1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giải Pháp Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng (PENAEUS VANNANEI) Thâm Canh Trong Môi Trường Nước Có Độ Mặn Dưới 10‰

18 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 850,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước đến nay tôm Chân trắng chỉ được nuôi trong môi trường nước có độ mặn từ 18‰ đến 30‰, hoàn toàn chưa được nuôi trong môi trường nước lợ có độ mặn dưới 10‰.. Trên cơ sở đặc tính s

Trang 1

GIẢI PHÁP NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (PENAEUS VANNANEI) THÂM CANH TRONG MÔI

TRƯỜNG NƯỚC CÓ ĐỘ MẶN DƯỚI 10‰

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra giải pháp

Tôm Chân trắng (P.vannamei) trước đây được nuôi ở các nước Trung Mỹ Hiện nay tôm Chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi chính trên thế giới trong vùng nước lợ mặn trong đó

có Việt Nam Năm 2002 được đưa về nuôi đầu tiên ở Việt Nam đến năm 2006 sản lượng tôm Chân trắng chỉ đạt 15000 tấn nhưng những năm gần đây sản lượng đã tăng vọt Hiện nay các tỉnh dọc bờ biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đều quy hoạch vùng nuôi tôm chân trắng Tôm chân trắng là đối tượng dễ nuôi ít bị bệnh, thời gian nuôi ngắn và là đối tượng được thị trường trên thế giới và trong nước ưa chuộng

Từ trước đến nay tôm Chân trắng chỉ được nuôi trong môi trường nước có độ mặn từ 18‰ đến 30‰, hoàn toàn chưa được nuôi trong môi trường nước lợ (có độ mặn dưới 10‰) Khu vực môi trường nước lợ từ trước tới nay chỉ nuôi cá truyền thống vì hầu như các tháng trong năm chỉ lấy được nước có độ mặn thấp, thời điểm mùa mưa nước ở khu vực này độ mặn

có khi giảm xuống chỉ còn 1‰ đến 2 ‰ do không lấy được nước mặn Tôm Chân trắng là đối tượng có khả năng thích ứng với độ mặn từ (0,5-45)‰, nhưng trong điều kiện độ mặn 18‰ trở lên khi giảm đột độ mặn tôm thường bị sốc chết hoặc yếu bỏ ăn tạo điều kiện cho bệnh phát triển dẫn đến chết hàng loạt Khi nuôi trong môi trường có độ mặn trên 18 ‰ thì lượng oxy hòa tan vào trong nước thấp hơn khi nuôi trong môi trường nước có độ mặn thấp dưới 10‰ Trên cơ sở đặc tính sinh học của tôm Chân trắng, sáng kiến Nuôi thương phẩm tôm Chân trắng trong môi trường nước có độ mặn dưới 10‰” đã được thực hiện trong đó ý tưởng sáng tạo là: Tôm Chân trắng chỉ được nuôi trong môi trường nước có độ mặn trên 10‰ nay

đã được nuôi trong môi trường nước có độ mặn dưới 10‰ Nuôi trong điều môi trường có độ mặn dưới 10‰ khi trời mưa độ mặn xuống (1-2)‰ tôm vẫn khỏe không bị sốc, ít ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm, điều này có ý nghĩa tăng thu nhập và đa dạng đối tượng nuôi cho vùng nuôi có độ mặn dưới 10‰

Trang 2

Do chu kỳ nuôi tôm thẻ Chân trắng ngắn (3 tháng) cho nên đối tượng này sẽ nuôi được 2

vụ trong năm Do vụ 2 là thời điểm mưa nhiều dẫn đến độ mặn hay giảm đột ngột do vậy tôm thường bị yếu, bỏ ăn và dễ bị bệnh

II Mô tả giải pháp kỹ thuật

1 Giải pháp kỹ thuật trước khi có giải pháp

Từ trước đến nay tôm Chân trắng hoàn toàn được nuôi trong môi trường nước mặn Hiện nay chưa có thông tin chính thống nào về nuôi tôm Chân trắng trong môi trường nước lợ do

đó sự thành công của sáng kiến này mở ra một nghề nuôi mới đó là nghề nuôi tôm Chân trắng trong môi trường nước lợ, làm đa dạng hóa đối tượng nuôi và tăng thu nhập cho người nuôi ở klhu vực này

