1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam

119 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  PHẠM THỊ TƯỜNG VI MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



PHẠM THỊ TƯỜNG VI

MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN, RỦI

RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



PHẠM THỊ TƯỜNG VI

MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN, RỦI

RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của

TS Đoàn Đỉnh Lam Các số liệu, thông tin trong luận văn là trung thực và có nguồn

gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Phạm Thị Tường Vi

Trang 5

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 2

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của đề tài 4

1.6 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản 6

2.2 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng 7

2.3 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng 9

2.4 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng 10

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Dữ liệu và lựa chọn mẫu 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 15

3.2.1 Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản 15

3.2.1.1 Mô tả biến 15

3.2.1.2 Mô hình 18

Trang 6

3.2.2 Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng 19

3.2.2.1 Mô tả biến 19

3.2.2.2 Mô hình 22

3.2.3 Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng 24

3.2.3.1 Mô tả biến 24

3.2.3.2 Mô hình 28

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM 32

4.1 Thực trạng ảnh hưởng giữa các nhân tố tại Việt Nam 32

4.1.1 Khoảng cách tài chính 32

4.1.2 Các nhân tố đặc thù ngân hàng 35

4.1.3 Các nhân tố kinh tế vĩ mô 39

4.1.4 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng 41

4.2 Kiểm định tính dừng 44

4.3 Kết quả nghiên cứu của các mô hình ứng dụng tại Việt Nam 44

4.3.1 Kết quả hồi quy của mô hình nguyên nhân rủi ro thanh khoản ngân hàng 44

4.3.2 Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng tại Việt Nam 50

4.3.3 Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam 55

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN 62

5.1 Tổng kết các kết quả nghiên cứu chính 62

5.2 Một số khuyến nghị 63

5.2.1 Đẩy nhanh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 64

5.2.2 Tập trung xử lý nợ xấu ngân hàng 65

5.3 Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

2SLS Ước lượng bình phương bé nhất hai

giai đoạn

Two steps least square

3SLS Ước lượng bình phương bé nhất ba

giai đoạn

Three steps least square

DIV Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Deposit Insurance of VietNam GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

OLS Ước lượng bình phương bé nhất Ordinary Least Squares

SCP Cấu trúc - Hành vi - Kết quả Structure – Conduct –

Performance

VAR Tự hồi quy dạng véc tơ Vector Autoregressive

WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến đặc thù ngân hàng, cấu trúc thị trường và kinh tế vĩ

mô tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 32

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng phân loại theo kích cỡ ngân hàng 43

Bảng 4.3: Kiểm định nghiệm đơn vị của các biến 44

Bảng 4.4A: Kết quả thực nghiệm của mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản ngân hàng tại Việt Nam với hiệu ứng cố định 45

Bảng 4.4B: Kết quả thực nghiệm của mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản ngân hàng tại Việt Nam với hiệu ứng ngẫu nhiên 46

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman 46

Bảng 4.6A: Kiểm định Log Likelihood loại bỏ biến GDPCt-1 49

Bảng 4.6B: Kiểm định Wald loại bỏ biến GDPCt-1 49

Bảng 4.6C: Kiểm định Log Likelihood loại bỏ biến INF 49

Bảng 4.7A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng tại Việt Nam với ROA là biến phụ thuộc 52

Bảng 4.7B: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng tại Việt Nam với ROE là biến phụ thuộc 53

Bảng 4.7C: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng tại Việt Nam với NIM là biến phụ thuộc 54

Bảng 4.8A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với mẫu 25 NHTMCP 56

Bảng 4.8B: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với mẫu gồm các ngân hàng lớn 57

Bảng 4.8C: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với mẫu gồm các ngân hàng vừa và nhỏ 58

Trang 9

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng panel VAR cho hai biến rủi ro 59Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với mẫu gồm

5 NHTMCP lớn nhất VN 60

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng tín dụng và huy động vốn ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn

2006 – 2013 33

Biểu đồ 4.2: FGAPR, ROA, ROE và NIM của một số NHTMCP Việt Nam 34

Biểu đồ 4.3: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tỷ lệ vốn của 25 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 36

Biểu đồ 4.4: Tỷ số cấu trúc thị trường CON giai đoạn 2006 – 2013 38

Biểu đồ 4.5: LLPL và ROA, ROE, NIM trung bình giai đoạn 2006 – 2013 39

Biểu đồ 4.6: Tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát giai đoạn 2006 – 2013 40

Biểu đồ 4.7: LR và CR của một số NHTMCP tại Việt Nam 42

Trang 11

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu này điều tra các nhân tố tác động lên rủi ro thanh khoản, sau đó xem rủi

ro thanh khoản như một nhân tố nội sinh tác động lên lợi nhuận ngân hàng cùng với các nhân tố ngoại sinh khác Tiếp đó là xem xét mối quan hệ giữa hai loại rủi ro quan trọng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của một ngân hàng: rủi ro thanh khoản

và rủi ro tín dụng Tác giả sử dụng một bảng dữ liệu gồm 25 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2013, kết hợp với các thuật toán kinh tế lượng (hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên; ước lượng các phương trình đồng thời thông qua phương pháp bình phương bé nhất hai giai đoạn, ba giai đoạn; tự hồi quy dạng bảng) Ngoài ra, tác giả còn thực hiện chia nhỏ mẫu và sử dụng một mẫu quan sát theo quý khác để xem xét và kiểm định một lần nữa mối quan

hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng rủi ro thanh khoản chịu tác động bởi các nhân tố đại diện cho quy mô tổng tài sản ngân hàng, các thành phần của tài sản lưu động, nguồn vốn bên ngoài và môi trường kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát) Tiếp đó, rủi ro thanh khoản có thể làm giảm lợi nhuận ngân hàng (ROA và ROE) do ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn có chi phí cao hơn để giải quyết vấn đề thanh khoản, nhưng lại làm tăng tỷ lệ lãi cận biên (NIM) do thu được lãi cao hơn từ các khoản cho vay chứa các tài sản kém thanh khoản hơn Ngoài ra, tác giả không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào ủng hộ mối quan hệ tương quan đồng thời có ý nghĩa thống kê hay tương quan trễ có thể có giữa hai biến đại diện cho rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Những kết quả này cung cấp hiểu biết mới về rủi ro ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tăng cường hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, nhất là xử lý nợ xấu và đề xuất quản lý đồng thời cho cả hai loại rủi ro này trong hoạt động quản lý rủi

ro chung

Trang 12

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn của Mỹ cuối năm 2007 đã không chỉ khiến nền kinh

tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái mà còn ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính toàn cầu Bóng đen khủng hoảng bao trùm các trung tâm tài chính lớn trên thế giới từ châu

Âu đến châu Á Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng này Cuộc khủng hoảng mang lại một thách thức rất lớn cho sự phát triển ngắn hạn cũng như dài hạn đối với ngành công nghiệp ngân hàng toàn cầu, bởi vì nó đã làm các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác trở nên lo lắng về việc cho vay đối với các ngân hàng khác, nhất là các ngân hàng thiếu thanh khoản Đặc biệt là với sự sụp đổ của các ngân hàng lớn như Goldman Sachs của Mỹ, Northern Rock của Anh cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng ngân hàng cũng như những tác động của môi trường vĩ mô đối với hoạt động của ngân hàng

Sau cuộc khủng hoảng, tình hình thanh khoản và hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn luôn là vấn đề được các ngân hàng thương mại Việt Nam quan tâm hàng đầu, nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra khi rơi vào tình trạng xấu Mặc dù thời gian gần đây tình hình thanh khoản của hệ thống có khởi sắc hơn trước song những rủi ro vẫn có thể tiềm ẩn Các bài nghiên cứu trong nước phần lớn chỉ dừng lại ở cấp độ đánh giá thanh khoản ngân hàng thông qua các phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản, các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định của ngân hàng nhà nước (NHNN), nguồn và sử dụng nguồn hay cấu trúc vốn,…Vì vậy tác giả thực hiện bài nghiên cứu này dựa trên các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài, bằng cách thu thập các số liệu cần thiết để cho

ra các mô hình hồi quy cụ thể, cho cái nhìn chính xác hơn về những nhân tố ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng Sau đó, tác giả thực hiện hồi quy các phương trình cấu trúc đồng thời để xác định mối quan hệ có thể có giữa rủi ro thanh

