Chương 1: Cơ sở khoa học của việc công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường của các công ty niêm yết1.1 Định nghĩa về trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp CER Trách nhi
Trang 11
-ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG KHAI THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Mã số: GV2015-03-07
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Lê Ngọc Mỹ Hằng
Thời gian thực hiện: 01/2015 – 12/2015
Huế …12/2015 …
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các bên liên quan đến CER
Bảng 2: Thống kê mô tả về CED của công ty niêm yết Việt Nam
Bảng 3: Kiểm định Kruskal-Wallis
Bảng 4: Kết quả điểm CED phân chia theo ngành công nghiệp qua 3 năm 2014)
(2012-Bảng 5: Kết quả kiểm định Mann-Whitney U test-a
Bảng 6: Kết quả điểm CED phân chia theo quy mô doanh nghiệp qua 3 năm 2014)
(2012-Bảng 7: Kết quả Kiểm định Kruskal-Wallis dành cho biến Quy mô DN
Bảng 8: Thống kê mô tả về CED theo khoản mục tại VLF 2012-2014
Bảng 9 Thông kê mô tả yếu tố sản phẩm của VLF 2012-2014
Bảng 10: Thống kê mô tả về tính bền vững công bố bởi VLF 2012-2014
Bảng 11: Thống kê mô tả các mục về Năng lượng bởi VLF 2012-2014
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33
-I PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường (TNBVMT) của DN được xem làchiến lược kinh doanh cốt yếu của DN để đạt được lợi thế cạnh tranh (Savitz &Weber, 2006) Thực hiện TNBVMT không những giúp doanh nghiệp mà xã hôi đạtđến sự phát triền bền vững (Stewart, 2005) Điều này là tất yếu bởi tất cả các doanhnghiệp (DN) đều phải góp phần tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh để
hổ trợ DN phát triển liên tục và lâu dài (Tinto, 2000) Các cổ đông sẽ bất bình nếubáo cáo thường niên thiếu sự minh bạch và trách nhiệm đối với môi trường Đặc biệtkhi những sản phẩm độc hại được công bố lần đầu tiên và những hành vi huy hoạiđến môi trường sống tăng lên thì làn sóng phẩn nộ từ cộng đồng trở nên gay gắt(Delmas, 2001)
Vì vậy, các công ty cần thiết lập các chuỗi giá trị để bù đắp các hoạt động hàngngày như công khai trách nhiệm đối với môi trường Phấn đấu cho sự phát triển bềnvững, mục tiêu chính là để đạt được sự thịnh vượng kinh tế mà không làm tổn hạiđến tính toàn vẹn của xã hội Trách nhiệm đối với xã hội và môi trường thu hẹpkhoảng cách bất đối xứng thông tin giữa các doanh nghiệp và nhà đầu tư (Freeman,1984).Theo KPMG (2011), báo cáo trách nhiệm của doanh nghiệp đã và đang là vấn
đề cấp bách, với 95% trong 250 tập đoàn toàn cầu hàng đầu (G250) đã thực hiện việcbáo cáo hoạt động xã hội và môi trường Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng việcbáo cáo TNBVMT chủ yếu ở các nước phát triển vẫn mang tính tự nguyện, điềuhoàn toàn khác so với báo cáo kế toán tài chính (Deegan, 2002; Dobbs & VanStanden, 2011)
Hơn nữa, các học giả truyền thống chỉ tập trung nghiên cứu vào các nước pháttriển, chủ yếu là châu Âu, Mỹ và Úc Gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú
ý đến thị trường mới nổi, nhưng đã không đề cập đến các quốc gia chuyển đổi quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (Araya, 2006) Belal (2008) và Momin (2006) lập luận rằngnghiên cứu những tác động đến việc công bố thông tin TNBVMT tại các nước đangchuyển đổi là có tính chất ban đầu và mới thăm dò
Trong khi việc công bố đầy đủ thông tin trách nhiệm xã hội không chỉ tăngcường uy tín doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mà còn gópphần phát triển bền vững, rất ít công ty ở Việt Nam nhận ra lợi ích này Trước nhữngthảm họa môi trường và tác động tiêu cực của xã hội Việt Nam, vấn đề trách nhiệm
xã hội và môi trường của doanh nghiệp đang là nhu cầu cấp bách cần cải thiện(Nguyen, 2006) Do áp lực của hội nhập quốc tế, cũng là điều cần thiết để Việt Namtuân thủ các tiêu chuẩn toàn cầu hóa về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, theo Viện
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, đến năm 2013, chỉ 28% công ty niêm yết Việt Namchấp hành tiêu chuẩn môi trường, chỉ có 5% thừa nhận đóng góp của họ có quan tâmđến chăm sóc sức khỏe người lao động (Phạm, 2013) Nhiều công ty niêm yết ViệtNam đã không thực hiện trách nhiệm xã hội, đặc biệt gây ô nhiễm môi trường trầmtrọng Minh họa điển hình là việc xả nước thải vào sông Thị Vải, sông Hồng bởi cáccông ty như Vedan, Miwon, Hào Dương, giấy Việt Trì, Hyundai, Vinashin; các sảnphẩm độc hại như nước tương có 3-MCPD gây ung thư, mì với Phormol, thực phẩm
có hàn the, sữa có melamine
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường của các Công ty niêm yết tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2015.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ thực hiện công khai trách nhiệm bảo vệ môi trường tại cáccông ty niêm yết Việt Nam;
-Bước đầu đề xuất một số ý kiến nhằm khuyến khích việc thực hiện công khaitrách nhiệm bảo vệ môi trường tại các công ty niêm yết Việt Nam
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công khai trách nhiệm bảo vệ môi
trường tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE)
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ công khai TNBVMT của
158 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE)
- Phạm vi thời gian: thời gian nghiên cứu của đề tài là từ 01/2015 đến 12/2015
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của công ty niêm yết tại HOSE từ năm
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 55
Phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, các báo cáo thường niên và thông tin từ các trang webcủa công ty đã được sử dụng như là dữ liệu thứ cấp để thực hiện việc phân tích nộidung Các nguồn thay thế khác là từ trang web thị trường chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (HOSE) (http://www.hsx.vn/), các trang web riêng và số liệu thống kê
từ trang web (http://www.cophieu68.vn/)
Công ty được chọn mẫu là các công ty đã niêm yết tại HOSE trong giai đoạn
2012 đến 2014 Tính đến đầu năm 2014, có khoảng 310 công ty niêm yết trên HOSEphân theo 20 ngành.1 Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫunhiên Tuy nhiên, mục đích là để thu thập các báo cáo thường niên từ cùng một công