2 Giải pháp kỹ thuật sau khi có giải pháp

Tên giải pháp: “ Nuôi thương phẩm tôm Chân trắng trong môi trường nước lợ (có độ mặn dưới 10‰)”

a ý tưởng của giải pháp

Là một đối tượng đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao, được ưa chuộng cả ở thị trường trong và ngoài nước Tuy nhiên tôm Chân trắng hoàn toàn được nuôi trong môi trường nước

có độ mặn trên 10‰ vì vậy sáng kiến thử nghiệm này đưa ra giải pháp “Nuôi tôm Chân trắng (P.vannamei) thâm canh trong môi trường nước lợ” trong đó ý tưởng sáng tạo quyết định sự thành công của giải pháp là: “ đưa tôm Chân trắng từ một loài chỉ được nuôi trong môi trường nước mặn vào nuôi trong môi trường nước lợ”, nâng cao tỷ lệ sống, tạo được sản lượng cao,

đa dạng hóa đối tượng nuôi trong vùng nước có độ mặn dưới 10‰

*ưu điểm:

- Đa dạng hóa đối tượng nuôi cho vùng nước lợ

- Nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích sản xuất nông nghiệp

- Dễ áp dụng, nhân rộng ra môi trường nước lợ

b Các nội dung chủ yếu của kỹ thuật nuôi tôm Chân thẻ trắng trong môi trường nước

lợ (có độ mặn dưới 10‰).

Trang 3

b1 Chuẩn bị khu nuôi

- Toàn bộ khu nuôi thâm canh tôm thẻ Chân trắng trong môi trường nước có độ mặn thấp gồm có:

+ Một ao ương để thuần hóa độ mặn có diện tích 1000m2 Ao được lót bạt xung quanh

bờ, đáy là cát dầy 20cm, độ sâu mức nước 1m

+ Một ao nuôi được chuyển từ ao nuôi cá truyền thống sang ao nuôi tôm thẻ Chân trắng thâm canh, ao có độ mặn từ (1-10) ‰, có diện tích 3000m2 Ao được lót bạt xung quanh bờ, đáy là cát dầy 20cm, chiều cao bờ 2m, độ sâu mực nước 1,4m Ao có 2 cống, cống lấy nước

và cống thoát nước Ao được bố trí hệ thống sục khí để đảo nước cung cấp oxy cho ao, tạo dòng chảy để gom chất thải vào khu vực giữa ao, hệ thống sục khí gồm 2 dàn quạt đặt ở hai bên bờ ao, cánh quạt đầu tiên cách bờ ao 5m

+ Một ao chứa lắng để chứa nước và xử lý nước rồi cấp cho ao khi cần, ao có diện tích 1000m2 và có 1 dàn quạt để đảo nước khi xử lý

+ Một mương cấp nước, một mương thoát nước

+ Có nguồn nước sạch để cung cấp cho khu nuôi

+ Khu nuôi đáp ứng được các điều kiện của thông tư số 45/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

- Ao nuôi sau khi thu hoạch xong được tu sửa lại bờ cống, thay lớp cát đáy, bón vôi tỏa cho ao với lượng 10kg/100m2 và phơi ao từ (5-7) ngày sau đó lấy nước vào ao qua cống cấp

có lưới chắn dày để ngăn chặn địch hại và rác vào ao, mực nước lấy vào ao là 1,4m Sau khi lấy nước vào ao để từ (3-5) ngày cho các trứng cá, tôm… nở hết rồi tiến hành xử lý nước bằng chlorine với lượng 30g/m3 nước đồng thời chạy máy quạt nước để hóa chất được phân

bố đều trong ao Sau khi xử lý chlorine được 3 ngày thì tiến hành gây màu nước cho ao bằng phân hóa học ure và NPK theo tỷ lệ (1:1) với lượng (4-5)kg/1000m2, nên hòa tan phân vào nước rồi té khắp ao đồng thời chạy máy quạt nước để đảo đều phân trong ao, bón phân từ (4-5) ngày liên tục tảo sẽ phát triển

Trang 4

b2 Lựa chọn giống:

Khi mua tôm giống người mua cần phải lựa chọn con giống có chất lượng cao là con giống không mang một số bệnh vi rút như (đốm trắng, đầu vàng, taura) và bệnh vi khuẩn thông qua kiểm tra xét nghiệm Tôm mẹ phải có nguồn gốc rõ ràng, có chất lượng tốt Giống phải mua ở cơ sở sản xuất tin cậy, tốt nhất là tới tận trại sản xuất giống xem giống trước khi mua Có 2 cách lựa chọn giống:

*Đánh giá bằng cảm quan và gây sốc:

+ Đánh giá bằng cảm quan:

Kích thước: Tôm giống thả thường là (PL10-PL12) có chiều dài (7-8)mm, kích thước phải đồng đều không dị hình, hình dáng cân đối, không cong thân, râu thẳng kéo dài tận đuôi Màu sắc: Tôm tốt khỏe mạnh có màu sắc sáng trong, thức ăn đầy ruột

Phản xạ: Nhìn vào bể, tôm hoạt động mạnh, bơi lội nhiều, bám thành bể, khi đưa vào chậu 10 lít nước xoay tròn dòng nước tôm tủa ra xung quanh và bơi ngược dòng, không tụ vào giữa chậu khi dòng nước dừng xoay

Cống Cấp Nước

Cống Thoát Nước

Bờ Ao (4m)

Bờ ao (4m)

Đăng chắn

Lưới chắn

Phai cống

Phai cống

Trang 5

+ Đánh giá bằng gây sốc: Tôm giống sống trong bể có độ mặn trên 30‰, do đó gây sốc bằng cách vớt 300 tôm giống thả vào chậu chứa 5 lít nước có độ mặn 10‰, nhiệt độ nước là

200c, sau một giờ nếu tôm sống trên 60% thì lựa chọn để thả nuôi, nếu tỷ lệ sống thấp hơn thì không nên lựa chọn để thả nuôi

*Phân tích bệnh đốm trắng, đầu vàng, taura ở phòng thí nghiệm:

Sau khi đã chọn được bể tôm có chất lượng bằng cách đánh giá bằng cảm quan và phương pháp gây sốc nên lấy (100-200) tôm giống từ bể đó, giữ sống mang đi phân tích bệnh đốm trắng, đầu vàng và taura ở phòng thí nghiệm Khi có kết quả âm tính với các bệnh trên thì mới mua tôm để thả nuôi

b3 Vận chuyển tôm giống

Nguồn giống mua về là của Công ty Việt úc, tôm giống được đóng vào bao PE với số lượng là 3000 con, oxy được bơm vào bao để tôm hô hấp Giống được vận chuyển bằng đường hàng không sau đó dùng xe bảo ôn để vận chuyển về trại nuôi lúc 6 giờ sáng Để tránh tôm bị sốc nhiệt độ thì bao giống được ngâm dưới ao 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa ao nuôi và bao đựng giống sau đó được thả ra ao cách bờ ao 5m

b4 Thuần hóa tôm giống:

Tôm giống ở trại sản xuất thường có độ mặn trên 30‰, còn ở ao nuôi chỉ dưới 10‰ vì thế trước khi thuần hóa độ mặn ở khu nuôi thì phải đặt cơ sở sản xuất giống hạ độ mặn trong

bể tôm P12 xuống 15‰ Sau đó vận chuyển tôm giống về khu nuôi và tiếp tục thuần hóa độ mặn cho thích hợp với độ mặn ở ao nuôi Tôm giống sau khi lấy ở trại sản xuất giống về nên thả vào ao thuần hóa độ mặn có diện tích 1000m2 có độ mặn 10‰ với mực nước 1m, khi vận chuyển tôm về nên ngâm bao đựng giống xuống ao 15 phút để thuần hóa nhiệt độ giữa bao đựng giống và ao nuôi sau đó thả tôm ra ao để thuần hóa độ mặn, trong quá trình thuần hóa vẫn phải vệ sinh ao và cho ấu trùng ăn hàng ngày Qúa trình thuần hóa như sau: Mỗi ngày bơm một lượng nước ngọt vào ao ương để giảm độ mặn ( độ mặn giảm trong một ngày không quá 3‰) cho đến khi độ mặn trong ao giảm xuống 5‰ thì dừng cấp nước ngọt Nguồn nước ngọt cấp vào ao phải sạch và được khử trùng bằng chlorine ở ngoài ao chứa có quạt nước sau

