1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội (nghiên cứu tại 2 xã hoằng lưu và hoằng trạch, hoằng hóa, thanh hóa)

20 729 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 670,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN VĂN ĐỒNG MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI Nghiên cứu tạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN ĐỒNG

MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

(Nghiên cứu tại 2 xã Hoằng Lưu và Hoằng Trạch, Hoằng Hóa, Thanh Hóa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN ĐỒNG

MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

(Nghiên cứu tại 2 xã Hoằng Lưu và Hoằng Trạch, Hoằng Hóa, Thanh Hóa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐẶNG CẢNH KHANH

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đặng Cảnh Khanh Các số liệu trong nghiên cứu hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm trước những kết quả đã nghiên cứu - điều tra trong luận văn này

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Đồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, để tôi đạt được mục tiêu và các kết quả trong đề tài nghiên cứu của mình; tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ,

giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của GS.TS Đặng Cảnh Khanh (Trưởng Khoa

KHXH&NV, Trường Đại học Thăng Long); PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà (Phó Trưởng khoa Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV); TS Phan Văn Hoàn (Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam), cùng các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học KHXH&NV Bên cạnh đó, là nhờ có sự cộng tác giúp đỡ của tập thể cán bộ chính quyền, cán bộ - nhân viên mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, người cao tuổi hiện đang sinh sống tại địa bàn 2 xã Hoằng Lưu và xã Hoằng Trạch (huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa)

Nhân dịp này tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới GS.TS Đặng Cảnh Khanh, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, TS Phan Văn Hoàn, các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học KHXH&NV; cùng tập thể cán bộ chính quyền, cán bộ

- nhân viên mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, người cao tuổi hiện đang sinh sống tại địa bàn 2 xã Hoằng Lưu và xã Hoằng Trạch đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ

để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này một cách thuận lợi nhất

Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, cũng như bản thân tác giả còn hạn hẹp về kinh nghiệm Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc Mọi thông tin liên quan tới nghiên cứu này có thể liên hệ tác giả Nguyễn Văn Đồng, Điện thoại: 0987.089.398, email: nguyendong.sw@gmail.com

Chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Đồng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 1

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 1

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 21

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 22

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 23

6 Câu hỏi nghiên cứu 24

7 Giả thuyết nghiên cứu 24

8 Phương pháp nghiên cứu 25

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ 29

1.2 Lý thuyết vận dụng 32

1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi 39

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi 43

1.5 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 45

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI ĐỊA BÀN 2.1 Khái quát chung về người cao tuổi và mô hình liên thế hệ tự giúp nhau tại địa bàn 49

2.2 Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 59

Trang 6

2.3 Hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm cho người cao tuổi trong mô hình

liên thế hệ tự giúp nhau 67

2.4 Hoạt động giải trí, thể dục thể thao của người cao tuổi trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 76

2.5 Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách cho người cao tuổi trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 85

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU TẠI ĐỊA BÀN 3.1 Vai trò bán chuyên nghiệp của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 97

3.2 Đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 109

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 118

KẾT LUẬN 119

KHUYẾN NGHỊ 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 127

Trang 7

1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Địa bàn nghiên cứu 49

Bảng 2.2 Nhóm tuổi của NCT tham gia nghiên cứu 49

Bảng 2.3 Giới tính của NCT tham gia nghiên cứu 50

Bảng 2.4 Tình trạng hôn nhân của NCT tham gia nghiên cứu 50

Bảng 2.5 Trình độ học vấn của NCT tham gia nghiên cứu 51

Bảng 2.6 Tình trạng sức khỏe của NCT tham gia nghiên cứu 51

Bảng 2.7 Mức sống của NCT tham gia nghiên cứu 52

Bảng 2.8 Thời gian tham gia mô hình của NCT tham gia nghiên cứu 53

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu 2.1 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK 59

Biểu 2.2 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK theo địa bàn 61

Biểu 2.3 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK theo nhóm tuổi 63 Biểu 2.4 Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động CSSK 65

Biểu 2.5 Trợ NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm 67 Biểu 2.6 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm theo địa bàn 69

DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình

LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội

HAI : Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế

VNAS : Điều tra Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam

CSSK : Chăm sóc sức khỏe

TDTT : Thể dục thể thao

CTXH : Công tác xã hội

Trang 8

2

Biểu 2.7 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm

theo nhóm tuổi 71

Biểu 2.8 Những thay đổi của người cao tuổi khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo

việc làm 74

Biểu 2.9 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT 77 Biểu 2.10 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT theo địa

bàn 79

Biểu 2.11 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT theo nhóm

tuổi 81

Biểu 2.12 Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT 83 Biểu 2.13 Trợ NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận

thức về chính sách 85

Biểu 2.14 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao

nhận thức về chính sách theo địa bàn 88

Biểu 2.15 Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao

nhận thức về chính sách theo nhóm tuổi 90

Biểu 2.16 Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao

nhận thức về chính sách 93

Biểu 3.1 Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT 98 Biểu 3.2 Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm cho

NCT 101

Biểu 3.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động giải trí - TDTT của NCT 104 Biểu 3.4 Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức

về chính sách cho NCT 106

Biểu 3.5 Vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau 109 Biểu 3.6 Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ

tự giúp nhau 112

Trang 9

3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình (DS-KHHGĐ), cuối năm 2011 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, nhóm dân

số cao tuổi tăng nhanh chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm 1/10 dân số cả nước Tuổi thọ của người cao tuổi (NCT) tăng nhanh phản ánh những thành tựu to lớn của công tác chăm sóc, phụng dưỡng NCT và công tác dân số được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo thực hiện từ các giai đoạn trước Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đưa đến những khó khăn, thách thức cho công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò NCT [12; tr.8]; bởi hiện nay đời sống NCT nói chung, cùng điều kiện thu nhập - mức sống, điều kiện sống của đa phần NCT nước ta còn khá thấp, cùng với nhiều vấn đề liên quan như: sức khỏe yếu, bệnh tật nhiều, điều kiện chăm sóc chưa đảm bảo tác động rất lớn đến đời sống NCT nước ta

Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, ở nước ta hiện nay 70% NCT đang sống ở nông thôn và hiện tại vẫn đang tham gia lao động, điều này cho thấy sau tuổi 60 NCT vẫn có nhu cầu tham gia làm việc nhằm tạo thu nhập, nâng cao mức sống Chính vì vậy, cùng với các chương trình can thiệp, hoạt động chăm sóc được triển khai, thì hoạt động tạo việc làm nhằm phát huy vai trò NCT, giúp NCT tiếp tục cống hiến những kinh nghiệm, năng lực cho các lĩnh vực trong đời sống; đang được Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội rất quan tâm Cũng theo số liệu thống

kê của Tổng cục DS-KHHGĐ, tuổi thọ khỏe mạnh của NCT Việt Nam là 66, xếp thứ 116/172 nước trên thế giới, trong khi tuổi thọ trung bình hiện tại là 74 đứng thứ 58/177 nước; mỗi NCT ở Việt Nam phải chịu 15,3 năm bệnh tật, có 95,0% NCT mắc bệnh mãn tính và số bệnh trung bình mỗi NCT mắc phải là 2,69 bệnh,

đa phần NCT đều có sức khỏe yếu và các bệnh mãn tính mắc phải phổ biến như: bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, xương khớp, tim mạch, thị giác Qua điều tra và nghiên cứu còn cho thấy tỉ lệ NCT ở nước ta tuy chỉ chiếm hơn 1/10 dân số cả nước, nhưng lại chiếm tới 70% tổng chi phí y tế Quốc gia [37], đây là một thách thức không hề nhỏ cho hệ thống chăm sóc, trợ giúp NCT

Trang 10

4

Hiện nay, với xu thế già hóa diễn ra nhanh ở nước ta, có rất nhiều mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT được xây dựng, nhưng để đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của số đông NCT thì rất ít mô hình đáp ứng được, trong số đó phải

kể tới mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, đây là mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT dựa vào cộng đồng đầu tiên ở nước ta, được thành lập năm 2004; với sự trợ giúp của Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (HAI), Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Mô hình liên thế hệ là một mô hình kết hợp các hoạt động chăm sóc - trợ giúp nhiều mặt, CSSK; tạo việc làm cho NCT, thông qua các CLB và hoạt động sinh kế; giải trí - TDTT; truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách với sự tham gia trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, đến nay mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã được triển khai ở 25 tỉnh, thành phố Việc chăm sóc - trợ giúp NCT cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, để nâng cao chất lượng chăm sóc và hoạt động trợ giúp NCT, đồng thời phát huy được vai trò của NCT trong cộng đồng như mục tiêu của Luật Người cao tuổi (2009), Chương trình Hành động Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020 đề ra, Bộ LĐ-TB&XH đã đề xuất Đề án Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi giai đoạn 2012-2020 trong đó chú trọng vào việc xây dựng và nhân rộng “Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau” [11; tr.69], đây là một hướng đi đúng đắn, mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện và tình hình già hóa dân số ở nước ta

