Theo Từ điển thuật ngữ văn học NXB giáo dục, 2006, mục truyện ngắn: “Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Luận văn thạc sĩ khoa học văn học
Hà nội - 2009
Trang 2đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32 Luận văn thạc sĩ khoa học văn học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài: 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Kết cấu 12
PHẦN NỘI DUNG 13
Chương 1 : QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG 13
1 Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các dòng văn học 13
1.1 Tính đến trước 1975 13
1.2 Sau 1975 18
2 Quan niệm của người phụ nữ về con người và cuộc sống 24
2.1 Quan niệm của người phụ nữ về con ngườiError! Bookmark not defined
2.1.1 Người phụ nữ với gia đình Error! Bookmark not defined
2.1.2 Với người yêu Error! Bookmark not defined
2.1.3 Với người xung quanh Error! Bookmark not defined
2.2 Quan niệm của người phụ nữ về cuộc sống.Error! Bookmark not defined
2.2.1 Trân trọng cuộc sống tự nhiên Error! Bookmark not defined
2.2.1.1.Sự hình thành và phát triển của lịch sửError! Bookmark not defined
2.2.1.2.Môi trường sống Error! Bookmark not defined
2.2.1.3.Thành quả văn hoá Error! Bookmark not defined
2.2.2 Cơ chế do con người đặt ra Error! Bookmark not defined
2.2.2.1.Phương tiện đảm bảo cuộc sốngError! Bookmark not defined
2.2.2.2.Nghệ thuật Error! Bookmark not defined
2.2.2.3.Thế giới tâm linh Error! Bookmark not defined
Chương 2: QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ BẢN THÂN MÌNHError! Bookmark not defined
Trang 41 Quan niệm của người con gái về bản thân mìnhError! Bookmark not defined
1.1 Khao khát tìm hiểu, khám phá cuộc sống, tình yêu.Error! Bookmark not defined 1.2 Khao khát một tình yêu hạnh phúc Error! Bookmark not defined
1.3 Khao khát được cuộc đời đón nhận Error! Bookmark not defined
1.4 Khao khát một mái ấm gia đình Error! Bookmark not defined
2 Quan niệm của người đàn bà về bản thânError! Bookmark not defined
2.1 Khao khát một hạnh phúc gia đình trọn vẹnError! Bookmark not defined
2.2 Chung thuỷ, giàu đức hy sinh: Error! Bookmark not defined
2.3 Tự dằn vặt, ám ảnh vì quá khứ Error! Bookmark not defined
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Error! Bookmark not defined
1 Kết cấu Error! Bookmark not defined.
1.1 Kết cấu hồi cố ……… ………85
1.2 Kết cấu theo kiểu dòng ý thức Error! Bookmark not defined 2 Tổ chức cốt truyện Error! Bookmark not defined 1 Tổ chức cốt truyện tâm trạng: Error! Bookmark not defined 2 Tổ chức cốt truyện kỳ ảo: Error! Bookmark not defined 3 Ngôn ngữ và giọng điệu Error! Bookmark not defined PHẦN KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
I Tác phẩm văn học: 25
II Nghiên cứu, lí luận, phê bình: 25
III Các trang web tham khảo 26
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống
đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới - thời
kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước… Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như qui luật phát triển khách quan của nền văn học Trong sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của nền văn học, với dung lượng ngắn gọn, truyện ngắn đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng Theo
Từ điển thuật ngữ văn học (NXB giáo dục, 2006), mục truyện ngắn: “Khác
với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chẩt trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người”… Bùi Việt Thắng khẳng định, truyện ngắn là một thể tài gắn với
báo chí, đã luôn có mặt kịp thời trước sự biến chuyển của đời sống Truyện ngắn rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và nêu ý kiến trước những vấn đề mới, nóng bỏng đang đặt ra trước xã hội Có thể nói,
truyện ngắn là một thể tài “xung kích” giàu tính năng động, một người lính
trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và văn học…
“Vài ba năm trở lại đây chúng ta được mùa truyện ngắn” Nguyên
