsửa đổi, bổ sung năm 2003
Sức khoẻ của mỗi con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu chí
cơ bản là thể lực và trí lực Thể lực được đánh giá thông qua sức mạnh cơ bắp,còn trí lực được đánh giá thông qua sự minh mẫn, linh hoạt trong phản ứng, tronggiải quyết công việc Nếu chỉ có trình độ năng lực chuyên môn mà không có mộtsức khỏe dẻo dai, bền bỉ thì cũng không thể biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạtđộng thực tiễn được Một người có kiến thức, có năng lực được đào tạo cơ bản, cónhiệt tình tâm huyết với công việc, có sự tín nhiệm của mọi người nhưng quanh nămđau ốm, như vậy thì không thể đảm đương được công việc được giao Hơn nữa, cấp
xã, phường là cấp trực tiếp giải quyết các công việc mà không qua một cấp trunggian nào khác, mọi công việc phải tự mình đảm nhiệm Bởi thế sự phát triển bìnhthường về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khoẻ mạnh cũng là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của người cán bộ ở cơ sở
Mặt khác, độ tuổi hay thâm niên công tác cũng biểu hiện phần nào năng lựccủa người cán bộ, công chức Thông thường tuổi càng cao, thâm niên công táccàng lâu thì kinh nghiệm của cán bộ, công chức càng nhiều, dày dạn, họ đã tíchluỹ được nhiều kiến thức, nhiều kỹ năng, phương pháp để giải quyết công việcnhanh chóng, hiệu quả Tuy nhiên, độ tuổi cũng chỉ là một tiêu chí phản ánh chấtlượng cán bộ công chức một cách tương đối Một số những người trẻ tuổi họcũng rất ham hiểu biết, trình độ, năng lực của họ khá cao mặc dù họ chưa cónhiều kinh nghiệm thực tế Vì vậy cần phải nắm được những đặc điểm này để sửdụng cán bộ, công chức cho phù hợp với từng vị trí và năng lực, trình độ củatừng người trong mỗi cơ quan, tổ chức
Trang 243 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở
Cơ chế hình thành đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
Đây được coi là nhân tố đầu tiên, ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũcán bộ, công chức cấp cơ sở Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng việc lựa chọncán bộ, tuyển chọn công chức đúng tiêu chuẩn, khách quan thì sẽ xây dựng đượcmột đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có trình độ, năng lực và ngược lại Theoquy định của pháp luật, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở được hình thành theo cơ chếbầu, đội ngũ công chức cấp cơ sở được hình thành từ cơ chế tuyển dụng.Cơ chếbầu đội ngũ cán bộ cấp cơ sởTheo Luật bầu cử HĐND và UBND năm 2003 thì
có hai phương thức để tham gia ứng cử vào HĐND cấp cơ sở là: thứ nhất, do các
tổ chức cơ sở giới thiệu và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành hiệp thương đểđưa vào danh sách bầu cử; thứ hai, công dân địa phương từ đủ 21 tuổi trở lên và
có đủ điều kiện theo quy định thì được tự ứng cử và cũng được Mặt trận Tổ quốcViệt Nam tiến hành hiệp thương để đưa vào danh sách bầu cử, công dân địaphương từ đủ 18 tuổi trở lên và đủ năng lực pháp luật sẽ tham gia bầu cử lựachọn ra những người ưu tú nhất vào cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Cơ quan hành chính cấp trên phê chuẩn kết quả bầu cử HĐND khoá mới sẽ tiếnhành họp để bầu ra các thành viên của UBND, Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịchHĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND.Như vậy theo cơ chế hình thànhđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở như trên thì có thể thấy trình độ của đội ngũcán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phụ thuộc rất nhiều yếu tố