ty trong ba năm liên tiếp, mẫu phải được lựa chọn dựa trên công ty cung cấp các báocáo thường niên cho mỗi năm từ năm 2012 đến năm 2014 Các công ty đã hủy bỏniêm yết trong kỳ và niêm yết sau ngày 01/01/2012 không được bao gồm trong mẫu.Cuối cùng, 158 báo cáo thường niên của công ty đã thu được mỗi năm, tổng cộng
474 báo cáo thường niên trong ba năm, đồng thời 158 trang web công ty đã đượckiểm tra Trong số 158 công ty niêm yết trên HOSE, 143 công ty đến từ các ngànhcông nghiệp nhạy cảm và 15 từ các ngành công nghiệp không nhạy cảm
Để đảm bảo đề tài mang tính khoa học và thực tiễn cao, nhóm nghiên cứu sửdụng 3 phương pháp phân tích cơ bản sau:
+ Phương pháp phân tích thống kê, mô tả
+ Phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu 2 chuyên gia trong lĩnh vực
kế toán kiểm toán đến từ Công ty kiểm toán Deloitte- Việt Nam và KPMG ViệtNam- hai trong 4 công ty kiểm toán hàng đầu thế giới; 2 chuyên gia đến từ Trungtâm nghiên cứu và phát triển xã hội Việt Nam (CSRD) Thông tin thu thập từ nghiêncứu định tính nhằm xây dựng bảng tiêu chí chấm điểm công bố thông tin TNBVMTcủa công ty niêm yết tại Việt Nam
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Bảng các chỉ tiêu về công bố thông tin được thiết kế vận dụng phương pháp tínhđiểm của Gunawan và cộng sự (2009)
II PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1
http://www.cophieu68.vn/category_ib2.php ; file:///C:/Downloads/Ket%20qua%20phan%20nganh%20theo%20HaSIC.pdf ;
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6Chương 1: Cơ sở khoa học của việc công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường của các công ty niêm yết
1.1 Định nghĩa về trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp (CER)
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp (CER) là các khía cạnh môitrường của trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp cần thực hiện (CSR) trong quá trìnhkinh doanh CER được xác định là trách nhiệm phải giải quyết các vấn đề liên quanđến môi trường gây ra do các hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp; loại bỏ chất thải và khí thải; tối đa hóa hiệu quả và năng suấtcủa các nguồn lực; và giảm thiểu những ảnh hưởng xấu có thể đến việc hưởng thụcác nguồn tài nguyên của đất nước đối với các thế hệ tương lai (Chen, 2009) Tổchức phi chính phủ về môi trường Canada (ENGO) đưa ra ba chủ đề chính cho CER(Jamison, et al, 2005).: (1) cam kết môi trường mà trong đó các công ty phải pháttriển bền vững và có tác động hoàn toàn tích cực đối với môi trường và xã hội; (2)quản lý nguyên vật liệu và năng lượng, trong đó các công ty hoạt động trong giới hạnsinh thái hữu hạn của môi trường; và (3) các bên tham gia có hiệu quả, trong đó cáccông ty là hoàn toàn minh bạch và có trách nhiệm
1.1.1 Các lý thuyết giải thích trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
Các nghiên cứu của Chen (2009) sử dụng lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanhnghiệp (CSR) để xác định động cơ và các bên liên quan của trách nhiệm bảo vệ môitrường (CER)
Giác Ngộ Tự lãi (Enlightened Self-Interest)
Các nhà khoa học xã hội đã chỉ ra hai lý do tại sao các giả định lợi ích cá nhân làrất quan trọng trong lý thuyết của CER Đầu tiên, giả thiết này từ lâu đã là trung tâm
để kinh tế tân cổ điển và sự lựa chọn hợp lý khi tiếp cận với kinh tế học Thứ hai, vìcác học giả gọi giả định lợi ích cá nhân để giải thích nhiều khía cạnh khác của hành
vi con người Vì vậy, giải thích dựa trên lợi ích cá nhân là phổ biến trong khoa học
xã hội phương Tây và có khả năng áp dụng cho một số thời kỳ (Chen, 2009) Davis(1973) chỉ ra rất nhiều lý do cho việc áp dụng CSR vào thực tiễn hàng ngày của mộtcông ty là sẽ dẫn đến lợi thế kinh doanh Ông lập luận rằng lợi ích cá nhân dài hạn làmột trong những lý do phổ biến nhất để thực hiện CSR Niềm tin này giả định rằngdoanh nghiệp cần phải cung cấp một loạt các hàng hóa xã hội để duy trì lợi nhuậntrong thời gian dài Các công ty quan tâm đến cộng đồng sẽ tạo ra một cộng đồng tốthơn để tiến hành hoạt động kinh doanh (Davis, 1973) Ví dụ, nhân viên sẽ sẵn sànghơn để làm việc cho các công ty và tiềm năng lao động của họ sẽ tốt hơn, hoặc sự
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 77
-quan tâm đến cải thiện môi trường sẽ dẫn đến chi phí thấp hơn để bảo vệ môi trường
Có rất nhiều ví dụ cho thấy một cộng đồng tốt hơn, hay xã hội tốt hơn sẽ dẫn đến lợinhuận nhiều hơn trong dài hạn Một ưu điểm nổi bật của CER là việc công khai tíchcực tăng lên, hoặc một hình ảnh tốt hơn (Davis, 1973) Khái niệm này được ủng hộbởi nhiều tác giả Maignan và Ralston (2002) lưu ý rằng, đặc biệt là tại Hoa Kỳ,CER được sử dụng như một công cụ tiếp thị, hoặc một công cụ quản lý ấn tượng đểtác động đến nhận thức của các bên liên quan đến công ty Ý tưởng này cùng đượcchia sẻ bởi Morimoto và cộng sự (2005), người xem CER như một công cụ cho sựphát triển của một hình ảnh tích cực của công ty Với sự gia tăng áp lực của côngchúng về các công ty và tăng sự quan tâm vào CER hiện nay, các công ty cần phảiđiều chỉnh những thay đổi văn hóa kinh doanh, xã hội và theo kịp với các hoạt độngCER của hầu hết các công ty lớn
Công cụ, chính trị, thống nhất và động cơ đạo đức (Instrumental, Political, Integrative, and Ethical Motives)
Trong bài viết của Garriga và Mele' (2004) xác định bốn nhóm của các lý thuyết
có thể phân loại tất cả các phương pháp tiếp cận CSR Những lý thuyết này tập trungvào các mối quan hệ giữa CSR hoặc các vấn đề xã hội và kinh doanh Bốn phươngpháp tiếp cận lý thuyết đến CSR theo như mô tả của Garriga và Mele' (2004) khácnhau về niềm tin vào sự giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp nên áp dụng CSR,
họ nên làm điều đó bằng cách nào và đến mức độ nào Bởi vì CER là khía cạnh môitrường của CSR, bốn lý thuyết trên cũng có thể sử dụng để giải thích động cơ củaCER
