1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình tại trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội thành phố hà nội

38 385 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- BÙI THỊ TUYẾT NHUNG ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ TUYẾT NHUNG

ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ

CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số: 60 90 01 01 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Như Trang

Hà Nội – 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 14

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

6 Phương pháp nghiên cứu 16

7 Cơ cấu của luận văn 17

NỘI DUNG 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 18

1.1 Những vấn đề lý luận 18

1.1.1 Khái niệm 18 1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình 22 1.1.3 Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình 24 1.1.4 Một số lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 25 1.1.5 Các cơ sở pháp lý của hoạt động hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 31

1.2 Cơ sở thực tiễn Error! Bookmark not defined.

1.2.1 Các dịch vụ - mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện có.Error!

Bookmark not defined.

Bookmark not defined.

Trang 3

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội) Error! Bookmark not defined.

1.3.2 Chức năng Error! Bookmark not defined.

1.3.3 Đối tượng phục vụ Error! Bookmark not defined.

1.3.4 Nhiệm vụ, quyền hạn Error! Bookmark not defined.

Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined.

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI Error! Bookmark not defined.

2.1 Quy trình tiếp nhận phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Error! Bookmark not defined.

2.1.1 Quy trình tiếp nhận đối tượng thông thường Error! Bookmark not defined.

2.1.2 Quy trình tiếp nhận đối tượng khẩn cấp Error! Bookmark not defined.

2.2 Đặc điểm vấn đề bạo lực gia đình với nhóm phụ nữ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Error! Bookmark not defined.

2.2.1 Các hình thức Bạo lực gia đình Error! Bookmark not defined.

2.2.2 Thời gian bị bạo lực gia đình Error! Bookmark not defined.

2.2.3 Hậu quả của Bạo lực gia đình với phụ nữ tại Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội Error! Bookmark not defined.

2.3 Thực trạng các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thành phố Hà Nội Error! Bookmark not defined.

Trang 4

2.3.1 Hoạt động tư vấn Error! Bookmark not defined.

2.3.2 Hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực Error! Bookmark not defined.

2.3.3 Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức Error! Bookmark not defined.

2.3.4 Hoạt động hỗ trợ hồi gia Error! Bookmark not defined.

2.4 Đánh giá về hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP Hà NộiError! Bookmark not defined.

2.4.1 Đánh giá chung về Trung tâm CCDVCTXH trong hiệu quả các dịch

vụ trợ giúp nhóm phụ nữ bị BLGĐ Error! Bookmark not defined.

2.4.2 Đánh giá về hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị BLGĐ

tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP Hà Nội Error! Bookmark not defined.

Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined.

Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ CỦA CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP CÁC DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI Error! Bookmark not defined.

3.1.Yếu tố giới tính, tuổi và trình độ chuyên môn của cán bộ Trung tâmError! Bookmark not defined.

3.1.1 Yếu tố giới tính, tuổi Error! Bookmark not defined.

3.1.2 Yếu tố kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội.

Error! Bookmark not defined.

3.2 Yếu tố Kinh phí tiếp nhận, nuôi dưỡng đối tượng tạm thời Error! Bookmark not defined.

3.4 Yếu tố đặc điểm đối tượng Error! Bookmark not defined.

Trang 5

3.5 Yếu tố nhận thức của gia đình, cộng đồng Error! Bookmark not

defined.

3.6 Trường hợp điển cứu Error! Bookmark not defined.

Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined.

