1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh phú thọ thực hiện chủ trương xóa bỏ dần dần phạm bi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945 1953)

41 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 441,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA: LỊCH SỬ ---******--- ĐỖ KHÁNH CHI ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM VI BÓC LỘT VÀ T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-****** -

ĐỖ KHÁNH CHI

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM

VI BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ

CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ

PHONG KIẾN (1945-1953)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: LỊCH SỬ -****** -

ĐỖ KHÁNH CHI

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM VI BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ

dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng

đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương giảm

2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện công tác thuế nông

nghiệp và tiếp tục tiến hành giảm tô, giảm tức cho nông dân (1951

– 1953)

60

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện triệt để giảm tô,

giảm tức và thí điểm cải cách ruộng đất

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông dân đã tham gia cuộc vận động cứu nước, giải phóng dân tộc thì bất cứ bao giờ và ở đâu họ cũng tham gia với tư cách là những người có quyền lợi dân tộc và giai cấp phải đấu tranh Vì vậy, đem lại quyền dân chủ cho nông dân là một vấn đề hết sức quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lịch sử của nhân loại trong thế kỷ XX là lịch sử đấu tranh vì quyền

cơ bản của các dân tộc và con người Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX cho thấy, ở nơi nào và thời điểm nào đó

mà vấn đề dân tộc và con người không được giải quyết đúng đắn thì tự nó

sẽ hạn chế triệt tiêu động lực và thậm chí cả những thành quả cách mạng được xây đắp trong nhiều thập kỷ Những gì đang diễn ra trên thế giới dù là thuận lợi hay tạm thời thất bại ở chỗ này hay chỗ khác đều là những minh chứng làm sáng tỏ sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và con người trong hướng phát triển của dân tộc và nhân loại

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là ngọn đuốc dẫn đường cho Đảng bộ các tỉnh đi theo Đảng bộ tỉnh Phú Thọ luôn lấy cương lĩnh, đường lối của Đảng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Do đó, việc Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, đem lại quyền lợi cho nông dân trong các thời kỳ đều diễn ra theo chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến Trải qua các thời kỳ lịch sử, nhân dân Phú Thọ cần cù trong lao động sản xuất, sáng tạo nhiều loại hình văn nghệ dân gian phong phú Nhân dân Phú Thọ luôn phát huy truyền thống của tổ tiên, đoàn kết một lòng, kiên cường, dũng cảm trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước

Trang 5

Truyền thống đó càng được nhân lên gấp bội khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Tháng 3 năm 1940, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ được thành lập và tập hợp lực lượng đứng lên chống ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám và tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn

Dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ hết sức chú trọng giải quyết ruộng đất cho nông dân và thực hiện chủ trương xoá bỏ từng bước chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới đã có những thay đổi căn bản, Phú Thọ cũng đang chuyển mình cùng với đất nước Giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn đang là vấn đề cấp thiết trong

giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, tôi nhận vấn đề Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1953) làm đề tài

luận văn Thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đảng lãnh đạo việc thực hiện giải quyết ruộng đất cho nông dân - bộ phận chủ yếu trong xã hội Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau của khoa học lịch sử nghiên cứu Có thể nêu lên một số

tác phẩm tiêu biểu như: Vấn đề dân cày - Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp,

1959, NXB Sự Thật, Hà Nội), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt

Nam - Trường Chinh (1975), NXB Sự Thật, Hà Nội, Kháng chiến nhất định thắng lợi -Trường Chinh (1967), NXB Sự Thật, Hà Nội Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam- Lê Duẩn (1965),

NXB Sự Thật, Hà Nội Nông dân Việt Nam trước và sau cách mạng tháng

Tám- Ban công tác nông thôn Trung Ương (1960), NXB Nông Thôn, Hà

Trang 6

Nội, Cách mạng ruộng đất - Trần Phương - chủ biên (1968), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, Một số ý kiến về nông dân Việt Nam - Minh Tranh

(1961), NXB Sự Thật, Hà Nội…

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong việc giải quyết ruộng đất cho nông dân đặc biệt là giải quyết ruộng đất cho nông dân thời kỳ trước cải cách ruộng đất có rất ít Chủ yếu là công trình nghiên cứu trong nội bộ tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Luận văn trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo và thực hiện giải quyết ruộng đất cho nông dân trong những năm 1945-1953 về quan điểm, chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