Nhóm đầu tiên của lý thuyết được phân loại như các lý thuyết công cụ và trùnglặp với các lý thuyết về giác ngộ tự lãi Sự hài lòng của các bên liên quan, hoặc đónggóp từ thiện đều có thể, miễn là dẫn đến lợi nhuận, trong dài hay ngắn hạn Trongphương pháp tiếp cận đầu tiên đến CSR, Garriga và Mele' (2004) xác định ba loạicủa lý thuyết công cụ, đó là tối đa hóa sự giàu có cổ đông, cải thiện hoặc duy trì mộtlợi thế cạnh tranh, và sử dụng như một công cụ tiếp thị Nhóm thứ hai của các lýthuyết có thể được phân loại như chính trị Những ý tưởng và lý thuyết đưa ra trongnhóm này có vẻ là triết lý hơn về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội Một số kháiniệm được thảo luận, như hiến pháp của công ty, thuyết khế ước xã hội và quyềncông dân của doanh nghiệp Quan điểm chính trị hợp pháp hóa CSR trong một bốicảnh rộng lớn hơn, triết lý hơn Cách tiếp cận thứ ba đối với CSR theo Garriga vàMele' (2004) tập hợp các lý thuyết thống nhất Đây là lý do chính cho rằng CER làniềm tin tưởng rằng doanh nghiệp phụ thuộc vào xã hội để tồn tại Các nhu cầu xã
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8hội đặt trín câc doanh nghiệp cần phải được tôn trọng để đạt được tính hợp phâp vă
sự tôn trọng, điều năy trùng hợp với mức độ đầu tiín của Wood (1991) về CSR, mẵng gọi lă mức độ cơ quan
Một quan điểm khâc về ứng phó với nhu cầu xê hội lă ý tưởng về trâch nhiệmcông cộng, điều năy có thể hình thănh một định hướng cho hănh vi quản lý (Preston
& Post, 1981) Lý thuyết cuối cùng trong phương phâp thống nhất cố gắng xâc địnhcâch đúng đắn để đạt được tính hợp phâp xê hội Câc lý thuyết chính trị vă thốngnhất có điểm tương đồng, nhưng câc lý thuyết chính trị lă quan tđm đến sức mạnhkinh doanh trong xê hội, trong khi lý thuyết thống nhất quan tđm đến việc lăm thếnăo để thống nhất câc nhu cầu xê hội, từ đó tranh luận rằng kinh doanh phụ thuộcvăo xê hội để tồn tại (Garriga & Mele' 2004) Câch tiếp cận thứ tư, theo phđn loạicủa Garriga vă Mele (2004) lă tập hợp câc lý thuyết đạo đức Những lý thuyết năy cóliín quan với những điều phải lăm hoặc câc yíu cầu cần thiết để đạt được một xê hộitốt (Garriga & Mele' 2004) Tất cả câc phương phâp tiếp cận đạo đức chia sẻ câc ýtưởng rằng doanh nghiệp phải đóng góp cho một xê hội tốt đẹp vă tôn trọng nhữngviệc lăm đúng đắn
1.1.2 Khâi quât về công khai thông tin trâch nhiệm bảo vệ môi trường (CED)
Việc công khai trâch nhiệm bảo vệ môi trường của công ty (CED) đê tồn tạitrong hơn một thập kỷ nay, nổi bật lă kết quả của sự bùng nổ trong kế toân môitrường trong năm 1990 (Ahmad, 2010) Thuật ngữ “công khai thông tin về bảo vệmôi trường”(CED) được trình băy bởi câc Ủy ban công tâc liín Chính phủ Tổngcông ty xuyín quốc gia, trong Tiíu chuẩn quốc tế về kế toân vă bâo câo của LiínHợp Quốc (UN ISAR, 1992, 1994); được lựa chọn để giải thích trong nghiín cứunăy Deegan (2007) định nghĩa rằng bâo câo phât triển bền vững gắn với bâo câo xêhội vă môi trường Gray cùng câc cộng sự (1996) cũng chỉ ra rằng việc chấp nhậnthực hiện câc trâch nhiệm đối với xê hội vă môi trường bởi một tổ chức được thểhiện thông qua việc công khai trâch nhiệm xê hội vă môi trường của công ty(CSED) Mặc dù việc phât hănh bâo câo môi trường của công ty (CERs) mang tính
tự nguyện, nhưng đđy lă một hiện tượng tương đối mới vă có xu hướng tăng lín(Marshall vă cộng sự, 2003) Câc bín liín quan đều mong đợi câc thông tin về câchthức hoạt động của câc tập đoăn ảnh hưởng đến môi trường, cũng lă điều dễ hiểurằng câc bín liín quan sẽ vô cùng thất vọng vă tức giận với những gì họ thấy lă sựthiếu minh bạch của công ty vă thiếu trâch nhiệm Khâi niệm cổ đông di chuyểntrong tính bền vững của công ty bao gồm tăng tính minh bạch, với mong muốn dựkiến tăng trâch nhiệm cho câc cổ đông Bằng chứng cho thấy rằng tính minh bạch
ĐẠI HỌC KINH TÍ́ HUÍ́
Trang 99
-góp phần cải thiện hiệu suất, đặc biệt khi hàng tồn kho nhiễm chất độc phát hành lầnđầu tiên với danh sách hàng loạt các mức độ khí thải từ các công ty khác nhau(Delmas, 2001) Mức độ minh bạch càng cao được thực hiện thông qua đối thoại,thiếu tính minh bạch đôi khi đe dọa đến thoái vốn, thông qua các quyền đặt ra chocác cổ đông (Stewart, 2005) Như vậy, các nhà quản lý phải có trách nhiệm côngkhai tất cả các thông tin cho các bên liên quan, bao gồm cả thông tin về môi trường(CER)
Các lý thuyết giải thích việc công khai trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
Các nghiên cứu của Gunawan (2007) tập trung vào hai giả thuyết đáng chú ý đểphân tích mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRD):tính hợp pháp và lý thuyết các bên liên quan
Các bên liên quan đến CSR (CER)
Các bên liên quan là trọng tâm của lý thuyết này Các bên liên quan bao gồmmột phạm vi rộng của những người và các nhóm lợi ích tác động đến tổ chức (Price,2004) Các bên liên quan là'' bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh hưởng hoặc
bị ảnh hưởng bởi khả năng đạt mục tiêu của tổ chức '' (Freeman, 1984) Ngoài các cổđông, các bên liên quan bao gồm chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, vàcác cộng đồng nói chung Lý thuyết các bên liên quan giải thích rằng có nhiều hơnmột mối quan hệ giữa các đại lý, người có trách nhiệm ủy thác cho một giám đốc(Lantos, 2001) Những nhiệm vụ tồn tại bởi vì, như các cổ đông, các bên liên quankhác cũng đầu tư vào các doanh nghiệp: nhân viên đầu tư thời gian và vốn tri thức,khách hàng đặt niềm tin vào doanh nghiệp và quá trình kinh doanh tiếp tục tái diễn,cộng đồng cung cấp cơ sở hạ tầng và giáo dục cho người lao động trong tương laicũng như hỗ trợ về thuế, và cứ tiếp tục như vậy '' (Graves, và cộng sự, 2001) Nóicách khác, chúng ta cần phải đi xa hơn tối đa hóa lợi nhuận để ủy thác, hoặc kháiniệm các bên liên quan, được giải thích là cấp quản lý nhìn thấy được trách nhiệm đểđạt được sự cân bằng giữa lợi ích của tất cả các bên liên quan (Goodpaster, 1996),đặc biệt là trong việc tránh tổn hại cho bất kỳ nhóm hoặc hạn chế bất kỳ thương tíchgây ra Do đó, nhà quản lý không nên chỉ xem xét các cổ đông của mình trong quátrình ra quyết định, mà còn quan tâm đến những bên liên quan bị ảnh hưởng bởiquyết định kinh doanh Ngược lại với quan điểm cổ điển, quan điểm các bên liênquan cho rằng '' mục tiêu của bất kỳ công ty là sự làm giàu công ty và tất cả các bênliên quan chính của mình '' (Werhane & Freeman, 1999)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10Theo lý thuyết của Freeman, các bên liên quan được chia thành hai nhóm: cácbên liên quan trong và ngoài doanh nghiệp Công ty có trách nhiệm với các bên liênquan trong và ngoài doanh nghiệp và những trách nhiệm này có thể bị chia thànhtrách nhiệm kinh tế, pháp lý và đạo đức trong cách tiếp cận của Carroll (Carroll