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự biến đổi nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, từ vi mô đến vĩ mô, từ cá nhân đến cộng đồng, từ kinh tế đến chính trị đã làm biến đổi tất cả và gia đình cũng không nằm ngoài phạm vi này Bạo lực gia đình được coi là một dạng tệ nạn xã hội gây hậu quả ở nhiều mức độ lên đời sống gia đình và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách và quá trình phát triển của mỗi cá nhân, gián tiếp tạo nên mầm mống các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội Đối tượng của hành vi bạo lực trong gia đình thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp thường là phụ nữ, người già và trẻ em Luật Bình đẳng giới là đạo luật mang số 73/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua vào ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật này quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam Đó là hành lang pháp lý để đảm bảo công bằng xã hội

Trong các năm từ 2011 – 2015 (ở nước ta) có 157.859 vụ bạo lực gia đình, trong

đó nạn nhân là nữ chiếm 74,24% Trong số 492.520 vụ ly hôn đã giải quyết thì nguyên nhân từ bạo lực gia đình chiếm 83,78% Mỗi năm có hơn 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân từ bạo lực gia đình Đây là thông tin được đại biểu Điểu Huỳnh Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016 Kết quả nhiều cuộc khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra những hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói chung Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự giúp đỡ của xã hội và cộng đồng Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can thiệp trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ Ví dụ: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm nhỏ”, “mô hình nhà tạm lánh” Các mô hình trên

đã thực hiện nhiều dịch vụ khác nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn, được động viên, an ủi, sớm được trở lại với đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới

Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Là đơn vị cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho các đối tượng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp

Trang 7

luật Tuy mới thành lập được gần 3 năm nhưng đối tượng gặp vấn đề bị bạo lực gia đình tới Trung tâm ngày càng tăng, đặc biệt là bạo lực phụ nữ Thực tế cho thấy bạo lực gia đình cũng đang là một vấn nạn của toàn xã hội mà bản thân người phụ nữ trong gia đình thường giấu kín, e ngại khi đề cập, chia sẻ hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình hay cơ quan chức năng

Đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu những dịch vụ hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình của Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội nhằm phất triển chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ dưới góc độ Công tác xã hội Góp phần phản ánh

về vấn nạn phụ nữ bị bạo lực gia đình, cùng xã hội đẩy lùi bạo lực gia đình, giúp phụ nữ giảm bớt phần nào những căng thẳng, khủng hoảng từ bạo lực gia đình mang lại khiến họ

tự tin hơn để tái hòa nhập với cuộc sống

Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội tôi chọn đề tài “Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ nhóm

phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây bạo lực gia đình đã trở thành một vấn đề nóng thu hút được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội Không chỉ riêng giới chuyên môn mà các nhà truyền thông, báo chí cũng đã tốn không ít giấy mực khi bàn đến vấn đề này Nhiều công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo chuyên ngành đã được diễn ra ở cả trong nước và quốc tế Mỗi công trình nghiên cứu lại đưa đến những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về vấn đề BLGĐ, đóng góp vào cái nhìn chung cho lĩnh vực này

Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ quyền

Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực chống lại những

người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi tiếng về BLGĐ Nghiên cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn không chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của người chồng Trong số đó, có tới 84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền

Trang 8

của người chồng và sự phụ thuộc của người phụ nữ vào đàn ông Uy quyền của người chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu … Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng bạo lực vì bị phụ thuộc về kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với con cái của họ Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ thường không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng Do vậy, họ thường không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi

Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic violence” (Hàn gắn

những khủng hoảng sang chấn của BLGĐ) của Esward.S.Kubany xuất bản tại Canada đã

đề cập đến các kĩ thuật giúp những phụ nữ là những nạn nhân bị BLGĐ có thể vượt qua được những khủng hoảng, sang chấn do bạo lực đem lại

Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới

của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health and

Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại phụ nữ)

Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet, Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển Chi phí kinh

tế cũng rất đáng quan tâm – một báo cáo năm 2003 của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ước tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực do người quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng đã lên đến 5,8 tỷ đô la mỗi năm; 4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt hại về khả năng lao động

Với cách tiếp cận vào thủ phạm gây bạo lực, cuốn sách “Stop domesticviolence” (Chấm dứt bạo lực) của David.B Waxler xuất bản tại Mỹ năm 2006 đã đề xuất cách thức trị liệu nhóm dành cho nam giới là thủ phạm gây BLGĐ; trong đó, tập trung vào hình thức trị

