Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975” làm đề tài Thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===================
GIÁP THỊ THUỲ
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
HẬU PHƯƠNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968 9
1.1 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây 9
1.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây 9
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây 27
1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 30
1.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi mặt và bảo vệ hậu phương 30
1.2.2 Công tác giao thông vận tải 30
1.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyến Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN
not defined
2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Hà
Tây Error! Bookmark not defined
2.1.1 Hà Tây bước vào giai đoạn mới Error! Bookmark not defined
2.1.2 Chủ trương của Trung ương Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hà Tây Error! Bookmark not defined 2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện Error! Bookmark not defined
2.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi mặt và bảo vệ hậu phương Error! Bookmark not defined
2.2.2 Công tác giao thông vận tải Error! Bookmark not defined
Trang 32.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyến Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 60
3.1 Nhận xét 60
3.1.1 Ưu điểm 60
3.1.2 Hạn chế Error! Bookmark not defined
3.2 Một số kinh nghiệm 70
3.2.1 Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, xây dựng các đoàn thể quần chúng
và phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để xây dựng, bảo vệ hậu phương và chi viện tiền tuyến 70
3.2.2 Đảng bộ đã xác định đúng thời cơ, chủ động chiến đấu và có những phương án thích hợp để
Trang 4PKND : Phòng không nhân dân UBHC : Ủy ban Hành chính VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở Việt Nam Để làm nên chiến tích vang dội ấy không thể không nói tới vai trò của hậu phương miền Bắc đã hết lòng, hết sức chi viện cho tiền tuyến miền Nam Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV ĐLĐVN chỉ rõ: “Không thể nào có sự thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược” [26, tr.490]
Hà Tây là tỉnh có vị trí quan trọng, là hậu phương trực tiếp của Thủ đô, là áo giáp bảo vệ suốt từ phía Nam đến Tây bắc của Hà Nội, đồng thời, nơi đây cũng là cửa ngõ nối Thủ đô Hà Nội với vùng núi Tây Bắc Ngày 21 - 4 năm 1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số 103-NQ/TVQH Về việc hợp nhất Hà Đông - Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây Ngay sau khi hợp nhất, Tỉnh ủy đã nắm rõ vai trò của hậu phương và đưa ra nhiệm vụ: tiếp tục cải tạo và phát triển nông nghiệp, trên cơ
sở không ngừng phát triển các ngành kinh tế khác nhằm từng bước nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, sẵn sàng chi viện cho cách mạng Việt Nam Song song với nhiệm vụ đó là việc thực hiện tốt khẩu hiệu “Tiền tuyến gọi Hà Tây sẵn sàng, tiền tuyến cần bao nhiêu, Hà Tây có bấy nhiêu”, bên cạnh đó, còn có các phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”
Trang 6đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong tỉnh Đã có biết bao nhiêu chàng trai, cô gái Hà Tây đã sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân của mình , ngày đêm nối tiếp trong đoàn quân “Nam tiến” đi “chia lửa cùng miền Nam” ruô ̣t thi ̣t Họ hy sinh tình yêu đôi lứa và khát vọng của riêng mình vì một tình yêu vĩ đại hơn - tình yêu quê hương đất nước Hàng ngàn người mẹ , người vợ ga ̣t nước mắt tiễn chồng con
ra trận dẫu biết ngày trở về chỉ là niềm hy vọng mong manh Họ là những đóa hoa bất tử đe ̣p mãi trong lòng dân tô ̣c Viê ̣t Nam