Thứ nhất, phụ thuộc vào mặt bằng dân trí của nhân dân địa phương Ở đâu
có mặt bằng dân trí cao thì ở đó có đội ngũ đại biểu HĐND có trình độ cao, từ đó
có đội ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ cao và ngược lại Vì thông thường đạibiểu HĐND là những công dân ưu tú của địa phương, đại diện cho nhân dân địaphương tại cơ quan quyền lực nhà nước
Thứ hai, phụ thuộc vào chất lượng công tác lựa chọn ứng cử viên và hiệpthương vào danh sách bầu cử của các tổ chức có trách nhiệm Việc giới thiệu vàtiến hành hiệp thương mà khách quan và lựa chọn được những người đủ tiêuchuẩn thì chất lượng của đại biểu được đảm bảo và ngược lại
Trang 25Thứ ba, phụ thuộc vào sự lựa chọn sáng suốt của cử tri địa phương Nếu cử triđịa phương sáng suốt lựa chọn được những đại biểu ưu tú, đủ đức, đủ tài thì chínhquyền địa phương sẽ có đội ngũ cán bộ chủ chốt có chất lượng và ngược lại
Tuy nhiên vấn đề này lại phụ thuộc vào đánh giá của cử tri đối với ứng cử viên
và ý thức của cử tri đối với cuộc bầu cử Điều này lại phụ thuộc vào chất lượng củacác cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên và cử tri; phụ thuộc vào công tác vận động, tuyêntruyền về mục đích, ý nghĩa của cuộc bầu cử và trách nhiệm của cử tri
Thứ tư, phụ thuộc vào sự lựa chọn sáng suốt của các đại biểu HĐND đối vớicác chức danh chủ chốt trong các cơ quan chính quyền.Cơ chế tuyển dụng côngchức cấp xãTrước Nghị định 114/2003/NĐ – CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 củaChính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, cán bộ chuyên môn cấp xã
đã được hình thành bằng con đường tuyển dụng như công chức các cấp, các ngành.Trình độ của đội ngũ công chức cấp xã phụ thuộc vào chất lượng của quy trìnhtuyển dụng Nếu công tác tuyển dụng đúng quy định, lựa chọn được những côngchức đủ tiêu chuẩn chức danh thì sẽ có một đội ngũ công chức có trình độ chuyệnmôn, có kỹ năng nghiệp vụ… để hoàn thành tốt công vụ được giao
Chính sách về đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cấp cơ sở
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng caotrình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở.Đào tạo, bồi dưỡng là conđường duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức trong điều kiện đội ngũ cán bộcông chức cấp cơ sở bị thiếu hụt nhiều về kiến thức như hiện nay Mặc dù trình
độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có ở mức thấp nhưng nếu được quantâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên thì họ sẽ có Khóa chuyên môn vững vàng,trình độ lý luận chính trị và trình độ quản lý nhà nước đáp ứng tiêu chuẩn Mặtkhác, đào tạo, bồi dưỡng cũng góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ củacán bộ, công chức cấp cơ sở ở những lĩnh vực mà cán bộ,công chức còn yếu vàthiếu Và nó giúp cho cán bộ, công chức nâng cao, nhận thức rõ hơn về đạo đứccông vụ, về những giá trị, chuẩn mực đạo đức mà họ phải làm.Tuy nhiên, để độingũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có thể tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡngkiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước có vai trò tác động rấtquan trọng Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ thuộc vào các
Trang 26vấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảngviên; Chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, tiền học phí, thời gian; Cơchế đảm bảo sau khi đào tạo, để tránh lãng phí trong đào tạo.