Trang 9

liệu nhận thức hành vi, xây dựng các kĩ năng, cách thức kiểm soát cảm xúc bản thân với nguyên tắc lấy thân chủ làm trọng tâm

Báo cáo về “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” được Tổng thư ký LHQ

trình bày tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng LHQ là một tài liệu quan trọng thể hiện

rõ tình hình bạo lực đối với phụ nữ đang diễn ra ở 71 quốc gia trong phạm vi nghiên cứu Báo cáo đã chỉ ra các yếu tố dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ ở các quốc gia trong phạm vi nghiên cứu là việc sử dụng bạo lực để giải quyết những mâu thuẫn và xung đột, quan điểm “riêng tư”, sự thờ ơ của các cấp ban ngành và một số yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng khác Báo cáo đã phản ánh một cách khái quát về tình hình bạo lực với phụ nữ trên Thế giới, cùng các hình thức biểu hiện, các chỉ số và hậu quả của

nó Báo cáo cũng chỉ ra những hoạt động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này như: chú trọng vào pháp luật và cung cấp các dịch vụ phòng ngừa Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra những thách thức, khó khăn không nhỏ cho nhân loại trong công tác phòng chống, ngăn chặn bạo lực đối với phụ nữ như: nguồn lực mỗi quốc gia khác nhau, thiếu hụt ngân quỹ, thiếu sự xử phạt, thiếu sự đánh giá hay các cách tiếp cận toàn diện

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ, tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến những giải pháp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào xây dựng mô hình can thiệp cho nhóm phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình trên góc độ của ngành công tác xã hội

Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều những đóng góp của nhiều tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực này Chuyên gia nghiên cứu về Giới và Gia đình – tác giả Lê Thị Quý là

người đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ Có thể kể đến như bài viết “Một số

vấn đề về Bạo lực gia đình hiện nay” được đăng trên Tạp chí Khoa học về phụ nữ năm

1991 Trong bài viết tác giả đã nhận định nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đề ra phương hướng giải quyết thỏa đáng, tích cực về vấn đề BLGĐ … là một công việc không chỉ mang tính chất nhân đạo mà còn góp phần nâng cao không ngừng địa vị và vai trò của người phụ nữ trong xã hội Tác giả đã điểm qua tình hình BLGĐ ở nước ta và chỉ rõ những nguyên nhân của tình trạng này là do: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chênh lệch

Trang 10

giàu nghèo, hủ tục lạc hậu, đạo đức lối sống suy đồi, tệ nạn xã hội, trình độ văn hóa thấp

… Tác giả cũng đã đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết tình trạng BLGĐ

Năm 1994, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam”

đăng trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra năm nguyên nhân chính của nạn BLGĐ là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa – xã hội, nguyên nhân sức khỏe, nguyên nhân từ phía những người phụ nữ, và một nguyên nhân sâu xa nhất là sự bất bình đẳng trong quan hệ giới

Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” (1999) của TS Vũ Mạnh Lợi,

Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh – thuộc Viện nghiên cứu Gia đình và Giới tiến hành ở

ba thành phố: Hà Nội, Huế, TP HCM Trong nghiên cứu các tác giả đã đi sâu tìm hiểu về thái độ của cộng đồng và các thiết chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới, tìm hiểu phản ứng của các cá nhân, luật pháp và các thiết chế đối với nạn BLGĐ Trong nghiên cứu các tác giả cũng cho thấy tình trạng bạo lực gia đình đang có chiều hướng gia tăng tại ba thành phố trong địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là trong những gia đình mà người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa

ra được hướng giải quyết trực tiếp giúp chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao được năng lực của bản thân, từ đó họ có thể tự giúp bản thân họ vươn lên, thoát khỏi hoàn cảnh

Năm 2000, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có cuốn sách “Domestic Violence in Viet