Do vị trí chiến lược trọng yếu và điều kiện tự nhiên riêng của mình, Hà Tây được xác định là một căn cứ, hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước Cùng chung sức với quân dân miền Bắc, nhân dân Hà Tây hăng hái thi đua sản xuất, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhằm xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững chắc và lớn mạnh.Chi viện to lớn về người và của cho tiền tuyến miền Nam,góp phần cùng quân dân miền Nam đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược Do đó đề tài sẽ giúp lý giải một cách khoa học rằng, tại sao phải đối đầu với đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn mạnh, quân đội, vũ khí hiện đại nhưng dân tộc ta vẫn giành được thắng lợi? Trong những nguyên nhân làm nên thắng lợi này có vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc nói chung, hậu phương Hà Tây nói riêng
Cho đến nay chưa có công trình nào mang tính chất chuyên khảo về hậu phương Hà Tây dưới góc độ lịch sử Đảng Rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay khi Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975” làm đề tài Thạc sỹ lịch
sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 7Cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương của miền Bắc nói chung và hậu phương Hà Tây nói riêng rất phong phú và
đa dạng, mỗi công trình lại có mục đích, góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng hầu như công trình nào cũng ít nhiều đề cập đến hậu phương, trong đó có vấn đề hậu phương Hà Tây Mối quan hệ khăng khít giữa hậu phương và tiền tuyến được thể hiện rõ nét bằng những thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam
Trên cơ sở các tài liệu đề cập đến Lịch sử Việt Nam giai đoạn (1954- 1975)
gián tiếp có liên quan đến đề tài như: “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 -
1975 thắng lợi và bài học” của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ
chính trị (2000), hay các tập sách tổng kết lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc do Bộ quốc phòng - Viện lịch sử quân sự biên soạn như:
“Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975” đã được Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản Những sách trên, đã khái quát một cách toàn diện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên phạm vi cả nước, khắc họa hậu phương miền Bắc trong những năm tháng chống Mỹ, là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị có cuốn “Tổng kết
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học” xuất bản năm 1995
;trình bày khái quát những sự kiện và tiến trình lịch sử chủ yếu; những nhận định, đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh cách mạng Việt Nam; đúc kết những bài học cơ bản trong sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh.Tác phẩm
có đề cập đến vấn đề hậu phương nói chung và hậu phương miền Bắc XHCN nói riêng dưới góc độ bài học kinh nghiệm;đồng thời cho rằng hậu phương là một trong những nội dung quan trọng nhất trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng.Tuy nhiên, vấn đề xây dựng căn cứ địa, thực hiện nhiệm vụ hậu phương trong đó có hậu phương miền Bắc XHCN ở tác phẩm này chỉ trình bày mang tính khái lược, tổng quát
Trang 8Liên quan trực tiếp đến vấn đề hậu phương, cuốn sách : “Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” của GS.TS Phan Ngọc Liên, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2005, đã nghiên cứu về mối quan hệ sâu sắc, bền chặt giữa nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam - Bắc, trong đó từng bài viết đề cập đến những đóng góp cụ thể của một số địa phương (Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam) đối với tiền tuyến lớn miền Nam ở nhiều lĩnh vực khác nhau Cũng đề cập đến hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, trong cuốn
“Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập I, do Bộ Giáo dục và
Đào tạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề “Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu
phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975” của PGS.TS Ngô Đăng Tri
Chuyên đề có ba nội dung chính: Vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại; Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975; những nhận xét chung và kinh nghiệm chủ yếu về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương
Hai tác giả V.I.Lênin và J.Stalin có tác có nội dung xây dựng hậu phương và
nghệ thuật chiến tranh “Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách
mạng” “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có một hậu
