1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN: một số trò chơi phân môn luyện từ và câu lớp 3

51 2K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy sáchgiáo khoa tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cựchóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chứchoạt động cho học

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, đổimới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh, giúp học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác là mộtyêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục Chính vì vậy đòi hỏi người thầy cũngphải đổi mới phương pháp học tập để giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức tronggiờ học

Trong quá trình dạy học, việc rèn luyện tư duy thích hợp được chú trọng ởtất cả các môn học Môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học được xác định là một mônhọc công cụ bởi mục tiêu quan trọng của nó Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 cónhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu.Học sinh được lĩnh hội kiến thức thông qua một hệ thống bài tập Như vậy sáchgiáo khoa tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cựchóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chứchoạt động cho học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, được bộc lộ mình vàđược phát triển

Để có một câu nói và viết ngắn gọn, diễn đạt đủ ý, gây hứng thú vớingười nghe hoặc một bài văn hay, ta cần phải có một vốn từ ngữ phong phú, biếtviết câu đúng ngữ pháp Vậy từ ngữ ở đâu, luyện viết như thế nào, đó là nhiệm

vụ của thầy và trò, phải dạy và học thế nào để tích lũy vốn từ qua từng bài học.Phân môn Luyện từ và câu trực tiếp cung cấp cho các em vốn từ phong phúnhất, giúp các em củng cố, làm giàu vốn từ để viết câu, hình thành văn bản hoànchỉnh Dùng từ đúng, phù hợp với văn cảnh giúp các em thể hiện ý văn sáng sủa,

rõ ràng, mặt khác giúp người đọc hiểu nội dung bài văn, câu văn một cách rõràng, chính xác

Có nhiều yếu tố góp phần quyết định sự thành công của việc đổi mớiphương pháp dạy học Trò chơi học tập là một hình thức tích cực hỗ trợ đắc lựccho việc đổi mới phương pháp dạy học Ở Tiểu học hoạt động chơi không còn làchủ đạo đối với học sinh Song cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu và

nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với các em Nếu ta tổ chức chohọc sinh vui chơi một cách hợp lý, khoa học thì mang lại hiệu quả giáo dục cao.Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng trong các tiết học có tác dụng tích cựcnhằm thay đổi hình thức học tập Thông qua trò chơi không khí lớp học trở nên

Trang 2

thoải mái, dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh tự nhiên, nhẹ nhàng vàhiệu quả hơn Trò chơi cũng tạo nên sự vui tươi, thân mật, đoàn kết, giải trí……

Như Giáo sư – Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã nhận định: “Khi giảng bài, cô giáo sử dụng đồ dùng học tập đẹp, màu sắc sặc sỡ, tổ chức các trò chơi phong phú, các

em sẽ reo lên: “Đẹp quá!”, “Thích quá!” Do đó, những bài giảng khô khan không tạo dựng cho học sinh những cảm xúc tích cực mà còn làm cho các em

mệt mỏi, chán nản, căng thẳng.” (Trích Tâm lí học tiểu học) Đối với các nhà

giáo dục thì trò chơi chính là phương pháp “Vui mà học, học mà vui” Còn Bác

Hồ đã từng căn dặn: “Trong lúc học cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần cho chúng học” Đối với học sinh lớp 3, việc sử dụng các hình thức trò chơi

học tập rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em, đồng thời giúp các embộc lộ hết năng lực của mình, gây hứng thú khi học Luyện từ và câu Chính vì

vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 trong tiết Luyện

từ và câu thông qua trò chơi” nhằm góp phần thực hiện đổi mới phương pháp

dạy học, nâng cao chất lượng học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và chấtlượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 nói chung

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 3C năm học 2013 – 2014

- Học sinh lớp 3C năm học 2014 – 2015

- Học sinh lớp 3C năm học 2015 – 2016

2 Phạm vi nghiên cứu

- Phân môn Luyện từ và câu lớp 3

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Dạy học môn Tiếng Việt chỉ có hiệu quả cao khi trở thành quá trình tổchức và điều khiển hoạt động giao tiếp Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiệnnay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là mộtphương pháp dạy học có hiệu quả, được các thầy, cô giáo xem như một hình thức

tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảngTiếng Việt của mình Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui và nhẹ nhàng

về Tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ở bậc Tiểuhọc là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơicùng bạn bè theo tinh thần “Học vui - vui học”, “Học mà chơi, chơi mà học”

Các vai trò của trò chơi học tập trong việc dạy và học môn Tiếng Việt ởcác lớp bậc tiểu học :

1 Trò chơi học tập Tiếng Việt kích thích hứng thú nhận thức

Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cốkiến thức, kĩ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theonhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độtập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được Những kiếnthức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hìnhthức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên Như vậy, việc

sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học Tiếng Việtnói riêng là một trong những biện pháp tăng cường tích cực hoá hoạt động họctập của học sinh Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiệnqua các tiết học có trò chơi làm tăng thêm cảm tình của các em đối với môn học

và thầy cô giáo

Việc tìm được phương án giải khác nhau cho một “bài toán” trò chơi giúpcác em hiểu sâu sắc hơn về những tri thức đã học, có thói quen tìm tòi phương

án giải quyết tốt nhất, hay nhất và đơn giản nhất Và khi đó, các em thể hiệnniềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui

do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào trò chơi Từ

đó hình thành ở các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì “trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức”.