Trang 13

khoản và rủi ro tín dụng Từ đó đưa ra các đề xuất quản lý phù hợp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu đầu tiên của bài nghiên cứu này là xác định các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản của ngân hàng

Tiếp đó, tác giả điều tra các nhân tố tác động lên lợi nhuận của ngân hàng với việc xem rủi ro thanh khoản như là một nhân tố nội sinh

Mục tiêu cuối cùng là điều tra mối quan hệ qua lại đồng thời hoặc trễ có thể có giữa rủi

ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tác giả sử dụng một bộ mẫu dữ liệu bảng của 25 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2013 (dữ liệu năm) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng, cũng như mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một bộ mẫu dữ liệu bảng khác của 5 NHTMCP có quy mô lớn nhất Việt Nam trong giai đoạn

từ Q1/2009 đến Q4/2013 (dữ liệu quý) để xem xét một cách rõ ràng hơn mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đầu tiên của bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành ước lượng mô hình nguyên nhân rủi ro thanh khoản thông qua phương pháp bình phương bé nhất dạng bảng (Panel OLS) đi kèm với hiệu ứng cố định (fixed effect) và hiệu ứng ngẫu nhiên (random effect) Sau đó dùng kiểm định Hausman để chọn lọc ra mô hình tối ưu nhất Tiếp theo, tác giả thực hiện hồi quy hệ phương trình cấu trúc (đồng thời) thông

Trang 14

qua phương pháp bình phương bé nhất hai giai đoạn (2SLS) để ước lượng mô hình các nhân tố quyết định lên lợi nhuận của ngân hàng nhằm kiểm soát vấn đề nội sinh của biến rủi ro thanh khoản Trong mô hình này, tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản bình quân (ROA), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn cổ phần bình quân (ROE) và tỷ lệ lãi cận biên bình quân (NIM) lần lượt được sử dụng làm biến phụ thuộc

Cuối cùng, tác giả phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với các kích thước mẫu khác nhau thông qua phương pháp bình phương bé nhất ba giai đoạn (3SLS) để hồi quy mô hình phương trình đồng thời với các biến đại diện cho rủi ro thanh khoản (LR) và rủi ro tín dụng (CR) lần lượt là biến phụ thuộc nhằm kiểm soát các tác động nội sinh, đồng thời và trễ của các biến

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu này góp phần vào kho tài liệu học thuật bằng việc xác định các nhân tố ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng Đồng thời xem xét mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng cũng như mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản với rủi ro tín dụng Mặc dù trước đó có không ít các nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ về các loại rủi ro hoạt động của ngân hàng, song các nghiên cứu này là riêng lẻ Chưa có bất kỳ nghiên cứu nào trong nước điều tra mối quan hệ đồng thời giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trên cơ sở mẫu gần như hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam Do đó, các kết quả trong bài nghiên cứu này có thể hỗ trợ cho những nỗ lực cải thiện tình hình quản trị rủi ro tại các ngân hàng với sự chú ý đặc biệt đến sự xuất hiện đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, từ đó nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro vỡ nợ, phá sản và gia tăng lợi nhuận của ngân hàng Đặc biệt là tạo một nền tảng cho các ngân hàng trên đà áp dụng các chuẩn mực theo Basel II và Basel III trong tương lai gần

1.6 Kết cấu luận văn

Trang 15

Nội dung bài nghiên cứu này được chia thành các chương mục, bao gồm:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây tạo tiền đề cho bài nghiên

cứu

Chương 3: Mẫu dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng được sử

dụng

Chương 4: Thực trạng ảnh hưởng giữa các nhân tố kiểm định và kết quả thực nghiệm

từ các mô hình hồi quy

Chương 5: Kết luận, đưa ra các đề xuất và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản

Theo định nghĩa của Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (BCBS) (1997), rủi ro thanh khoản phát sinh từ sự bất lực của một ngân hàng để giảm nợ phải trả hoặc gia tăng nguồn vốn trong cơ cấu tài sản Khi không đủ thanh khoản, không thể có đủ vốn, ngân hàng có thể, một là, vay nợ từ thị trường tiền tệ (ví dụ như vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng), hai là chuyển đổi tài sản kịp thời để gia tăng vốn với mức chi phí hợp

lý Cả hai cách thức đó đều ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Do đó, thanh khoản trở thành ưu tiên hàng đầu của quản lý ngân hàng để đảm bảo có đủ nguồn tiền đáp ứng nhu cầu của các nhà cung cấp và khách hàng vay với mức chi phí hợp lý trong tương lai

Trong điều kiện dễ dàng hơn, rủi ro thanh khoản có thể được định nghĩa là nguy cơ mất khả năng thanh lý một tài sản kịp thời với mức giá hợp lý (Muranaga và Ohsawa, 2002) Có hai khía cạnh quan trọng của rủi ro thanh khoản được trích dẫn trong định nghĩa này: một là thanh lý tài sản khi có yêu cầu và hai là có một giá trị thị trường Các ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu tài sản của họ không được thanh lý ở một mức giá hợp lý Trong khi các ngân hàng khẩn trương thanh lý các tài sản để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn thì giá cả vẫn chưa ổn định do điều kiện bán hàng đóng băng Điều này có thể dẫn đến thua lỗ và giảm đáng kể trong thu nhập Thu hồi quy mô lớn của các khoản tiền gửi có thể tạo ra bẫy thanh khoản cho các ngân hàng (Jeanne và Svensson, 2007), nhưng điều này có thể không phải lúc nào cũng là nguồn chính của rủi ro thanh khoản (Diamond và Rajan, 2005) Có nhiều yếu tố khác nhau tạo ra vấn đề thanh khoản lớn cho các ngân hàng Ví dụ, các khoản cho vay dài hạn dựa trên cam kết

mở rộng có thể tạo ra các vấn đề thanh khoản nghiêm trọng (Kashyap et al., 2002)

Trang 17

So với rủi ro tín dụng, có ít tài liệu thảo luận về rủi ro thanh khoản Hiệp ước Basel I (BCBS, 1988) đã đặt ra các tiêu chuẩn để quản lý rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường Bên cạnh đó, Hiệp ước Basel II (BCBS, năm 2004) đã thêm các tiêu chuẩn về quản lý rủi ro hoạt động Tuy nhiên, cả hai hiệp định trên đều ít đề cập đến vấn đề rủi ro thanh khoản Landskroner và Paroush (2008) cũng chỉ ra rằng đã có những buổi học thuật thảo luận sâu rộng về những rủi ro khác nhau trong ngân hàng: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và cả rủi ro hoạt động nhưng rủi ro thanh khoản lại ít khi được chú ý đến, trong khi nó đã trở thành một trong những rủi ro lớn phải đối mặt của các ngân hàng và

các tổ chức tài chính khác trong những năm gần đây

2.2 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng

Trong các nghiên cứu trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ số để đo lường rủi ro

thanh khoản, như là tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản (Barth et al., 2003; Demirgüç-Kunt et al., 2003; Pavla Vodová, 2011), tỷ số tài sản lưu động trên các

khoản tiền gửi (Shen et al., 2001; Pavla Vodová, 2011) và tỷ số tài sản lưu động trên tiền gửi ngắn hạn của khách hàng (Kosmidou et al., 2005), tỷ số tài sản lưu động dễ chuyển đổi trên tổng nợ (Jose Arias et al., 2014) Các ngân hàng có giá trị các tỷ số này

càng cao cho thấy khả năng thanh khoản càng cao Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác

sử dụng các tỷ số như tỷ số vốn vay trên tổng tài sản (Athanasoglou et al., 2006; Pavla Vodová, 2011), tỷ số các khoản vay ròng trên tiền gửi ngắn hạn của khách hàng

(Pasiouras và Kosmidou, 2007; Kosmidou, 2008; Naceur và Kandil, 2009; Pavla Vodová, 2011) để đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng Giá trị của các tỷ số này càng cao, các ngân hàng càng chịu nhiều rủi ro thanh khoản

Như vậy, bên cạnh việc sử dụng các chỉ số thanh khoản truyền thống để đánh giá rủi ro thanh khoản ngân hàng thì ta vẫn có thể sử dụng một vài chỉ số khác để xác định mối tương quan chặt chẽ giữa nó với rủi ro thanh khoản ngân hàng Hơn nữa, việc đo lường

và nhận xét về rủi ro thanh khoản còn có thể được tiến hành dựa trên các phương pháp