1979, 1991, 2004) Điều này sẽ dẫn đến một cái nhìn tổng quan về các loại bên liênquan và trách nhiệm tương ứng (Cochius, 2006), được tóm tắt trong Bảng 1
Bảng 1: Các bên liên quan đến CER
Consumers Economic, legal, and ethical Suppliers Economic and legal
Employees Economic, legal, and ethical Community Economic and ethical
Environment Legal and ethical Non-Governmental
Organizations
Economic, legal, and ethical Critics Economic, legal, and ethical Media Economic, legal, and ethical Sources: Carroll (Carroll 1979, 1991, 2004), Freeman (2003) and Cochius (2006) cited in Chen (2009)
cơ sở cho việc thực hành CSD, đáp ứng những áp lực về môi trường
1.2 Các chủ đề về công khai thông tin TNBVMT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 1111
-Nghiên cứu này áp dụng bốn chủ đề về đo lường mức độ công khai thông tin Đa
số các chủ đề này đã được trích dẫn và phù hợp với các nghiên cứu trước đây vềCED, cụ thể là môi trường, năng lượng, sản phẩm, phát triển bền vững.3 Mỗi chủ đềlại có một hoặc một vài mục chi tiết Tổng cộng, có 21 mục chi tiết được sử dụng để
đo lường mức độ công khai thông tin về trách nhiệm bảo vệ môi trường (CED) thôngqua phương pháp phân tích nội dung (Content analysis)
ty đối với môi trường
1.2.3 Sản phẩm
Một quá trình nghiên cứu về môi trường phải bao gồm đầy đủ chu kỳ sống củasản phẩm như cung ứng, sản xuất, sử dụng và xử lý chất thải Một phần trong việcphân tích chiến lược môi trường của một công ty là đánh giá các nhà cung cấp cácsản phẩm và tác động của sản phẩm đối với môi trường (Enarsson, 1998) Vì vậy,mối quan tâm hàng đầu của công chúng là liệu việc tiêu thụ sản phẩm là an toàn vàkhông gây hại cho môi trường hay không Qua thông tin về sản phẩm, một công ty
có thể cung cấp hình ảnh của mình tới công chúng để họ có thể đánh giá những tácđộng của các sản phẩm công ty tới môi trường Chất lượng sản phẩm, an toàn và quátrình phát triển sản phẩm cung cấp một cơ sở về lợi thế kinh doanh của công ty vàbất kỳ cải thiện về chất lượng và an toàn sản phẩm có thể dẫn đến những tác độngtích cực đến môi trường (Dunk, 2002)
Trang 12các thế hệ tương lai trong khi đáp ứng nhu cầu riêng của công ty" (Ủy ban Liên HợpQuốc về Môi trường và Phát triển, 1987, trg 8) Để cho một công ty có thể duy trìdanh tiếng và nhu cầu của các bên liên quan, công ty phải bao gồm các thông tin bềnvững về các hoạt động kinh doanh của mình khi công bố thông tin.
1.3 Nội dung và bản chất của CED
Các nội dung của CED khác nhau giữa các quốc gia (Djajadikerta, và cộng sự,2012) Các công ty ở châu Âu và Úc có nhiều khả năng công khai thông tin về môitrường, năng lượng, quá trình tái chế, và ô nhiễm (Gray, và cộng sự, 1995; Tilt,năm 2001, và Deegan, et al, 2002) Các công ty ở châu Á đã tập trung vào các thôngtin về nhân viên và nguồn nhân lực trong việc tiết lộ các hoạt động xã hội của họ.4Djajadikerta, et al (2012) và Gunawan (2007) nhấn mạnh rằng mặc dù nội dungcủa công khai thông tin TNMT thường là khác nhau giữa các quốc gia, bản chất củathông tin này cũng tương tự như trên toàn thế giới, trong một bản chất trung lập, tíchcực, và mô tả hơn là một thông tin tiêu cực hoặc mang tính định lượng Công khaithông tin tích cực bao gồm thông tin về việc tuân thủ các tiêu chuẩn và các giảithưởng nhận được (Deegan & Gordon, 1996; Tilt, 2001); trong khi công khai thôngtin tiêu cực bao gồm các thông tin về hình phạt cũng như "tin xấu" khác về môitrường (Deegan, et al., 2002) Các thông tin khác, chẳng hạn như đào tạo cho nhânviên, kiểm soát ô nhiễm, phát triển sản phẩm, chiến dịch môi trường và tái chế, đượccoi là thuyết trung lập (Ahmad & Sulaiman, 2004)
Các nghiên cứu trước lưu ý rằng hầu hết các công ty có xu hướng chủ yếu sửdụng mô tả, tường thuật, hoặc các thông tin định tính để báo cáo TNMT (Gunawan,2007) Những loại thông tin này chiếm đa số trong báo cáo TNMT của công ty hơn
là thông tin định lượng, hình ảnh, đồ thị và biểu đồ.5 Trong thực tế, các thông tinđịnh tính và tiền tệ, ở một mức độ nhất định, có thể được sử dụng để đánh giá tínhkhả thi Đồ thị và biểu đồ có thể được sử dụng để biến số thành hình ảnh đại diện vàviệc so sánh giúp người đọc hiểu được thông tin một cách dễ dàng hơn (Burch,1986) Như vậy, việc tiết lộ thông tin trong các hoạt động xã hội và môi trường củacông ty cả hai cách mô tả và định lượng, sử dụng đồ thị hoặc biểu đồ, có thể cungcấp một báo cáo toàn diện hơn cho các độc giả
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Thực trạng về việc công bố thông tin bảo vệ môi trường của các công ty
niêm yết trên thế giới và các nước trong khu vực
4
(Kuasirikun & Sherer, 2004; Purushothaman, et al, 2000; Ramasamy & Hung, 2004; Ratanajongkol, et al., 2006)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 1313
-Deegan (2007) và Gamerschlag cùng cộng sự (2010) định nghĩa việc báo cáotình hình thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường (Corporate Environmentalreporting - CER) là một khía cạnh của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporatesocial responsibility - CSR), và được biết như báo cáo việc phát triển bền vững củadoanh nghiệp
Nghiên cứu ở các nước phát triển cho thấy rằng, do ý thức bảo vệ môi trườngcủa doanh nghiệp khá cao, đa số các công ty niêm yết tự nguyện báo cáo tình hìnhthực hiện TNBVMT vì vậy sự can thiệp của chính phủ tương đối thấp Friedman(1962) cho rằng vì lợi thế cạnh tranh đã thúc đẩy các công ty báo cáo TNBVMT,trong khi đó Deegan &Carrol (1993) nhận định vì danh tiếng của công ty; Hasnas(1998) tranh luận rằng chính ý thức chịu trách nhiệm là nguyên nhân để công ty tựnguyện công khai thông tin về hoạt động vì môi trường Deegan và những cộng sự(2000) nghiên cứu phản ứng của các công ty tại Úc đối với năm sự cố về xã hội vàmôi trường Các công ty được chọn mẫu đã cung cấp nhiều thông tin về môi trườngtrong báo cáo thường niên hơn trước khi xảy ra sự cố Nghiên cứu của Deegan &Blomquist (2001) chỉ ra rằng để giảm áp lực của việc gia tăng thêm quy định đối vớidoanh nghiệp, các công ty tự ký và thỏa thuận với nhau về hành vi đạo đức riêng khi