3 ngày mới cấp vào ao ương Khi thuần hóa độ mặn xong thì thu tôm chuyển sang ao nuôi

Trang 6

thương phẩm có độ mặn 5‰ bằng cách: rút bớt nước ao sau đó dùng lưới kéo tôm, dùng cân

để cân mẫu tính lượng tôm rồi thả xuống ao nuôi, sau đó tháo cạn ao và thu số tôm còn lại qua cống thoát

b5 Mật độ:

Trong mô hình này mật độ thả nuôi là 60con/m2

B6 Thức ăn:

Thức ăn sử dụng trong mô hình này là thức ăn công nghiệp của hãng Growbest có hàm lượng đạm từ (39-40)% Thức ăn được bảo quản bằng cách đặt trên giá cách mặt đất ít nhất 20cm, không mua thức ăn quá nhiều cùng một lúc, chỉ nên mua một lượng vừa đủ cho từng giai đoạn nuôi

B7 Quản lý cho ăn:

Để sử dụng thức ăn một cách hiệu quả thì phải:

+ Cho ăn đúng chủng loại thức ăn phù hợp với từng giai đoạn tôm nuôi

+ Sử dụng chế phẩm sinh học ( Yucca, Enzim…)bổ sung vào thức ăn để cân bằng hệ vi sinh đường ruột, kích thích tăng trưởng

+ Cho ăn đủ số lượng, không thừa gây ô nhiễm môi trường và tăng chi phí, không thiếu làm tôm đói gây ra hiện tượng ăn thịt lẫn nhau và chậm lớn

+ Sử dụng 3 sàng ăn để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày bằng cách sau khi cho ăn xong bỏ một lượng thức ăn vào sàng ăn và sau 2 giờ cho ăn thì kiểm tra sàng ăn nếu:

Một sàng thừa thức ăn trên 20% thì tăng lượng thức ăn cho lần sau

Hai sàng thừa thức ăn trên 10% thì không tăng lượng thức ăn cho lần sau

Ba sàng còn thừa thức ăn trên 20% thì giảm lượng thức ăn cho lần sau

+ Số lần cho ăn: từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 10 cho ăn 2 lần trong ngày, lần 1 lúc 7 giờ sáng với 40% thức ăn, lần 2 cho ăn lúc 18 giờ với 60% lượng thức ăn Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 90 cho ăn 4 lần trong ngày, lần 1 cho ăn lúc 7 giờ sáng với 25% lượng thức ăn, lần 2 cho ăn lúc 11 giờ với lượng thức ăn là 30%, lần 3 cho ăn lúc 16 giờ với lượng thức ăn 25%, lần 4 cho ăn lúc 20 giờ với lượng thức ăn là 20%

Trang 7

+ Những thời điểm trời mưa to, âm u hoặc thời điểm tôm lột xác thì giảm 50% lượng thức ăn trong ngày vì những thời điểm này nhu cầu sử dụng thức ăn của tôm giảm

B8 Thức ăn bổ sung:

Trong thời gian nuôi định kỳ tháng 2 lần, mỗi lần từ (2-3) ngày bổ sung men tiêu hóa để giúp cho việc hấp thụ thức ăn tốt hơn Men tiêu hóa được trộn vào thức ăn bằng cách hòa tan vào nước rồi phun đều vào thức ăn, để khô rồi cho ăn Lượng sử dụng của men tiêu hóa là (2-3)g/kg thức ăn

B9 Quản lý môi trường ao nuôi:

- Màu nước: Duy trì màu nước chính là duy trì mật độ tảo trong ao Để biết được màu nước trong ao như thế nào là thích hợp thì phải sử dụng đĩa secschi ( đĩa gồm hai mặt đều có hai màu đen và trắng ở cùng một mặt), đĩa được nối với dây, để đo độ trong thì cầm dây rồi thả từ từ đĩa xuống ao cho đến khi không nhìn thấy hai màu trắng đen trên đĩa nữa thì kéo nên

và dùng thước mét để đo Ao nuôi có độ trong dao động trong khoảng (30-40)cm là thích hợp nhất Nếu độ trong lớn hơn 40cm tức là mật độ tảo trong ao ít dẫn đến lượng oxy cung cấp cho ao ít, trong trường hợp này phải sử dụng phân hóa học bón cho ao với lượng 2kg/1000m2 Nếu độ trong nhỏ hơn 30cm tức là mật độ tảo trong ao nuôi quá nhiều gây hiện tượng thiếu oxy vào sáng do tảo hô hấp thì phải thay 30% lượng nước ao nuôi để giảm mật độ ảo trong ao