Trang 18

về định lượng và chất lượng Saunders và Cornett (2006) chỉ ra rằng các ngân hàng có thể sử dụng phương pháp phân tích nguồn và sử dụng nguồn vốn; so sánh nhóm tỷ số đồng đẳng, chỉ số thanh khoản, khoảng cách tài chính để đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng Bên cạnh đó, theo Matz và Neu (2007), các ngân hàng có thể áp dụng phân tích bảng cân đối kế toán, vị thế vốn góp tiền mặt để đánh giá rủi ro thanh khoản

và đánh giá rủi ro thanh khoản về chất lượng cũng quan trọng không kém gì một phép

đo định lượng dựa vào mô hình

Sau Saunders và Cornett (2006), Chung-Hua Shen (2009) đo lường rủi ro thanh khoản bằng cách tính toán khoảng cách tài chính của mỗi ngân hàng Saunders và Cornett (2006) cho rằng các ngân hàng thường coi các khoản tiền gửi nòng cốt trung bình (average core deposit) như là một nguồn vốn ổn định, do đó nó có thể dùng để tài trợ lâu dài cho các khoản vay trung bình của ngân hàng Các khoản tiền gửi nòng cốt trung bình được định nghĩa như là tiền gửi không kỳ hạn, các lệnh rút tiền có thể chuyển nhượng (Negotiable Order of Withdrawal accounts – NOW), các tài khoản ký thác của thị trường tiền tệ (Money Market Deposit accounts – MMDAs), các tài khoản tiết kiệm khác và chứng chỉ tiền gửi cá nhân (CDs) Chung-Hua Shen (2009) sử dụng tiền gửi khách hàng để thay thế cho tiền gửi nòng cốt

Ta có thể thấy rằng tác động của rủi ro thanh khoản lên lợi nhuận ngân hàng là hỗn hợp Một số nghiên cứu phát hiện ra tác động cùng chiều (Barth et al., 2003; Ameira Nur Amila Binti Sohaimi, 2013), một số khác phát hiện ra tác động ngược chiều (Kosmidou, 2005; Kosmidou, 2008; Chung-Hua Shen et al., 2009; Jose Arias et al., 2014; Naser Ail Yadollahzadeh Tabari et al.,2013) Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng các ngân hàng với tính thanh khoản cao thì có biên lãi ròng (NIM) thấp hơn (Shen et al., 2001; Demirgüç-Kunt et al., 2003; Naceur và Kandil, 2009), nhưng cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại khi cho rằng với rủi ro thanh khoản cao có thể nhận được khoản thu nhập từ lãi cao hơn (Chung-Hua Shen et al., 2009)

Trang 19

Bên cạnh đó, các nghiên cứu này còn đề cập đến tác động của các nhân tố khác Ví dụ như Aspachs et al (2005) chỉ ra rằng trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khi hoạt động cho vay bị hạn chế, các ngân hàng gia tăng tích trữ thanh khoản; ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng, cơ hội cho vay càng nhiều thì thanh khoản ngân hàng giảm Vì vậy, khi kinh tế tăng trưởng cao, các ngân hàng cho vay nhiều hơn nhưng lại thu hút tiền gửi ít hơn dẫn đến sự gia tăng rủi ro thanh khoản

Ngoài ra, sự khác biệt về chi phí có thể gây ra một mối quan hệ cùng chiều giữa kích thước và thành quả ngân hàng, nếu đó là hiệu quả kinh tế do mở rộng quy mô có ý nghĩa (Goddard et al., 2004) Short (1979) lập luận rằng kích thước có mối quan hệ chặt chẽ với an toàn vốn của một ngân hàng kể từ khi các ngân hàng tương đối lớn có

xu hướng nâng cao vốn giá rẻ (less expensive capital), do đó thu nhiều lợi nhuận hơn Eichengreen và Gibson (2001) cho rằng tác động của kích thước lên lợi nhuận ngân hàng có thể là cùng chiều cho đến một giới hạn nhất định Khi vượt điểm này, ảnh hưởng của kích thước có thể ngược chiều do tính chất quan liêu trong quản lý hay tham nhũng Các nghiên cứu trước đây sử dụng tỷ số vốn trên tài sản như là một biến giải thích cho lợi nhuận ngân hàng và tìm thấy mối quan hệ giữa chúng là cùng chiều (Kosmidou et al., 2005)

2.3 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng

Tác động của rủi ro tín dụng lên lợi nhuận ngân hàng cũng bao gồm các tác động hỗn hợp Thay đổi trong các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có thể phản ánh những thay đổi trong danh mục các khoản cho vay của ngân hàng (Cooper et al., 2003; Chung-Hua Shen et al.,2009; Naser Ail Yadollahzadeh Tabari et al., 2013; Jose Arias

et al., 2014) và nó có thể ảnh hưởng ngược chiều lên lợi nhuận ngân hàng Bên cạnh

đó, Miller và Noulas (1997) chỉ ra rằng các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động cho vay mang tính chất rủi ro cao sẽ tích lũy nhiều các khoản vay chưa thanh toán, dẫn đến lợi nhuận thấp Tuy nhiên, các khoản vay rủi ro cao thường cho thu nhập từ lãi cao

Trang 20

Theo Maudos và Fernández de Guevara (2004), nguy cơ không trả nợ hoặc vỡ nợ tín dụng từ phía khách hàng đòi hỏi các ngân hàng áp dụng một mức phí bảo hiểm rủi ro ngầm trong các mức lãi suất cho vay, do đó ngân hàng thu được một khoản lãi vay cao hơn từ các hợp đồng có rủi ro tín dụng cao đó

2.4 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Có hai bộ phận nghiên cứu chính dựa trên khía cạnh kinh tế vi mô của ngân hàng để giải thích cho mối quan hệ giữa các nguồn rủi ro chính thông qua tác động của chúng lên lợi nhuận ngân hàng: lý thuyết trung gian tài chính cổ điển, đại diện nổi bật nhất bởi các mô hình của Bryant (1980), Diamond và Dybvig (1983) và phần mở rộng sau

đó (Diamond, 1997); và cũng bởi cách tiếp cận tổ chức công nghiệp đến hệ thống ngân hàng, có tính năng nổi bật nhất trong mô hình Monti - Klein của các tổ chức ngân hàng

và nghiên cứu liên quan xảy ra sau đó Các trung gian tài chính xem mô hình ngân hàng như quỹ thanh khoản mà cung cấp cả người gửi tiền và người đi vay với sự sẵn sàng của tiền mặt, qua đó nâng cao phúc lợi kinh tế và tiếp thu rủi ro thanh khoản nền kinh tế Tổ chức công nghiệp thăm dò các mô hình ngân hàng như người chấp nhận giá lợi nhuận tối đa trong thị trường cho vay và tiền gửi độc quyền, đã đối mặt với một đường cầu có độ dốc lên đối với các khoản tiền gửi và đường cầu dốc xuống cho các khoản vay đối với vấn đề tăng lãi suất Ở phía bên Tài sản, các ngân hàng tạo ra lợi nhuận thông qua lãi suất cho vay; ở phía bên Nợ, các ngân hàng phải đối mặt với chi phí thông qua lãi suất huy động Các mô hình của cả hai bộ phận tài liệu nghiên cứu trước đó cho rằng, ít nhất về mặt lý thuyết, có một mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản

và rủi ro tín dụng Tuy nhiên, nghiên cứu không rõ ràng về câu hỏi liệu mối quan hệ này là dương hay âm

Một số bằng chứng lý thuyết cũng như thực nghiệm hỗ trợ cho mối quan hệ dương giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Trang 21

Rủi ro thanh khoản được xem như là một chi phí làm giảm lợi nhuận, một khoản vay quá hạn (tức rủi ro tín dụng tăng) làm tăng rủi ro thanh khoản này vì nó gây ra dòng tiền và khấu hao giảm (Dermine, 1986) Bryant (1980), Diamond và Dybvig (1983) và phần mở rộng của họ (Samartín, 2003; Iyer và Puri, 2012) đã mô hình hoá các lý thuyết

về trung gian tài chính cho thấy các tài sản ngân hàng có tính rủi ro cùng với sự không chắc chắn về nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế gây ra sự rút tiền ngân hàng hàng loạt Dựa trên các mô hình này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng nên có mối tương quan dương và đóng góp đồng thời cho sự bất ổn của ngân hàng