phương được tổ chức một cách vững chắc” [83, tr.23], đây là nội dung chủ đạo, được Đảng quán triệt và vận dụng vào xây dựng miền Bắc XHCN trở thành hậu phương lớn, tiền đề cho cách mạng miền Nam thành công
Ngoài một số tác phẩm, công trình trên, còn có một số bài viết liên quan đến
vấn đề hậu phương miền Bắc như: “Miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ những năm 1965 -1972” của Nguyễn Minh Long; “Tác động quốc tế đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam” của
PGS.TS Trình Mưu; “Vài nét về hậu phương miền Bắc với chiến thắng Buôn Ma
Thuột và chiến dịch Tây Nguyên trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975” của
Nguyễn Hữu Đạo Tác giả Hồ Khang với bài viết “Hậu phương miền Bắc
Trang 9chuyển nhanh từ thời bình sang thời chiến - một thành công trong chỉ đạo chiến
lược của Đảng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Lịch sử
Đảng, năm 1998
Trong các công trình nêu trên, bài viết của PGS.TS Hồ Khang và của Nguyễn Minh Long đã phân tích khá toàn diện về hậu phương miền Bắc trong hai cuộc chống CTPH cũng như trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài báo không thể chuyển tải đầy đủ và cụ thể chủ trương, đường lối cũng như quá trình chỉ đạo quân dân miền Bắc xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh, vai trò hậu phương miền Bắc trong hai cuộc kháng chiến CTPH (1965 -1972)
Đặc biệt, người viết còn tham khảo một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến đề
tài như cuốn “Hà Tây - lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
1945- 1975” của Tỉnh đội Hà Tây (1994) và cuốn: “Hà Tây chống Mỹ cứu nước và
xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây Trong hai cuốn này, các tác giả liệt kê xen kẽ các sự kiện, các cuộc chiến đấu của bộ đội địa phương, chủ lực và dân quân tự vệ trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ ở địa phương…Tuy nhiên, các tác giả có phần nghiêng về trình bày thành tích các trận đánh hơn là dựng lại một bức tranh toàn diện lịch sử của cuộc chiến đấu Năm 1992,
Tỉnh ủy Hà Tây xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây” cuốn sách cũng thiên
về việc ghi lại những chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng bộ Hà Tây mà ít nêu được mối quan hệ giữa hậu phương Hà Tây đối với tiền tuyến miền Nam Tuy vậy, các cuốn sách trên cũng cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy về các sự kiện, con số cụ thể để người viết sử dụng nghiên cứu luận văn của mình, ngoài những công trình kể trên hầu hết các huyện, các xã cũng đã viết lịch sử Đảng bộ của mình
Bên cạnh đó còn có cuốn Bác Hồ với Hà Tây do Tỉnh ủy Hà Tây biên soạn và
xuất bản góp phần hiểu sâu sắc hơn về sự quan tâm của Bác Hồ với Hà Tây, Hà Tây
Trang 10với Bác Hồ Hy vọng rằng, từ những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Đảng bộ và nhân dân Hà Tây nói riêng, cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nói chung, một Thủ đô Hà Nội mới sẽ được xây dựng và ngày càng phát triển, xứng đáng với vị thế một nước Việt Nam trên đường hội nhập
Ngoài ra, còn có những luận văn, luận án liên quan đến vấn đề hậu phương của các địa phương khác trong cả nước, những bản hồi ức và bản viết tay, những ghi nhớ của những người trong cuộc tuy tản mạn nhưng có giá trị tham khảo góp thêm nhiều sự kiện làm cho lịch sử sinh động hơn, tính nhân dân rõ nét hơn
Nhìn chung, những tác phẩm ở những khía cạnh khác nhau đã đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương cho các cuộc kháng chiến, đề cập đến các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong việc xây dựng các căn cứ địa hậu phương cho cuộc chiến tranh cách mạng Các công trình tiêu biểu kể trên, có tác dụng gợi mở hướng nghiên cứu và là cơ sở giúp người viết hoàn thành luận văn của mình Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của các bậc thầy đi trước, người viết đã định hướng nên nội dung luận văn và rút ra những đặc điểm riêng biệt của hậu phương Hà Tây trên bình diện chung của hậu phương lớn miền Bắc Tuy nhiên, dưới góc độ Lịch sử Đảng thì chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong công tác thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975 Chính vì vậy, đề tài luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu những chủ trương, chính sách chung của Đảng cũng như của Đảng
