Thực trạng sự vận dụng cơ sở khoa học của qua trình phân công và hiệp tác lao động trong Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên.1. Giới thiệu chung ( địa điểm, hoạt động kinh doanh)Công ty Cổ phần Du lịch Kim Liên ngày nay được thành lập năm 1961, tiền thân là khách sạn Bạch Mai Toạ lạc trên diện tích 3,5ha tại số 5 + 7 phố Đào Duy Anh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội ngay giữa Trung tâm thành phố, với tổng số 9 toà nhà gồm 437 phòng và 5 Nhà hàng. Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên có thể phục vụ hàng nghìn lượt khách ăn, ở cùng lúc. . Năm 1993, Công ty trực thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam, làm nhiệm vụ kinh doanh khách sạn, lữ hành quốc tế, ăn uống, vui chơi giải trí, thương mại xuất nhập khẩu, đầu tư ứng dụng công nghệ ... Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên đã được Bác Hồ (2 lần), Bác Tôn Đức Thắng, nguyên Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, nhà nước về thăm1.1. Lịch sử phát triển và thành tích đạt đượcQua 5 lần đổi tên, khách sạn được đổi tên thành Công ty cổ phần du lịch Kim Liên (khách sạn Kim Liên) Hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn của khu vực. Đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, nhiệt tình, chu đáo cùng kinh nghiệm 50 năm hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng. Khách sạn Kim Liên đã dành được nhiều phần thưởng cao quý. Đặc biệt, năm 2006 Khách sạn Kim Liên vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao độngCác thành tích:Năm 2000: Huân chương Lao động hạng I cho tập thể công ty Năm 2001: Huân chương chiến công hạng III cho tập thể công ty.Năm 2004: Huân chương chiến công hạng II cho tập thể công ty .Năm 2006: Đơn vị Anh hùng Lao động.Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua ngành Du lịch các năm 1998, 1999, 2000, 2001, 2002,2003, 2004, 2005.Từ năm 1999 đến năm 2005 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Công ty được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen, năm 2004 được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.Với những thành tích dáng tự hào mà khách sạn Kim Liên đã đạt được. Tập thể cán bộ nhân viên khách sạn sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp để giữ vững thương hiệu. Khách sạn Kim Liên luôn là địa chỉ thân thiết, là điểm đến tin cậy của quý khách gần xa
Trang 1Mở bài
Tâm lý học lao động là một môn khoa học chuyên ngành nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và biến đổi của các hiện tượng tâm lý con người trong lao động để tiến hành tổ chức lao động khoa học, đưa ra các thể chế lao động nhằm sử dụng có hiệu quả người lao động
và mang lại hạn phúc cho họ Trong các doanh nghiệp để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được những thành công cần thực hiện công tác phân công và hiệp tác lao động một cách hiệu quả nhất Để thực hiện phân công và hiệp tác lao động trước hết ta phải nghiên cứu phân tích những cơ sở khoa học của quá trình phân công và hiệp tác lao động để thực hiện được hiệu quả tối ưu nhất
Trang 2I Cơ sở lý thuyết.
1 Các khái niệm chung về phân công và hiệp tác lao động.
- Phân công lao động là một quá trình tách riêng các loại lao động khác nhau theo một tiêu thức nhất định trong một điều kiện xác định, mà thực chất là chia quá trình sản xuất – kinh doanh thành các bộ phận và giao cho mỗi cá nhân phù hợp với năng lực sỏ trường và đào tạo của họ để tạo tiền đề nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh
- Hiệp tác lao động là một quá trình mà ở đó nhiều người cùng làm việc trong một quá trình sản xuất, hay ở nhiều quá trình sản xuất khác nhau nhưng có liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau để nhằm một mục đích chung