Nam” ( Bạo lực gia đình ở Việt Nam) do tổ chức Asia Pacific Forum on Women, Law

and Development (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về Phụ nữ , Luật Pháp và Phát triển – APWLD) xuất bản Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày kết quả một cuộc khảo sát xã hội học về BLGĐ tại ngoại thành Hà Nội Bằng những dẫn chứng cụ thể tác giả đã làm rõ tình hình BLGĐ ở địa bàn nghiên cứu bằng việc phân chia rõ hai hình thức bạo lực: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được Tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng trên là đói nghèo, căng thẳng vì kiếm sống, nguyên nhân văn

Trang 11

hóa – xã hội, phong tục tập quán, sự khủng hoảng của các mối quan hệ trong gia đình và nhóm nguyên nhân thuộc về người phụ nữ

Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực hiện đề tài: “Bạo lực

gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền Giang Đề

tài tiến hành tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương Đề tài cũng đã chỉ ra được những nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân trước những hành vi bạo lực

Năm 2006, nghiên cứu “BLGĐ – nhận thức và thực trạng” của tác giả Hoàng Bá

Thịnh thực hiện tại 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Ngãi, Đồng Tháp, Trà Vinh đã cho thấy: Phần lớn nhận thức của người dân tại 6 địa bàn trên về BLGĐ còn rất hạn chế Có những hành vi bạo lực nhưng người dân lại không quan niệm

đó là BLGĐ như: ép buộc làm chuyện gì đó, ép buộc quan hệ tình dục, không cho ra khỏi nhà … Không những thế, trong nhận thức của hầu hết người dân tại địa bàn nghiên cứu cho rằng BLGĐ là chuyện riêng của mỗi nhà Đặc biệt, không chỉ người dân quan niệm như vậy mà ngay đến chính cán bộ xã, phường cũng cho rằng BLGĐ là chuyện nội bộ, gia đình tự giải quyết Tác giả cũng chỉ ra những hậu quả của bạn BLGĐ đối với phụ nữ như: gây thương tích trên thân thể, tổn thương về tinh thần, ly hôn, thậm chí dẫn đến cái chết trực tiếp hoặc gián tiếp cho người phụ nữ Trong đó, phần lớn những cái chết gián tiếp là do người phụ nữ tự tử bằng thuốc sâu, thuốc chuột

Cùng năm 2006, hai tác giả Magali Romedenne và Vũ Mạnh Lợi đã xuất bản

cuốn sách “Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở Việt Nam” – Kết quả và khuyến nghị từ một

dự án của UNFPA và SDC (Cơ quan hợp tác và phát triển của Thụy Sỹ) Trong cuốn sách, các tác giả đã phản ánh những hậu quả của BLGĐ đối với phụ nữ, trẻ em, phúc gia đình và cộng đồng Từ đó, các tác giả cũng đưa ra các mô hình để giải quyết vấn đề này:

mô hình truyền thông kết hợp, mô hình giáo dục và tập huấn, mô hình câu lạc bộ và mô hình can thiệp khẩn cấp Trong cuốn sách, các tác giả cũng nêu lên những bài học kinh

Trang 12

nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động phòng chống BLGĐ như: thực hiện trao quyền cho phụ nữ, hợp tác với nam giới và nhiều ban ngành trong việc phòng chống BLGĐ, khuyến khích các sáng kiến của người dân…

Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần Thị

Cẩm Nhung cùng nghiên cứu “Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những

năm gần đây” (2006) đã đưa ra nhận định: chủ thể gây ra BLGĐ là người chồng, người

bạn đời hoặc chồng cũ Nghiên cứu cũng chỉ ra những khác nhau trong hình thức bạo lực gia đình giữa hai khu vực là thành thị và nông thôn Theo đó, ở nông thôn thường diễn ra hình thức bạo lực về thể chất, còn ở thành thị thường là hình thức bạo lực về tinh thần và tình dục Qua nghiên cứu, các tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm giải quyết vấn đề BLGĐ như: cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về BLGĐ đối với phụ

nữ, đồng thời cần tiến hành nghiên cứu toàn diện về bạo lực trong gia đình nhằm tìm hiểu sâu nguyên nhân, hậu quả của vấn đề để có những can thiệp kịp thời và hợp lý