Ý tưởng về một mối quan hệ dương giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng được hỗ trợ bởi một nội dung rất mới cũng dựa trên cuộc khủng hoảng tài chính 2007/2008, chẳng hạn như Diamond và Rajan (2005), Gorton và Metrick (2011) Mô hình của họ được dựa trên tiền đề rằng các khoản tiền ngân hàng thu từ người gửi tiền không có chuyên môn được sử dụng để cho vay Các vấn đề phát sinh nếu có quá nhiều

dự án kinh tế được tài trợ bằng vốn vay không đủ sinh lợi (hoặc thậm chí vỡ nợ) và các ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền Như một hệ quả của sự suy giảm tài sản này, ngày càng nhiều người gửi tiền sẽ yêu cầu đòi lại tiền của họ Do đó ngân hàng sẽ thu hồi tất cả các khoản cho vay và từ đó làm giảm toàn bộ thanh khoản trên thị trường Vì vậy, kết quả chính là rủi ro tín dụng cao hơn đi kèm với rủi ro thanh khoản cao hơn thông qua nhu cầu người gửi tiền

Một quan điểm khác về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng được cung cấp bởi Gorton và Metrick (2011) Phân tích thực nghiệm của họ cho thấy một sự rút tiền hàng loạt dựa trên sự hoảng loạn của nhà đầu tư có thể xảy ra trong thời đại hệ thống ngân hàng được chứng khoán hóa, trái ngược với các cuộc rút tiền hàng loạt trong ngân hàng truyền thống Bằng chứng của họ cho thấy rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây cho thấy rủi ro tín dụng trong hình thức các khoản cho vay dưới chuẩn gây ra tỷ lệ tái cấp vốn và mức vay thế chấp tài trợ trên thị trường liên

Trang 22

ngân hàng tăng lên đáng kể Mặc dù các nhà đầu tư không biết về những rủi ro cho vay dưới chuẩn thực tế của các ngân hàng, sự sợ hãi cho các khoản đầu tư của họ gây ra vấn đề thanh khoản nghiêm trọng cho các ngân hàng vì thị trường vốn ngắn hạn cạn kiệt vì tỷ lệ repo (lãi suất qua đêm) và mức vay thế chấp cao hơn Nghiên cứu này cho thấy một cách ấn tượng rằng rủi ro tín dụng được nhận thức (trái ngược với rủi ro tín dụng thực tế) có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản trong ngân hàng như thế nào

Một số bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho mối quan hệ âm giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Một nghiên cứu của Wagner (2007) cho thấy tài sản thanh khoản ngân hàng tăng dẫn đến sự mất ổn định ngân hàng tăng cao Nghiên cứu này cho rằng mặc dù các ngân hàng được hưởng lợi từ phía tài sản thanh khoản hơn thay vì sự ổn định (giảm thiểu rủi

ro, tạo thuận lợi cho việc bán các tài sản trong cuộc khủng hoảng), cuộc khủng hoảng trở nên ít tốn kém hơn cho các ngân hàng và như vậy họ có nhiều thiên hướng không ngăn chặn chúng từ lúc xảy ra Nghiên cứu của Gatev, Schuermann và Strahan (2009) cho thấy rằng các khoản tiền gửi giao dịch có ích cho rủi ro thanh khoản của ngân hàng trong thời gian rủi ro tín dụng tăng cao bởi vì chúng giúp các ngân hàng chống lại việc giải ngân của các cam kết cho vay Acharya, Shin và Yorulmazer (2010) dựa trên các bằng chứng thực nghiệm cho rằng việc nắm giữ tiền mặt của các ngân hàng tăng lên rất nhanh trong suốt tiến trình của cuộc khủng hoảng tài chính gần đây nhất Nghiên cứu này phát triển một mô hình trong đó việc nắm giữ thanh khoản là một lựa chọn chiến lược từ trước của sự quản lý ngân hàng chủ động để mua sắm tài sản của các ngân hàng khác với giá bán tháo trong thời gian khủng hoảng kinh tế Do đó, mối quan hệ mặc nhiên công nhận giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một lần nữa là âm Cuối cùng, Acharya và Naqvi (2012) cho thấy trong thời điểm căng thẳng kinh tế vĩ mô tăng cao (tức là trong một cuộc khủng hoảng), các hộ gia đình và doanh nghiệp gửi tài sản của họ vào các ngân hàng Điều này khiến các ngân hàng phong phú tiền mặt do đó

Trang 23

làm giảm "chất lượng" và giám sát của họ đối với khách hàng hiện có và vay mới Do

đó hàm ý này là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng không di chuyển song song, các ngân hàng nắm giữ thanh khoản cao hơn có thể đảm nhận các danh mục cho vay với các khoản cho vay "xấu"

Kết quả của tất cả các nghiên cứu nói trên đó là mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng theo giả thuyết có thể là dương hay âm, tùy thuộc vào loại của ngân hàng được quan sát, các giả định liên quan đến mô hình kinh doanh của các ngân hàng

và các điều kiện kinh tế trong thời gian ngân hàng hoạt động

Tóm lại, dựa vào các kết quả nghiên cứu trên, tác giả tiến hành khảo sát thực tiễn thị trường Việt Nam để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Các nhân tố nào tác động lên rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Việt Nam?

 Mối tương quan giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam?

 Có tồn tại một mối quan hệ đồng thời/trễ có thể có giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân hàng?

Trang 24

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu và lựa chọn mẫu

Các khoản mục được dùng để tính toán các biến đặc thù ngân hàng trong bài được lấy

từ bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính trong các báo cáo tài chính (BCTC) của 25 NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 Danh sách 25 ngân hàng này được trình bày trong Phụ lục 1 Ban đầu, tác giả thu thập dữ liệu của tất cả các NHTMCP tại Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013 để khảo sát Tuy nhiên, danh sách này được rút ngắn lại chỉ còn 25 ngân hàng, do một lượng lớn dữ liệu liên quan của các ngân hàng không được công bố đầy đủ hay có một số ngân hàng mới thành lập nên số liệu không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu Lưu ý rằng các vụ sáp nhập trong thời gian quan sát được xem như các ngân hàng đã sáp nhập vào đầu thời kỳ quan sát

Tác giả sử dụng bộ dữ liệu hàng năm cho mẫu 25 NHTM để phân tích cho các mục tiêu nghiên cứu đã nêu ở trên Ngoài ra, tác giả còn thu thập thêm bộ dữ liệu hàng quý cho 5 NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam từ Q1/2009 đến Q4/2013 để kiểm định một lần nữa mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân hàng Có hai lý do của việc lấy mẫu 5 ngân hàng này: một là tính đại diện của nó, hai là chỉ có 5 ngân hàng này có công bố đầy đủ dữ liệu hàng quý trong các báo cáo tài chính của mình trong giai đoạn cần thu thập của tác giả, trong khi các ngân hàng khác thì không

Các dữ liệu này được lấy từ trang thông tin điện tử chính thức của mỗi ngân hàng Trong quá trình thu thập số liệu, một số ngân hàng chỉ công bố báo cáo tài chính tóm tắt và/hoặc không đồng nhất trong cách lập báo cáo tài chính, do đó không cung cấp đủ thông tin để có thể tổng hợp tất cả các biến theo như mô hình gốc, nên một số biến không được sử dụng trong mô hình hồi quy Bên cạnh đó, tác giả không tìm thấy cơ sở

Trang 25

nào cho việc thu thập số liệu cho các biến giám sát và quy định tại Việt Nam và cũng không có bất cứ tài liệu nào trước đây đã nghiên cứu về vấn đề này, nên các biến OSP, PMI, BAR cũng không được sử dụng trong mô hình

Các biến kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát, lãi suất chính sách của NHNN (lãi suất cơ bản) được lấy từ trang thông tin điện tử, mục cơ sở dữ liệu của International Financial Statistics (IFS) thuộc Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Dữ liệu của một số biến vĩ mô khác như tổng tiết kiệm cá nhân (Gross Private Savings), tỷ số tiết kiệm (Saving Ratio), lãi suất trái phiếu Chính phủ 1 tháng và 10 năm cũng không được tìm thấy nên tác giả bỏ qua tác động của các biến kiểm soát này lên mô hình hồi quy kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân hàng

Dữ liệu chi tiết của các biến sử dụng trong các mô hình sau được trình bày trong Phụ lục 4 và 5

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản

3.2.1.1 Mô tả biến

Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản xem xét biến đại diện cho rủi ro thanh khoản, các biến đặc thù ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô

Rủi ro thanh khoản: được đo lường bởi khoảng cách tài chính của mỗi ngân hàng,

theo như nghiên cứu Chung- Hua Shen (2009) Theo đó, khoảng cách tài chính được

định nghĩa là chênh lệch giữa các khoản cho vay của ngân hàng và tiền gửi của khách hàng Chia giá trị này cho tổng tài sản để tiêu chuẩn hóa, ta có được tỷ số khoảng cách

tài chính trên tổng tài sản (FGAPR) – biến đại diện cho rủi ro thanh khoản ngân hàng

Trang 26

 FGAPR < 0 thể hiện ngân hàng huy động được nhiều tiền gửi từ các khách hàng

và dùng một phần số tiền này để tài trợ cho các hoạt động cho vay, tức ngân hàng đang trong tình trạng thanh khoản tốt

 FGAPR > 0 cho thấy ngân hàng đang thực hiện các hoạt động cho vay vượt quá

số tiền mà nó huy động được từ tiền gửi của khách hàng, tức ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có những giải pháp kịp thời

Nhân tố đặc thù ngân hàng: Các nhân tố đặc thù xuất phát từ hoạt động kinh doanh

của mỗi ngân hàng sẽ có những tác động nhất định lên rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó, bao gồm: kích thước, tài sản lưu động và nguồn vốn bên ngoài

Kích thước: Logarit tự nhiên của tổng tài sản ngân hàng (SIZE) được sử dụng để đại

diện cho kích thước và bình phương của nó (SIZE2) để nắm bắt các mối quan hệ phi tuyến tính Do lý lẽ “too big to fail”, các ngân hàng lớn sẽ được hưởng lợi từ một sự bảo đảm ngầm, cho phép họ đầu tư vào tài sản rủi ro hơn và chỉ chịu chi phí vay vốn thấp Vì vậy, tác giả này cho rằng các ngân hàng lớn thường cho vay nhiều hơn và do

đó có tỷ số FGAPR lớn hơn nhưng lại ít đối mặt với rủi ro thanh khoản Như vậy, ảnh hưởng của kích thước lên rủi ro thanh khoản ngân hàng là không tuyến tính

Tài sản lưu động: Tài sản lưu động nói chung được phân thành tài sản lưu động ít rủi

ro và tài sản lưu động rủi ro hơn, sau đó chia chúng cho tổng tài sản để chuẩn hóa được hai biến đại diện cho tỷ số tài sản lưu động ít rủi ro trên tổng tài sản (Less risk liquidity assets - LRLA) và tỷ số tài sản lưu động rủi ro hơn trên tổng tài sản (Risk liquidity assets - RLA) Cách phân chia tài sản lưu động giúp các ngân hàng linh động trong việc phòng ngừa rủi ro thanh khoản Cụ thể:

Trang 27

Trong đó:

Tài sản lưu động ít rủi ro = Tiền mặt gửi tại NHNN + Tín phiếu kho bạc + Chứng khoán Chính phủ

Tài sản lưu động rủi ro hơn = Các khoản tiền gửi ngân hàng từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác + Tín phiếu khác + chứng khoán kinh doanh

Bởi vì các ngân hàng có thể bán hoặc thế chấp tài sản lưu động để có được nguồn vốn cần thiết nên việc nắm giữ tài sản lưu động có thể làm giảm rủi ro thanh khoản của ngân hàng Vì vậy LRLA và RLA được mong đợi có tác động ngược chiều đối với FGAPR

Nguồn vốn bên ngoài: Tỷ số nguồn vốn bên ngoài trên tổng nợ phải trả (EFD) được

dùng để đại diện cho sự phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn bên ngoài Nguồn vốn bên ngoài là tổng của nguồn vốn huy động từ thị trường tiền tệ và các nguồn tài trợ khác Cụ thể:

Trong đó:

Nguồn vốn bên ngoài = Vay từ các TCTD khác + Phát hành giấy tờ có giá + Vốn tài trợ, uỷ thác đầu tư

Các ngân hàng dựa trên thị trường tiền tệ ngắn hạn hơn là sử dụng tiền gửi để tài trợ cho các khoản cho vay có thể phải đối mặt với vấn đề thanh khoản trong tương lai Nguồn vốn cần vay trong thị trường tiền tệ càng lớn thì các ngân hàng sẽ phải đối mặt

Trang 28

với các vấn đề thanh khoản từ sự phụ thuộc như vậy càng lớn Vì vậy, EFD và FGAPR được mong đợi có mối quan hệ cùng chiều

Nhân tố kinh tế vĩ mô: Hai biến phần trăm thay đổi hàng năm của tổng sản phẩm quốc

nội (GDPC) và phần trăm thay đổi hàng năm của lạm phát (INF) được sử dụng để nắm bắt tác động của môi trường kinh tế vĩ mô Bên cạnh đó, các biến phần trăm thay đổi hàng năm của GDP năm trước (GDPCt-1) và phần trăm thay đổi hàng năm của lạm phát năm trước (INFt-1) được bổ sung để nắm bắt các hiệu ứng trễ Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khi hoạt động cho vay bị hạn chế, các ngân hàng gia tăng tích trữ thanh khoản; ngược lại, khi kinh tế càng tăng trưởng, các ngân hàng cho vay nhiều hơn nhưng lại thu hút tiền gửi ít hơn dẫn đến sự gia tăng của khoảng cách tài chính làm rủi ro thanh khoản tăng Do đó, có thê kỳ vọng một mối quan hệ cùng chiều giữa các biến này với

 Lit là rủi ro thanh khoản của ngân hàng thứ i tại thời điểm t, với i = 1, 2, , N; t

= 1, 2, , T Lit là tỷ số khoảng cách tài chính (FGAPR)

 , lần lượt là các biến đặc thù ngân hàng và kinh tế vĩ mô với b = 1, 2, , B; m = 1, 2, , M; ứng với hoạt động của ngân hàng i

 c là hằng số; ε là sai số

Trang 29

Mở rộng phương trình (1) để phản ánh các biến có dạng như sau:

FGAPR it = c i + λ 1 SIZE it + λ 2 SIZE 2 it + λ 3 LRLA it + λ 4 RLA it + λ 5 EFD it (2)

+ γ 1 GDPC jt + γ 2 GDPC jt -1 + γ 3 INF jt + γ 4 INF jt -1 + ɛ itTrước tiên, tác giả sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng (panel unit root test) để kiểm tra tính dừng của dữ liệu trước khi hồi quy với giả thuyết H0 là dữ liệu không dừng Sau đó, lần lượt ước lượng phương trình (2) bằng phương pháp bình phương bé nhất dạng bảng kết hợp hiệu ứng cố định (FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (RE), với biến phụ thuộc là FGAPR của mỗi ngân hàng và các biến còn lại là các biến độc lập Sau đó dùng kiểm định Hausman để chọn ra mô hình phù hợp nhất với giả thuyết như sau: Giả thuyết H0: Mô hình có hiệu ứng ngẫu nhiên là phù hợp

Giả thuyết H1:Mô hình có hiệu ứng cố định là phù hợp

Sau khi chọn được mô hình với hiệu ứng nào là phù hợp, tác giả tiến hành chọn lọc các biến có ý nghĩa thống kê và loại bỏ các biến không có ý nghĩa ra khỏi mô hình bằng các kiểm định Log Likelihood và Ward Cuối cùng cho ra mô hình xác định các nhân

tố tác động có ý nghĩa lên rủi ro thanh khoản

3.2.2 Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng

3.2.2.1 Mô tả biến

Trong mô hình này, tác giả xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận ngân hàng với biến rủi

ro thanh khoản, các biến đặc thù ngân hàng, biến cấu trúc thị trường và các biến kinh tế

vĩ mô Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản bình quân (ROA), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn cổ phần bình quân (ROE) và tỷ lệ lãi cận biên (NIM) lần lượt được dùng để đánh giá lợi nhuận của ngân hàng ROAA phản ánh khả năng quản lý của một ngân hàng để tạo ra lợi nhuận từ tài sản của ngân hàng ROAE cho thấy sự thu hồi lợi nhuận của các

Trang 30

cổ đông từ vốn chủ sở hữu của họ NIM đo khoảng cách giữa những gì mà ngân hàng trả cho những người gửi tiền và ngân hàng nhận được từ khách hàng vay Như vậy, NIM tập trung vào các hoạt động huy động và cho vay truyền thống của ngân hàng