bộ Hà Tây trong việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975
và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh, từ đó đưa ra những nhận xét cũng như rút ra những kinh nghiệm quý báu cho những giai đoạn tiếp theo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 113.1 Mục đích
Góp phần tái hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tây và cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Hà Tây trong thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975, qua đó khẳng định thành tựu, nêu lên hạn chế và rút ra những kinh nghiệm lịch sử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ Hà Tây về thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975
- Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tây với việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975
- Rút ra những ưu điểm, hạn chế và đưa ra những kinh nghiệm có giá trị thực tiễn và lịch sử
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh
Luận văn cũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản ánh quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây dưới tác động các chủ trương của Đảng, các chính sách của Nhà nước bằng phương pháp lịch sử (phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại), phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê
Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn, luận văn sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa Một cách tổng quát, luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp của khoa học lịch sử dưới góc độ Lịch sử Đảng, ngoài ra, có kết hợp với các phương pháp liên ngành khác Các phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn
Trang 125 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ tỉnh
Hà Tây từ năm 1965 đến năm 1975
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Công tác th ực hiện nhiệm vụ hâ ̣u phương trong kháng chiến chống Mỹ được triển khai trên pha ̣m vi toàn miền Bắc Đề tài không nghiên cứu trên phạm vi rộng mà chỉ đi sâu nghiên cứ u trên địa bàn tỉnh Hà Tây
- Đảng bô ̣ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hâ ̣u phương trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian t ừ năm 1965 đến năm 1975, đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược được đẩy lên đến đỉnh cao
6 Đóng góp của đề tài
- Cung cấp những tư liệu lịch sử về thời kỳ thực hiện nhiệm vụ jhậu phương, chi viện tiền tuyến của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược từ năm 1965 đến năm 1975
- Những thắng lợi và những thành tựu của Đảng bộ Hà Tây thời kỳ này sẽ là tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ địa phương
- Những kinh nghiệm được rút ra có thể được vận dụng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước nói chung và Hà Tây nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ
Trang 14Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968
1.1 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây
1.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây
1.1.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hà Tây
Ngày 21 - 4 - 1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số NQ/TVQH Về việc hợp nhất Hà Đông - Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây.Hà Tây nằm
103-ở khu vực trung tâm của vùng Ðồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp sông Hồng, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Phúc Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp các tỉnh Phú Thọ và Hoà Bình, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên, có diện tích 2.191,9km2 với số dân là 2.543,5 nghìn người (2006), mật độ 1.157 người/km2
(2006) gồm các dân tộc Kinh, Mường, Dao, Tày cùng sinh sống [77,
tr 4]
Địa hình: tuy là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình Hà Tây khá đa dạng, bao gồm
cả đồng bằng và đồi núi Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng núi đồi phía Tây, có độ cao tuyệt đối 300m trở lên, diện tích 704km2
, chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc trên 250 Cao nhất là đỉnh núi Ba Vì 1.281m, núi Gia Dê thuộc Ba Vì có độ cao 707m, núi Thiên Trù (Mỹ Đức cao 378