Mặt khác, trong trò chơi, muốn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra và chơi đúngquy tắc thì các em phải chú ý, tích cực lắng nghe sự hướng dẫn của giáo viên

Từ đó, trẻ em “dần dần học tập, hành động theo đúng quy tắc, bắt tính tích cực

Trang 4

của mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì phấn đấu đạt tới những kết quả và những thành tựu nhất định” (A, V Daparogiet - Tâm lí học).

Trò chơi là chiếc cầu nối môn Tiếng Việt với thực tiễn, bởi vì thông quatrò chơi các em thấy ứng dụng quan trọng của môn Tiếng Việt trong thực tiễn

Và như vậy là đã phát huy được tính tích cực nhận thức của các em

2 Trò chơi học tập Tiếng Việt là một trong những phương tiện hình thành các năng lực trí tuệ

Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định củaquá trình tâm lí Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định vàghi nhớ có chủ định Khi chơi trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớ được nhiềuhơn Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những dữ kiện và đốitượng được đưa vào tình huống của trò chơi cũng như nội dung của trò chơi.Nếu đứa trẻ không chú ý và nhớ những điều kiện của trò chơi, thì sẽ hành độngmột cách tự phát và không đạt được kết quả chơi Bởi vậy, để trò chơi đượcthành công buộc các em phải tập trung chú ý và ghi nhớ một cách chủ động

Trò chơi học tập Tiếng Việt đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ vàphục vụ cho mục đích ấy vì đôi khi trò chơi đề ra cho các em “bài toán” trí tuệ,

và việc giải quyết các “bài toán” này đòi hỏi phải thể hiện những hình thức hoạtđộng trí tuệ muôn hình, muôn vẻ Trong khi tham gia trò chơi, để giành phầnthắng, các em phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và cólúc phải tỏ ra quyết đoán Việc xây dựng và tổ chức các trò chơi đã giúp các emvận dụng, sáng tạo cách tìm “chiến lược” giành phần thắng trong trò chơi banđầu và các tình huống mới, trò chơi mới

Đồng thời những kinh nghiệm được rút ra từ các mối quan hệ qua lạitrong lúc chơi cho phép đứa trẻ đứng trên quan điểm của những người khác đểphán đoán hành vi sắp xảy ra của bạn, trên cơ sở đó mà lập kế hoạch hành động

và tổ chức hành vi của bản thân mình sao cho phù hợp

Như vậy, trò chơi học tập Tiếng Việt tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng,khả năng linh hoạt độc lập sáng tạo cần thiết cho hoạt động học tập và lao độngsau này của các em

3 Trò chơi học tập Tiếng Việt ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ và trí tưởng tượng

Vui chơi ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh nóichung và của học sinh Tiểu học nói riêng Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứatrẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhấtđịnh Nếu các em không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của

Trang 5

mình đối với trò chơi, nếu không hiểu được lời chỉ dẫn của thầy cô hay lời bànbạc của các bạn cùng chơi, thì không thể nào tham gia vào trò chơi được (hoặctham gia không có kết quả) Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùngchơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc Trò chơi chính làđiều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng.

Bên cạnh đó, trò chơi học tập Tiếng Việt có ý nghĩa đối với sự phát triểntrí tưởng tượng của học sinh Tiểu học Trong hoạt động vui chơi các em họcthay thế đồ vật này bằng đồ vật khác, nhận đóng các vai khác nhau Năng lựcnày là cơ sở để phát triển trí tưởng tượng Chính hoạt động vui chơi đã làm nảysinh hoàn cảnh chơi, tức là làm nảy sinh trí tưởng tượng

Trong khi chơi, trẻ ra sức tưởng tượng (đặc biệt là các trò chơi đóng vai)

và vì vậy ngôn ngữ trao đổi rất phong phú Những hình ảnh tưởng tượng vừangây thơ vừa đáng yêu (cũng có lúc phi lí) này không chỉ đem lại cho tuổi thơniềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi người sau này lớn lên, dù đó là người laođộng chân tay, nhà khoa học hay người nghệ sĩ Phương tiện có hiệu quả nhất đểnuôi dưỡng trí tưởng tượng – đó là trò chơi

4 Trò chơi học tập Tiếng Việt thực hiện chức năng hoạt động luyện tập thực hành

Trò chơi học tập Tiếng Việt thực hiện chức năng của hoạt động thực hành

vì các em có điều kiện vận dụng những kiến thứuc đã học khi tham gia vào tròchơi Các em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong cáckiến thức Tiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri

thức đã học Với các trò chơi Thi viết câu gồm các chữ giống nhau ở chữ cái đầu, Thi đặt câu theo mẫu, Thi tìm từ ghép có cùng một tiếng… các em hiểu rõ

hơn về cấu tạo của từ, của câu Tiếng Việt, góp phần hình thành và rèn luyện kĩnăng đặt câu, viết đoạn văn Qua đó, những thiếu sót trong hoạt động trí tuệ vàtrong tri thức của các em cũng được phát hiện Từ đó giáo viên có biện pháp bổsung và điều chỉnh kịp thời cho các em