tự nguyện công bố thông tin về môi trường Deegan (2008) tuyên bố rằng việc báocáo TNBVMT là một công cụ để công ty thu hút các nhóm cổ đông Theo nghiêncứu của Reverte (2008), lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy theory) là giải thíchphù hợp nhất cho việc lập báo cáo trách nhiệm xã hội và môi trường tại các công tyniêm yết Tây Ban Nha Trong khi đó, việc công bố thông tin trách nhiệm môi trườngcủa các công ty niêm yết ở Đức chịu chi phối bởi tầm nhìn của doanh nghiệp, cơ cấu
cổ đông, quan hệ với các cổ đông ở Mỹ, quy mô doanh nghiệp và ngành(Gamerschlag và cộng sự, 2010) Nghiên cứu của Gamerschlag (2011) ở Đức dùngthuyết chi phí chính trị (Political cost theory) và Campbell (2007) dùng thuyết địnhchế (Institutional theory) ở Anh để giải thích cho việc công khai thông tin TNMT.Nghiên cứu gần đây của Dobbs & Van Staden (2011) khẳng định rằng chính sự quantâm đến cộng đồng là nguyên nhân chính để 122 công ty niêm yết được chọn tạiNewZealand quyết định công khai báo cáo TNBVMT Những nghiên cứu củaMohammad và cộng sự (2009) & Gao (2011) chỉ ra rằng do đặc tính riêng của mỗinước dẫn đến việc công khai hoạt động vì môi trường của doanh nghiệp là khácnhau
Trái lại, việc lập báo cáo TNBVMT tại các nước đang phát triển vẫn còn thấp sovới các nước phát triển Điển hình là Trung Quốc, nước đang phát triển với tốc độcao nhất, do đặc điểm văn hóa, chính trị và hệ thống kinh tế nhà nước, ý thức bảo vệ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14môi trường còn thấp vì thế việc lập báo cáo TNBVMT còn chịu nhiều ảnh hưởng củachính phủ (Song & Li, 1992; Zhang, 1993; Xiao & Mi, 2004; Guo, 2005; Situ & Tilt,2012) Nghiên cứu ở Indonexia bởi Djajadikerta (2012) cũng cho thấy do doanhnghiệp thiếu hiểu biết về trách nhiệm môi trường, việc báo cáo thông tin TNBVMTmang tính sơ khai, không có khung thời gian quy định cụ thể Nghiên cứu ởMalaysia bởi Htay và cộng sự (2012) khẳng định cơ chế quản lý doanh nghiệp ảnhhưởng đến việc công bố thông tin TNBVMT.
1.4.2 Thực trạng về việc công khai thông tin bảo vệ môi trường của các công
ty niêm yết tại Việt Nam
Nghiên cứu về TNXH của doanh nghiệp ở Việt Nam còn chưa được quan tâm.Cho đến nay có một luận án tiến sỹ có đề cập đến vấn đề này Luận án tiến sỹ của
Vũ (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện,tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào việc công bố các thông tin về chế
độ quản trị doanh nghiệp (Corporate Governance disclosure) của các công ty niêmyết Việt Nam năm 2009 Mặc khác, thị trường chứng khoán Việt Nam luôn biếnđộng, số công ty niêm yết mới tăng lên hàng năm đóng vai trò quan trọng trong toànthị trường Vì vậy, đề tài này tập trung nghiên cứu về công khai thông tin TNBVMTtrong giai đoạn 2012-2014, từ sau khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2011
Chương 2: Đánh giá mức độ công khai thông tin trách nhiệm bảo vệ môi trường của các Công ty niêm yết tại Việt Nam
2.1 Kỹ thuật phân tích nội dung
Kỹ thuật phân tích nội dung được sử dụng trong nghiên cứu này và được xácđịnh bởi Krippendorff (1980, p 21) là "một kỹ thuật nghiên cứu để làm tái tạo vàsuy luận có giá trị từ dữ liệu đến bối cảnh của công ty” Kỹ thuật “phân tích nộidung” đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đó để đo lường CED(Unerman, 2000) và bởi vì nó cho phép CED được phân loại một cách có hệ thống
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 1515
-và có thể so sánh giữa các năm, đây cũng là kỹ thuật hữu ích cho việc xác định xuhướng (Milne & Adler, 1999), được thực hiện để phân tích báo cáo thường niên vàcác trang web công ty, để đo lường mức độ công khai thông tin TNBVMT tại cáccông ty niêm yết
Wolfe (1991) định nghĩa phân tích nội dung như quy trình có hệ thống để nghiêncứu nội dung của các văn bản Việc áp dụng kỹ thuật này được thực hiện bằng cáchchuyển đổi các thông tin định tính trong các báo cáo thường niên và các trang webthành biến định lượng Một số vấn đề xung quanh tính hiệu lực của kỹ thuật phântích nội dung có thể xuất hiện bởi vì kỹ thuật mã hóa này vẫn được coi là chủ quan(Gunawan, 2007) Tuy nhiên, các phương pháp phân tích nội dung đã được sử dụngrộng rãi và được coi như là một phương pháp thích hợp để phân tích mức độ của việccông bố thông tin, đó là liên kết với các vấn đề về độ tin cậy và tính hợp lệ (Guthrie
& Parker, 1990; Choi, 1999; Tilt, 2001; Raar, 2002; Ahmad & Sulaiman, 2004)
2.1.1 Hướng dẫn việc xác định các khoản mục
Để giảm bớt tính chủ quan trong nghiên cứu này, một tập hợp các nguyên tắc chiphối các thủ tục phân tích nội dung đã được thành lập để đạt được độ tin cậy và có
hệ thống (Gunawan, 2007) Áp dụng một tập hợp các mục phân tích CSD bởiGunawan (2007), sau khi thực hiện một cuộc phỏng vấn sâu 2 chuyên gia trong lĩnhvực kế toán kiểm toán đến từ Công ty kiểm toán Deloitte- Việt Nam và KPMG ViệtNam- hai trong 4 công ty kiểm toán hàng đầu thế giới; 2 chuyên gia đến từ Trungtâm nghiên cứu và phát triển xã hội Việt Nam (CSRD), 21 mục CED được coi làtoàn diện và thích hợp để đánh giá mức độ công khai thông tin TNBVMT tại cáccông ty niêm yết trong bối cảnh Việt Nam
2.1.2 Hướng dẫn thực hiện phân tích nội dung
Thủ tục phân tích nội dung đã được thực hiện thông qua các bước sau(Krippendorff, 1980):
• Đọc các văn bản trong các báo cáo thường niên và các trang web của công tyniêm yết
• Xác định các câu có mối quan hệ với các từ khóa trong của các mục CED
• Giải thích và chọn các mục thích hợp để đánh giá CED
• Cho điểm cả về số lượng và chất lượng
• Bỏ qua tất cả các thông tin không liên quan đến CED
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16• Đưa ra các suy luận
Sau khi quá trình chấm điểm được hoàn thành, điểm số trong mỗi chủ đề đãđược tính toán, tất cả những điểm số này sau đó đã được cộng vào để có được tổng
số điểm công khai thông tin TNBVMT tại công ty niêm yết Tổng số điểm thông báocho độc giả về thực tiễn công khai thông tin TNBVMT thực hiện bởi các công tyniêm yết Việt Nam
2.1.3 Hướng dẫn cho điểm
Điểm số cho các mục nằm trong khoảng từ số không đến bảy và được thực hiệntheo các hướng dẫn sau đây:
• Điểm 'Không' cho không công bố thông tin
• Điểm ‘một’ cho thông tin về tiền tệ Thông tin tiền tệ có thể được mô tả như làmột mục định lượng về tiền tệ Bất kỳ thông tin về tiền tệ được công bố mà khôngkèm mô tả khác được cho điểm một