m, núi Bộc (Chương Mỹ) cao 245m, núi Thầy (Quốc Oai) cao 105m Các núi đá vôi tập trung ở phía Tây Nam tỉnh, địa hình bị chia cắt rất phức tạp, có nhiều hang động lớn Vùng đồi gò có diện tích trên 530 km2, chủ yếu là đồi thấp (độ cao trung bình 100 m) xen lẫn các thung lũng Vùng đồng bằng phía Đông có diện tích 1.444
km2 chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình từ 5 - 7 m so với mặt biển Địa hình vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng
Trang 15Bắc Bộ với nhiều ô trũng đê viền Đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nước cho năng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày [77, tr 5]
nghiệp chiếm 55,7%, đất lâm nghiệp 6,88%, đất chuyên dùng 18,14%, đất ở đô thị 0,29%, đất ở nông thôn 5,59%, đất chưa sử dụng 13,38% Đất đai Hà Tây có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng Vùng đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lương thực, rau đậu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi lợn, vịt, thuỷ đặc sản Vùng đồi gò thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê, trẩu, sở, thông) cây
ăn quả và chăn nuôi đại gia súc Rừng:Rừng Hà Tây không lớn, nhưng rừng tự
nhiên (vùng Ba Vì) có nhiều chủng loại thực vật phong phú, đa dạng, quí hiếm Hiện nay, đã xác định được 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90
họ Hà Tây có 2 khu rừng tự nhiên: rừng Quốc gia Ba Vì có diện tích 7.400 ha với chủng loại thực vật phong phú và quí hiếm, 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi, trong 60 họ đã được xác định Khu vực rừng tự nhiên thuộc huyện Mỹ Đức (vùng Hương Sơn) cũng bao gồm nhiều chủng loại động, thực vật quý, hiếm [77,
tr 6]
Như vậy, với sự phân bố về địa lý, Hà Tây trở thành địa bàn có tính chất cơ động, có vị trí chiến lược về quân sự, là vành đai, áo giáp bảo vệ Thủ đô trong những năm tháng chiến tranh ác liệt
Ngoài những mặt thuận lợi, trong quá trình phát triển Hà Tây cũng gặp một số khó khăn, phức tạp do địa hình phân bố không bằng phẳng, thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, do đó về mùa mưa thường bị úng lụt, nhất là ở các huyện phía Nam của tỉnh Do phức tạp về địa hình nên trong tỉnh có nhiều vùng kinh tế, văn hóa khác nhau, mặt khác, sự phân bố dân cư không đồng đều và tỷ lệ
Trang 16gia tăng nhanh nên diện tích đất canh tác bị thu hẹp, gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế
Giao thông: Với lợi thế nằm ở khu trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ,
liền kề thủ đô Hà Nội, Hà Tây có hệ thống hạ tầng giao thông rất phát triển Quốc
lộ 1 từ Hà Nội qua Hà Tây chạy dài tới thành phố Hồ Chí Minh Quốc lộ 6 qua Hòa Bình nối liền với Tây Bắc Quốc lộ 32 qua Vĩnh Phúc nối Hà Tây với Việt Bắc Quốc lộ 21B từ thành phố Hà Đông đi các huyện phía Nam của tỉnh , qua Hà Nam Đường cao tốc Láng - Hoà Lạc là tuyến giao thông huyế́t mạch nối Hà Nội với sân bay Hoà Lạc ở huyện Thạch Thất của tỉnh Hà Tây Ngoài đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ của Hà Tây cũng khá thuận tiện Sông Hồng chảy ở phía Đông của tỉnh, theo chiều Bắc Nam Sông Đà chảy ở vùng Tây Bắc của huyện
Ba Vì Ngoài ra, còn có 4 con sông nhỏ chạy trong nội tỉnh tạo thành hệ thống giao thông thủy bộ liên hoàn
Văn hoá - xã hội: Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, Hà Tây có một
kho tàng văn học dân gian phong phú: ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện thơ, truyện
cổ tích, truyện cười có giá trị văn học Người Kinh có hát chèo, hát trống quân, hát cò lả, hát cửa đình, múa rối nước Người Mường có hát xéc bùa, hát ví, hát đúm, hát ru, hát đồng dao Nhạc cụ có trống kèn Cồng chiêng là một loại hình
âm nhạc độc đáo của dân tộc Mường Người Dao có múa rùa, múa chung, múa chim Nơi là vùng đất sản sinh ra nhiều danh nhân dân tộc tiêu biểu như Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú Đồng thời là mảnh đất bảo tồn nhiều di sản văn hóa dân tộc tiêu biểu là hàng trăm đình chùa, miếu mạo có giá trị
về kiến trúc điêu khắc, nghệ thuật tôn giáo
Hà Tây có rất nhiều Lễ hội mang đặc trưng của Lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có Lễ hội riêng Mỗi Lễ hội như một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc
Du khách sẽ bắt gặp những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của cư dân nông nghiệp,
Trang 17để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tôn vinh, tưởng nhớ những vị anh hùng, những người có công lao với đất nước, với làng xã được tôn làm phúc thần bảo hộ Lễ hội cũng là dịp để du khách tham dự vào những trò chơi dân gian như đấu vật, đánh cờ người, thổi cơm thi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà hay xem các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống như hát dô, hát chèo tầu, múa rối nước, múa rối cạn
Kinh tế: Hà Tây liền kề Thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
thuận lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đẹp và có điều kiện phát triển để trở thành một khu vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp và du lịch dịch vụ
Trong những năm qua, kinh tế Hà Tây có những bước tiến đáng khích lệ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp từ 34,59% (năm 2002) lên 37,1% (năm 2004) và giảm dần tỉ trọng nông nghiệp từ 35,9% xuống còn 33,6%; dịch vụ giữ mức 29,5% Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch quan trọng, từ 70% năm 2001, giảm xuống còn 65,8% năm 2004 Trong nông nghiệp, tỉ trọng chăn nuôi tăng lên, cơ cấu mùa vụ có sự thay đổi lớn với việc đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính Trong công nghiệp, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tốc độ tăng 20%/năm, kinh tế Nhà nước tăng 27%/năm [77, tr 12]
Tỉnh Hà Tây phấn đấu kết hợp hài hoà các nguồn lực bên trong và bên ngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát triển mạnh và đồng bộ
hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ
Du lịch:Hà Tây là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, gắn liền với
các dấu tích về lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước và giữ nước như vùng núi cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh nay là Rừng Quốc gia Ba Vì, dưới chân núi có nhiều cảnh đẹp, xây dựng các điểm du lịch: Ao Vua,
Trang 18Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô…Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh (Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức) có nhiều hang động độc đáo, kỳ thú, tiêu biểu là động Hương Tích tạo nên thắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới, hàng năm thu hút hàng vạn khách thập phương đến du lịch
và trẩy hội
Nơi đây còn có nhiều đình chùa có giá trị cao về mặt kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật và tôn giáo: chùa Hương trong động Hương Tích nổi tiếng với danh xưng Nam thiên đệ nhất động, chùa Đậu (Thường Tín), chùa Tây Phương (Thạch Thất)
có kiến trúc độc đáo nổi tiếng với 80 vị La Hán, chùa Thầy (Quốc Oai) là nơi tu hành của cao tăng Từ Đạo Hạnh Cùng với hàng trăm di tích khác đều đã được xếp hạng quốc gia như: chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, đền Và, chùa Mía, lăng Ngô Quyền, đền Nguyễn Trãi, thành cổ Sơn Tây…
Tỉnh có 3 cụm du lịch: cụm Sơn Tây - Ba Vì là du lịch văn hoá sinh thái, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử và văn hoá dân gian, nghỉ cuối tuần Cụm chùa Hương là du lịch tín ngưỡng, tham quan di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, du lịch hang động Cụm Hà Đông và phụ cận là du lịch xanh, du lịch văn hoá trong các làng nghề và làng nông nghiệp truyền thống, du lịch thương mại
1.1.1.2 Truyền thống yêu nước và phong trào cách mạng ở Hà Tây
Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam, nhân dân Hà Tây luôn luôn biểu hiện sáng ngời truyền thống yêu nước bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình qua các chặng đường lịch sử
Kể từ cuộc xâm lược của Triệu Ðà (năm 179 trước công nguyên) đến chiến thắng Bạch Ðằng của Ngô Quyền (năm 938) vừa đúng 1117 năm Hơn một thiên niên kỷ ấy nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ mà sử cũ thường gọi là thời kỳ Bắc thuộc, nhưng đâu chỉ có Bắc thuộc, liên tục hơn một thiên niên
kỷ ấy nhân dân ta nói chung, Hà Tây nói riêng không ngừng vùng dậy đấu tranh
Ðã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ từ mọi miền đất nước chống xâm lược và