Bên cạnh đó, trò chơi Tiếng Việt còn là một trong những phương tiện đểkhắc phục những trở ngại khác nhau trong hoạt động trí tuệ của từng em thôngqua các trò chơi cá nhân và tập thể Bởi vì đã là trò chơi thì phải có trao đổi tưtưởng, tri thức giữa các thành viên trong một nhóm khi tham gia trò chơi Thôngqua trò chơi, các em có điều kiện để thể hiện mình, biết hợp tác với bạn bè đểtìm được cách trả lời tốt nhất Và thông qua trò chơi này, giáo viên có thể tìm

Trang 6

hiểu được nguyên nhân yếu kém, chậm tiến của các em để có biện pháp khắcphục, luyện tập nhiều lần cho trẻ và nâng cao dần trình độ cho các em.

5 Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp hình thành đức tính trung thực,

có kỉ luật, tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao

Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủ theo những quy tắc nhấtđịnh (đã được nêu trước trò chơi) Việc các em tiếp nhận và tuân theo nhữngquy tắc đó giúp các em có khả năng tự kiềm tra và kiểm tra lẫn nhau trong tròchơi Khi tham gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộccác em phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất địnhbắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi Việc thực hiện quy tắc của trò chơi trởthành một trong những yếu tố cơ bản của trò chơi, làm cho các thành viên trongnhóm hợp tác chặt chẽ với nhau Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể,các em phải biết cùng chơi, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhânvới lợi ích tập thể, tức là các em biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mựccủa xã hội

Bên cạnh đó, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm)mình giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìntrật tự Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉluật, ý thức tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em

Khi đã xác nhận rằng vui chơi là một hoạt động cần thiết của học sinh tiểuhọc, thì đồng thời cũng cần nhận biết rằng việc tổ chức các trò chơi cho trẻ làcực kì quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn Tổ chức trò chơi chính là tổchức cuộc sống của trẻ, vì trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người

Đặc biệt, ở tiểu học, độ tuổi học sinh còn thấp (từ 6 đến 11 tuổi), năng lựcchú ý và trí nhớ của các em còn kém bền vững Do đó, không nên kéo dài nộidung bài học, làm như vậy, học sinh sẽ rất dễ bị mệt mỏi, chán nản, không lĩnhhội đầy đủ, chính xác nội dung bài học Vậy làm thế nào để tiết học diễn ra nhẹnhàng, tự nhiên, hiệu quả? Sự vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học khácnhau để giờ học hạn chế được sự khô cứng, điều này tùy thuộc vào năng lực sưphạm của mỗi giáo viên Nói như nhà giáo dục vĩ đại người Séc J.A.Comenxki

(1592 - 1670): “Dạy học là một nghệ thuật” Vấn đề quan trọng là ở chỗ vận

dụng, chuyển hóa các phương pháp dạy học của mỗi giáo viên Không cóphương pháp, hình thức dạy học nào là tối ưu, điều cần thiết đấy chính là tínhsáng tạo của người giáo viên

Trang 7

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trường Tiểu học nơi tôi đang công tác và giảng dạy có trên 30 giáo viên,

đa số đã đạt trên chuẩn Chủ trương đổi mới phương pháp dạy học đã được cán

bộ, giáo viên nhà trường tiếp thu nhanh chóng và đạt hiệu quả cao Trong quátrình dạy học, giáo viên không đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức sẵn cótrong sách giáo khoa mà trở thành người hướng dẫn, tổ chức quá trình dạyhọc…… Giáo viên thường lấy tiêu chí phấn đấu là giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên,thoải mái, đạt hiệu quả cao Chính vì vậy mà kết quả học tập của học sinh ngàymột nâng cao, số lượng học sinh đạt giải và giải cao trong các cuộc thi các cấpngày càng tăng, trường liên tục đạt trường tiên tiến

Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu lớp 3 là cung cấp cho các emvốn từ ngữ, giúp các em làm giàu vốn từ để viết câu, hình thành văn bản hoànchỉnh Nhưng thực tế, vào thời điểm đầu năm học, học sinh lớp 3C do tôi phụtrách, kĩ năng dùng từ đặt câu và vận dụng viết thành đoạn văn còn hạn chế Quađiều tra ban đầu, trong 43 em của lớp chỉ có 20 em viết đoạn văn hoàn chỉnh Đa

số các em nắm kiến thức về vốn từ chưa bền vững Mặt khác, do tình hình chungcủa lớp, một số em còn rụt rè trong học tập và sinh hoạt Trong khi đó, nội dungchương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 rất đa dạng, phong phú Vì vậycần phải được khai thác và vận dụng tối ưu về các phương pháp dạy – học, hạnchế được sự khô khan trong tiết học, tạo cho các em không khí học tập sôi nổi.Trên cơ sở đó củng cố kiến thức được vững chắc Mặt khác, địa bàn tôi dạy đa

số là thuần nông, người dân rất bận rộn trên cánh đồng, kiến thức về học tậpcũng hạn chế nên các em cũng ít nhận được sự kèm cặp, hướng dẫn của giađình Mọi kiến thức các em có đều được tiếp nhận trên lớp học, dưới sựhướng dẫn của cô giáo Do đó, giáo viên luôn phải trăn trở làm thế nào để họcsinh có thể dễ dàng nhớ ngay kiến thức trong giờ học và phát huy hiệu quả khinói và viết