• Điểm ‘hai’ cho thông tin phi tiền tệ Thông tin không phải về tiền, chẳng hạnnhư về trọng số, khối lượng, kích thước được cho điểm hai
• Điểm ‘ba’ cho thông tin định tính Mô tả, tường thuật, hoặc các thông tin địnhtính về CED được cho điểm ‘ba’, thông tin này là tương đối dễ dàng để xác định
• Điểm 'bốn' cho thông tin có sự kết hợp giữa thông tin về tiền tệ và định tính
• Điểm 'năm' cho thông tin có sự kết hợp giữa thông tin phi tiền tệ và định tính
• Điểm 'sáu' cho thông tin bao gồm cả về tiền tệ và phi tiền tệ
• Điểm 'bảy' cho thông tin bao gồm cả về tiền tệ và phi tiền tệ, thông tin địnhtính
Điểm số cao nhất có thể để đo lường mức độ công bố thông tin là "bảy", đây làmức điểm thể hiện tính chất toàn diện nhất về công khai thông tin kết hợp khía cạnhchất lượng, tiền tệ, và phi tiền tệ Điểm số tối đa có thể đạt được ở mỗi công ty là
147, bằng cách nhân số điểm tối đa cho mỗi lần đo (7) với tổng số các mục CED(21)
2.2 Kết quả nghiên cứu và những đánh giá
2.2.1 Điểm số công bố thông tin TNBVMT và thống kê mô tả
Một phân tích mô tả được thực hiện để quan sát điểm số trung bình của CED chocác năm 2012 đến năm 2014 Xem xét rằng điểm số tối đa có thể cho 21 mục công
bố thông tin là 147, tổng số điểm trung bình của VLF dao động giữa 15 và 16 trongthời gian ba năm So sánh với kết quả nghiên cứu tại Malaysia, Indonesia, Singapore,
Ấn Độ, mức độ công khai thông tin TNBVMT của VLF từ năm 2012 đến năm 2014
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 171.15124E1 1.21071E1 1.25131E1Total sample = 158 companies each year
Mặc dù có một sự giảm nhẹ về công khai thông tin TNBVMT trong năm 2014,Bảng 2 cho thấy rằng điểm số trung bình CED tại VLF là tương đối giống nhau trongsuốt ba năm Một kiểm định đã được tiến hành để kiểm tra liệu có những thay đổiđáng kể hay không về CED qua ba năm Kiểm định Kolmogorov-Smirnov bước đầu
đã được áp dụng để kiểm tra độ chuẩn của phân phối dữ liệu Kết quả chỉ ra rằngphần lớn điểm CED từ 2012 đến 2014 không phải là phân phối chuẩn do p-value =0.00 (giá trị p <0,05) Vì lý do này, một kiểm định phi tham số thích hợp Kruskal-Wallis đã được thực hiện trên các dữ liệu thô Kết quả cho thấy sự tương đồng giữa
ba năm khi (p-value = 0,730> 0,05), giả thuyết Ho đã được chấp nhận
Để so sánh điểm trung bình của CED trong hai nhóm, bao gồm ngành côngnghiệp nhạy cảm và không nhạy cảm, một kiểm định phi tham số tương tự như kiểm
Trang 18định t-test có tên là kiểm định Mann-Whitney đã được thực hiện Các giả thuyết tailed được phân tích với Mann-Whitney U test như sau:
two-Ho: CED của hai nhóm, bao gồm cả ngành công nghiệp nhạy cảm và khôngnhạy cảm, giống hệt nhau
H1: CED của hai nhóm, bao gồm cả ngành công nghiệp nhạy cảm và khôngnhạy cảm, không giống nhau
Như đã giải thích ở trên, biến phụ thuộc - CED- không phải là phân phối chuẩn,Mann-Whitney U test là kiểm định thích hợp để so sánh điểm trung bình Mục đíchcủa kiểm định là để kiểm tra sự khác biệt của CED do ảnh hưởng bởi biến độc lập –ngành công nghiệp
Bảng 4: Kết quả điểm CED phân chia theo ngành công nghiệp qua 3 năm
Trang 1919
-Bảng 5: Kết quả kiểm định Mann-Whitney U test- a
Grouping Variable: Industry
Do kết quả P-value gần bằng 0, (P <0,05) nên Ho đã bị từ chối, điều này chothấy một sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê giữa hai nhóm ngành công nghiệp cóthể được chấp nhận (H1 được chấp nhận) Kết quả từ Bảng 4, các doanh nghiệptrong ngành công nghiệp nhạy cảm có điểm CED trung bình cao hơn các doanhnghiệp trong ngành công nghiệp không nhạy cảm qua ba năm Mann-Whitney U test
so sánh giá trị trung bình của một biến độc lập và biến phụ thuộc giả định rằng sựkhác biệt về giá trị trung bình của biến phụ thuộc - CED - gây ra bởi các biến độc lập
- ngành công nghiệp Do đó, ngành công nghiệp chia mẫu thành hai nhóm, nhạy cảm
và không nhạy cảm cũng được xem là một nhân tố ảnh hưởng (Chomvilailuk, et al,2010)
Tiếp theo, các kiểm định Kruskal-Wallis đã tiến hành để kiểm tra xem có sựkhác nhau hay không về CED trung bình giữa ba nhóm quy mô Như đã đề cập ởtrên, kiểm định này là thích hợp để sử dụng trong các trường hợp có hơn ba haynhiều nhóm khác nhau để so sánh; đồng thời các dữ liệu cũng không đáp ứng cácyêu cầu của một kiểm định tham số
Ho: CED của ba nhóm bao gồm cả quy mô nhỏ, trung bình, lớn là giống nhauH1: CED của ba nhóm bao gồm cả quy mô nhỏ, trung bình, lớn là không giốngnhau
Bảng 6: Kết quả giá trị trung bình CED phân chia theo quy mô doanh
nghiệp qua 3 năm (2012-2014)
Trang 20Bảng 7: Kết quả Kiểm định Kruskal-Wallis dành cho biến Quy mô DN
a Grouping Variable: Size
Do kết quả với P-value nhỏ gần bằng không (P <0,05), vì vậy Ho đã bị từ chối,H1 được chấp nhận, điều này cho thấy đã có một sự khác biệt về CED giữa ba nhómquy mô Một kiểm định Kruskal-Wallis chứng tỏ rằng đã có một mối quan hệ đáng
kể giữa quy mô doanh nghiệp và CED qua ba năm
2.2.2 Nội dung công bố thông tin TNBVMT và phân tích nội dung theo các chủ đề
Các giá trị trung bình CED của mỗi chủ đề đã được tính toán bằng cách sử dụngthông kê mô tả, kết quả được trình bày tóm tắt trong Bảng 8
Bảng 8: Thống kê mô tả về CED theo khoản mục tại VLF 2012-2014
Mặc dù giá trị trung bình CED là thấp nhưng so với ba chủ đề còn lại, thông tin
về 'Môi trường' đã được công khai nhiều nhất trong các báo cáo hàng năm của công
ty và các trang web trong thời gian ba năm nghiên cứu Tuy nhiên, xem xét rằngđiểm số tối đa có thể cho chủ đề "Môi trường" là 91, thực tế giá trị trung bình chochủ đề này dao động giữa 6.6 và 6.9 trong thời gian ba năm Điều này cho thấylượng thông tin về 'môi trường' được công khai tương đối thấp trong báo cáo và các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21Báo cáo về môi trường đã được xác định là một hình thức khác của công khaicác hoạt động về môi trường của doanh nghiệp Mặc dù mức độ công khai thông tinTNBVMT tại Việt Nam là thấp, các công ty có quy mô lớn hơn có xu hướng cungcấp báo cáo về môi trường toàn diện hơn những công ty với quy mô nhỏ hơn Điềunày cho thấy quy mô doanh nghiệp có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến mức độcông khai thông tin môi trường qua hơn ba năm, và đã được kiểm định qua Kruskal-Wallis test trên.