- Nêu kết quả, tác dụng, của đường lối đó với cuộc kháng chiến của dân tộc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong

kiến (1945-1953)” đi sâu tìm hiểu về những chủ trương, chính sách của

Đảng bộ Phú Thọ nhằm đem lại quyền lợi cho nông dân, những thành tựu về ruộng đất mà nhân dân Phú Thọ đã đạt được trong giai đoạn từ 1945-1953

Trang 7

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản vào cách mạng Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn bên cạnh việc sử dung phương pháp lịch sử là chủ yếu, còn

sử dụng thêm phương pháp lôgic, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp để thể hiện quan điểm toàn diện, hệ thống và trọng điểm

5.3 Nguồn tư liệu

Luận văn khai thác các nguồn tư liệu chính sau:

- Văn kiện Đảng toàn tập; Hồ Chí Minh toàn tập (1945-1954)

- Các số liệu tại Tổng cục thống kê, Trung tâm lưu trữ quốc gia III

- Các tư liệu tại phòng lưu trữ Ban tuyên giáo tỉnh uỷ

- Các tài liệu lưu trữ tại Văn phòng tỉnh ủy Phú Thọ

- Các tài liệu lưu trữ tại Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ

- Tài liệu lưu trữ tại Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Phú Thọ

- Tại liệu lưu trữ tại Sở Nông nghiệp Phú Thọ

Tuy nhiên, tài liệu đều hết sức rải rác, không tập trung, chủ yếu là các tài liệu về ruộng đất thời kỳ sau năm 1954, tài liệu trước năm 1954 có rất ít, lại quá cũ, chữ mực in đã mờ, rất khó đọc chính xác, nên việc nghiên cứu cũng gặp một số khó khăn

Trang 8

6 Bố cục cơ bản

Chương 1: Thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

Chương 2: Thực hiện chủ trương giảm tô, giảm tức (1949-1953)

Chương 3: Thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất

Trang 9

Chương 1: THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM VI

BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN (1945-1949)

1.1 Tình hình sở hữu ruộng đất ở Phú Thọ trước năm 1945

Sau khi bình định xong Việt Nam, Pháp bắt tay vào khai thác, bóc lột nhân dân thuộc địa Nhân dân Phú Thọ cũng nằm trong tình cảnh khổ cực chung với nhân dân Bắc kỳ Đế quốc Pháp thống trị và bóc lột nhân dân trong đó chủ yếu là nông dân - giai cấp chiếm đại bộ phận dân số nước ta Đối với đế quốc, chính trị là thủ đoạn, còn mục đích cướp nước là kinh tế Mục đích kinh tế căn bản của chúng là khiến cho chúng được nhiều lợi nhuận, mà muốn nhiều lợi nhuận thì dựa vào việc bóc lột lao động ở chính quốc và thuộc địa Mà bóc lột lao động thuộc địa, chủ yếu là bóc lột nông dân, bán hàng hóa của chính quốc cho nông dân thuộc địa theo giá độc quyền, mua sản phẩm của nông dân rẻ mạt, dùng nông dân để khai thác hầm mỏ, đồn điền

Trước Cách mạng tháng Tám, Phú Thọ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Với một hệ thống sông ngòi, đầm hồ phong phú cũng góp phần thúc đẩy nông nghiệp trong tỉnh phát triển Các đoạn sông lớn chảy qua tỉnh như sông Hồng (sông Thao) dài 140km, sông Lô dài 70km, sông Đà dài 41km, đã bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ven sông, đồng thời tạo điều kiện giao lưu đường thuỷ giữa các vùng trong tỉnh và các tỉnh bạn

Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng bằng Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (Sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai miền có những đặc điểm khác nhau và hình thành địa hình mang ba tính chất trên

Trang 10

Miền tả ngạn sông Hồng, gồm đất đai các huyện Đoan Hùng, một phần đất huyện Hạ Hoà, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao và ngoại thành Việt Trì, có nhiều đồi gò nối tiếp nhau san sát nhƣ bát úp, rất phù hợp cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả…Nhờ nằm ven các sông Hồng, sông Lô, sông Chảy, nên miền này hàng năm đƣợc phù sa bồi đắp, đất tốt, có nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa của tỉnh

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh đƣợc thể hiện cụ thể trong bảng thống kê sau:

Diện tích đất lâm nghiệp

Diện tích đất ở

Diện tích đất chƣa sử dụng

Trang 11

Qua bảng số liệu cho thấy diện tích đất nông nghiệp thời kỳ trong kháng chiến chống Pháp chiếm tới hơn 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là diện tích đất ở và đất lâm nghiệp Diện tích đất nông nghiệp tập trung

ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Hạ Hoà do sông Hồng, sông Đà bồi đắp, thích hợp cho việc trồng lúa, cây hoa màu, nhưng năng suất thời kỳ này không cao lắm, chủ yếu là do hạn hán, lũ lụt mất mùa, không tập trung khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Diện tích đất chưa sử dụng cũng chiếm diện tích lớn, chủ yếu tập trung ở các huyện miền núi có diện tích núi đá vôi lớn như: Thanh Sơn, Phù Ninh, Yên Lập Các dãy núi ở đây thuộc đoạn cuối của mạch núi Hoàng Liên Sơn Vì đây là miền núi nên các căn cứ chống Pháp thời kỳ Cần Vương, các chiến khu thời kỳ tiền khởi nghĩa, các kho tàng của Trung

ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp…đều xây dựng ở vùng này Diện

tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp thời kỳ trước cách mạng tháng Tám lại chủ yếu nằm trong tay địa chủ và thực dân Pháp

Ngoài số ruộng đất nằm trong tay Pháp và địa chủ người Việt thì số

ruộng của nhà thờ, của đình làng, chùa cũng chiếm đáng kể Phú Thọ tính tới thời điểm năm 1945 thì có 117 nhà thờ, 318 đình và 112 chùa, 208 nhà thờ họ [7, 1-3] Trong thời kỳ Pháp thống trị thì các nhà thờ được Pháp ưu

ái tặng cho nhiều ruộng, còn đình chùa chủ yếu là do dân đóng góp, tự nguyện cắt đất của mình ra hiến cho đình, chùa, và xây nhà thờ họ Bảng thống kê diện tích đình chùa thời gian từ 1943 tới 1954 cho thấy sở hữu của đình chùa, nhà thờ cũng có sự chênh lệch:

Năm Diện tích ruộng

của nhà thờ

Diện tích ruộng của đình chùa

Diện tích ruộng thờ cúng làng họ

Trang 12

ruộng đất đình chùa

ruộng đất của nhà thờ họ

Bảng 1.3: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tớch của ruộng đất thờ

cỳng họ, ruộng đất của nhà thờ, đỡnh chựa qua cỏc năm

Qua biểu đồ trờn cú thể nhận thấy, trước năm 1945 diện tớch ruộng của nhà thờ Cụng giỏo ở Phỳ Thọ khỏ lớn Chủ yếu là do thực dõn Phỏp và địa chủ Phỏp dựng lờn, tuyờn truyền, tặng nhiều ruộng đất cho nhà thờ Phỏp lấy nhà thờ làm trụ sở truyền giỏo của mỡnh Hơn nữa, ở Phỳ Thọ, lực lượng dõn đi theo Cụng giỏo khỏ lớn nờn giỏo dõn cũng tớch cực đúng gúp cho nhà thờ Tới sau năm 1945, số lượng ruộng cú giảm do giỏo dõn di cư

Trang 13

ra nước ngoài, đi sơ tán và đặc biệt là do chính sách đem lại ruộng đất cho nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam nên một số nhà thờ phải nhường lại đất cho nông dân sở hữu cày cấy

Ruộng đất của đình chùa thì không có sự chuyển biến nhiều Trước năm 1945, ruộng đất đình chùa ít, do thực dân Pháp tìm cách phá hoại nhiều đình chùa của ta, phá hoại nền văn hoá của ta Do đó mà nhiều ruộng đất của đình chùa bị bỏ hoang Sau năm 1945, do chính sách khôi phục văn hoá của Đảng và nhà nước ta mà các đình chùa được tu bổ, xây dựng lại

Ruộng đất của nhà thờ họ qua các năm thì ít chuyển biến, chiếm ít diện tích, chủ yếu là do con cháu trong họ đóng góp và chủ yếu là họ lớn,

có kinh tế mới đóng góp được nhiều ruộng cho nhà thờ họ

Dưới ách đế quốc, kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế Phú Thọ nói riêng phát triển rất chậm, không cân đối, nước Việt Nam luôn lệ thuộc vào nước Pháp về mặt kinh tế cũng như chính trị và văn hóa, không thể phát triển một cách độc lập, tự chủ được