Yếu tố văn hoá địa phương
Nền văn hóa của một địa phương được kết tinh từ nhiều yếu tố Đó lànhững giá trị, niềm tin, những thói quen, trong đó không thể không kể đến nhữngtruyền thống tốt đẹp của địa phương đặc biệt là truyền thống hiếu học của cácdòng họ Nền văn hoá địa phương tuy không ảnh hưởng trực tiếp nhưng nó giántiếp ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơsở.Thực tế là ở đâu có truyền thống hiếu học thì ở đó có mặt bằng dân trí cao,nguồn nhân lực có trình độ cao Ở đâu có sự cạnh tranh giữa các dòng họ trongviệc tạo uy danh cho dòng họ thì ở đó đặt ra yêu cầu đối với những người thuộcdòng tộc trong việc hình thành chí hướng phấn đấu, tiến thủ trên con đường sựnghiệp công danh, trong việc đảm trách những chức vụ quan trọng trong chínhquyền
Tuy nhiên, nếu sự cạnh tranh này là lành mạnh thì sẽ tạo ra một cơ cấu độingũ cán bộ công chức cấp cơ sở có trình độ, năng lực Còn nếu có sự cạnh tranhthiếu lành mạnh, thủ cựu thì sẽ tạo ra một cơ cấu chính quyền bè phái, tranhgiành quyền lực với mọi thủ đoạn Ở đâu có nền văn hoá lạc hậu, an phận thủthường thì ở đó sẽ chậm đổi mới, không tiếp thu được những văn minh của xãhội hiện đại, chậm tiến Nền văn hoá như vậy cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đếnthói quen, tâm lý ỷ lại, bảo thủ trì trệ… của các nhà lãnh đạo, nó làm cản trở tiếntrình phấn đấu nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Có thểthấy các làng văn hoá, xã văn hoá là những nơi có các gia đình văn hoá, nhân dân
ở các địa phương đó có trình độ dân trí cao, cùng đoàn kết nhất trí xây dựng đờisống văn hoá mới; có niềm tin vào sự phát triển của làng, xã; có lối sống vănminh, tiến bộ Những điều đó là kết quả của việc lãnh đạo sâu sát của cấp chínhquyền cơ sở; sự chỉ đạo sáng suốt, nhiệt tình, và sự năng động của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở cũng như nhận thức tiến bộ của người dân Chính nhữnggiá trị văn hoá tốt đẹp đó đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ, công chức cấp
cơ sở vừa hồng vừa chuyên, vừa có trình độ cao vừa có phẩm chất đạo đức tốt
Trang 27Còn ở những nơi nhân dân không nhất trí, đồng lòng; không hợp tác, giúp đỡnhau; không có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cơ sở chứng
tỏ nội bộ chính quyền xã lục đục, chia rẽ, mất đoàn kết hay năng lực cán bộ lãnhđạo yếu kém, nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra, hoạt động công vụ của cán bộ,công chức không hiệu quả Và những giá trị văn hoá không tích cực đó đã sảnsinh ra những con người, những cán bộ, công chức quan liêu, hách dịch, cửaquyền, cá nhân chủ nghĩa, sách nhiễu nhân dân; trở thành những “quan thamcách mạng”
Như vậy, nền văn hoá địa phương có thể ảnh hưởng tốt hoặc không tốt đếnkhuynh hướng phấn đấu của mọi người dân địa phương nói chung và với đội ngũcán bộ, công chức cấp cơ sở nói riêng
3.4 Chế độ chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối với đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở
Chế độ chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối với đội ngũ cán bộ, côngchức cấp cơ sở bao gồm các chế độ, chính sách như: tiền lương, phụ cấp, tiềnthưởng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… Đây chính là một trong những yếu tốthúc đẩy sự tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân cũng như là động lực, là điều kiệnđảm bảo để họ phấn đấu nâng cao trình độ, năng lực trong việc hoàn thành tốtcông việc được giao.Khi các chế độ, chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối vớiđội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở được đảm bảo sẽ tạo nên những tiền đề vàđộng lực sau:
Thứ nhất, đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống cần thiết cho cán bộ,công chức cấp cơ sở và gia đình họ; Thứ hai, đây là điều kiện để mỗi cán bộ,công chức cấp cơ sở có thể học tập để nâng cao trình độ; Thứ ba, nó là mục tiêu,động lực phấn đấu, cạnh tranh của nhiều người trong việc nâng cao trình độ,năng lực.Thực tế cho thấy chỉ khi con người được đảm bảo các nhu cầu tối thiểucho cuộc sống hàng ngày thì con người mới nghĩ đến những nhu cầu cao hơn.Cũng vậy, chỉ khi người cán bộ, công chức cấp cơ sở được đảm bảo về kinh tế,đảm bảo về các phúc lợi xã hội họ được hưởng thì họ mới có thể nghĩ đến việchọc tập để nâng cao trình độ Ngoài ra, khi cán bộ, công chức cấp cơ sở đã có các
Trang 28điều kiện thuận lợi hay đảm bảo; có động lực để phấn đấu thì cũng thúc đẩy đượcviệc học tập nâng cao trình độ của họ.