2 Các hình thức phân công và hiệp tác lao động.
2.1 Các hình thức phân công
Phân công lao động theo chức năng
Đó là quá trình tách hoạt động chung của doanh nghiệp thành những hoạt động riêng theo
sự khác nhau của chức năng lao động căn cứ vào vị trí, vai trò của từng người lao động trong doanh nghiệp
Phân công lao động theo chức năng được chia dựa vào các chức năng sau:
- Dựa vào vai trò của người lao động trong quá trình tham gia hoạt động của doanh nghiệp gồm lãnh đạo, chuyên gia, nhân viên thực hành kỹ thuật Lãnh đạo gồm những người đảm nhận các chức vụ ở các vị trí lãnh đạo trong cơ cấu tổ chức Bộ máy quản lý trong tổ chức gồm trưởng, phó, giám đốc, các bộ phận phòn g ban Chuyên gia bao gồm những người tốt nghiệp các trường đại học làm các công việc ở các bộ phận phòng ban tài vụ, phòng kỹ thuật họ là những người tư vấn tham mưu thiết kế ra các quyết định để trình các cán bộ lãnh đạo Nhân viên thwucj hành kỹ thuật bao gồm những người như các nhân viên đánh máy, văn thư, thư ký, các kỹ thuật viên họ tốt nghiệp các trường trung cấp, cao đẳng hay quá trình đào tạo trong công việc
- Dựa vào sự khác nhau về tính chất của các chức năng gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất như công nhân sản xuất và những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như lao động quản lý gọi là lao động gián tiếp
- Theo sự khác nhau về chức năng: công nhân sản xuất bao gồm những người nằm trong các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp và công nhân không sản xuất như người làm công tác dịch vị cho quá trình hoạt động sản xuất của doang nghiệp
phân công lao động theo công nghệ
Phân công kinh doanh theo công nghệ là hình thức phân công lao động trong đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tích chất của quá trình công nghệ thực hiện chúng Hình thức phân công này phụ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tùy theo
Trang 3tính chất và đặc điểm của công cụ lao động và quá trình công nghệ mà nó đề ra những yêu cầu đối với công nhân về sự hiểu biết kỹ thuật và thời gian lao động
Trong quá trình phân công theo công nghệ, quá trình sản xuất được chi ra thành các giai đoạn, các bước công việc.tùy vào mức độ chuyên môn hóa lao động mà phân công lao động theo công nghệ lại được chia ra thành những hình thức khác nhau
- Phân công lao động theo đối tượng đó là hình thức phân công trong đó một nhóm công nhân hay một nhóm công nhân thực hiện một tổ hợp các công việc tương đối trọn vẹn, chuyên chế tạo một sản phẩm hoặc một chi tiết nhất định của sản phẩm
- Phân công lao động theo bước công nghệ là hình thức phân công trong đó mỗi công nhân chỉ thực hiện một vài bước công việc trong đó chế tạo sản phẩm hoặc chi tiết nhất định của sản phẩm
Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc:
Là hình thức phân công lao động trong đó tách riêng các công việc khác nhau tùy theo tính chất phức tạp của nó Hình thức phân công lao động này nhằm sử dụng trình độ lành nghề của công nhân phù hợp với mức độ phức tạp của công việc Mức độ phức tạp của cong việc được đánh giá theo ba tiêu thức:
- Mức độ chính xác về công nghệ khác nhau
- Mức độ chính xác về kỹ thuật khác nhau
- Mức độ quan trọng khác nhau
2.2 Các loại hiệp tác lao động
Xét về mặt không gian tùy thuộc vào không gian làm việc mà phân chia như sau:
- Hiệp tác lao động trong toàn xí nghiệp
- Hiệp tác lao động trong bộ phận phòng ban, phân xưởng, phân đội
- Hiệp tác giữa người lao động với nhau trong tổ sản xuất
Xét về mặt thời gian:
Hiệp tác về mặt thời gian tức là sựu tổ chức các ca làm việc trong một ngày đêm Bố trí
ca làm việc hợp lý là một nội dung của công tác tổ chức lao động trong doanh nghiệp sao cho hợp lý, phù hợp với yêu cầu công việc và đúng quy định chế độ nghỉ ngơi của người lao động để đảm bảo dức khỏe cho họ
1.3 Cơ sở khoa học của quá trình phân công và hiệp tác lao động
1.3.1 Tâm lý học với phân công và hiệp tác lao động
