ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM VĂN HÙNG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
Chuyên ngành Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Nghĩa
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ……… …… 3
Chương 1 VAI TRÒ CỦA NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ QUỐC GIA 7
1.1 Giới thiệu chung về Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia 7
1.2 Định hướng phát triển Trung tâm trong thời gian tới 15
1.3 Tầm quan trọng của nguồn tài nguyên số nội sinh đối với sự phát triển Trung tâm 17
1.3.1 Một số khái niệm 17
1.3.2 Tài nguyên số nội sinh trong sự phát triển của Trung tâm 20
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ
NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂMError! Bookmark not defined.
2.1 Nguồn tài nguyên số nội sinh trong cơ cấu vốn tài liệu của Trung tâmError! Bookmark not defined
2.1.1 Cơ sở dữ liệu thư mục Error! Bookmark not defined
2.1.2 Cơ sở dữ liệu toàn văn Error! Bookmark not defined
2.2 Hiện trạng công tác phát triển nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined
2.2.1 Khung khổ pháp lý Error! Bookmark not defined
2.2.2 Quy trình tạo lập tài liệu số Error! Bookmark not defined
2.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu Error! Bookmark not defined
2.2.4 Tổ chức khai thác nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined
2.2.5 Công tác tuyên truyền, giới thiệu nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỐI ƯU HOÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG
VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂMError! Bookmark not defined.
3.1 Đảm bảo tính pháp lý cho nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined
3.2 Đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào Error! Bookmark not defined
3.3 Nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên số nội sinh Error! Bookmark not defined
3.3.1 Tối ưu hoá công tác số hoá tài liệu truyền thốngError! Bookmark not defined
3.3.2 Hoàn thiện công tác biên mục Error! Bookmark not defined
3.3.3 Tối ưu hoá quá trình trao đổi và lưu dữ liệu giữa các bộ phậnError! Bookmark not defined
3.4 Tổ chức lại các bố sưu tập số Error! Bookmark not defined
3.5 Hoàn thiện hệ thống phần mềm Error! Bookmark not defined
3.6 Một số giải pháp khác Error! Bookmark not defined
3.6.1 Tăng cường chia sẻ nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined
3.6.2 Đảm bảo an toàn cho dữ liệu số Error! Bookmark not defined
3.6.3 Xây dựng cơ chế truy cập phù hợp Error! Bookmark not defined
3.6.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu nguồn tài nguyên số nội sinhError! Bookmark not defined 3.6.5 Phát triển đội ngũ cán bộ Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN……… ……… 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……….… 118
PHỤ LỤC……… ……121
Trang 4Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới – “kỷ nguyên thông tin”, trong đó thông tin là nhân tố quyết định mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người Vì thế các quốc gia phát triển đã sớm đề ra chính sách phát triển hạ tầng thông tin quốc gia, theo đó nhiều dự án phát triển nguồn tài nguyên số và xây dựng thư viện số đã được triển khai Trong đó có nhiều dự án mang tính quốc gia như dự án “Digital libraries initiative” ở Mỹ, dự án “Electronic Libraries Programme” ở Anh, dự án
“Digital Image Library” ở Úc,…Các dự án này đã mở đường cho chiến dịch phát triển thư viện số trên thế giới
Ở Việt Nam, ngay từ đầu những năm 90 chúng ta đã ý thức được vai trò quan trọng của thông tin trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước cũng như tình trạng lạc hậu về thông tin của nước nhà Trên cơ sở đó, Chính phủ đã đặt mục tiêu
"phổ cập văn hoá thông tin" trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đất nước chuẩn bị hướng tới một "xã hội thông tin" [10]
Lý do chọn đề tài: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
với chức năng là cơ quan đứng đầu hệ thống thông tin khoa học và công nghệ trong
cả nước, thực hiện chức năng “thông tin, thư viện trung tâm của cả nước về khoa
học và công nghệ” Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Trung tâm Thông tin
Khoa học và Công nghệ Quốc gia là thu thập, quản lý và lưu giữ các nguồn tài liệu nội sinh quan trọng như kết quả nghiên cứu, tài liệu hội nghị, các tạp chí khoa học v.v… Bên cạnh những lợi thế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số như thu thập tài liệu, xây dựng quy trình số hóa, xây dựng công cụ tìm kiếm v.v Vấn đề xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên số đã từ lâu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến
nguồn tài nguyên số tại Trung tâm như đề tài “Nghiên cứu xây dựng cơ chế tổ chức
và khai thác hiệu quả ngân hàng dữ liệu khoa học và công nghệ quốc gia tại Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá” ; một số bài nghiên cứu trên Tạp chí Thông tin & Tư
liệu liên quan đến các hoạt động như số hoá tài liệu, đảm bảo chất lượng tài liệu số,
Trang 5xây dựng cơ sở dữ liệu, Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở mức khái quát hoặc nghiên cứu từng khía cạnh của vấn đề hoặc không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại Thấy được tầm quan trọng của vấn đề xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh và sự thiếu vắng các nghiên cứu có tính hệ thống về vấn đề này, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia” làm đề tài cho luận văn của mình
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xây dựng và quản lý nguồn
tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia”
là nhằm hoàn thiện các quy trình xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm bao gồm:
- Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu
- Quy trình quản lý, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên số nội sinh
Bên cạnh đó, tác giả cũng hy vọng những kinh nghiệm này có thể áp dụng cho các đơn vị khác trong hệ thống, đồng thời góp phần hoàn thiện về mặt lý luận cho công tác phát triển nguồn tài nguyên số trong các cơ quan thông tin – thư viện nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Khảo sát toàn bộ quy trình số hoá tài liệu gồm (khung khổ pháp lý cho công tác số hoá, thiết bị và phương pháp số hoá)
- Nghiên cứu quy trình xây dựng các cơ sở dữ liệu gồm (các phần mềm, các chuẩn và những công cụ được sử dụng và quy trình kỹ thuật trong xây dựng cơ sở
dữ liệu)
- Nghiên cứu công tác tổ chức khai thác nguồn tài nguyên số gồm (các hình thức cung cấp thông tin, cơ chế quản lý người dùng tin và hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên số)
- Phân tích những thế mạnh, khả năng, thuận lợi, khó khăn và những hạn chế trong từng quy trình
- Xây dựng các mô hình và giải pháp giúp hoàn thiện các quy trình xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ hoạt động xây dựng, phát triển
nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm, trong đó gồm các cơ sở dữ liệu thư mục, cơ sở dữ liệu toàn văn và các bản tin điện tử
Do đặc điểm của đề tài nghiên cứu chủ yếu liên quan đến nguồn tài nguyên số nên phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào công tác xây dựng, phát triển nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia từ khi tiến hành xây các cơ sở dữ liệu (từ năm 1987 đến nay)
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình làm luận văn này, tác giả đã sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu toàn
bộ quá trình xây dựng, phát triển nguồn tài nguyên số nội sinh của Trung tâm, ngoài
ra tác giả còn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, quan sát và phỏng vấn trực tiếp người dùng tin, cán bộ thông tin để tìm hiểu và đánh giá toàn bộ những vấn đề có liên quan đến công tác xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên số nội sinh
Giả thuyết khoa học xuất phát từ thực tiễn phát triển Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia với mục tiêu trở thành một Trung tâm dữ liệu về khoa học và công nghệ của cả nước, vấn đề đầu tiên là cần phát triển một kho dữ liệu số (trong đó bao gồm cả nguồn tài nguyên số nội sinh) có chất lượng tốt Bên cạnh đó, việc quản lý và phổ biến nguồn tài nguyên này cũng cần được nghiên cứu triệt để
Trên cơ sở tìm hiểu rõ từng quy trình, phát hiện những mặt hạn chế, đồng thời tham khảo kinh nghiệm và kỹ thuật tại các đơn vị trong và ngoài nước, luận văn đưa
ra những giải pháp giúp hoàn thiện toàn bộ quy trình xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm
Cấu trúc của luận văn gồm: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận, trong
đó phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1 giới thiệu khái quát về Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia; trình bày vị trí, vai trò của nguồn tài nguyên số nội sinh đối với sự phát triển của Trung tâm đồng thời đưa ra khái niệm tài nguyên số nội sinh và các khái niệm liên quan