Giá trị Variance cao cho thấy rằng điểm CED dao động rộng giữa giá trị nhiềunhất và ít nhất, chứng tỏ rằng một số công ty công khai nhiều thông tin về môitrường, trong khi những công ty khác là thấp hơn rất nhiều Điều này cũng phản ánh
sự thiếu tiêu chuẩn hoặc quy định thống nhất về công khai thông tin TNBVMT trongbáo cáo hàng năm của công ty và các trang web Gray, et al (1996) giải thích rằngbởi vì việc công khai thông tin TNBVMT vẫn mang tính tự nguyện, nên vấn đề đạođức và trách nhiệm của công ty đóng một vai trò quan trọng, và điều này cũng chothấy việc thực hiện công khai thông tin TNBVMT khác nhau giữa các công ty Ngay
cả ở Úc, một đất nước phát triển, báo cáo xã hội và môi trường vẫn là tự nguyện(Deegan & Gordon, 1996 được trích dẫn trong Kathyayini., Et al 2012), động lực đểtiết lộ thông tin này được cho là ít có khả năng nếu thiếu những quy định của phápluật, hoặc nếu bản thân công ty chưa xác định được lợi ích
2.2.2.2 Sản phẩm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Chủ đề được công khai thứ hai là 'sản phẩm' tiếp đến là 'bền vững' Thông tin'Sản phẩm' được dễ dàng xác định trong báo cáo thường niên Một bản tóm tắt chitiết về các mục của sản phẩm được trình bày trong bảng 9.
Bảng 9: Thông kê mô tả yếu tố sản phẩm của VLF 2012-2014
và dược phẩm khi họ có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định an toàn sản phẩm Đây
có thể là lý do tại sao các công ty không tham gia vào sản xuất thực phẩm hoặc dượcphẩm có xu hướng không tiết lộ thông tin này Một lý do khác là, có lẽ, đó là bảnchất của ngành công nghiệp đã không liên quan nhiều với các vấn đề về an toàn sảnphẩm, ví dụ, các công ty trong ngành công nghiệp dịch vụ Các ví dụ khác về côngkhai thông tin 'sản phẩm' được gắn liền với việc đóng gói sản phẩm mới, lượng chiphí hoặc tỷ lệ phần trăm của chi phí nghiên cứu và phát triển để cải thiện sản phẩmhiện có, và việc giới thiệu các sản phẩm mới Thông tin về các thành tựu và bảo trìtheo các tiêu chuẩn ISO 9001 (2008), chứng nhận về quản lý chất lượng TQM (TotalQuality Management) cũng đã chiếm ưu thế, cho thấy rằng các công ty đã đáp ứngcác yêu cầu về chất lượng sản phẩm
Trang 2323
-thấp Hầu hết các công ty chỉ nêu rằng họ sẽ thực hiện các mục tiêu và các giá trị xãhội liên quan đến việc ra quyết định dài hạn, nhưng không công bố bất kỳ lời giảithích chi tiết nào Một trong những lý do là công khai mối liên hệ giữa tính bền vững
và giá trị kinh tế - xã hội là khó xác định trong báo cáo thường niên và các trang webcủa công ty (Gunawan, 2007) Một lý do tương tự cho việc tiết lộ thông tin về 'pháttriển bền vững' là các công ty đều không quen với việc tiết lộ tính bền vững về hoạtđộng kinh tế và xã hội, mặc dù họ hiểu rằng việc duy trì các giá trị kinh tế và xã hội
về tình trạng thiếu năng lượng Trong khi giá trị trung bình của mỗi mục là cực kỳthấp, độ lệch chuẩn cao cho thấy điểm số năng lượng đã được lan truyền rộng rãi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24giữa nhiều nhất và ít nhất, chỉ ra rằng một số công ty đã cung cấp thông tin về nănglượng nhiều hơn, trong khi những công ty khác là thấp hơn rất nhiều.