Trang 8

CHƯƠNG III: MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG TIẾT

LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3

1 Nghiên cứu chương trình Luyện từ và câu lớp 3

Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu lớp 3 là giúp học sinh mở rộng,

hệ thống hóa vốn từ, trang bị cho học sinh một số kiến thức sơ giản về từ vựng,ngữ pháp văn bản, các biện pháp tu từ, rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu và sửdụng dấu câu Qua nghiên cứu chương trình, tôi nhận thấy phân môn Luyện từ

và câu lớp 3 được phân bố mỗi tuần 1 tiết, gắn với 15 chủ điểm xuyên suốt trongquá trình học Tiếng Việt

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU

Măng non

12

- Ôn về từ chỉ sự vật – So sánh

- Mở rộng vốn từ: Thiếu nhi

Ôn tập câu Ai là gì ?Mái ấm

34

- So sánh Dấu chấm

- Mở rộng vốn từ: Gia đình

Ôn tập câu Ai là gì ?Tới trường

56

- So sánh

- Mở rộng vốn từ: Trường học Dấu phẩy

Cộng đồng

78

- Ôn về từ chỉ hoạt động, trạng thái

So sánh

- Mở rộng vốn từ: Cộng đồng

Ôn tập câu Ai làm gì ?Quê hương

1011

- Ôn về từ chỉ hoạt động, trạng thái

So sánh

- Mở rộng vốn từ: Từ địa phương Dấu chấm hỏi, chấm than

Anh em một

nhà

1415

- Ôn về từ chỉ đặc điểm

Ôn tập câu Ai thế nào ?

- Mở rộng vốn từ: Các dân tộc Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh Thành thị và

nông thôn

16 - Mở rộng vốn từ: Thành thị – Nông thôn

Dấu phẩy

Trang 9

- Nhân hóa Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Khinào ?

- Mở rộng vốn từ: Tổ quốc Dấu phẩySáng tạo

2122

- Nhân hóa Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu ?

- Mở rộng vốn từ: Sáng tạo Dấu phẩy, dấu chấm,dấu hỏi

Nghệ thuật

2324

- Nhân hóa Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Nhưthế nào ?

- Mở rộng vốn từ: Nghệ thuật Dấu phẩy

26

- Nhân hóa Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Vì sao?

- Mở rộng vốn từ: Lễ hội Dấu phẩyThể thao

2829

- Nhân hóa Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Để làm

gì ? Dấu chấm, chấm hỏi, chấm than

- Mở rộng vốn từ: Thể thao Dấu phẩy

Ngôi nhà

chung

303132

- Đặt và trả lời câu hỏi Bằng gì? Dấu hai chấm

- Mở rộng vốn từ: Các nước Dấu phẩy

- Đặt và trả lời câu hỏi Bằng gì?

Dấu chấm, dấu hai chấmBầu trời và

mặt đất

3334

- Nhân hóa

- Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên Dấu chấm, dấu phẩy

Cũng từ vấn đề nghiên cứu, tôi nhận thấy ở mỗi chủ điểm, các bài họcđược bố trí xoay quanh một chủ điểm là hạt nhân của chương trình Các kiếnthức được luyện tập qua nhiều bài, giúp học sinh nắm bài chắc chắn hơn

Ví dụ : Chủ điểm “Cộng đồng”, học sinh được mở rộng vốn từ qua bài :

Mở rộng vốn từ: Cộng đồng - Ôn tập câu Ai làm gì ? Kiến thức về từ chỉ hoạt

động, trạng thái, biện pháp so sánh trong những bài Tập đọc từ tuần 1 đến tuần

8, các em được ôn tập trong tiết Luyện từ và câu này

Biện pháp này giúp tôi chủ động hơn trong việc thiết kế các trò chơi saocho phù hợp với từng tiết học

2 Thiết kế trò chơi:

Sau khi nghiên cứu chương trình, tôi thiết kế trò chơi theo nội dung từngbài học Học sinh được chơi trò chơi thay cho việc làm bài tập một cách khô

Trang 10

khan “Việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng của học sinh bớt đi vẻ khô khan,

tăng thêm phần sinh động, hấp dẫn” (Trích: Dạy Tiếng Việt theo chương trình

và sách giáo khoa mới - Trần Thị Minh Phương) Để đảm bảo cho sự thành

công của việc sử dụng trò chơi, tôi luôn thiết kế trò chơi gắn với mục tiêu của bài học Các trò chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, ít tốn thời gian của tiết học Trò chơi có sự thi đua giành phần thắng giữa các bên tham gia Tuy nhiên,

sự đánh giá thắng, thua không quan trọng, giáo viên cần động viên cả bên thua

để các em không có sự tự ti, cảm thấy mình yếu kém Mục đích quan trong là tạo được không khí sôi nổi trong học tập, giúp các em học bài tốt hơn