Trang 7Chương 2 tập trung tìm hiểu và đánh giá toàn bộ quy trình phát triển nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm bao gồm: Quy trình số hoá tài liệu, xây dựng các
cơ sở dữ liệu, lưu giữ tài liệu số và tổ chức khai thác, quảng bá nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm
Chương 3 đề xuất một số giải pháp tối ưu hoá công tác xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm như giải pháp cho vấn đề bản quyền trong công tác số hoá tài liệu; vấn đề đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ số hoá; công tác tổ chức, lưu giữ và phổ biến nguồn tài nguyên số nội sinh…
Trang 8Chương 1 VAI TRÒ CỦA NGUỒN TÀI NGUYÊN SỐ NỘI SINH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
1.1 Giới thiệu chung về Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
Lịch sử phát triển
Trung tâm TTKH&CNQG trực thuộc Bộ KH&CN được thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1990 theo Quyết định số 487/TCCB của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ KH&CN) trên cơ sở hợp nhất hai đơn vị:
Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, 1960-1990
Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, 1972-1990
Trong thời gian hoạt động, Trung tâm TTKH&CNQG đã thay đổi tên như sau: Trung tâm Thông tin Tư liệu KH&CN Quốc gia 1990-2004
Trung tâm TTKH&CNQG, 2004 – đến nay
Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức
Chức năng
Ngày 13/5/2004, Bộ KH&CN ban hành Quyết định số 11/2004/QĐ-BKHCN
quy định điều lệ về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TTKH&CNQG
Theo Điều lệ, Trung tâm TTKH&CNQG là đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN, tổ
chức đứng đầu hệ thống các tổ chức thông tin KH&CN, thực hiện chức năng “thông
tin, thư viện trung tâm của cả nước về KH&CN”
Nhiệm vụ
Tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động thông tin KH&CN; phát triển nguồn lực thông tin KH&CN của đất nước;
Thu thập, chọn lọc, xử lý, lưu trữ và phát triển nguồn tin KH&CN trong nước và thế giới, đặc biệt là nguồn tin về tài liệu điều tra cơ bản, luận án trên đại học, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, các nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành;
Trang 9Tổ chức và thực hiện đăng ký, lưu giữ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
Thực hiện nhiệm vụ Thư viện trung tâm của cả nước về KH&CN; xây dựng thư viện điện tử quốc gia về KH&CN;
Tổ chức và thực hiện việc cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giáo dục, đào tạo, sản xuất, kinh doanh; Xuất bản “Sách KH&CN Việt Nam”; Tạp chí “Thông tin và Tư liệu”, ấn phẩm thông tin; công bố danh mục các nhiệm vụ KH&CN trong nước đang tiến hành và kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói trên;
Phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), Chợ ảo Công nghệ
và Thiết bị Việt Nam;
Tổ chức và thực hiện công tác thông tin tuyên truyền KH&CN, đưa tri thức khoa học đến với mọi người, đặc biệt là thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn, miền núi, phục vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, áp dụng các chuẩn trong lĩnh vực thông tin, thư viện KH&CN;
Phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ thông tin KH&CN;
Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin KH&CN;
Được thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực thông tin KH&CN theo quy định của pháp luật;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ KH&CN giao
Cơ cấu tổ chức
Theo Điều lệ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm có Ban Giám đốc và 15 đơn vị trực thuộc:
1 Phòng Phát triển hoạt động thông tin KH&CN
2 Phòng Phát triển nguồn tin
3 Phòng Cơ sở dữ liệu
4 Phòng Đọc sách
5 Phòng Đọc tạp chí
Trang 106 Phòng Tra cứu và cung cấp tài liệu điện tử
7 Phòng Phân tích thông tin
8 Phòng Thông tin thị trường KH&CN
9 Phòng Thông tin nông thôn, miền núi
- Các CSDL do Trung tâm xây dựng
Hiện Trung tâm có trên 10 CSDL, trong đó có các CSDL lớn được xây dựng
từ nhiều năm trước như STD (Tài liệu KH&CN Việt Nam) được xây dựng từ năm
Trang 111987; Book (Sách tại Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương); KQNC (Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học),…
- Các CSDL KH&CN thế giới:
Trên 10 CSDL, trong đó có các CSDL nổi tiếng như IEEE/IEE Fulltext (Thư viện điện tử về CNTT, điện và điện tử) Chemical Abstracts (Tạp chí tóm tắt về hoá học); PASCAL (CSDL đa ngành về KH&CN), đặc biệt là các CSDL trực tuyến như ScienceDirect, EBSCO, WEB OF SCIENCE, EBRARY,…