Chính vì vậy, chế độ, chính sách đảm bảo lợi ích vật chất vừa là điều kiện,vừa là động lực đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở trong việc nâng caotrình độ
Yếu tố nhận thức của cán bộ, công chức
Đây chính là yếu tố cơ bản và quyết định nhất chất lượng của mỗi cánbộ,công chức nói riêng và đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở nói chung bởi vì nó làyếu tố chủ quan, yếu tố nội tại bên trong của mỗi con người Nhận thức đúng làtiền đề, là kim chỉ nam cho những hành động, những việc làm đúng đắn, khoahọc và ngược lại Nếu người cán bộ, công chức nhận thức được vai trò, tầm quantrọng của việc phải nâng cao trình độ để giải quyết công việc, để tăng chất lượngthực thi công vụ thì họ sẽ tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng một cách tích cực,ham mê và có hiệu quả Họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi, học hỏinhững kiến thức, kỹ năng mới, những phương pháp làm việc có hiệu quả Nếu họbiết được vấn đề nâng cao đạo đức công vụ là hết sức quan trọng, là cái mà nhìnvào đó người ta có thể đánh giá được chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức,tính hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính hiện có thì họ sẽ luôn có ý thức để rènluyện, tu dưỡng đạo đức, phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững đạo đức,phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm
Ngược lại, khi cán bộ, công chức còn xem thường những chuẩn mực đạođức, nhân cách, nên thiếu nghiêm khắc với bản thân, không thường xuyên rènluyện, tu dưỡng, dùi mài tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến việc mắc bệnh quan liêu,mệnh lệnh, chủ quan, tự tư, tự lợi, tư tưởng cục bộ, địa phương; phai nhạt lý tưởng,mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về đạo đức, lốisống Từ đó, dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà đốivới nhân dân và lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước và nhân dân giaophó để nhận hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêuchuẩn đích thực của người cán bộ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụnglàm suy giảm uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước
Trang 29Như vậy, nhận thức là vấn đề đầu tiên cần quan tâm trong việc nâng caochất lượng cán bộ công chức cấp cơ sở cũng như các cấp khác trong bộ máy nhànước hiện nay.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ HUYỆN NÔNG SƠN TỈNH QUẢNG NAM
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN NÔNG SƠN TỈNH QUẢNG NAM
Nông Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam được chia tách từhuyện Quế Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chínhphủ, có điều kiện địa lý: Phía Bắc giáp với huyện Duy Xuyên và Đại Lộc, phíaNam giáp với huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn, phía Đông giáp với huyệnQuế Sơn, phía Tây giáp với huyện Nam Giang; có diện tích 457,92 km² Toànhuyện có 7 xã, 39 thôn, dân số là 31.662 người Trung tâm hành chính huyện đặttại thôn Trung Phước 1, xã Quế Trung
Bản đồ huyện Nông Sơn
Trang 30Nông Sơn có tỉ lệ hộ nghèo (55,88%), hộ cận nghèo (27,76%) cao Trongnhững năm qua, được sự hỗ trợ của trung ương, tỉnh cùng với sự nỗ lực phấn đấucủa Đảng bộ và nhân dân trong huyện, nhiều chương trình phát triển kinh tế-xãhội được đầu tư và triển khai thực hiện đạt được một số kết quả nhất định trêncác lĩnh vực kinh tế, xã hội; an ninh quốc phòng; công tác xây dựng Đảng Việc
thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”đã góp phần xây dựng các thiết chế
văn hóa, sự hưởng thụ các giá trị văn hóa được nâng lên; đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân ngày càng được cải thiện Sau gần 5 năm (2008-2012) tiếp tụctriển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “Xây dựng và pháttriển nền Văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, huyện Nông Sơn
đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảngviên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước,trọng tâm là hướng vào thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa ở khu dân cư” Đồng thời, củng cố xây dựng và hoàn thiện môitrường văn hóa, các thiết chế văn hóa, tập trung xây dựng con người văn hóa,