* Ví dụ : Bài : Mở rộng vốn từ: Quê hương

Ôn tập câu ai làm gì ?

a) Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào”

b) Mục đích : - Củng cố về vốn từ Quê hương

- Rèn luyện tính nhanh nhẹn, hoạt bát, chính xác

c) Chuẩn bị :

- Thẻ từ ghi các từ: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, bùi ngùi, tự hào

- Bảng phụ ghi sẵn 2 cột :

a) Chỉ sự vật ở quê hương b) Chỉ tình cảm đối với quê hương

………

………

d) Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội 5 em Các em có nhiệm vụ

tiếp sức nhau đính những thẻ từ có từ trên vào hai nhóm a và b cho đúng Chú ý: Mỗi lần, một em chỉ đính 1 từ, tiếp tục đến em khác Đội nào thực hiện nhanh và chính xác hơn là thắng cuộc

* Ví dụ: bài “Mở rộng vốn từ: Tổ quốc Dấu phẩy” ( tuần 21- trang 17 )

Ô CHỮ “ ANH HÙNG”

a) Tên trò chơi : “Ô chữ kì diệu”

Trang 11

b) Mục đích :

- Củng cố và hệ thống hóa từ ngữ về bảo vệ Tổ quốc

- Rèn khả năng ghi nhớ các anh hùng của dân tộc và giáo dục truyềnthống dân tộc

- Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội

- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô

- Học sinh chọn câu hỏi nào, giáo viên đọc câu lệnh, các em thảo luận vớinhau tìm từ có số chữ cái tương ứng ở cột ngang, ghi vào bảng con Thời gianghi đáp án là 15 giây

- Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm Các đội phát hiện từ cột dọc ởbất kì thời điểm nào sau câu hỏi thứ năm đều có quyền trả lời Từ cột dọc là 30điểm Đội nào có tổng số điểm nhiều hơn là thắng cuộc

• Mỗi hàng ngang có ghi tên một anh hùng, em hãy dựa vào gợi ý để tìmđúng các anh hùng đó

1 Triệu Việt Vương

2 Nữ tướng cưỡi voi đánh giặc

3 Anh hùng áo vải

4 Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam

5 Nhân dân tôn ông là Bố Cái Đại Vương

6 Người đại phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng

7 Người đại phá quân Tống trên sông Như Nguyệt

Đáp án:

Các anh hùng lần lượt là: Triệu Quang Phục, Trưng Trắc, Nguyễn Huệ,

Hồ chí Minh, Phùng Hưng, Trần Quốc Tuấn, Lí Thường Kiệt.

Trang 12

Từ thiết kế trò chơi đã lập, trong tiết học, tôi luôn lồng trò chơi vào

những chỗ thích hợp để tiết học thêm phần sôi nổi “Tổ chức trò chơi học tập tốt vừa phát huy được sự nhanh trí, sáng tạo, vừa rèn luyện được tính tự lập và

tinh thần tập thể của các em.” (Trích : Phương pháp dạy Tiếng Việt ở tiểu

học – Lê Phương Nga) Qua trò chơi, học sinh được thực hành luyện tập, các

em dễ nhớ bài hơn, khắc sâu được kiến thức hơn Trong khi tổ chức trò chơi, tôithường chọn những em yếu, rụt rè tham gia để tạo điều kiện cho các em đượcđứng trước đông người, giúp các em tự tin hơn, học tốt hơn

Theo kinh nghiệm của bản thân cho thấy, ở lứa tuổi tiểu học, các em rất

hay bắt chước Như Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã nhận xét: “Ở lứa tuổi tiểu học, học sinh hay bắt chước Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi tiểu học Tính bắt chước là một “con dao” hai lưỡi Bởi vì

các em bắt chước cái đúng cũng lắm mà cái sai cũng nhiều.” (Trích: Tâm lí học

ở tiểu học) Vì vậy, khi tổ chức trò chơi, tôi thường đảo vị trí của các câu để 2

đội không trùng nhau, học sinh không bắt chước đội bạn được

* Ví dụ : Bài: Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái – So sánh

Trò chơi : “Ai nhanh tay hơn nào”

Bài: Nối cột A với cột B tương ứng Tôi viết bảng phụ cho 2 đội như sau :

Trang 13

Đội 1

A B

Đội 2 :

A B

Ví dụ: Bài : Nhân hóa - Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Khi nào ?

Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào ?”

Trả lời các câu hỏi sau Tôi viết bảng phụ cho 2 đội như sau :

Nhờ sự sắp xếp không giống nhau các câu hỏi trong trò chơi, học sinh rènluyện được tính tự lập, không trông cậy vào người khác Do đó, trò chơi cũngsôi nổi hơn

4 Một số lưu ý

Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng

cố kiến thức, kĩ năng đã học Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chứctrò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng Tuy nhiên việc tổ chức cho học

Cây cầu làm bằng thân dừa

Những ruộng lúa cấy sớm

Những ruộng lúa cấy sớm lao băng băng trên sông

huơ vòi chào khán giảbắc ngang dòng kênhCây cầu làm bằng thân dừa

Trang 14

sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạohứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới.