Trang 19đô hộ trong đó có 6 cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi đưa đến sự thành lập chính quyền độc lập tự chủ trong một thời gian Ðiểm nổi bật biểu hiện sáng ngời truyền thống yêu nước của nhân dân Hà Tây là trong 6 cuộc khởi nghĩa thành công của cả nước thì có 3 cuộc đã bùng lên đầu tiên trên quê hương Hà Tây dưới sự lãnh đạo của những người con ưu tú của nhân dân xứ này Những nghĩa quân đầu tiên tham gia vào 3 cuộc khởi nghĩa đó là người dân Hà Tây
Ðó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đưa đến sự ra đời của nhà nước độc lập tự chủ trong những năm 40- 43; Cuộc khởi nghĩa của anh em Phùng Hưng (766 - 779) với sự thành lập nền tự chủ cho đất nước trong những năm 783-
791; Ngô Quyền và Chiến thắng Bạch Ðằng, đánh bại quân xâm lược Nam Hán
năm 938, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên hoàn toàn độc lập tự chủ dưới thời đại Ðại Việt (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX)
Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ thứ XIX,các triều đại phong kiến Trung Quốc với tham vọng thôn tính Ðại Việt biến thành quận huyện của chúng, đã liên tục xâm
lược Cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981 - 1077 Cuộc xâm lược của đế chế Nguyên - Mông 3 lần (1258, 1285, 1287), cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1407
và của Mãn Thanh năm 1789 Các cuộc xâm lược diễn ra lúc đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn, thế lực quân giặc đông hơn ta gấp bội Nhưng tiếp nối truyền thống yêu nước sáng ngời đã hun đúc trong hơn một nghìn năm chống Bắc thuộc, nhân dân Hà Tây đã sát cánh với nhân dân cả nước, góp phần to lớn làm nên những
võ công lừng lẫy: Bạch Ðằng, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi, Ðống Ða lịch
sử
Mỗi lần chống xâm lược, truyền thống yêu nước của nhân dân Hà Tây lại càng ngời sáng Biết bao tấm gương xả thân vì độc lập tự do của nhân dân Hà Tây trong kỷ nguyên Ðại Việt đã trở thành biểu tượng cho truyền thống yêu nước Việt Nam Nguyễn Trãi đã “thề không chung sống với giặc Minh”, chịu đựng mười năm nằm gai nếm mật ở thành Ðông Quan, viết nên sách “Bình Ngô” dâng lên Lê Lợi
Trang 20Bình Ngô Sách trở thành tư tưởng và đường lối chiến lược đưa đến thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn Bản thân Nguyễn Trãi đã có cống hiến lớn lao có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Cùng với Nguyễn Trãi còn có Bùi Quốc Hưng (huyện Chương Ðức), Lý Tử Tấn (huyện Thường Tín) là những tướng soái trọng yếu của Bộ tham mưu nghĩa quân Lam Sơn
Còn nhiều gương mặt khác biểu hiện tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc sâu sắc của con người Hà Tây trong lịch sử Ðại Việt như Giang Văn Minh (huyện Ba Vì) đỗ thám hoa năm 1628, đi sứ sang Trung Quốc Ðể bảo vệ quốc thể, bảo vệ thanh danh của dân tộc mà ông sẵn sàng hy sinh dưới lưỡi đao cắt lưỡi của tên trùm phong kiến nhà Minh Ngô Thì Nhậm (Thanh Oai) tiêu biểu cho lòng yêu nước của người trí thức đất Việt ở thế kỷ XVIII Ông cùng với đô đốc Ðặng Tiến Ðông (huyện Chương Mỹ) đã góp phần quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến đánh bại 29 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân Kỷ văn phái ; còn viết chung cuốn tiểu thuyết lịch sử quan trọng và đặc sắc là “Hoàng Lê nhất thống chí ”… Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước bốn nghìn năm của dân tộc, biết bao thế hệ nhân dân Hà Tây đã thể hiện sáng ngời truyền thống yêu nước thiết tha, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của đất nước Truyền thống anh hùng đó đang được những thế hệ người Hà Tây hôm nay kế thừa, phát huy trong công cuộc xây dựng quê hương đất nước xã hội chủ nghĩa
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,Hà Ðông - Sơn Tây (1965 hợp nhất thành tỉnh Hà Tây) là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, là vùng đất trù phú có tiềm năng kinh tế dồi dào và vị trí quân sự quan trọng Trong suốt những năm kháng chiến, Pháp và Mỹ đã cử những tên tay sai đắc lực và xảo quyệt cai trị nơi đây vốn được coi như tai mắt - áo giáp cho cơ quan đầu não của chúng ở thủ
đô Vì vậy, Hà Ðông, Sơn Tây trở thành mảnh đất tốt nẩy mầm phong trào cách mạng