Nhân tố rủi ro thanh khoản: Tỷ số khoảng cách tài chính trên tổng tài sản (FGAPR)

đại diện cho rủi ro thanh khoản và được coi như là một nhân tố quyết định nội sinh của lợi nhuận ngân hàng Các ngân hàng có tỷ số FGAPR cao phải sử dụng tiền mặt, bán tài sản lưu động và huy động thêm nhiều nguồn vốn bên ngoài để bổ sung cho nguồn vốn dự trữ trong trường hợp xảy ra thiếu hụt thanh khoản, do đó làm tăng chi phí vay vốn và làm giảm lợi nhuận Tuy nhiên, các ngân hàng nắm giữ tài sản lưu động bằng tiền mặt và chứng khoán Chính phủ nhiều (tài sản có mức độ thanh khoản cao) nhận thu nhập từ lãi thấp hơn so với các tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp như chứng khoán công ty Như vậy, danh mục tài sản lưu động tăng lên sẽ làm giảm rủi ro thanh khoản ngân hàng, dẫn đến phí bảo hiểm rủi ro thanh khoản thấp hơn và làm giảm biên lãi ròng Vì vậy, FGAPR được mong đợi có mối quan hệ ngược chiều với ROA, ROE và mối quan hệ cùng chiều với NIM

Nhân tố đặc thù ngân hàng: Nhân tố đặc thù ngân hàng bao gồm kích thước, vốn và

rủi ro tín dụng

Kích thước: Kích thước ngân hàng thường được sử dụng để đo lường hiệu quả kinh tế

hay phi kinh tế do mở rộng quy mô trong ngành công nghiệp ngân hàng Sự khác biệt

về chi phí có thể gây ra một mối quan hệ cùng chiều giữa kích thước và lợi nhuận ngân hàng, nếu đó là hiệu quả kinh tế do mở rộng quy mô có ý nghĩa Ngoài ra, kích thước

có mối quan hệ chặt chẽ với an toàn vốn của một ngân hàng kể từ khi các ngân hàng tương đối lớn có xu hướng nâng cao vốn giá rẻ, do đó thu nhiều lợi nhuận hơn Tuy nhiên, tác động của kích thước lên lợi nhuận ngân hàng chỉ cùng chiều đến một giới hạn nhất định nào đó Khi vượt điểm này, ảnh hưởng của kích thước có thể ngược chiều do tính chất quan liêu trong quản lý hay tham nhũng Như vậy, mối quan hệ này

Trang 31

có thể là phi tuyến tính Tương tự như trên, logarit tự nhiên của tổng tài sản ngân hàng (SIZE) được dùng để đại diện cho kích thước, và bình phương của nó (SIZE2) để nắm bắt mối quan hệ phi tuyến tính

Vốn: Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tài sản (ETA) được dùng để đại diện cho sức mạnh vốn

của ngân hàng Các ngân hàng có tỷ số ETA cao được coi là tương đối an toàn hơn trong trường hợp mất mát hoặc thanh lý tài sản Bên cạnh đó, việc ngân hàng tăng vốn

có thể làm tăng thu nhập bằng cách giảm các chi phí dự phòng cho trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính Các ngân hàng với rủi ro càng thấp có khả năng chi trả cho khách hàng càng cao, do đó chi phí vay vốn bên ngoài càng thấp Vì vậy, các ngân hàng có tỷ số ETA cao hơn sẽ có nhu cầu tài trợ bên ngoài ít hơn và do đó lợi nhuận cao hơn

Rủi ro tín dụng: Tỷ số chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản cho vay (LLPL)

được sử dụng để đại diện cho rủi ro tín dụng Thay đổi trong rủi ro tín dụng có thể phản ánh những thay đổi trong danh mục các khoản cho vay của ngân hàng và nó có thể ảnh hưởng lên lợi nhuận ngân hàng Bên cạnh đó, các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động cho vay mang tính chất rủi ro cao sẽ tích lũy nhiều các khoản vay chưa thanh toán, dẫn đến lợi nhuận thấp Myrna R Berríos (2013) cũng đồng tình với quan điểm này khi cho rằng hoạt động cho vay nhiều rủi ro khiến các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro cao hơn hoặc tính thêm dự phòng cho các khoản vay khó đòi, dẫn đến lợi nhuận giảm Tuy nhiên, các khoản vay rủi ro cao thường cho thu nhập từ lãi cao do nguy cơ không trả nợ hoặc vỡ nợ tín dụng từ phía khách hàng đòi hỏi các ngân hàng áp dụng một mức phí bảo hiểm rủi ro ngầm trong các mức lãi suất cho vay Vì vậy, LLPL được mong đợi có mối quan hệ ngược chiều với ROA, ROE và cùng chiều với NIM

Trang 32

Nhân tố cấu trúc thị trường: Cấu trúc thị trường được đại diện bởi tỷ số tập trung

(CON) CON được tính bằng cách lấy tổng tài sản được nắm giữ bởi ba ngân hàng thương mại lớn nhất chia cho tổng tài sản của tất cả các ngân hàng thương mại trong nước Giá trị này càng cao, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng thấp Theo giả thuyết Cấu trúc - Hành vi - Kết quả (Structure Conduct Performance – SCP) các ngân hàng tại các thị trường tập trung cao có xu hướng cấu kết với nhau để đạt được lợi nhuận độc quyền (Seanicaa Edwards et al, 2005)

Nhân tố kinh tế vĩ mô: Tương tự như mô hình trước, để nắm bắt được tác động của

môi trường kinh tế vĩ mô, các biến số kinh tế vĩ mô được sử dụng là GDPC, INF, GDPCt-1, INFt-1 GDP là một thước đo tổng hợp các hoạt động kinh tế trong một nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế cao khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn, cho phép họ tính phí lợi nhuận cao hơn, từ đó nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng Như vậy, GDPC và GDPCt-1 có thể sẽ cho một tác động cùng chiều lên lợi nhuận ngân hàng Mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận ngân hàng không rõ ràng vì nó phụ thuộc vào việc lạm phát kỳ vọng có được dự đoán đầy đủ hay không Một tỷ số lạm phát được dự đoán đầy đủ bởi bộ phận quản lý của ngân hàng tạo điều kiện để các ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất một cách thích hợp nhằm tăng doanh thu nhanh hơn so với chi phí, do đó có được lợi nhuận kinh tế cao hơn Nếu lạm phát diễn biến bất ngờ, các ngân hàng có thể chậm chạp trong việc điều chỉnh lãi suất, dẫn đến kết quả là chi phí tăng nhanh hơn so với doanh thu, vì thế có tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng

3.2.2.2 Mô hình

Trang 33

Để kiểm tra mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng, mô hình hồi quy bảng dữ liệu các biến công cụ có dạng như sau:

 Pit là lợi nhuận hoạt động ngân hàng của ngân hàng thứ i tại thời điểm t, với i =

1, 2, , N; t = 1, 2, , T Pit đại diện cho ROAA, ROAE và NIM

 lần lượt là các biến đặc thù ngân hàng, cấu trúc thị trường và các biến kinh tế vĩ mô với b = 1, 2, , B; k = 1, , K; m = 1, , M; ứng với hoạt động của ngân hàng i;

 c là hằng số; ε là sai số

 Lit là rủi ro thanh khoản FGAPR và được coi như là một biến nội sinh

 , là nguyên nhân của rủi ro thanh khoản và là các biến công cụ

Mở rộng phương trình (3) để phản ánh các biến, mô hình được xây dựng như sau:

P it = c i + β l FGAPR it + θ 1 SIZE it + θ 2 SIZE 2 it + θ 3 ETA it + θ 4 LLPL it (4)

+ ω 1 CON it + η 1 GDPC t + η 2 GDPC t -1 + η 3 INF t + η 4 INF t -1 + ɛ it

Với:

Trang 34

FGAPR it = c i + λ 1 SIZE it + λ 2 SIZE 2 it + λ 3 LRLA it + λ 4 RLA it + λ 5 EFD it

+ γ 1 GDPC t + γ 2 GDPC t -1 + γ 3 INF t + γ 4 INF t -1 + ɛ it

Để nắm bắt được tác động nội sinh của biến đại diện rủi ro thanh khoản lên lợi nhuận ngân hàng cũng như các tác động đồng thời giữa chúng, tác giả thực hiện hồi quy mô hình hệ phương trình (7) thông qua phương pháp bình phương bé nhất hai giai đoạn (2SLS) Trong đó, ROA, ROE và NIM của mỗi ngân hàng lần lượt là biến phụ thuộc Tương tự như trên, tác giả cũng lần lượt hồi quy các biến độc lập theo biến phụ thuộc