Quy trình thực hiện:

- Bước 1: giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi

- Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

+ Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia(mấy đội chơi), quản trò, trọng tài

+ Các dụng cụ để chơi ( giấy khổ to, quan bài, thẻ từ, cờ, …….)

+ Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gianchơi, những điều người chơi không được làm, ……

+ Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, các giải của cuộc chơi(nếu có)

- Bước 3: Thực hiện trò chơi

- Bước 4: Nhận xét cuộc chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:+ Giáo viên hoặc trọng tài là học sinh nhận xét về thái độ tham gia tròchơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phầnthưởng cho đội đoạt giải

+ Một số học sinh nêu kiến thức, kĩ năng trong bài học mà trò chơi thể hiện

5 Các trò chơi

TRÒ CHƠI SỐ 1 (Tuần 1) Bài : Ôn về từ chỉ sự vật – So sánh ( trang 8 ) a) Tên trò chơi : “Tìm nhanh từ chỉ sự vật” – áp dụng vào bài tập 1 b)Mục đích :

- Nhận biết nhanh các từ chỉ sự vật, làm giàu vốn từ

- Rèn luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh tay

Trang 15

d) Cách chơi: Chia lớp thành 4 đội, mỗi đội 5 em Các em tiếp sức nhau

gạch chân dưới các từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ Trong thời gian2 phút, độinào xác định đúng, nhiều từ ngữ nhất và nhanh nhất là thắng cuộc

Đáp án:

Tay em đánh răng Răng trắng hoa nhài Tay em chải tóc Tóc ngời ánh mai

TRÒ CHƠI SỐ 2 (Tuần 2) Bài : Mở rộng vốn từ : Thiếu nhi ( trang 16 )

Ôn tập câu Ai là gì ?

a) Tên trò chơi : “Tìm nhanh từ cùng nhóm” – áp dụng vào bài tập 1 b)Mục đích :

- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh

- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh

d) Cách chơi: Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 4 em Sau khi nghe giải

thích, giáo viên yêu cầu các nhóm kể ra những từ thuộc nhóm đó Từng nhómghi lại những từ ngữ vừa tìm được vào bảng phụ Thời gian viết 2 hoặc 3 phút mỗi từ viết đúng được 1 điểm Mỗi từ viết sai trừ 1 điểm Nhóm nào có số điểmcao nhất sẽ đứng vị trí số 1 Các nhóm khác căn cứ theo số điểm sẽ được xếpvào các vị trí 2, 3, 4

Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc

của người lớn đối với trẻ em

Nâng niu, chiều chuộng, chăm chút, chăm bẵm, quý mến, nâng đỡ, dạy bảo, ……

TRÒ CHƠI SỐ 3 (Tuần 3)

Trang 16

Bài : So sánh Dấu câu ( trang 24 ) a) Tên trò chơi: “Ai tài so sánh” – áp dụng vào phần củng cố về so

sánh.

b) Mục đích :

- Luyện phát hiện biện pháp so sánh

- Luyện phản ứng nhanh, trau dồi khả năng quan sát, trí tưởng tượng, liêntưởng cho học sinh

- GV chia học sinh thành 4 đội, cử 2 bạn làm thư kí

- GV nêu lên từ ngữ chỉ đối tượng cần so sánh Ví dụ: mắt

- GV gọi học sinh giơ tay trước trả lời (Ví dụ: sáng như sao, trong nhưngọc, đen như hạt nhãn, … )

- GV đưa ra một số đối tượng khác (như trời, trăng, dòng sông, … ) và cũng tiến hành tương tự

- Sau một thời gian (khoảng 2 – 3 phút ), GV tổng kết Đội nào đưa ra được nhiều đáp án đúng đội đó sẽ thắng cuộc

TRÒ CHƠI SỐ 4 (Tuần 4) Bài : MRVT : Gia đình ( trang 33 )

Ôn tập câu : Ai là gì ? a) Tên trò chơi: “Tìm nhanh từ cùng nhóm” – áp dụng vào bài tập 1, b)Mục đích :

- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh

- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh

c) Chuẩn bị :

- Bảng phụ ghi nội dung bài tập 1:

* Viết tiếp những từ ngữ chỉ gộp những người thân trong gia đình vào chỗtrống :

M : ông bà, chú cháu………

d) Cách chơi : Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 4 em Sau khi nghe giải

thích, GV yêu cầu các nhóm chơi kể ra những từ thuộc nhóm đó Từng nhómghi lại những từ ngữ vừa tìm được vào bảng phụ Thời gian viết 2 hoặc 3 phút,

Trang 17

mỗi từ viết đúng được 1 điểm, mỗi từ viết sai trừ 1 điểm Nhóm nào có số điểmcao nhất sẽ đứng vị trí số 1 Các nhóm khác theo số điểm sẽ được xếp vào các vịtrí 2, 3, 4.