Điều tra gia đình Việt Nam – năm 2006, nghiên cứu không chỉ tập trung vào bạo lực gia đình với phụ nữ mà còn những mục tiêu rộng và dàn trải hơn là tập trung vào mối quan hệ gia đình, giá trị, chuẩn mực gia đình, kinh tế phúc lợi gia đình Điều tra gồm cả nam và nữ Những câu hỏi về bạo lực được đặt ra cho cả nam và nữ trong độ tuổi từ 18 –

60, những người ngoài độ tuổi này trong nhà cũng được phỏng vấn Phỏng vấn ngay trực tiếp tại nhà của họ không có tính đảm bảo riêng tư và bảo mật thông tin Bạo lực được xác định bởi 3 câu hỏi với nội dung: một hành vi bạo lực thể xác (đánh đập), một hành vi bạo lực tình dục (quan hệ tình dục ngoài ý muốn), một hành vi bạo lực tinh thần (chửi bới) Thêm một câu hỏi về “dỗi hờn” (giận nhưng không nói ra) đây là câu hỏi không liên quan đến xác định bạo lực

Năm 2007, với tác phẩm “Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị” của hai tác

giả tác giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh đã một lần nữa cho thấy được tính cấp thiết của những đề tài nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình Bên cạnh những lý luận chung về BLGĐ, hai nhà nghiên cứu còn đưa ra những nhận xét, mô tả, phân tích rất chi

Trang 13

tiết một số nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn về BLGĐ và một số dự án phòng chống BLGĐ ở Việt Nam tại các địa bàn: Hà Nội, Phú Thọ, Thái Bình, Huế Nhiều mô hình phòng chống BLGĐ đã được đưa ra phân tích như mô hình truyền thông; mô hình can thiệp và cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn, hỗ trợ về tâm lý giáo dục; mô hình can thiệp tại cộng đồng Trên cơ sở đánh giá hiệu quả, hạn chế của một số mô hình đã thực hiện tại địa phương, các tác giả đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác phòng chống BLGĐ ở nước ta

Tác phẩm “Giới, việc làm và đời sống gia đình” của tác giả Nguyễn Thị Hòa

(NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007) đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết của các cán bộ Trung tâm nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ Cuốn sách gồm 4 nội dung chính: giới và phát triển, phụ nữ và việc làm, phụ nữ và gia đình, phụ nữ và các vấn đề xã hội Trong đó đáng chú ý nhất là bài viết “Sự biến đổi của gia đình Việt Nam thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Thị Hòa đã phân tích đượ những biến đổi về chức năng cũng như sự khủng hoảng của gia đình Việt nam hiện nay như: hiện tượng ly hôn, bạo lực và bất bình đẳng giới trong gia đình

Báo cáo “Nghiên cứu rà soát các chương trình phòng chống bạo lực trên cơ sở

giới ở Việt Nam” được thực hiện bởi UNFPA trong năm 2007 cùng với sự tham gia của

rất nhiều những tổ chức của chính phủ và phi chính phủ đã đưa đến cho người đọc một cái nhìn bao quát, toàn diện về bạo lực trên cơ sở giới Trong đó có BLGĐ – một dạng đặc biệt của bạo lực giới ở nước ta Qua nghiên cứu, rà soát, báo cáo đã cho thấy những hoạt động, hiệu quả và những tồn tại trong công tác phòng chống BLGĐ ở các cấp, các ngành của nước ta Trên cơ sở những điểm mạnh, những thách thức đặt ra, báo cáo đã đưa đến những khuyến nghị đối với các cấp chính quyền, các ban ngành (y tế, pháp luật, giáo dục …), cấp cộng đồng Trong đó, đáng lưu ý là việc cần thiết phải cung cấp các dịch vụ toàn diện cho nạn nhân của BLGĐ và những người gây ra bạo lực là nam giới Năm 2008, ở nhiều địa phương trên cả nước đã diễn ra nhiều cuộc hội thảo bàn