Trang 211.1.1.3 Khái quát tình hình thực hiện nhiệm vụ hậu phương trước năm
1965 của tỉnh Hà Tây
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn đặt dưới sự kiểm soát của đế quốc Mỹ, nhân dân và các lực lượng vũ trang hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây phấn khởi bắt tay vào xây dựng lại địa phương của mình, bước vào thời kỳ cách mạng XHCN theo quyết tâm chiến lược chung của Đảng “… miền Bắc là chỗ đứng của ta Bất kể tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố” [52, tr.67] Là một tỉnh có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế: mạng lưới giao thông dày đặc, diện tích đất canh tác rộng, nguồn nhân lực dồi dào và còn là cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội, Hà Tây hội tụ những yếu tố để phát triển và xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, sau chiến tranh, hậu quả để lại còn hết sức nặng nề Trên 40.000 mẫu ruộng bị hoang hóa lâu ngày, nhất là ở khu cháy Ứng Hòa, trung tâm huyện Phú Xuyên, vành đai trắng dọc đường 21A từ Sơn Tây xuống Mỹ Đức, sân bay dày đặc dây thép gai, cọc sắt, mìn các loại… Các tuyến đê ven Sông Hồng, Sông Đà, Sông Đáy nhiều đoạn bị sụt
lở nghiêm trọng Nhiều nơi dân cư bị mất nhà cửa, tài sản lương thực bị thiếu thốn, đàn gia súc, sức kéo của nhân dân phục vụ sản xuất thiếu nghiêm trọng Cùng với
đó, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây… có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu nguyên liệu, máy móc thiết bị bị địch tháo gỡ, hàng vạn người làm nghề thủ công, buôn bán gặp nhiều khó khăn Các tệ nạn xã hội cũ, nhất là các ấn phẩm văn hóa phản động chưa được xóa bỏ… điều này gây không ít khó khăn cho Đảng bộ hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế
từ đó thực hiện nhiệm vụ với hậu phương lớn miền Nam
Nắm bắt được tình hình đó, cùng với nhân dân miền Bắc, quân và dân Sơn Tây - Hà Đông bước vào thời kỳ mới, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, BTV Tỉnh ủy hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương đề ra chủ trương, nhiệm vụ cấp bách lúc này là tiếp quản vùng giải phóng,
Trang 22nhanh chóng ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục hồi kinh tế Đồng thời chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam và chuẩn bị đón tiếp hàng vạn đồng bào miền Nam ra tập kết Nhiệm vụ này đòi hỏi
sự nỗ lực rất lớn từ phía quân và dân hai tỉnh thì mới có thể sớm ổn định tình hình Đầu năm 1958, tình hình cả nước có những biến chuyển mới Trong lúc nhân dân miền Bắc tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa Ở miền Nam, chính quyền Mỹ - Diệm điên cuồng mở chiến dịch “tố cộng - diệt cộng”, nhiều vụ thảm sát đã xảy ra Những hành động dã man đó của đế quốc Mỹ đã gây căm phẫn trong nhân dân, nhưng không vì thế mà người dân mất đi tinh thần, ý chí đấu tranh mà còn tiếp thêm cho họ sức mạnh, sự dũng cảm để chiến đấu Quân dân miền Bắc nói chung và quân dân Hà Đông - Sơn Tây nói riêng, đã biến đau thương thành hành động, sẵn sàng làm mọi việc vì miền Nam ruột thịt, trong đó có tình kết nghĩa “Hà Đông - Cần Thơ”, “Sơn Tây - Tây Ninh” Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng hết lòng quan tâm, giúp đỡ các anh chị em miền Nam ra tập kết
Tháng 1 năm 1959, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ XV (mở rộng), Hội nghị đã đưa ra phương hướng, nhiệm vụ cách mạng miền Nam và nhấn mạnh vai trò, vị trí của miền Bắc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương nêu rõ: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là xây dựng cuộc sống mới, hòa bình, tự
do, hạnh phúc của nhân dân miền Bắc, đồng thời củng cố miền bắc thành cơ sở vững chắc về mọi mặt, là cơ sở hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước, thống nhất tổ quốc” [47, tr.90-91]
Do yêu cầu của cách mạng, ở miền Bắc, trong đó có Hà Đông - Sơn Tây phải
nỗ lực khẩn trương hơn nữa trên mọi mặt, sẵn sàng đáp ứng chi viện cho miền Nam ruột thịt Lần lượt trong tháng 01 và tháng 2 ở Hà Đông và Sơn Tây tiến hành Đại hội, Nghị quyết của Đại hội của hai tỉnh nhìn chung đã thống nhất nội dung cơ bản từ năm 1958 đến năm 1960 là phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa với các