Ngọc đã nói như vậy khi bàn về truyện ngắn những năm sau chiến tranh Sự phát triển của truyện ngắn từ năm 1975 đến nay có thể coi là một hiện tượng tất yếu của nền văn học Đặc biệt hơn khi vào những nănm 1986, văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới Nguyễn Huy Thiệp với cách viết và lối tư duy độc đáo
trong hàng loạt truyện ngắn: Chút thoáng Xuân Hương, Huyền thoại phố
Trang 6phường, Những bài học nông thôn…đặc biệt Tướng về Hưu, được coi như
một hiện tượng lạ trên thi đàn văn học
Mật độ các cuộc thi truyện ngắn tăng lên ngày càng nhiều đã tạo cơ hội cho hàng loạt các tên tuổi mới xuất hiện trên thi đàn Theo Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta quen dần với Phạm Thị Hoài, Y ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Quang Thiều, Lưu Sơn Minh,Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư … như những cây bút có khả năng làm nóng lên đời sống văn học
Đáng chú ý là nếu như trước kia, ta quen với các tác giả nam thì nay trên thi đàn văn học đã xuất hiện một cách đông đảo các tác giả nữ Theo như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, thì nếu như đầu thế kỷ XX chỉ có 2/79 tác giả
nữ, thì đến 1997 đã có 92/720 hội viên hội nhà văn là nữ giới Đến nay, số lượng nữ văn sĩ đứng trong hội nhà văn đã có sự gia tăng đáng kể
Sống trong không khí dân chủ, cởi mở của thời đổi mới, các nhà văn như có dịp được bùng phát, bộc lộ mọi suy nghĩ, quan điểm về đất nước, cuộc sống, con người mà vì những lí do nhẩt định, ta không được nói đến trong những thời điểm trước đó Các nhà văn nữ lại càng có điều kiện thể hiện rõ ưu thế của mình trong lĩnh vực văn chương, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn
Cùng với sự nở rộ của các cây bút nữ là sự xuất hiện của hàng loạt các nhân vật nữ trong các tác phẩm của họ Nếu như trước đây các nhân vật nữ được xem như một phương tiện để truyền tải một tư tưởng, một quan niệm thì nay, trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, người phụ nữ được xem xét như một thế giới riêng trong sự đa dạng, đa chiều của cuộc sống và các cung bậc của cảm xúc, vui, buồn, hờn, giận, yêu thương, căm thù… với sự ý thức cá nhân sâu sắc…
Trong hàng loạt các tác giả nữ viết về văn xuôi ở thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo được coi là những cây
Trang 7bút tiêu biểu mà tài năng đã được khẳng định bằng các giải thưởng văn học có giá trị
Với đề tài “Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác
văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư”…, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm ý kiến vào quá trình
khám phá, tìm hiểu cách nhìn đa chiều, mới mẻ của người phụ nữ về con người và cuộc sống, cũng như về chính bản thân họ Qua đó, phát hiện, khẳng định được những nét đặc trưng trong quan niệm nhân sinh của người phụ nữ Đồng thời khẳng định những vẻ đẹp của con người trong thời kỳ mới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau năm 1975, văn học cũng có sự phát triển, từ cảm hứng anh hùng cách mạng sang cảm hứng thế sự, đời thường Văn học là sự thật Mà sự thật chủ yếu của văn học là sự thật về con người Nhiều năm qua, văn học chúng
ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật Sự thật về người nông dân Việt Nam trong những cơn bão táp cách mạng và chiến tranh, về người lính với bao vinh quang mất mát và hi sinh, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt, về người phụ nữ với bao trăn trở, dằn vặt và khao khát hạnh phúc đến cháy bỏng Các nhà văn ngày nay phải trả món nợ ấy cho đời
Trong giai đoạn 1930-1945 văn học đã từng đề cập tới những vấn đề
của đời thường, những số phận riêng Song theo Lê Ngọc Trà trong cuốn Văn
chương thẩm mĩ và văn hóa nhận định: “Trong những năm tháng chiến tranh
kéo dài, văn học cách mạng chủ yếu nói về cái chung, chỉ xem xét cái riêng xuất phát từ quyền lợi chung của giai cấp, của dân tộc khiến cho vấn đề đời thường,
số phận riêng của con người bị chìm đi, bị xem nhẹ, thậm chí, đôi khi còn bị xem như một cái gì xa lạ với một nền văn học lành mạnh” [20, tr 75] Tác giả nhấn
mạnh, chính điều này khiến cho văn học từ sau những năm 1975, đặc biệt là sau