Phân công và hiệp tác lao động trong doanh nghiệp là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức lao động khoa học Tổ chức lao động khoa học ngày càng đặt ra những yêu cầu tâm lý đối với con người cao hơn Do đó, đòi hỏi đối với tâm lý học lao
Trang 4động phải nghiên cứu sâu sắc sự biến đổi của các hiện tượng tâm lý trong quá trình lao động để làm cơ sở vững chắc cho tổ chức lao động khoa học Tâm lý học có vai trò to lớn đối với phân công và hiệp tác lao động Vai trò đó thể hiện ở những điểm sau:
Tâm lý học lao động đã chỉ ra những phát triển của khoa học kĩ thuật đã tác động xấu đến con người là những gì và đã đưa ra những giải pháp khắc phục nó
Tâm lý học lao động đã chỉ ra nhũng giới hạn tâm lý của con người trong lao động
để giúp cho tổ chức quá trình lao động đạt được những tối ưu trong lao động
Tâm lý học lao động còn cho thấy những vấn đề về kích thích lao động tạo nên động lực đẩy hành động con người
Tâm lý học lao động còn chỉ ra những đòi hỏi về giá trị lao động, giá trị tinh thần của cuộc sống giúp cho công tác tổ chức lao động và quản lý sản xuất đạt được hiệu qua cao
Tâm lý học lao động còn chỉ ra tác động xấu của môi trường lao động, môi trường tập thể đến con người để giúp cho hoàn thiện chúng, thỏa mãn những yêu cầu của người lao động
Tâm lý học lao động còn chỉ ra cho tổ chức lao động thấy được các yếu tố tâm lý của sự phát triển tâm lý, kĩ năng, kĩ xảo lao động và chỉ ra các giải pháp sử dụng họ có hiệu quả hơn
Tóm lại, tâm lý học lao động hiện nay thực sự trở thành co sở quan trọng cho tổ chức lao đông khoa học nói chung và phân công và hiệp tác lao động nói riêng
1.3.2 Giới hạn tâm lý với phân công và hiệp tác lao động
Xét dưới góc độ tâm lý học, việc phân công lao động sẽ ảnh hưởng đến tính súc tích của công việc và dẫn đến tính đơn điệu trong lao động
Tính súc tích của lao động:
Theo quan điểm tâm lý học: tính súc tích của công việc là đặc trưng cơ bản của lao động Tính súc tích của lao động phụ thuộc vào:
Sự đa dạng của công việc
Trang 5 Sự đa dạng của các phương thức thực hiện công việc
Sự có mặt của các chức năng mà nó đòi hỏi hoạt động tích cực sáng tạo của con người
Do sự tiến bộ của kỹ thuật trong thế kỉ qua đã dẫn đến sự phân công lao động và sự chuyên môn cao tronng lao động điều đó đã dẫn đến sự súc tích của lao động bị giảm sút Khi tính súc tích của lao động bị giảm sút sẽ dẫn đến tính đơn điệu trong lao động
Tính đơn điệu trong lao động:
Hiện nay có hai quan điểm khác nhau về tính đơn điệu trong lao động: tính đơn điệu là đặc điểm khách quan của bản thân quá trình lao động tính đơn điệu là một trạng thái tâm
lý của con người trạng thái tâm lý này là hậu quả của sự đều đều trong công việc
Do quan điểm khác nhau về tính đơn điệu nên các nhà tâm lý học tìm đường chống lại tính đơn điệu theo hai hướng khác nhau: tổ chắc lại quá trình lao động và tìm cách chống lại tính đơn điệu ở bên ngoài bản thân quá trình lao động
Tính đơn điệu trong lao động là một hiện tượng tất yếu xảy ra do sự tiến bộ kĩ thuật, đòi hỏi nhà quản lý phải phân chia nhỏ quá trình lao động, chuyên môn hóa trong lao động Tác động của tính đơn điệu đến người lao động:
Các nhà tâm lý học ở các nước cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
Một số nhà tâm lý học cho rằng tính đơn điệu trong lao động không có hại đối với người lao động mà nó là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển nhân cách
Một số khác cho rằng bất kì trường hợp nào tính đơn điệu trong lao động cũng ảnh hưởng xấu tới người lao động: mất hứng thú đối với công việc, sự mệt nhọc xuất hiện sớm trong ngày làm việc, cảm giác ngày làm việc dài hơn
Nhiều nhà tâm lý lại cho rằng việc chia nhỏ quá trình lao động không phải bao giờ cũng
có lợi và không phải bao giờ cũng có hại nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đã khẳng định phải xác định giới hạn cho phép của tính đơn điệu đến đâu đến đâu là
có lợi đến đâu là có hại
Một số biện pháp ngăn ngừa ảnh hưởng xấu của công việc đơn điệu:
Hợp nhất nhiều thao tác ít súc tích thành nhũng thao tác đa dạng, phức tạp hơn
Luân phiên người lao động làm các thao tác lao động khác nhau
Trang 6 Thay đổi nhịp độ của các động tác.