- pH: Là chỉ số thể hiện tính axít hoặc bazơ trong ao, pH thường được đo vào lúc (5-6)giờ và 16 giờ Sự dao động pH trong ngày cho phép nhỏ hơn 0,5 đơn vị Nếu lớn hơn 1 đơn

vị trong ngày thì sẽ gây sốc cho tôm vì vậy phải sử dụng vôi CaCO3 bón cho ao với lượng 3kg/100m2, vôi được hòa tan vào nước rồi té khắp ao đồng thời chạy máy quạt nước để đảo vôi cho phân tán khắp ao, hoặc thay bớt nước ao nuôi để giảm sự dao động của pH

- Oxy hòa tan: oxy hòa tan trong nước rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi Khoảng 80% tổng lượng oxy trong ao do thực vật phù du cung cấp, khoảng 15% từ máy quạt nước đưa vào ao nuôi và khoảng 5% từ không khí khuyếch tán trực tiếp vào nước ao Hàm lượng oxy hòa tan thường thấp vào ban đêm từ (1-6) giờ sáng do tôm và các động thực vật phù du hô hấp và cao nhất vào lúc (10-16) giờ nhờ sự quang hợp của tảo Oxy

Trang 8

được tăng cường cho ao nuôi bằng cách sử dụng máy quạt nước với một dàn quạt, trong mô hình này sử dụng 2 máy quạt nước với 2 dàn quạt đặt ở hai bờ hai bên, cánh quạt đầu tiên được đặt cách bờ 5m Máy quạt nước được dùng để cung cấp oxy cho ao trong những trường hợp sau:

+ Vào những ngày trời âm u hoặc những thời điểm trời mưa, vì lúc này ánh sáng mặt trời không đủ để cho tảo quang hợp tạo ra oxy

+ Vào thời gian nuôi cuối vụ, vì thời gian này môi trường ao nuôi bước vào giai đoạn suy thoái

+ Vào những thời điểm tôm lột xác, vì lúc này tôm cần nhiều oxy để phục vụ cho quá trình lột xác và tăng trưởng

+ Vào những thời điểm từ (1-6) giờ sáng thời điểm mà hàm lượng oxy trong ao xuống thấp do tất cả các động thực vật trong ao đều hô hấp

- Định kỳ tháng 2 lần bón vôi CaCO3 cho ao với lượng 3kg/100m2 ao nuôi để cung cấp khoáng chất cho ao và hấp thụ khí độc ở ao

- Cấp nước cho ao nuôi: Nguồn nước cấp cho ao nuôi phải được chứa trong ao chứa và

xử lý chlorine, nguồn nước cấp phải có độ mặn tương đương với ao nuôi

b10 Phòng bệnh cho tôm nuôi

Trong nuôi tôm thương phẩm việc phòng bệnh hơn chữa bệnh vì: tôm sống trong môi trường nước cho nên việc phát hiện bệnh rất khó, nếu có phát hiện được bệnh thì việc chữa bệnh mang lại hiệu quả không cao mà lại tốn kém Do đó biện pháp phòng bệnh là:

+ Cải tạo, chuẩn bị ao nuôi tốt, khử trùng để loại bỏ mầm bệnh có trong nguồn nước và

có trong ao do các ký chủ mang mầm bệnh như (cua, ốc, cá)

+ Lựa chọn con giống khỏe mạnh, có chất lượng tốt, không có mầm bệnh virut (đốm trắng, đầu vàng, taura…) và không mang mầm bệnh vi khuẩn như MBV

+ Thức ăn phải có chất lượng tốt, cho ăn đủ không dư thừa, không sử dụng thức ăn ẩm mốc

+ Các chỉ số môi trường ổn định, không tăng, giảm đột ngột Oxy phải luôn lớn hơn 4mg/lít, không để xảy ra hiện tượng tảo chết đột ngột