Trang 8công cuộc đổi mới của Đảng (1986), khi quay trở lại vấn đề đời thường với những số phận riêng đã thực sự được coi là một hành động đổi mới Sự quay trở lại này cũng làm cho nền văn học nhiều năm qua thiên về cái chung, cái cao cả trở lại trạng thái cân bằng Nền tảng của sự đổi mới trong văn học thời này là bắt nguồn từ sự tự ý thức của văn học, sự giác ngộ của văn học về vai trò của nó trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của nó đối với con người
Lê Ngọc Trà cũng viết: “Sau bao nhiêu năm cách mạng và chiến tranh,
tập cho con người quen với cuộc sống bình thường cũng bổ ích như giúp họ nhận ra vẻ đẹp của những cái đơn giản ở xung quanh, một công việc mà hình như chỉ riêng nghệ thuật là được giao cho chức phận để thực hiện Cùng với điều đó việc đi sâu vào thế giới tinh thần của con người, vào quá trình tự ý thức của nó đã góp phần củng cố thêm sự hình thành con người cá nhân trong xã hội Việt Nam, làm cho văn học thời kỳ nay đứng cao hơn văn học trước 1945, khi mà ở đó vấn đề tự do cá nhân chủ yếu chỉ mới đặt ra trong phạm vi tự do tình cảm của con người” [20, tr 45]
Nguyễn Minh Châu trong một lần trả lời phỏng vấn của báo Văn Nghệ
đầu năm 1986 đã phát biểu: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà
tâm điểm của nó là con người Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ
có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống”
Trang 9Văn học là nhân học Hay nói khác đi con ngưới chính là đối tượng
phản ánh, trung tâm của văn học Trong Văn học Việt Nam trong thời đại
mới, nhà phê bình Nguyễn Văn Long khẳng định: “Con người trong văn học
hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: Con người xã hôị; con người với lỉch sử, con người của gia đình, gia tộc; con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện
và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống
tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại, phổ quát Trong con người đan cài, chen lẫn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường ” [15, tr 65]
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mang lại một luồng sinh khí mới cho đới sống xã hội Việt Nam, thúc đẩy kinh tế phát triển, gợi mở cho văn học những suy nghĩ, tìm tòi mới Đời sống mới, cơ hội mới cũng khiến cho văn học Việt Nam có sự gia tăng về số lượng và chất lượng Rất đáng kể khi đây lại là thời kỳ bùng nổ của những tác phẩm truyện ngắn, cùng sự góp mặt đông đảo cuả các nhà văn nữ và các nhân vật nữ trong các tác phẩm Điều đó khiến cho văn học thời kỳ đổi mới được coi là một nền văn học mang tính nữ Tuy nhiên tính nữ không nhất thiết được tạo ra bởi các nhà văn nữ bởi những nhà văn nam cũng có những tác giả viết rất hay về giới nữ, như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp Hơn nữa, thiên tính nữ là tinh thần của cái đẹp, mà tất cả các nhân vật nữ đều đẹp
Các nhà văn nữ khi lựa chọn nhân vật nữ cho sáng tác của mình đều cố gắng thể hiện rõ khả năng cảm thụ và quan sát cuộc sống, con người một cách
đa dạng, đa chiều trong tính toàn vẹn của nó Trước chiến tranh, con người chỉ mải nghĩ đến hoà bình, độc lập, tự do và họ sẵn sàng hy sinh, dâng hiến
Trang 10hạnh phúc riêng tư cho lý tưởng Sau chiến tranh, trong điều kiện sống bình
ổn hơn, con người cũng có nhiều thời gian, nhiều điều kiện quan tâm đến bản thân, đến những nhu cầu tự nhiên, những khao khát đời thường Nhạy cảm, vị tha, yêu thương, hướng thiện, song trái tim người đàn bà cũng mềm yếu, dễ rung động, xao xuyến trước những điều hạnh phúc giản dị và cả những điều trái ngang của cuộc sống Rất đáng chú ý khi những người phụ nữ hôm nay đã dám bộc bạch nỗi lòng mình trên trang giấy, điều mà bấy lâu nay bị bao phủ bởi những quan niệm khắt khe về người phụ nữ
Từ tất cả những điều trên đây, chúng tôi muốn khẳng định, người phụ
nữ đã thực sự trở thành một hình tượng trung tâm của văn học thời đổi mới
Bằng việc thống kê, phân tích, tham khảo ý kiến về tác phẩm của ba nhà văn nữ, chúng tôi muốn bước đầu nghiên cứu quan niệm nhân sinh của người phụ nữ được thể hiện qua các sáng tác văn xuôi (truyện ngắn) nhằm làm sáng tỏ chủ nghĩa nhân văn mà các nhà văn muốn chia sẻ, gửi gắm…