+ Quảng cáo trên mạng VISTA
- Chợ Công nghệ và Thiết bị Việt Nam trên mạng (Techmart ảo)
Chợ công nghệ ảo có chức năng giới thiệu công nghệ, thiết bị cần mua và chào bán trong và ngoài nước đồng thời là sàn giao dịch về công nghệ, thiết bị và tư vấn KH&CN
- Xuất bản phẩm
Hiện Trung tâm có hàng chục xuất bản phẩm dạng in như Sách KH&CN Việt Nam; Tạp chí Thông tin & Tư liệu; Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế và hàng chục bản tin điện tử như Nông thôn đổi mới; Khoa học công nghệ và môi trường; Vietnam infoterra newsletter,…
- Các chương trình phim KHCN
Các phim KH&CN trong nước và nước ngoài được cung cấp cho NDT dưới dạng các đĩa VCD, DVD theo yêu cầu
Trang 12Các dịch vụ chủ yếu
+ Dịch vụ phục vụ bạn đọc
+ Thông tin phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược
và dự báo về kinh tế, KH&CN
+ Cung cấp thông tin về thị trường công nghệ, chuyển giao công nghệ, các cơ hội liên doanh với bạn hàng trong và ngoài nước
+ Tổ chức các hội thảo, hội nghị khách hàng, triển lãm, chợ công nghệ nhằm giới thiệu công nghệ và sản phẩm mới
+ Tra cứu và chỉ dẫn theo các yêu cầu thông tin của các cá nhân, tổ chức, cơ quan
+ Dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc
+ Cung cấp nội dung thông tin trực tuyến trên Internet
+ Tổ chức các khoá đào tạo nghiệp vụ theo yêu cầu
+ Tư vấn về công tác xây dựng, tổ chức, điều hành thư viện, cơ quan thông tin + Tổ chức các đoàn nghiên cứu, khảo sát và học tập ở nước ngoài về thông tin KH&CN
Công tác nghiên cứu và đào tạo
Công tác nghiên cứu được đẩy mạnh theo hướng gắn kết với những yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của Trung tâm TTKH&CNQG Trong đó tập trung vào hiện đại hoá hệ thống thông tin KH&CN, xây dựng thư viện điện tử, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế vào hoạt động thông tin, thư viện
Hàng năm Trung tâm tổ chức trên 20 khoá đào tạo cho cán bộ thông tin KH&CN trong mạng lưới Đặc biệt, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ được chú trọng hướng vào các vấn đề ứng dụng CNTT và các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động TT-TV
Hợp tác quốc tế
Trung tâm TTKH&CNQG trao đổi thông tin, tài liệu với hơn 50 tổ chức của
35 nước trên thế giới; hợp tác song phương, đa phương với các thư viện và các trung tâm thông tin của hơn 70 nước trên thế giới
- Trung tâm TTKH&CNQG là thành viên của
Trang 13+ UNESCO/IFA, Chương trình Thông tin cho mọi người (Trụ sở tại Paris, Pháp)
+ IFLA - Hiệp hội Thư viện Quốc tế (Trụ sở tại Hague, Hà Lan)
+ ICSTI - Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc tế
- Trung tâm TTKH&CNQG là đầu mối quốc gia của:
+ INFOTERRA- Mạng Thông tin Môi trường Toàn cầu
+ APIN - Mạng Thông tin châu Á - Thái Bình Dương (Trụ sở tại New Delhi,
ấn Độ)
+ Trung tâm ISSN Quốc tế (Trụ sở tại Pari, Pháp)
+ Mạng thông tin khoa học công nghệ ASEAN
+ Mạng Nghiên cứu và đào tạo Á-Âu (TEIN2, TEIN3)
Quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và những thành tựu đạt được
Trung tâm TTKH&CNQG là một trong những đơn vị đi tiên phong và đạt được nhiều thành quả trong việc ứng dụng CNTT Từ những năm 80 của thế kỷ XX Trung tâm đã triển khai nghiên cứu áp dụng CNTT vào hoạt động Quá trình này được chia thành những giai đoạn sau:
Giai đoạn mở đầu bằng việc sử dụng các máy tính IBM 360, họ máy tính ES
để tổ chức và phục vụ thông tin Viện thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung Ương ( tiền thân của Trung tâm TTKH&CNQG) đã khai thác các băng từ thông tin KH&CN của Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Quốc Tế để phục vụ thông tin chọn lọc cho NDT trong nước bằng cách tận dụng công nghệ truyền tin mạng viễn thông quốc tế, Viện đã tiến hành các đợt thử nghiệm truy cập từ xa - Teledostup" vào các CSDL của Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Quốc Tế Với tốc độ 8 bít/giây Các ứng dụng CNTT thời kỳ này mới chỉ mang tính thử nghiệm, rất ít sản phẩm được áp dụng trên quy mô công nghiệp Phần mềm được sử dụng để xây dưng CSDL và số hoá các nguồn tin chủ yếu là Dbase
Giai đoạn tiếp theo từ 1990-1997, với sự đầu tư của nhà nước việc số hoá các nguồn tài liệu được triển khai bằng việc xây dựng các CSDL thư mục do các cơ quan thông tin thư viện trong nước đảm nhiệm Hệ thống quản lý thư điện tử TOOLNET do Hà Lan hỗ trợ, Mạng Thông tin Kinh tế, KH&CN Việt Nam (mạng VESTENET) với hàng chục CSDL của Trung tâm TTKH&CNQG và các CSDL