Trước cách mạng tháng Tám, dân cư Phú Thọ rất thưa thớt, nhất là các huyện miền núi, hầu như dân số không phát triển lên được: Theo số liệu trong Dư địa chí thì năm 1901 Phú Thọ có 259.000 người, năm 1932

có 275.000 người, năm 1939 có 301.500 người Nguyên nhân của tình trạng này là một phần do điều kiện sinh sống khó khăn, ăn ở không hợp vệ sinh, nạn sốt rét, nạn hữu sinh vô dưỡng đã cướp đi nhiều sinh mạng người, một phần khác, Phú Thọ là căn cứ địa của nhiều cuộc khởi nghĩa nên đã bị thực dân Pháp mở các cuộc hành quân chống phá, làm cho dân phải lưu tán

đi nơi khác Do dân cư thưa thớt nên dưới thời phong kiến cũng như thời Pháp thống trị, dân nghèo vùng đồng bằng đã lên đây khai khẩn lập nghiệp trở thành dân địa phương Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho biết: “Đất này vì bị binh lửa lâu ngày, hộ khẩu

Trang 14

điêu tán, mười phần chỉ còn độ năm ba mà thôi, nhân dân sợ hãi mà lưu tán, nên người hạt Sơn Tây lên khai khẩn ruộng hoang” [27, 267]

Thời kỳ Pháp thống trị, Phú Thọ là tỉnh có nhiều đồn điền, mà tá điền phần lớn là dân nghèo vùng đồng bằng do chủ chiêu mộ lên, mặt khác bọn thống trị thực dân đã khuyến khích dân nghèo vùng xuôi lên khai khẩn lập nghiệp Vì vậy dân số tăng thêm, một số xóm làng mới ra đời Như vậy, dân cư Phú Thọ là sự hoà quyện, hoà nhập một cộng đồng giữa người dân bản địa sống lâu đời ở địa phương với đồng bào các tỉnh khác chuyển đến xây dựng quê hương mới qua các thời kỳ từ lịch sử phong kiến, thời Pháp thống trí, đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trước cách mạng tháng Tám, Phú Thọ là tỉnh tập trung nhiều đồn điền, quá trình sở hữu ruộng đất, đồn điền của từng giai cấp trong dân cư Phú Thọ cũng khác nhau Ruộng đất tập trung chủ yếu trong tay giai cấp địa chủ và thực dân Pháp, chỉ còn một phần nhỏ ruộng đất là do nông dân

sở hữu Nông dân phải đi làm thuê, nộp tô, thuế cho địa chủ và tư bản Pháp, bị địa chủ người Việt và người Pháp bóc lột sức lao động và quyền dân chủ một cách cùng kiệt

Địa chủ ở Phú Thọ cũng có đặc điểm chung của giai cấp địa chủ

Việt Nam Để bóc lột nhân dân lao động, đế quốc Pháp vẫn duy trì chế độ bóc lột phong kiến, nuôi dưỡng chế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa một cách nặng nề Chúng tìm mọi cách mở rộng sự bóc lột theo lối phong kiến, làm cho nông dân sản xuất ra nhiều lúa gạo hơn nữa, nhưng phải mua hàng hóa của chúng và bán rẻ sức lao động cho chúng Nông dân không những bị địa chủ bóc lột mà còn bị tư bản đế quốc bóc lột Muốn bóc lột nông dân, bọn đế quốc đã làm cho tất cả nông dân phải mua hàng hóa của tư bản Pháp thông qua bọn địa chủ làm trung gian

Ở Phú Thọ, thực dân Pháp tạo điều kiện cho bọn tư bản Pháp và một

số địa chủ người Việt chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, lập đồn điền