về vấn đề BLGĐ nhằm tìm ra các biện pháp ngăn chặn, xóa bỏ vấn nạn này Trong hội

Trang 14

thảo bàn về biện pháp phòng chống BLGĐ tổ chức tại TP HCM, bác sỹ Nguyễn Minh

Tiến – một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý trị liệu đã có bài tham luận: “Làm việc với

thân chủ có vấn đề bạo hành trong gia đình” Bài tham luận đã phản ánh thực trạng

BLGĐ ở Việt Nam và nêu lên những chuyển biến, những thuận lợi và hạn chế trong công tác phòng chống BLGĐ trong những năm vừa qua Từ đó, tác giả đã đưa ra những dấu hiệu nhận biết, các biện pháp hỗ trợ nạn nhân một cách tức thời cũng như về lâu dài Trong hội thảo về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng

chống BLGĐ được tổ chức tại thành phố Yên Bái, tác giả Nguyễn Hữu Minh đã có bài

tham luận: “Vai trò của các tổ chức trong phòng chống BLGĐ” Tham luận đã chỉ rõ vai

trò, trách nhiệm của các tổ chức ở các cấp trước những yêu cầu đặt ra của Luật phòng chống BLGĐ Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn trong hoạt động phòng ngừa và can thiệp BLGĐ, cần chú ý tới quy trình can thiệp trong quá trình thực hiện

Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với Phụ nữ ở Việt Nam - năm 2010 do

Tổng cục thống kê thực hiện Nghiên cứu bao gồm cấu phần định lượng (khảo sát mẫu)

và cấu phần định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung) Trong nghiên cứu tập trung vào chủ đề bạo lực gia đình với phụ nữ, chỉ sử dụng điều tra viên là phụ nữ, chọn ngẫu nhiên một phụ nữ trong hộ gia đình và mời đến phỏng vấn trực tiếp qua Bảng hỏi

điều tra sử dụng các câu hỏi của nghiên cứu đa quốc gia của WHO về sức khỏe phụ nữ và

bạo lực gia đình với phụ nữ còn các thành viên khác trong gia đình không được phỏng

vấn và được biết về chủ đề cuộc khảo sát Câu hỏi được đưa ra bằng cách liệt kê một loạt các hành vi cá nhân mà phụ nữ từng phải hứng chịu: chỉ số bạo lực do người chồng gây

ra được xác định ở những câu hỏi về 6 câu hỏi hành vi về bạo lực thể xác và 4 hành vi bạo lực tình dục Bạo lực tinh thần và các hành vi kiểm soát cũng được thu thập sử dụng trong danh sách các hành vi

Như vậy, có thể thấy theo dòng lịch sử vấn đề về BLGĐ và Phòng chống BLGĐ

đã và đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả Song có lẽ, cho đến nay, BLGĐ vẫn đang là một vấn đề nóng được xã hội quan tâm bởi những biến đổi

Trang 15

ngày càng phức tạp của nó đang diễn ra trong thực tiễn đời sống hàng ngày Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau về vấn đề BLGĐ đã được các tác giả thực hiện với mong muốn sẽ góp phần đưa đến một cái nhìn đa sắc cạnh về vấn đề BLGĐ tại các địa phương trên cả nước Các nghiên cứu đã phần nào phản ánh được thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ cũng như đã đưa ra được các kết luận, khuyễn nghị có ý nghĩa cho công tác phòng chống BLGĐ ở nước ta