để chọn lọc ra mô hình phù hợp nhất với các biến có ý nghĩa thống kê Các biến sử dụng trong các mô hình trên được trình bày chi tiết trong Phụ lục 2

3.2.3 Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

3.2.3.1 Mô tả biến

Hai biến chính được sử dụng trong mô hình bao gồm: biến đại diện cho rủi ro thanh khoản là LR (Liquidity risk) và rủi ro tín dụng là CR (Credit risk) dựa trên nghiên cứu trước đó của Imbierowicz và Rauchii (2014)

Biến rủi ro thanh khoản (LR)

Biến LR được tính bằng cách lấy khối lượng của tất cả các tài sản mà ngân hàng có thể chuyển thành tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí thấp để trang trải các khoản rút tiền ngắn hạn có thể có trừ đi khối lượng nợ có thể bị rút khỏi ngân hàng trong thời gian ngắn Biến này được chuẩn hóa bằng cách chia cho tổng tài sản Giá trị cuối cùng của biến LR có thể là dương hay âm LR được dùng để giải thích cho rủi ro không thể đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn

Cụ thể, biến LR được tính toán như sau:

Trang 35

Nếu LR < 0: Cho thấy ngân hàng đó có nhiều tài sản ngắn hạn hơn các nghĩa vụ nợ, do

đó có thể trang trải các khoản rút tiền ngắn hạn ở bên Nợ thông qua tài sản lưu động

Tỷ lệ này càng thấp thì rủi ro thanh khoản càng thấp

Nếu LR > 0: Chỉ ra rằng ngân hàng sẽ phải khai thác các nguồn khác nhiều hơn thay vì chỉ tài sản ngắn hạn để trang trải các khoản rút tiền của tất cả các khoản nợ ngắn hạn Điều này cho thấy rủi ro thanh khoản là rất cao trong các trường hợp như rút tiền hàng loạt

Biến rủi ro tín dụng (CR)

Biến CR bằng cách lấy các khoản tổn thất cho vay ròng trung bình (các khoản vay mất

đi (loan charge-offs) trừ đi các khoản vay được hoàn nhập (loan recoveries)) trong

năm hiện tại chia cho dự phòng tổn thất cho vay trung bình được ghi nhận trong năm trước đó Việc đo lường này mô tả khả năng kinh tế của một ngân hàng để trang trải cho các tổn thất cho vay tương lai gần đến hạn Cách đo lường này không chỉ đại diện cho rủi ro tín dụng ngắn hạn, bởi vì nó có thể bị thay đổi và/hoặc chịu ảnh hưởng bởi việc quản lý ngân hàng trên cơ sở ngắn hạn, mà còn đại diện cho các khoản tổn thất cho vay không mong muốn

Cụ thể biến CR được tính toán như sau:

Trang 36

Trong đó, dự phòng nợ xấu bao gồm các khoản dự phòng cho các nhóm nợ 3,4 và 5 Nếu CR > 1: Ngân hàng có thể được giả định là có các khoản tổn thất cho vay bất ngờ

Do đó, một tỷ lệ CR cao hơn hàm ý rủi ro tín dụng cao hơn Biến này được dùng đại diện chính cho rủi ro tín dụng bởi vì nó cho phép nắm bắt hoạt động quản lý rủi ro cho vay của một ngân hàng Do đó, chúng ta có thể quan sát chính xác các khoản tổn thất cho vay được dự đoán và liệu một ngân hàng có đối mặt với các rủi ro (về tài sản) ngay lập tức do các khoản tổn thất cho vay trầm trọng và bất ngờ hay không

Các biến kiểm soát:

Ngoài ra, mô hình còn có các biến kiểm soát đại diện cho sức khoẻ tổng quát của ngân hàng bao gồm:

Kích thước đại diện quy mô ngân hàng (SIZE)

Trang 37

Tốc độ tăng trưởng tín dụng (Loan growth - LG)

Trang 38

Các biến vĩ mô bao gồm: Logarit của GDP (Log(GDP)), lãi suất chính sách tiền tệ hay lãi suất cơ bản (Interest rate – IR) và đòn bẩy trung bình hàng năm của ngành ngân hàng (LEVERAGE)

3.2.3.2 Mô hình

Để giải thích cho mối quan hệ qua lại hoặc trễ có thể có giữa các biến LR và CR của các NHTM tại Việt Nam, tác giả sử dụng một cách tiếp cận phương trình cấu trúc mà một hệ thống các phương trình được ước tính thông qua phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) dựa trên nghiên cứu của Imbierowicz và Rauchii (2014) như sau:

CRi,t , LRi,t lần lượt là biến rủi ro phụ thuộc của ngân hàng i tại thời điểm t

CRi,t – τ , LRi,t – τ lần lượt là biến trễ của biến phụ thuộc với độ trễ tương ứng từ 1 đến 4

và 0 đến 3 cho phương trình đầu tiên và ngược lại đối với phương trình thứ hai

Mở rộng hệ các phương trình (5) để phản ánh các biến, mô hình được xây dựng như sau:

CR i,t = c i + µ 1 LR i,t + µ 2 LR i,t-1 + µ 3 LR i,t-2 + µ 4 LR i,t-3 (6)

+ µ 5 CR i,t-1 + µ 6 CR i,t-2 + µ 7 CR i,t-3 + µ 8 CR i,t-4

+ µ 9 SIZE i,t + µ 10 ETA i,t + µ 11 ROA i,t + µ 12 OER i,t + µ 13 LG i,t + µ 14 SLD i,t

Trang 39

+ µ 15 TTA i,t + µ 16 CTL i,t + µ 17 RETL i,t + µ 18 ATL i,t + µ 19 ITL i,t

+ µ 20 Log(GDP) i,t + µ 21 IR i,t + µ 22 LEVERAGE i,t + ɛ it

LR i,t = c i + ψ 1 CR i,t + ψ 2 CR i,t-1 + ψ 3 CR i,t-2 + ψ 4 CR i,t-3

+ ψ 5 LR i,t-1 + ψ 6 LR i,t-2 + ψ 7 LR i,t-3 + 8 LR i,t-4

+ ψ 9 SIZE i,t + ψ 10 ETA i,t + ψ 11 ROA i,t + ψ 12 OER i,t + ψ 13 LG i,t + ψ 14 SLD i,t + ψ 15 TTA i,t + ψ 16 CTL i,t + ψ 17 RETL i,t + ψ 18 ATL i,t + ψ 19 ITL i,t

+ ψ 20 Log(GDP) i,t + ψ 21 IR i,t + ψ 22 LEVERAGE i,t + ɛ it

Hệ các phương trình trên được ước tính đồng thời bằng phương pháp bình phương bé nhất ba giai đoạn (3SLS) để có thể kiểm soát vấn đề nội sinh, tác động đồng thời và trễ

có thể có của các biến rủi ro độc lập lên biến rủi ro phụ thuộc

Để tính toán tổng tác động của biến rủi ro độc lập đối với biến rủi ro phụ thuộc tương ứng, Imbierowicz và Rauchii (2014) tổng hợp các hệ số của cái đầu và chia các hệ số này cho độ lệch chuẩn nội bộ của biến phụ thuộc Do đó có thể điều tra sự thay đổi trung bình trong số các độ lệch chuẩn của biến phụ thuộc khi biến độc lập thay đổi 1% Lưu ý rằng việc sử dụng độ lệch chuẩn nội bộ là quan trọng vì các giá trị có thể thay đổi đáng kể qua các ngân hàng trong khi thay đổi ít hơn nhiều trong một ngân hàng

Về cơ bản, một số nhân tố tác động lên rủi ro thanh khoản trong mô hình của Imbierowicz và Rauchii (2014) không khác nhiều so với mô hình nguyên nhân rủi ro thanh khoản của Chung-Hua Shen (2009) mà tác giả đã đề cập ở trên Tuy nhiên, cách xác định biến rủi ro thanh khoản có phần chi tiết và đầy đủ hơn, số lượng các biến kiểm soát (các biến tác động lên rủi ro thanh khoản) cũng nhiều hơn Do nhóm tác giả này đã tham khảo một lượng lớn các tài liệu nghiên cứu trước đó để tìm ra các nhân tố tác động lên rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng, nhằm củng cố, hỗ trợ