Đưa chế độ lao động và nghỉ ngơi có sơ sở khoa học và lao động và sử dụng thể dục trong lao động sản xuất
Sử dụng các phương pháp lao động thẩm mỹ khác nhautrong thời gian lao động sản xuất, nhất là âm nhạc
Nghiên cứu sử dụng các hệ thống khen thưởng vật chất và tinh thần 1 cách chính xác
Tâm lý học với hiệp tác lao động: bằng quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động, hoạt động lao động quy định việc thiết lập một số quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp giwuax các thành viên để thực hiện nhiệm vụ sản xuất ngya cả khi quá trình sản xuất buộc những người lao động phải làm việc cách xa nhau, không thể tiếp xúc trực tiếp, thì để đạt được mục tiêu của xí nghiệp, đòi hỏi phải có sự hợp tác lao động
Tâm lý học với quá trình hiệp tác lao động là mối quan hệ giữa người với người trong hoạt động lao động, có tác động qua lại đến hành vi của nhau Những mối quan hệ này do các yếu tố khách quan (như nhiệm vụ sản xuất và các điều kiện lao động chung) và các yếu tố chủ quan ( mục đích, động cơ lao động) quy định
Tùy theo trọng lượng mối quan hệ người – đối tượng lao động, các tiêu chuẩn chính thức của xí nghiệp và tính động cơ của các quan hệ người – người, có 2 loại quan hệ chính là: Mối quan hệ chức năng: được quy định bởi các đặc điểm của nhiệm vụ sản xuất, các phương pháp thực hiện chúng và các quy định chuẩn mực chính thức của xí nghiệp Mối quan hệ này luôn tồn tại, nếu không có nó thì nhóm lao động sẽ ngừng vận hành
Các mối qun hệ xúc cảm – đánh giá: không được quy định trực tiếp bởi các nhiệm vụ sản xuất và cũng không được xác định trong các quy định, chuẩn mực chính thức nhưng lại cso ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất Mối quan hệ này mang tính chất tâm lí nhiều hơn
so với mối quan hệ chức năng Về nguyên tắc, nó mang tính chất không chính thức, nhưng lại ảnh hưởng đến cả hiệu quả của các mối quan hệ chính thức
Tùy theo vị thế của các các nhân trong cấu trúc thứ bậc nhóm, các quan hệ người – người
có thể là: các quan hệ liên nhân cách theo ngành dọc: mối quan hệ giữa các thành viên có
vị thế khác nhau trong cấu trúc thứ bậc của nhóm Các quan hệ liên nhân cách theo ngành ngang: mối quan hệ giữa các thành viên cùng có 1 loại vị thế trong cấu trúc thứ bậc của nhóm
Trang 7Căn cứ vào sự lựa chọn lẫn nhau về cảm xúc, các mối quan hệ có thể là thiện cảm, ác cảm, bàng quan…
Giới hạn tâm lí của người lao động:
Sự hoạt động của con người trong xã hội rất phong phú và đa dạng Nó không chỉ đóng khung trong một lĩnh vực lao động trí óc hoặc chân tay, mà thường xuyên có sự kết hợp chặt chẽ với nhau Vì vậy việc phân công lao động phải đảm bảo tính chất phong phú của nội dung, tính hấp dẫn của công việc, bảo đảm các điều kiện để phát huy những khả năng sáng tạo của con người, phải chú ý đến mặt hình thành khuynh hướng nghề nghiệp của mỗi người trong lao động
1.3.3 Đặc điểm tâm lý chung của người lao động
Trong lao động cái tâm lý chung nhất được bộc lộ ra là tính tích cực tính mục đích, là những hình ảnh nảy sinh trong đầu con người mà nhờ đó con người xác định được kết quả hoạt động của mình
Hoạt đông lao động của con người bao giờ cũng nhằm đạt được một mục đích nhất dịnh
do họ tự đặt ra
Đối với những công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại đều đều, người lao động thường có tâm