Hai lý do có thể giải thích tình trạng này: đầu tiên, công ty đã không biết về sửdụng năng lượng hiệu quả, và thứ hai, nhiều công ty đã không nhận ra rằng thông tin
về 'năng lượng' liên quan chặt chẽ đến thông tin TNBVMT Với lý do đó, các kiếnthức về báo cáo TNBVMT cần phải được đào tạo để các công ty hiểu rõ hơn cácthông tin có liên quan đến việc bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, và làm thế nào
để công khai các hoạt động liên quan đến TNBVMT (Gunawan, 2007)
2.3 Bản chất của việc công khai thông tin
Deegan & Gordon (1996); Tilt (2001) dự đoán thông tin tích cực và mô tả như làmột thực tế phổ biến của việc công khai thông tin TNXH, bao gồm cả công khaithông tin bảo vệ môi trường Trong nghiên cứu này, không có thông tin tiêu cực cóthể được tìm thấy, và ít thông tin được tiết lộ một cách toàn diện, xem xét về khíacạnh chất lượng, phân tích bằng đồ thị, hoặc tiền tệ Thông tin mô tả mang tính tíchcực, tường thuật đã chiếm ưu thế Công ty có vẻ lo sợ phản ứng tiêu cực của côngchúng khi báo cáo bất kỳ 'tin xấu', như phạt tiền hoặc các hình phạt khác Lý do lànhững phản ứng của công chúng có thể ảnh hưởng xấu đến hình ảnh công ty(Adams, 2002) Vì vậy, VLF có khuynh hướng công bố "tin tốt" để có được mộthình ảnh tốt về công ty và tăng cường sự tin cậy Tình trạng này trùng hợp với nhữngnghiên cứu lớn khác, với kết quả hoàn toàn tương tự (Adams, 2002; Milne, et al,2000; Wilmshurst & Frost, 2000) Các sự kiện cụ thể có thể làm tăng mức độ và bảnchất của CED, như đã được chỉ ra trong quá trình phân tích nội dung Với thực tế lànhiều VLF cung cấp thông tin đầy đủ về các hoạt động môi trường, bản chất là sựtập trung vào các chiến dịch hỗ trợ môi trường hay các giải thưởng, thiết kế cơ sởthân thiện với môi trường
Tuy nhiên, ngoài những điểm tương đồng trong việc tiết lộ bản chất của hoạtđộng môi trường, các nội dung khác của việc công khai thông tin lại khác nhau giữacác ngành công nghiệp Các ngành công nghiệp không nhạy cảm, bao gồm tài chính,đầu tư và phương tiện truyền thông, các công ty phát thanh truyền hình cung cấpthông tin về chủ đề 'môi trường' là thấp nhất, ngược lại cung cấp rất nhiều thông tin
về chủ đề "nguồn nhân lực" và “các quan hệ đối ngoại”, đặc biệt là liên quan đếnkhách hàng Các công ty khai thác, sản xuất và nông nghiệp có xu hướng công khaiviệc tuân thủ quy định của nhà nước, cụ thể trong kiểm soát ô nhiễm và hỗ trợ cácchiến dịch vì môi trường
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2525
-2.4 Những đề xuất nhằm khuyến khích công bố thông tin về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam
2.4.1 Bối cảnh Việt Nam giai đoạn 2012-2014
Nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn
2012-2014, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng toàn cầu trong giai đoạn 2008-2009 vàkhủng hoảng tài chính Việt Nam trong năm 2011 Việt Nam bị tổn thất đáng kể từbuôn bán mậu dịch và thâm hụt ngân sách, dẫn đến nền kinh tế rạn nứt trước nhữngbất ổn của kinh tế toàn cầu Cơ chế quản lý và sự suy yếu của đồng tiền tệ làm giảmkhả năng nâng cao chất lượng xuất khẩu, và cũng giữ chi phí nhập khẩu cao, gây ra
áp lực lạm phát (Business Monitor International, 2014) Chỉ số VN-index giảm gần60% so với giai đoạn trước 2011; các nhà đầu tư giảm và ngần ngại giao dịch thươngmại do tác động tiêu cực từ kinh tế vĩ mô trong nước và toàn cầu không ổn định.Trước những rào cản kinh tế trong và ngoài nước, các công ty niêm yết Việt Nam đãtập trung nguồn lực của mình để đấu tranh cho sự sinh tồn, và sẵn sàng bỏ qua cácmục tiêu dài hạn cho sự phát triển bền vững.7 Điều này giải thích tại sao tổng điểmCED là tương đối thấp trong giai đoạn này, cho thấy những khó khăn cũng như sựnhận thức hạn chế về trách nhiệm môi trường của VLF
Ngoài ra, các quy định về công khai thông tin tại Việt Nam chưa được chặt chẽ
và vẫn còn mơ hồ, tạo ra các khe hở cho các CEO để tự quyền quyết định có nêncông bố hay không nội dụng TNBVMT trong báo cáo hàng năm của công ty TheoLuật Chứng khoán Việt Nam ban hành năm 2006, chương 8 liên quan đến công bốthông tin bao gồm 7 phần, những chỉ tập trung yêu cầu những thời điểm bất thườngphải công bố thông tin Phần 128 và 129 nhà nước quy định về hành vi vi phạm cácquy định về công bố thông tin chỉ gồm bốn dòng như sau: “các doanh nghiệp buộcphải tuân thủ quy định công bố thông tin, nếu không sẽ bị cảnh báo hoặc bị phạt” màkhông quy định tình huống cụ thể rõ ràng Chỉ có một thông tư quy định về côngkhai thông tin TNBVMT là Thông tư số 3105/TNMT-QLMT ban hành năm 2008bởi Viện tài nguyên và Môi trường, yêu cầu các công ty phải báo cáo trách nhiệmmôi trường, bao gồm cả tác động của công ty đến môi trường và quá trình thực hiện
để giảm thiểu những tác động này Tuy nhiên, mức phạt chung được quy định nếu viphạm không báo cáo là từ 10 triệu đến 50 triệu, mức xử phạt quá thấp này đã không
đủ mạnh để làm cho công ty niêm yết tuân thủ quy định về công bố thông tin Để
7
Report Macroeconomics and Stock market for the period 2011-2012 by Vietcombank Securities, Available at:
http://investor.vietinbank.vn/Handlers/DownloadReportView.ashx?ReportID=53 ((access on Feb 12 th , 2013).
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26tăng cường tính minh bạch của thị trường chứng khoán Việt Nam, Thông tư hướngdẫn số 52/2012/TT-BTC được ban hành bởi Bộ Tài chính trong năm 2012 Tuynhiên, một lần nữa kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng điểm số CED thấp là mộtbằng chứng thuyết phục về sự không hiệu quả và những hạn chế của Thông tư số 52
và đồng thời là sự vô hiệu lực của Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 năm 2010
2.4.2 Những đề xuất
Theo Asia News Monitor, gần một nửa giá trị sản xuất công nghiệp đến từ cáclĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Để khuyến khích các nhà đầu tư mạnhdạn bỏ vốn và tăng khả năng quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán ViệtNam, VLF cần phải tăng cường tính minh bạch của nguồn thông tin, không chỉ thôngtin tài chính mà còn thông tin phi tài chính, từ đó lần lượt tạo ra lợi thế cạnh tranhcủa VLF và hướng tới sự phát triển bền vững Càng nhiều công ty mạnh dạn tựnguyện công khai thông tin sẽ làm tăng uy tín của công ty niêm yết Việt Nam vàgiảm chi phí xã hội.8Ngoài ra, sự thiếu minh bạch khiến nhà đầu tư mất niềm tin vàothị trường chứng khoán Việt Nam
Do việc công khai TNBVMT ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn bắt đầu, đểnâng cao số lượng và chất lượng của thông tin TNBVMT giữa các công ty niêm yết,các cơ quan chức năng cần kịp thời nghiêm túc xem xét việc ban hành các chuẩnmực báo cáo về bảo vệ môi trường Đồng thời, cơ quan này cũng có thể đóng mộtvai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức về thực hiện công khai trách nhiệmmôi trường của doanh nghiệp, ví dụ, bằng cách thúc đẩy các định dạng báo cáo khácngoài báo cáo tài chính, hay một nội dung không kém phần quan trọng trong báo cáothường niên của doanh nghiệp là báo cáo về môi trường và phát triển bền vững Ủyban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam (SSC) cần cung cấp hướng dẫn cho việc côngkhai các hoạt động môi trường trong báo cáo hàng năm và các trang web công ty BộTài chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi Trường, Hiệp Hội Kế toán Kiểmtoán Việt Nam, và các học giả cũng nên tham gia để cải thiện tình hình công khaithông tin TNBVMT tại Việt Nam Các thông tư hướng dẫn cần cụ thể và rõ ràng đểnâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường Do đó, điều quan trọng
là phải có một cơ chế kiểm soát trong tổ chức để đảm bảo rằng thông tin về môitrường được công khai một cách đúng đắn
8 Costs imposed on society as a result of the conventional accounting procedures (Deegan, 2006).
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