Đáp án: ông bà, cô chú, bố mẹ, anh chị, anh em, chị em, chú thím, cô dì,

chú bác, con cháu, cháu chắt, cậu mợ, cô bác,cô chú,………

TRÒ CHƠI SỐ 5 (Tuần 5) Bài : So sánh ( trang 42, 43 ) a) Tên trò chơi : “Ai tài so sánh”- áp dụng vào phần củng cố cuối bài b) Mục đích :

- Luyện phát hiện biện pháp so sánh

- Luyện phản ứng nhanh, trau dồi khả năng quan sát, trí tưởng tượng, liêntưởng cho học sinh

- GV chia học sinh thành 4 đội, cử 2 bạn làm thư kí

- GV nêu lên từ ngữ chỉ đối tượng cần so sánh Ví dụ : trăng

- GV gọi học sinh giơ tay trước trả lời (Ví dụ: tròn như cái mâm, congnhư lưỡi liềm, như chiếc sừng non, như con thuyền nhỏ,… )

- GV đưa ra một số đối tượng khác (như ngôi sao, mẹ, … ) và cũng tiến hành tương tự

- Sau một thời gian (khoảng 2 – 3 phút ), GV tổng kết Đội nào đưa ra được nhiều đáp án đúng đội đó sẽ thắng cuộc

(+ Những ngôi sao: như những ngọn lửa nhỏ nhấp nháy, chi chít như nhữnghạt vừng rắc trên chiếc bánh đa

+ Mẹ: như một nàng tiên, là ngọn gió của con,… )

Trang 18

TRÒ CHƠI SỐ 6 (Tuần 6) Bài : Mở rộng vốn từ: Trường học ( trang 50 )

a) Tên trò chơi: “Giải ô chữ”

d) Cách chơi: - Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội

- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô

- Học sinh chọn câu hỏi nào, giáo viên đọc câu lệnh, các em thảo luận vớinhau tìm từ có số chữ cái tương ứng ở cột ngang, ghi vào bảng con Thời gianghi đáp án là 15 giây

- Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm Các đội phát hiện từ cột dọc ởbất kì thời điểm nào sau câu hỏi thứ năm đều có quyền trả lời Từ cột dọc là 30điểm Đội nào có tổng số điểm nhiều hơn là thắng cuộc

* Được học tiếp lên lớp trên (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ L) - LÊN LỚP

* Đi thành hàng ngũ diễu hành qua lễ đài hoặc đường phố để biểu dươngsức mạnh (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ D)- DIỄU HÀNH

* Sách dùng để dạy và học trong nhà trường (gồm 3 tiếng bắt đầu bằngbằng chữ S) - SÁCH GIÁO KHOA

Trang 19

* Lịch học trong nhà trường (gồm 3 tiếng, bắt đầu bằng chữ T) - THỜIKHÓA BIỂU

* Những người được gọi là phụ huynh học sinh (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằngchữ C) - CHA ME

* Nghỉ giữa buổi học (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ R) - RA CHƠI

* Học trên mức khá (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ H) - HỌC GIỎI

* Có thói xấu này thì không thể học giỏi (gồm 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ L)

So sánh ( trang 58 ) a) Tên trò chơi: “Tìm nhanh từ chỉ hoạt động, trạng thái” - áp dụng

vào bài tập 2.

b) Mục đích :

- Nhận biết nhanh các từ chỉ hoạt động, trạng thái

- Rèn luyện trí thông minh, nhanh tay, nhanh mắt.

Trang 20

c) Chuẩn bị : Từ 2 đến 4 bộ bài, mỗi bộ từ 20 – 25 quân ghi các từ ngữ,

trong đó có 12 – 15 quân bài ghi các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái Các quân

bài khác ghi các từ chỉ sự vật, tính chất.(bấm bóng, hoảng sợ, cướp bóng, dẫn bóng, chuyền bóng, dốc bóng, sút bóng, chơi bóng, sợ tái cả người, bóng đá, cầu thủ, thủ môn, hậu vệ, tiền vệ, nhanh, hồi hộp, bình tĩnh, sân bóng, thua,

thắng, cánh trái, cánh phải, … )

d) Cách chơi : - Chọn 2 hoặc 4 đội chơi, mỗi đội 4 em - Mỗi đội chơi được phát một bộ bài (VD : Một số quân bài ghi các từ ngữ chỉ hoạt động chơi bóng, một số quân bài ghi từ ngữ không thuộc nhóm này) - Khi GV yêu cầu tìm nhanh các từ ngữ chỉ hoạt động chơi bóng, người chơi gắn từng quân bài chỉ hoạt động chơi bóng xuống bảng phụ Mỗi quân bài xác định đúng được tính 1 điểm Mỗi quân bài sai bị trừ 1 điểm Sau khoảng thời gian nhất định (2 - 3 phút), đội nào được nhiều từ ngữ đúng nhất sẽ thắng cuộc Những đội chơi sau sẽ được xếp thứ tự tiếp theo, dựa vào số điểm TRÒ CHƠI SỐ 8: (Tuần 8) Bài : Mở rộng vốn từ: Cộng đồng Ôn tập câu Ai làm gì ? ( trang 65 ) a) Tên trò chơi: “Ai nhanh hơn nào” áp dụng vào bài tập 1 b) Mục đích : - Củng cố, mở rộng vốn từ: Cộng đồng - Rèn luyện tính linh hoạt, nhanh nhẹn, chính xác c) Chuẩn bị:

- Thẻ ghi các từ: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồng tâm, đồng hương. - Bảng phụ kẻ sẵn 2 cột : Những người trong cộng đồng Thái độ, hoạt động trong cộng đồng