lý nhàm chán, mệt mỏi, mất hứng thú trong công việc, có cảm giác ngày làm việc như dài hơn Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, thái độ lao động của người lao động phần lớn phụ thuộc vào tính chất và nội dung của bản thân công việc, và một phần nhỏ được quyết định bởi những nhân tố nằm ngoài quá trình lao động ( những điều kiện lao động; tiền lương; các nhân tố sinh hoạt…)
Nhưng mặt khác, người lao động lại có xu hướng chọn những công việc có lương cao, điều kiện làm việc, cơ chế đãi ngộ tốt, công việc nhàn hạ… Độ tuổi lao động càng cao thì nhân cách càng hoàn thiện, có xu hướng suy nghĩ chín chắn, sống và làm việc có trách nhiệm hơn Người lao động có hứng thú mạnh mẽ và ổn định đối với nghè nghiệp sẽ ít gặp sự cố và tai nạn lao động so với những người không thích nghề hoặc hoàn toàn không hứng thú với công việc
Người có vịt rí cao trong tổ chức thường có ý thức trách nhiệm hơn trong hoạt động lao động; người có vị trí và vai trò thấp thường có tính ỷ nại, ý thức trách nhiệm thường không ổn định
Bản sắc của lao động nam là logic, hợp lý, năng động, bạo gan, sử dụng chiến lược, độc lập, thích cạnh tranh, là người dẫn đường và quyết định Bản sắc của lao động nuwxlaf
Trang 8trực giác, tình cảm, phục tùng, khả năng nhận xét người khác ,tự phát, tính mẫu tử, hợp tác, người ủng hộ và đệ tử trung thành
1.4 Mối liên hệ giữa phân công và hợp tác lao động với các hoạt động khác trong doanh nghiệp
Phân công và hợp tác lao động gắn liền với mọi chức năng và hoạt động trong doanh nghiệp, bởi thực chất của phân công lao động là việc chia nhỏ một công việc chung của doanh nghiệp thành những phần nhỏ để giao cho các bộ phận, các phòng ban
và từng người lao động thực hiện, còn hợp tác lao động là việc phân phối công việc giữa các bộ phận, phòng ban và người lao động với nhau để đtạ được công việc chung của doanh nghiệp Nhưng dưới góc độ phân công và hiệp tác lao động hợp lý để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác thì mối quan hệ của phân công và hiệp tác lao động chỉ được xem xét với những hoạt động tổ chức nguồn nhân lực trong tổ chức
Trước hết phân công và hiệp tác lao động có liên quan chặt chẽ với phân tích công vệc thu được đó là bản mô tả công việc và yêu cầu đối với người thực hiện, danh mục nghề nghiệp của doanh nghiệp để dựa vào đó để phân công công việc cho từng người, từng nhóm người và từng bộ phận phối hợp với nhau
Để phân công lao động được đúng như yêu cầu của công việc đòi hỏi phải làm tốt được công tác tuyển dụng, tuyển được những người có đủ khả năng đáp ứng được với yêu cầu của công việc, có ý thức đạo đức tốt để thực hiện công việc và phối hợp cùng nỗ lực lao động vì mục tiêu chung của doanh nghiệp
Phân công hiệp tác với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Trong doanh nghiệp không bao giờ có đầy đủ những con người có thể đáp ứng được với yêu cầu công việc, hay vì yêu cầu của việc sản xuất kinh doanh làm biến đổi, dòng nhân lực cũng thay đổi theo thời gian vì thế cần phải đào tạo để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp cũng như nhu cầu của mỗi cá nhân Việc đào tạo theo hướng giáo dục
để người lao động có được những quan điểm, thái độ tốt để phục vụ tốt hay nói cách khác