Trang 9

+ Phải khử trùng các dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

+ Không để gia súc, gia cầm vào khu vực nuôi

+ Tăng cường vitamin C trộn vào thức ăn, giúp tôm có sức đề kháng bệnh

+ Phòng sự lây nan bệnh từ các vùng lân cận

b11.Thu hoạch:

Cỡ thu hoạch phụ thuộc vào người mua và giá cả thị trường, nhưng thời gian nuôi tôm Chân trắng cho hiệu quả cao nhất là 3 tháng Nếu kéo dài thời gian nuôi tôm vẫn lớn nhưng tăng trưởng chậm Kích cỡ thương phẩm xuất bán dao động từ (50-100) con/kg

C Các thông số, chỉ tiêu, tính năng kỹ thuật đạt được

3 Đánh giá giải pháp

a Tính mới và tính sáng tạo

- Tính mới:

+ Từ trước đến nay tôm thẻ Chân trắng chỉ được nuôi trong môi trường nước có độ mặn cao trên 10‰ Nay đã được nuôi trong môi trường nước lợ

+ Khi nuôi vụ 2 (thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 âm lịch) là thời kỳ mưa nhiều, trong ao nuôi ở khu vực nuôi có độ mặn cao thường giảm đột ngột gây sốc cho tôm, tôm có thể chết hoặc bỏ ăn, yếu dẫn đến nhiễm bệnh gây chết hàng loạt Nhưng khi nuôi ở khu vực có độ mặn thấp thì tôm không bị sốc do độ mặn không giảm đột ngột

- Tính sáng tạo:

Trang 10

+ Thuần hóa tôm thẻ Chân trắng được nuôi trong môi trường nước có độ mặn cao sang nuôi trong môi trường nước có độ mặn thấp

+ Khi nuôi trong môi trường nước lợ tôm đã quyen với độ mặn thấp, vì thế khi trời mưa

độ mặn giảm trong ngưỡng (4-5)‰ xuống (1-2)‰ tôm vẫn khỏe không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm

Giải pháp nuôi tôm thẻ Chân trắng thâm canh trong môi trường nước có độ mặn thấp có tính mới, tính sáng tạo lần đầu tiên thành công ở Nam Định đã mở ra một hướng đi mới cho người nuôi thủy sản ở vùng nước có độ mặn thấp phù hợp với xu thế đa dạng hóa đối tượng nuôi Giải pháp sau khi được thực hiện đã đem lại hiệu quả kinh tế cao mở ra một hướng nuôi mới cho phát triển thủy sản của Nam Định ở vùng nước có độ mặn thấp dưới 10‰, và của Việt Nam nói chung Thành công của giải pháp bước đầu xây dựng kỹ thuật nuôi thường phẩm tôm thẻ Chân trắng trong môi trường nước có độ mặn thấp dưới 10‰, một đối tượng đang có tiềm năng trên thị trường trong và ngoài nước

b Khả năng áp dụng:

Giáp pháp sáng tạo này có thể được áp dụng sản xuất đại trà cho các khu vực nuôi có độ mặn thấp dưới 10‰ đảm bảo được các tiêu chuẩn cần thiết trên địa bàn tỉnh Nam Định và các tỉnh khác

Giải pháp có thể được triển khai rộng ở các vùng có độ mặn thấp trong địa bàn tỉnh Nam Định và ở các tỉnh có điều kiện sinh thái tương tự, sử dụng hoàn toàn kỹ thuật và vật tư trong nước

Giải pháp nghiên cứu chủ yếu để phục vụ người dân nuôi thủy sản trong vùng có độ mặn thấp dưới 10‰, các thông số kỹ thuật đạt được đều phù hợp với trình độ kỹ thuật của người nuôi hiện nay: vật tư dễ mua, kỹ thuật nuôi phù hợp, dễ áp dụng vào thực tế Một vấn đề quan trọng khác quyết định đến khả năng áp dụng đại trà của giải pháp đó là yếu tố thị trường đầu

ra đã và đang phát triển rất tốt Đây cũng là điều mà người sản xuất quan tâm, nâng cao tính khả thi của giải pháp, đảm bảo khả năng áp dụng mở rộng sản xuất và phát triển theo xu hướng kinh tế hàng hóa

Ngày đăng: 08/04/2017, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w