Trang 21

d) Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội 5 em Các em tiếp sức nhau

đính thẻ từ có từ vào bảng kẻ sẵn Mỗi em chỉ được đính một từ rồi tiếp tục đến

em khác Trong thời gian 2 phút, đội nào thực hiện nhanh, chính xác hơn làthắng cuộc

từ ngữ cho học sinh, đồng thời rèn trí

thông minh và khả năng phản ứng nhanh

d)Cách chơi: - Chia lớp thành 4 đội, mỗi dãy bàn một đội

- Học sinh bốc thăm để giành thứ tự chọn ô

Trang 22

- Học sinh chọn câu hỏi nào, giáo viên đọc câu lệnh, các em thảo luận vớinhau tìm từ có số chữ cái tương ứng ở cột ngang, ghi vào bảng con Thời gianghi đáp án là 15 giây.

- Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm Các đội phát hiện từ cột dọc ởbất kì thời điểm nào sau câu hỏi thứ năm đều có quyền trả lời Từ cột dọc là 30điểm Đội nào có tổng số điểm nhiều hơn là thắng cuộc

Đáp án các từ hàng ngang lần lượt là: đồng ý, đồng tình, đồng lòng, đồngdiễn, cộng tác, đồng thanh

TRÒ CHƠI SỐ 9 (Tuần 10) Bài: So sánh Dấu chấm (trang 79, 80 ) a) Tên trò chơi: “Thi điền nhanh dấu câu” – áp dụng vào phần củng cố b)Mục đích :

- Luyện kĩ năng sử dụng dấu câu, viết đúng chính tả

- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, đoàn kết khi tham gia tròchơi

c) Chuẩn bị :

- Phấn màu, các dấu câu

- Bảng phụ ghi sẵn đoạn văn

Tách đoạn văn sau thành 6 câu:

Đã sang tháng tám mùa thu về, vùng cao không mưa nữa trời xanh trong những dãy núi nhuộm một màu xanh biếc nước chảy róc rách trong khe núi nương ngô đã vàng mượt nương lúa cũng vàng óng

d) Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội 6 em Các em đọc đoạn văn

và nhanh chóng xác định những chỗ cần điền dấu câu, lựa chọn dấu câu thích

Trang 23

hợp rồi dán vào chỗ cần điền trong đoạn văn Trong thời gian 2 phút, đội nàonhanh, chính xác hơn là thắng cuộc.

Đáp án:

Đã sang tháng tám Mùa thu về, vùng cao không mưa nữa Trời xanh trong Những dãy núi nhuộm một màu xanh biếc Nước chảy róc rách trong khe núi Nương ngô đã vàng mượt Nương lúa cũng vàng óng

TRÒ CHƠI SỐ 10 (Tuần 11)

Bài : Mở rộng vốn từ: Quê hương

Ôn tập câu Ai làm gì? ( trang 89 )

a) Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào” – áp dụng vào bài tập 1.

d) Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội 5 em Các em có nhiệm vụ

tiếp sức nhau đính những thẻ có từ trên vào hai nhóm a và b cho đúng Chú ý :Mỗi lần, mỗi em chỉ đính 1 từ, tiếp tục đến em khác Cả lớp sẽ hát hai lần bài hát

“ Quê hương tươi đẹp” Trong thời gian đó, đội nào thực hiện nhanh và chínhxác hơn là thắng cuộc

Trang 24

TRÒ CHƠI SỐ 11 (Tuần 12)

Bài : Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái – So sánh ( trang 98, 99 )

a) Trò chơi : “Ai nhanh hơn nào” – áp dụng vào bài tập 3.

- GV chọn hai đội, mỗi đội 4 học sinh

- Khi có hiệu lệnh, các bạn trong hai đội nối tiếp nhau nối các vế sao cho tạo thành câu hoàn chỉnh Trong 2 phút, đội nào điền đúng và nhanh sẽ thắng

Cây cầu làm bằng thân dừa

Những ruộng lúa cấy sớm

lao băng băng trên sông

Những ruộng lúa cấy sớm lao băng băng trên sông

bắc ngang dòng kênhCây cầu làm bằng thân dừa

Những chú voi thắng cuộc huơ vòi chào khán giả

Trang 25

Đáp án:

A B

TRÒ CHƠI SỐ 12 (Tuần 13) Bài : Mở rộng vốn từ : Từ địa phương Dấu chấm hỏi, chấm than ( trang 107 ) a) Tên trò chơi: “Tìm nhanh từ địa phương” – áp dụng vào phần củng

d) Cách chơi: Từ 2 đến 4 người chơi Mỗi người đều có một bộ quân bài

như nhau

- Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ thế, nó, gì, tôi, à).

Người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ cùng nghĩa với từtrong quân bài của trọng tài đã đánh ra Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượngquân bài được ăn nhiều sẽ thắng cuộc

- Thời gian chọn quân bài là 5 giây

- Thời gian chơi là 90 giây

Những ruộng lúa cấy sớm lao băng băng trên sông

bắc ngang dòng kênhCây cầu làm bằng thân dừa

Những chú voi thắng cuộc huơ vòi chào khán giả

Ngày đăng: 08/04/2017, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w