Trang 31môi trường văn hóa Qua đó, đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhậnthức, hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, cán bộ,đảng viên và nhân dân trong toàn huyện Nếu như năm 2008, sau khi chia táchhuyện Quế Sơn để thành lập mới huyện Nông Sơn, toàn huyện có 5.692 hộ đạt
“Gia đình văn hóa” (bằng 81% số hộ đăng ký); 12/31 thôn được công nhận danhhiệu “Thôn văn hoá” cấp huyện (38,7%); 22 cơ quan đạt tiêu chuẩn cơ quan vănhóa thì đến năm 2012 có 6.805 hộ đạt “Gia đình văn hóa” (bằng 88,3%), 26/39thôn đạt “Thôn văn hóa” (bằng 66,7%) và 70 cơ quan đạt tiêu chuẩn “Đơn vị cơ
sở có đời sống văn hóa tốt” Đến nay, toàn huyện có 30/39 thôn có nhà sinh hoạtcộng đồng; 16 sân bóng đá, 28 sân bóng chuyền, trong đó có 13 sân được bê tônghóa, 4 sân cầu lông, 7 đội bóng đá, 14 đội bóng chuyền nam, nữ nòng cốt của các
xã, 62 đội văn nghệ quần chúng; 3/7 xã có trạm truyền thanh với trên 50 loaphóng thanh, 82 cổng chào kiên cố, 3/7 xã có Bưu điện văn hóa xã, có 7 tủ sáchpháp luật tại UBND các xã Nông Sơn là nơi hội tụ của nhiều phong tục, tậpquán Phong phú về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội Nơi đây cũng làvùng đất học với nhiều nhà tri thức nổi tiếng như “Tứ kiệt” Nguyễn Đình Hiến,bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linh v.v…NôngSơn xưa là căn cứ địa cách mạng Những địa danh lịch sử như: Tân Tỉnh -TrungLộc, của cụ Hường Hiệu, thời kỳ 1885-1887; Khu chiến Hoàng Văn Thụ, thời kỳ1946-1954…ghi dấu một thời oanh liệt của bao thế hệ cách mạng anh hùng đãlập nên nhiều chiến công vang dội; góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻvang của quê hương, dân tộc, làm cho kẻ thù khiếp vía Bia chiến thắng NôngSơn – Trung Phước (18/7/1974) là minh chứng cho tinh thần chiến đấu quậtcường, dũng cảm, khó khăn không sờn lòng, hiểm nguy không lùi bước, củaquân và dân Nông Sơn trong cuộc kháng chiến trường kỳ…
Ngoài ra huyện còn có các đơn vị trực thuộc gồm 12 phòng, ban quản lýNhà nước, 6 đơn vị sự nghiệp, trường THCS, Tiểu học, Mầm non và các tổ chức
xã hội khác Với đặc điểm tự nhiên và xã hội như vậy thực hiện chức năng quản
lý nhà nước UBND huyện đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhđồng thời nâng cao chất lượng trong việc sắp xếp cơ cấu tổ chức và hoạt độngcủa cơ quan, cũng như nâng cao hiệu quả làm việc của toàn bộ bộ máy trong đó
Trang 32đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò quan trọng đặc biệt là đối với công tác tổchức cán bộ Với hơn 90% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trongđiều kiện hội nhập hiện nay sử dụng hợp lý và phát huy có hiệu quả năng lực độingũ cán bộ công chức hiện có là yếu tố quan trọng hàng đầu để thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội của huyện Đó là công việc nhằm giải quyết, quản lý các hoạtđộng kinh tế xã hội của huyện sao cho hợp lý và hiệu quả nhất, phát huy đượcnhững điểm mạnh, lợi thế của huyện đồng thời khắc phục những hạn chế, khókhăn mà huyện đang gặp phải Huyện ủy Nông Sơn đã đề ra 6 nhiệm vụ và 7nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện Nghịquyết Trung ương 5 (khoá VIII) gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ XI về phát triển văn hoá nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu,động lực phát triển kinh tế- xã hội Trong đó, chú trọng tăng cường sự lãnh đạo,chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác văn hoá, đẩy mạnh công tác thôngtin, tuyên truyền gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh”; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá
II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ
SỞ HUYỆN NÔNG SƠN
Toàn huyện Nông Sơn có 275 cán bộ, công chức cấp cơ sở, trong đó có142cán bộ chuyên trách và 133 công chức cấp xã; trung bình mỗi xã có trên 19cán bộ, công chức là mức đạt chuẩn về số lượng theo Nghị định số 121/2003/NĐ– CP ngày 21/10/2004 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ côngchức cấp xã, phường, thị trấn
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY UBND HUYỆN