Những tài liệu đã được công bố nói trên luôn là những tài liệu tham khảo quan

trọng trong việc nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn :”Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ

nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm Công tác xã hội TP Hà Nội”

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài này sẽ góp phần làm sang tỏ một số lý luận liên quan tới vấn đề nghiên cứu như : Bạo lực gia đình là gì? Phụ nữ bị bạo lực gia đình là gì?Các dịch vụ công tác xã hội

hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình và các yếu tố ảnh hưởng

Đề tài thể hiện được vai trò của công tác xã hội trong việc trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình đặc biệt là phụ nữ, từ đó mọi người nhận rõ được tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội hiện nay Đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ trợ giúp phụ nữ bị bạo lực dưới góc độ Công tác xã hội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài xây dựng nhằm nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội, phát hiện các vấn đề trong thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội

Trang 16

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện có tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội

Tìm hiểu các yếu tố tác động đến các dịch vụ tại Trung tâm

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình của Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội về: cách thức tổ chức quản lý, ngân sách, sự phong phú của các dịch vụ? Có lạc hậu không? Sự đáp ứng nhu cầu của xã hội? Các dịch

vụ có đủ để đáp ứng nhu cầu đối tượng

Tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch dịch vụ tại Trung tâm: nhân lực, cơ sở vật chất, ngân sách, cách thức quản lý chỉ đạo, chính sách pháp lý có hiệu quả không

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá các dịch vụ hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

do Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội tổ chức thực hiện

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi đối tượng: các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện do Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Hà Nội thực hiện

- Phạm vi về khách thể:

+ Phụ nữ bị bạo lực tại Trung tâm

+ Cán bộ làm việc trực tiếp với phụ nữ bị bạo lực của Trung tâm

+ Ngoài ra còn có các thành viên của gia đình

- Phạm vi về không gian, thời gian:

Từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2016

Trang 17

Tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội – Địa chỉ: Sổ 45

Bà Triệu, P.Nguyễn Trãi, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu

Nghiên cứu sử dụng và phân tích nguồn thông tin của nhiều loại tài liệu:

- Tài liệu hướng dẫn tổ chức và hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội

- Báo cáo thường xuyên và định kỳ của Trung tâm cung cấp các dịch vụ Công tác

xã hội TP Hà Nội

- Dữ liệu khảo sát tổ chức và hoạt động của các cơ sở xã hội do UNICEF và cục Bảo trợ xã hội phối hợp thực hiện

- Tài liệu quy hoạch mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội giai đoạn 2010 – 2030;

- Chương trình đào tạo bồi dưỡng nghề về công tác xã hội cho cán bộ cấp cơ sở

* Phương pháp phỏng vấn sâu

Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 11 người có liên quan bao gồm:

- 01 Lãnh đạo cơ quan quản lý cơ sở

- 01 Chuyên chuyên phụ trách thuộc cơ quan chủ quản

- 01 Lãnh đạo trung tâm

- 03 nhân viên trung tâm làm việc trực tiếp với đối tượng bị bạo lực (2 NVTV, 1 NVXH)

- 01 Bảo vệ

- 06 phụ nữ bị bạo lực

Nội dung chủ yếu của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào hai nội dung căn bản: tìm hiểu thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ và nhu cầu cần trợ giúp của họ; khảo sát

Trang 18

và đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội

* Phương pháp quan sát tham dự:

Người nghiên cứu đã xin đến làm việc tình nguyện tại Trung tâm CCDVCTXH

từ tháng 01/2016 đến tháng 6/2016 với nhiệm vụ là cộng tác viên công tác xã hội Tham gia các hoạt động của trung tâm liên quan đến quá trình tiếp nhận và trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ qua đó quan sát thực tiễn, rút ra được những nhận định của bản thân về dịch vụ cung cấp tại Trung tâm với nhóm phụ nữ bị BLGĐ

* Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm tập trung được tiến hành với sự tham gia của 7 người bao gồm:

1 NVXH, 2 NVTV, 1 lãnh đạo cơ quan quản lý cơ sở, 1 chuyên viên phụ trách thuộc cơ quan chủ quản, 1 lãnh đạo trung tâm

7 Cơ cấu của luận văn

Cơ cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình

Chương 2: Thực trạng triển khai các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội

Chương 3: Các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI

VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.1 Những vấn đề lý luận

1.1.1Khái niệm:

* Dịch vụ xã hội:

“Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội”

Một khái niệm thống nhất về dịch vụ xã hội cho người yếu thế là rất cần thiết và

đó cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống dịch vụ xã hội cho các nhóm đối tượng này Dựa vào những lý giải về dịch vụ, chính sách xã hội, dịch vụ xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản nêu trên, khái niệm dịch vụ xã hội cho người yếu thế được hiểu là:

“Dịch vụ xã hội cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa-hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản

và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế”

(Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng)

* Công tác xã hội:

Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): “Công

tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”

Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm

2000 tại Montréal, Canada (IFSW): “Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội,

giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các

Ngày đăng: 08/04/2017, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Vũ Thị Nho (2003), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
15. Nguyễn Thị Oanh (1996), Phát triển cộng đồng, Đại học mở bán công TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1996
16. Lê Thị Quý – Đặng Cảnh Khanh (2007), Bạo lực gia đình một sự sai lệch giátrị. Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Quý, Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2007
17. Lê Thị Quý (1996), Nỗi đau thời đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi đau thời đại
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
18. Lê Thị Qúy (2009), Xã hội học giới, Nxb giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học giới
Tác giả: Lê Thị Qúy
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
19. Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (2011), BLGĐ – Một sự sai lệch giá trị, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLGĐ – Một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2011
20. Quốc hội nước CHXHCNVN (2000) Luật Hôn nhân và gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Năm: 2000
21. Quốc hội nước CHXHCNVN (2007) Luật phòng, chống bạo lực gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng, chống bạo lực gia đình
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Năm: 2007
22. Tổng cục Thống kê tiến hành với trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (2009 – 2010), Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ với phụ nữ tại Việt Nam", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ với phụ nữ tại Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Tổ chức Y tế Thế giới
Năm: 2009 – 2010
23. Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) (2007), “Tài liệu hướng dẫn sinh hoạt câu lạcbộ phòng tránh bạo hành trong gia đình”, Nxb Lao động– Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn sinh hoạt câu lạcbộ phòng tránh bạo hành trong gia đình
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA)
Nhà XB: Nxb Lao động– Xã hội
Năm: 2007
24. Trung tâm sáng kiến Sức khỏe và CCIPH (2008), “Quy trình hỗ trợngười bị bạo hành tại cộng đồng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình hỗ trợngười bị bạo hành tại cộng đồng
Tác giả: Trung tâm sáng kiến Sức khỏe và CCIPH
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
25. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2001), “BLGĐ đối với phụnữ ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLGĐ đối với phụnữ ở Việt Nam
Tác giả: Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
26. Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Điều tra thực trạng BLGĐ, đề xuất giải pháp có tính độtphá nhằm giảm thiểu BLGĐ trong năm 2012 và giai đoạn 2012 – 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng BLGĐ, đề xuất giải pháp có tính độtphá nhằm giảm thiểu BLGĐ trong năm 2012 và giai đoạn 2012 – 2016
Tác giả: Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
27. Võ Khánh Vinh (2009) Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành Khoa học Xã hội, Nxb Khoa học xã hội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành Khoa học Xã hội
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
28. Allie C. Kilpatrick và Thomas P. Holland (2010), Working with families 29. Esward. S. Kubany (2004), Healing the trauma of domestic violence, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working with families" 29. Esward. S. Kubany (2004), "Healing the trauma of domestic violence
Tác giả: Allie C. Kilpatrick và Thomas P. Holland (2010), Working with families 29. Esward. S. Kubany
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w