Thanh Hóa là địa phương đầu tiên nhân rộng mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau; đến nay, toàn tỉnh có 21 huyện, thị xã, thành phố có mô hình, thành lập được 97 CLB liên thế hệ tự giúp nhau của NCT với tổng số thành viên tham gia là 5.626 người Mô hình đã hỗ trợ tạo việc làm cho NCT thông qua các hoạt động sinh kế như: nuôi bò, nuôi lợn nái, nuôi gà, nuôi chim bồ câu, thủ công mỹ nghệ NCT khi tham gia mô hình này đều có việc làm và thu nhập ổn định, được tập huấn kiến thức khoa học - kỹ thuật tiên tiến về chăn nuôi, trồng trọt, giới thiệu các ngành nghề phù hợp với sức khỏe NCT, các thành viên CLB liên thế hệ tự giúp nhau còn được hỗ trợ về vốn vay để phát triển sản xuất, được các tình nguyện

Trang 11

5

viên chăm sóc sức khỏe thường xuyên, giao lưu giải trí văn hóa - văn nghệ; tổ chức các buổi truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về chính sách [29; tr.5] Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng như: NCT cô đơn không nơi nương tựa, NCT có bệnh hiểm nghèo, NCT khuyết tật, NCT nghèo - cận nghèo, NCT có công với cách mạng nhằm bảo đảm những quyền, lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số đông NCT và mong mỏi, nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn nghiên cứu thuộc 2 xã Hoằng Lưu

và xã Hoằng Trạch

Từ việc nghiên cứu "Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và

vai trò của công tác xã hội", sẽ cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học quan

trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT; cũng

từ việc nghiên cứu mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, thấy được bức tranh toàn cảnh về một mô hình thực tiễn dựa vào cộng đồng, phát huy vai trò và nguồn lực

từ phía cộng đồng trong chăm sóc, trợ giúp NCT Nghiên cứu này chỉ ra thực trạng những hoạt động của mô hình liên thế hệ tự giúp nhau và tác động của mô hình này đến đời sống của NCT, qua các hoạt động trợ giúp như: Chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh kế tạo việc làm, giải trí - TDTT và truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách Trên cơ sở những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế trong mô hình và vai trò bán chuyên nghiệp đội ngũ nhân viên xã hội trong mô hình, nghiên cứu đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong mô hình với vai trò của nhân viên CTXH trong mô hình, nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại, hạn chế và đưa mô hình hoạt động hiệu quả hơn Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị mang tính thực tiễn, góp phần tăng cường vai trò của mô hình, vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động chăm sóc - trợ giúp NCT tại địa phương

Trang 12

6

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đến nay, nghiên cứu mô hình và hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT là đề tài nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và Việt Nam Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu hầu hết các công trình nghiên cứu đó đều nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng, những ảnh hưởng và tác động của các loại mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đến đời sống của NCT; những hiệu quả của nó mang lại cho xã hội, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh như hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, khi vấn đề già hóa được đề cập từ cuối năm 2011 sau kết quả thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ được công

bố, tỷ lệ NCT chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm hơn 1/10 tổng dân số cả nước

2.1 Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và mô hình trợ giúp người cao tuổi trên thế giới

Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng

có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại

đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, xã hội

Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX ; hay nghiên cứu về “Sự phát

châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong

đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số

Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who

thức về chúng” của Anntte L.Fitzpatrick, Neil R Powe, Lawton S Cooper, Diane

G Ives và John A Robbins (Đại học Washington, Đại học John Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California - Davis và Đại học Wake Forest) Nghiên cứu này

Ngày đăng: 08/04/2017, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w