Trang 40

cho các kết quả hồi quy xác định mối quan hệ giữa hai loại rủi ro này Tuy nhiên, trong bài viết của Imbierowicz và Rauchii (2014) không đề cập đến tác động cụ thể của các nhân tố đặc thù ngân hàng lên rủi ro thanh khoản, mà chỉ quan tâm đến tác động qua lại và/hoặc trễ có thể có giữa hai nhân tố rủi ro chính Do đó, trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ không đi sâu vào phần phân tích các biến kiểm soát tác động lên các biến độc lập vì mục đích ngắn gọn

Đầu tiên, tác giả thực hiện kiểm định hệ thống các phương trình (6) với bộ dữ liệu hàng năm của mẫu 25 NHTMCP giai đoạn 2006 – 2013 Sau đó chia nhỏ mẫu theo quy mô tổng tài sản của các ngân hàng để xem xét một lần nữa mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Theo Imbierowicz và Rauchii (2014), cơ sở phân loại mẫu dữ liệu là sử dụng phần trăm thứ 25 và 75 của tổng số tài sản của các ngân hàng Do số lượng mẫu các ngân hàng quan sát tại Việt Nam ít nên tác giả chỉ thực hiện phân chia tổng mẫu thành hai mẫu con gồm các ngân hàng lớn và các ngân hàng nhỏ Theo quan sát, mẫu 25 ngân hàng này có quy mô tài sản chênh lệch đáng kể và phân hoá rõ rệt giữa hai nhóm ngân hàng Nhóm các ngân hàng lớn có quy mô tài sản trên 150.000 tỷ đồng, cũng là những ngân hàng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên thị trường tài chính trong nước, bao gồm: CTG, BIDV, VCB, SCB, MBB, EIB, ACB, STB, Techcombank (tên đầy đủ của các ngân hàng này được trình bày trong Phụ lục 1) Các ngân hàng còn lại thuộc mẫu các ngân hàng nhỏ, có quy mô tổng tài sản từ 6.000 tỷ - 125.000 tỷ đồng Tiếp đó, để kiểm tra tính vững của các kết quả hồi quy trên, tác giả thực hiện phân tích

cả hai rủi ro trong một mô hình vector tự hồi quy dạng bảng (panel VAR) để xem xét mối quan hệ trễ có thể có giữa hai biến đại diện cho rủi ro thanh khoản (LR) và rủi ro tín dụng (CR)

Với nghiên cứu gốc của Imbierowicz và Rauchii (2014) phân tích mối quan hệ giữa rủi

ro thanh khoản và rủi ro tín dụng dựa trên bộ dữ liệu hàng quý của các ngân hàng thương mại tại Mỹ, tác giả cũng thực hiện một kiểm định mô hình với bộ dữ liệu hàng

Ngày đăng: 09/04/2017, 08:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Acharya, V.V., Naqvi, H., 2012. The seeds of a crisis: a theory of bank-liquidity and risk-taking over the business cycle. Journal of Financial Economics, 106:349–366 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
2. Acharya, V.V., Shin, H.S., Yorulmazer, T., 2010. Crisis resolution and bank liquidity. Review of Financial Studies, 24: 2166–2205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acharya, V.V., Shin, H.S., Yorulmazer, T., 2010. Crisis resolution and bank liquidity. "Review of Financial Studies
4. Aspachs, O., Nier, E., and Tiesset, M., 2005. Liquidity, Banking Regulation and the Macroeconomy: Evidence on Bank Liquidity Holdings from A Panel of UK- Resident Banks. Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aspachs, O., Nier, E., and Tiesset, M., 2005. Liquidity, Banking Regulation and the Macroeconomy: Evidence on Bank Liquidity Holdings from A Panel of UK-Resident Banks
5. Athanasoglou, P. P., Delis, M. D., and Staikouras, C. K., 2006. Determinants of Bank Profitability in the South Eastern European Region. Bank of Greece Working Paper, 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank of Greece Working Paper
6. Barth, J. R., Nolle, D. E., Phumiwasana, T., and Yago, G., 2003. A Cross- Country Analysis of the Bank Supervisory Framework and Bank Performance.Financial Markets, Institutions &amp; Instruments, 12: 67-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Markets, Institutions & Instruments
7. Bjửrn Imbierowiczi và Christian Rauchii, 2014. The Relationship between Liquidity Risk and Credit Risk in Banks. Journal of Banking &amp; Finance, 40:242-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance
8. Bryant, J., 1980. A model of reserves, bank runs and deposit insurance. Journal of Banking &amp; Finance, 4: 335–344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance
9. Bryant, John, 1980. A Model of Reserves, Bank Runs and Deposit Insurance. Journal of Banking &amp; Finance, 4(4): 335-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance
11. Cooper, M. J., Jackson, W. E., and Patterson, G. A., 2003. Evidence of Predictability in the Cross-Section of Bank Stock Returns. Journal of Banking and Finance, 27: 817-850 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking and Finance
13. Dermine, J., 1986. Deposit rates, credit rates, and bank capital: the Klein-Monti model revisited. Journal of Banking &amp; Finance, 10: 99–114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance
14. Diamond, Douglas W., 1997. Liquidity, banks and markets. The Journal of Political Economy, 105: 928–956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Political Economy
15. Diamond, Douglas W. and Philip H. Dybvig, 1983. Bank runs, deposit insurance, and liquidity. The Journal of Political Economy, 91: 401–419 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Political Economy
16. Diamond, D.W., Rajan, R.G., 2005. Liquidity shortages and banking crises. Journal of Finance, 60: 615–647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance
17. Eichengreen, B., and Gibson, H. D., 2001. GreekBanking at the Dawn ofthe New Millennium. Paper presented at the Centre for Economic Policy Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eichengreen, B., and Gibson, H. D., 2001. GreekBanking at the Dawn ofthe New Millennium
19. Gatev, E., Schuermann, T., Strahan, P.E., 2009. Managing bank liquidity risk: how deposit-loan synergies vary with market conditions. Review of Financial Studies, 22: 995–1020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Financial Studies
20. Goddard, J., Molyneux, P., and Wilson, J. O. S., 2004. Dynamics of Growthand Profitability in Banking. Journal of Money, Credit and Banking, 36: 1069-1090 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Money, Credit and Banking
21. Gorton, Gary and Andrew Metrick, 2011. Securitized Banking and the Run on Repo. Journal of Financial Economics, 104(3): 425-451 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
22. Iyer, R., Puri, M., 2012. Understanding bank runs: the importance of depositor- bank relationships and networks. American Economic Review, 102: 1414–1445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review
23. Jeanne, O. and Svensson, L.O., 2007. Credible commitment to optimal escape from a liquidity trap: the role of the balance sheet. The American Economic Review, 97(1): 474-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review
24. Jose Arias, Mauricio Jara-Bertin and Arturo Rodriguez, 2014. Determinants of Bank Performance: Evidence for Latin America. Working paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jose Arias, Mauricio Jara-Bertin and Arturo Rodriguez, 2014. Determinants of Bank Performance: Evidence for Latin America

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến đặc thù ngân hàng, cấu trúc thị trường và kinh - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến đặc thù ngân hàng, cấu trúc thị trường và kinh (Trang 42)
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín (Trang 53)
Bảng 4.3: Kiểm định nghiệm đơn vị của các biến - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.3 Kiểm định nghiệm đơn vị của các biến (Trang 54)
Bảng 4.4A: Kết quả thực nghiệm của mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.4 A: Kết quả thực nghiệm của mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh (Trang 55)
Bảng 4.6B: Kiểm định Wald loại bỏ biến GDPC t-1 - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.6 B: Kiểm định Wald loại bỏ biến GDPC t-1 (Trang 59)
Bảng 4.6C: Kiểm định Log Likelihood loại bỏ biến INF - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.6 C: Kiểm định Log Likelihood loại bỏ biến INF (Trang 59)
Bảng 4.7A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.7 A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng (Trang 62)
Bảng 4.8A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.8 A: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với (Trang 66)
Bảng 4.8B: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.8 B: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với (Trang 67)
Bảng 4.9: Kết quả ƣớc lƣợng panel VAR cho hai biến rủi ro LR và CR. - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.9 Kết quả ƣớc lƣợng panel VAR cho hai biến rủi ro LR và CR (Trang 69)
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với - Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w