là người lao đọng có ý thức hiệp tác vì công việc của doanh nghiệp Còn việc đào tạo về trình độ kỹ năng thì nhiều khi người lao động đi học do đó phải phân công những người thay thế khi họ đi học và khi họ trở về sẽ đảm nhiệm những công việc gì
Ngoài ra phân công hiệp tác lao dộng còn có mối quan hệ với rất nhiều hoạt động khác như việc kế hoạch hóa nguồn nhân lực giúp cho chúng ta có thể ohaan công hiệp tác
có hiệu quả, phân công hiệp tác với định mức trên cơ sở định mức lao động mà phân công nhiệm vụ cho từng người hay nhóm thực hiện một nhiệm vụ nào đó
Trang 9I Thực trạng sự vận dụng cơ sở khoa học của qua trình phân công và hiệp tác lao động trong Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên.
1 Giới thiệu chung ( địa điểm, hoạt động kinh doanh)
Công ty Cổ phần Du lịch Kim Liên ngày nay được thành lập năm 1961, tiền thân
là khách sạn Bạch Mai Toạ lạc trên diện tích 3,5ha tại số 5 + 7 phố Đào Duy Anh,
phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội ngay giữa Trung tâm thành phố, với tổng số
9 toà nhà gồm 437 phòng và 5 Nhà hàng Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên có thể phục
vụ hàng nghìn lượt khách ăn, ở cùng lúc Năm 1993, Công ty trực thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam, làm nhiệm vụ kinh doanh khách sạn, lữ hành quốc tế, ăn uống, vui chơi giải trí, thương mại xuất nhập khẩu, đầu tư ứng dụng công nghệ Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên đã được Bác Hồ (2 lần), Bác Tôn Đức Thắng, nguyên Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, nhà nước về thăm
1.1 Lịch sử phát triển và thành tích đạt được
Qua 5 lần đổi tên, khách sạn được đổi tên thành Công ty cổ phần du lịch Kim Liên (khách sạn Kim Liên) Hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn của khu vực Đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, nhiệt tình, chu đáo cùng kinh nghiệm 50 năm hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng Khách sạn Kim Liên đã dành được nhiều phần thưởng cao quý Đặc biệt, năm 2006 Khách sạn Kim Liên vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động
Các thành tích:
Năm 2000: Huân chương Lao động hạng I cho tập thể công ty
Năm 2001: Huân chương chiến công hạng III cho tập thể công ty
Năm 2004: Huân chương chiến công hạng II cho tập thể công ty
Năm 2006: Đơn vị Anh hùng Lao động
Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua ngành Du lịch các năm 1998, 1999, 2000, 2001, 2002,2003, 2004, 2005
Từ năm 1999 đến năm 2005 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Công ty được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen, năm 2004 được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen
Trang 10Với những thành tích dáng tự hào mà khách sạn Kim Liên đã đạt được Tập thể cán bộ nhân viên khách sạn sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp để giữ vững thương hiệu Khách sạn Kim Liên luôn là địa chỉ thân thiết, là điểm đến tin cậy của quý khách gần xa 1.2 Cơ cấu tổ chức
Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý của Công ty, cùng với việc phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các phòng ban bộ phận trong Công ty đã giúp Công ty có được một mô hình tổ chức quản lý khá hiệu quả
Dưới đây là cơ cấu tổ chức của công ty