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Bằng một tâm hồn nhạy cảm, với thiên tính nữ đặc biệt các nhà văn nữ
đã dần chiếm lĩnh được thi đàn văn học ở thời kỳ đổi mới Thông qua các nhân vật, phần nhiều là các nhân vật nữ, các nhà văn muốn chia sẻ, muốn được trải lòng trên trang giấy để giúp bản thân cũng như người phụ nữ tháo
gỡ được những tâm tư, khúc mắc, những dằn vặt, những khao khát hạnh phúc đời thường đến cháy bỏng để có thể tiếp tục vững vàng trong cuộc sống mưu sinh Với một số lượng đông đảo các nhà văn nữ như hiện nay để có một cách nhìn khái quát Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác văn xuôi (truyện ngắn) ở thời kỳ đổi mới là một việc làm không hề đơn giản Vì
thế, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ muốn nghiên cứu: Quan niệm
nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác văn xuôi ( truyện ngắn) thời
Trang 11kỳ đổi mới của ba nhà văn nữ tài năng: Nguyễn Thị Thu Huệ , Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng có chú ý so sánh với một số nhà văn nữ cùng thời: Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thuý, Y Ban …
Tất nhiên chúng tôi cũng không bỏ qua truyện ngắn viết về người phụ
nữ của tác giả nam để có cái nhìn khái quát, toàn diện
Chúng tôi cũng có tham khảo các sách lý luận, nghiên cứu phê bình văn học, các bài báo có liên quan của Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Bùi Việt Thắng…để tạo dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu này
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các truyện ngắn thời kỳ đổi mới của ba nhà văn Nguyễn thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ thị Hảo, chúng tôi muốn làm rõ: Quan niệm của người phụ nữ về cuộc sống và con người Bên cạnh đó là quan niệm của người phụ
nữ về bản thân mình Đồng thời nhấn mạnh nghệ thuật thể hiện quan niệm nhân sinh của người phụ nữ qua các sáng tác truyện ngắn ở thời kỳ đổi mới của ba nữ văn sĩ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân loại để
hệ thống được quan niệm nhân sinh cụ thể sao cho phù hợp với hệ thống luận điểm
Phương pháp tổng hợp, phân tích cũng rất quan trọng Thông qua quan niệm nhân sinh của mỗi nhân vật sẽ giúp ta có cái nhìn khái quát, toàn diện
Phương pháp so sánh, đối chiếu sẽ giúp ta nhận ra sự khác biệt, tương đồng trong quan niệm nhân sinh ở các nhân vật nữ trong các truyện ngắn ở thời kỳ đổi mới nói chung, ở các truyện ngắn của ba nhà văn nữ nói riêng
Trang 12Chương 3: Nghệ thuật thể hiện
Và cuối cùng là mục tài liệu tham khảo
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ
CUỘC SỐNG
1 Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các dòng văn học 1.1 Tính đến trước 1975
Trong tiến trình văn học dân tộc, văn học dân gian được ra đời từ rất sớm, bao gồm người sáng tác tập thể truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân Những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… là những giá trị tinh thần cao quý của phần lớn nhân dân lao động, mà chủ yếu thuộc về tầng lớp dưới trong xã hội và một số ít trí thức tham gia sáng tạo văn học dân gian
Văn học dân gian hay còn gọi là văn học bình dân, văn học truyền miệng ra đời từ thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết Hơn nữa theo thống kê tính
đế cách mạng tháng 8/1945, 90% dân số chưa biết chữ Những người dân lao động chưa chịu ảnh hưởng của các luồng văn hoá tư tưởng từ bên ngoài còn
sống, suy nghĩ một cách đơn giản Những Tấm Cám, Mị Châu - Trọng Thuỷ,
Cây tre trăm đốt, những câu ca dao, tục ngữ là mọt minh chứng hùng hồn cho
tư duy hướng thiện Và mặc dù cũng có ý thức về bản than, về sự tồn tại của cái tôi nhưng do chịu ảnh hưởng bởi những nguyên tắc, áp chế của xã hội, phần lớn con người còn thụ động cam chịu, chấp nhận lối sống phụ thuộc
Ta cũng bắt gặp trong trang văn của cha ông, hình ảnh những người phụ nữ có ý thức về phẩm giá, tài năng, vẻ đẹp:
“Thân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”