Trang 15

Phú Thọ là tỉnh liên tiếp diễn ra các cuộc nổi dậy chống Pháp của nghĩa quân trong phong trào Cần Vương Thực dân Pháp coi tất cả ruộng đất của đồng bào đi sơ tán là ruộng đất vô chủ và ngang nhiên cấp cho tư bản Pháp lập đồn điền Các chủ đồn điền Pháp không những không phải bỏ tiền ra mua đất, mà còn được miễn thuế 5 năm liền Nhiều tên tư bản địa chủ lập tới ba, bốn đồn điền, diện tích chiếm đoạt lên tới hơn 2000 ha, tên ít nhất cũng chiếm 10 ha (tên Ru-ê (Rouet) có 4 đồn điền ở Thanh Sơn và Tam Nông rộng 1.595ha; Bi-sô (Bichot) có 3 đồn điền ở Phù Ninh diện tích 2.246ha; Đuy-sơ-manh có 2 đồn điền ở Đoan Hùng rộng 1.113ha…) Làm cho 80% nông dân Phú Thọ không có ruộng

Việc chiếm đất lập đồn điền của thực dân Pháp ở Phú Thọ tiến hành rất sớm, ngay trong thời gian đánh chiếm và bình định (1886 -1893) và kéo

dài cho đến khi Nhật đóng chiếm Phú Thọ Vì vậy, Phú Thọ là một trong

những tỉnh ở Bắc kỳ có nhiều đồn điền của Pháp và diện tích chiếm đoạt rất lớn Nếu tính từ tên địa chủ Pháp đầu tiên lập đồn điền ở Phú Thọ là tên

Đuy-sơ-manh (Duchemin) lập đồn điền ở Đoan Hùng với diện tích 500ha theo nghị định toàn quyền Đông Dương cấp ngày 4 tháng 5 năm 1889, đến tên cuối cùng là tên Rơniê (Renie) chiếm 22 ha ở Đồng Lương – Cẩm Khê năm 1942 thì toàn tỉnh Phú Thọ có cả thảy 23 tên địa chủ Pháp lập 45 đồn điền với tổng diện tích là 10.521 ha [1, 29] Tất nhiên số chủ đồn điền này Pháp này không cố định mà chúng mua đi bán lại cho nhau và bán lại cho các địa chủ người Việt

Trong các đồn điền của Pháp phần lớn trồng lúa, cây ăn quả với kỹ thuật canh tác thô sơ, lạc hậu, và hình thức bóc lột vẫn là tô thuế như thời phong kiến Cũng có một số tên bỏ vốn kinh doanh trồng cây công nghiệp như sơn, chè, cà phê và chăn nuôi đại gia súc, bóc lột theo lối tư bản Ở những đồn điền này, công nhân nông nghiệp hưởng lương theo ngày, mỗi ngày làm việc từ 10 –12 giờ dưới sự giám sát chặt chẽ của cai ký Số công

Trang 16

nhân làm trong các đồn điền Pháp một phần là nông dân trong tỉnh bị bần cùng hoá, bị mất ruộng, phần khác là nông dân đói khổ các tỉnh vùng đồng bằng lên

Chính quyền thực dân có cho xây dựng một số công trình tiểu thuỷ nông như cống đập, kênh mương và lập trại thí nghiệm Phú Hộ Nhưng các công trình và trại thí nghiệm này không phải là để “mở mang kinh tế”, là

“khai hoá” cho dân thuộc địa Việt Nam như chúng vẫn tuyên truyền, mà chủ yếu để phục vụ cho các đồn điền lớn, để bọn thực dân vơ vét của cải của nhân dân tỉnh ta ngày càng nhiều hơn Các công trình nghiên cứu của chúng thì chỉ có thể áp dụng được ở đồn điền còn người nông dân lao động thì không có điều kiện và không biết chữ để áp dụng

Địa chủ dựa vào thực dân Pháp và được thực dân Pháp nuôi dưỡng, chúng đã chiếm đoạt nhiều ruộng đất và bóc lột nông dân rất thậm tệ Có tên địa chủ đồn điền rộng tới 1360 ha như Trịnh Xuân Nghĩa ở Phù Ninh, nhiều tên khác đồn điền rộng 400-500 ha Theo số liệu của ty Địa chính Phú Thọ lập ngày 12 tháng 8 năm 1946 thì đến Cách mạng tháng Tám năm

1945, trừ hai huyện Thanh Ba và Hạc Trì chưa thống kê được, còn lại 9 huyện trong tỉnh có các đồn điền lớn, số địa chủ và diện tích chiếm đoạt như sau:

- 27 địa chủ người Việt chiếm 7018,1 ha lập 41 đồn điền

- 16 địa chủ người Pháp chiếm 6210,52 ha lập 22 đồn điền

- 2 địa chủ người Hoa chiếm 361,2 ha lập 2 đồn điền

Chỉ 45 địa chủ (Pháp, Việt, Hoa) chiếm 13589,83ha lập 65 đồn điền trên tổng số diện tích toàn tỉnh là 73.740 ha

Nếu kể cả các đồn điền nhỏ và số địa chủ nhỏ không đủ điều kiện lập đồn điền, chỉ cho phát canh thu tô thì tổng số ruộng đất giai cấp địa chủ đã chiếm đoạt lên tới gần 70% tổng số diện tích toàn tỉnh

Trang 17

Hình thức bóc lột của địa chủ: Địa chủ có 3 hình thức bóc lột chính:

bóc lột hoàn toàn phong kiến, bóc lột bán phong kiến, bóc lột tư bản Hình thức bóc lột của địa chủ trong các đồn điền là địa tô và nhân công tá điền được chủ giao trâu và giao ruộng để cày cấy, đến vụ thu hoạch tá điền phải trả công trâu và nộp địa tô Lấy đồn điền Phú Lộc của địa chủ Trịnh Xuân Nghĩa làm thí dụ: Đồn điền Phú Lộc có 500 tá điền, mỗi mẫu ruộng cấy lúa phải nộp 8 thúng thóc khô địa tô (mỗi thúng 25 kg); đất trồng sơn, sắn nộp

tô tiền, mỗi mẫu 2.5 đồng Trâu thuê mỗi năm nộp 10 đồng, 8 đồng hoặc 6 đồng tuỳ theo loại trâu khoẻ, trung bình hay yếu Ngày tết, giỗ, tá điền phải đến phục dịch và có lễ vật biếu chủ Ngoài số tá điền làm trong đồn điền, chủ còn thuê nhân công đến làm sơn, chè, cà phê, với giá công rất rẻ mạt, chỉ có 0,12 đồng đến 0,18 đồng một ngày, trong khi giá công làm thuê bên ngoài mỗi ngày là 0,2 đồng Vì bị bóc lột nên tá điền đấu tranh đòi giảm tô, đòi ruộng đất, nhưng các cuộc đấu tranh đòi giảm tô, đòi ruộng đất, nhưng các cuộc đấu tranh của tá điền đều bị chủ báo cho bọn thống trị đưa binh lính về đồn điền đàn áp, bắt giam người cầm đầu

Nói chung giai cấp địa chủ, nhất là đại địa chủ, cấu kết rất chặt chẽ với đế quốc Chúng nắm giữ bộ máy hào lý ở làng xã, bóc lột hà hiếp nông dân Chúng là đối tượng của cách mạng Tuy nhiên, trong cao trào chống Nhật cứu nước, do bị bọn Pháp – Nhật động chạm mạnh mẽ về quyền lợi

do tiếng vang của các chiến khu cách mạng dội về nên một số địa chủ nhỏ

có tinh thần yêu nước đã ủng hộ cách mạng, tham gia và cho con em tham gia các đoàn thể cứu quốc, một số gia đình họ là nơi lui tới của cán bộ cách mạng

Nông dân chiếm 90% dân số của tỉnh nhưng chỉ có 30% có diện tích

ruộng đất canh tác Bị mất ruộng, bị bần cùng hoá, nhiều nông dân đã phải lĩnh canh ruộng địa chủ nộp tô thuế, một số người đến làm tá điền ở các đồn điền lớn Vốn có mâu thuẫn truyền kiếp với giai cấp địa chủ phong

Trang 18

kiến, nên lại thêm mối hận thù sâu sắc với đế quốc Pháp, nên nông dân Phú Thọ đã tham gia hầu hết các phong trào yêu nước chống Pháp Từ khi được cán bộ Đảng giác ngộ, trở thành lực lượng chủ yếu hoạt động trong các phong trào và tổ chức cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Do thuỷ lợi không được chú ý, thiên tai dịch bệnh xảy ra thường xuyên, phương pháp canh tác vẫn lạc hậu như thời phong kiến, nên nhìn chung diện tích lúa chỉ cấy một vụ chiêm hoặc mùa, sản lượng lương thực rất thấp Theo Địa chí Phú Thọ năm 1931 tỉnh Phú Thọ có 38.400 ha cấy lúa, tổng sản lượng đạt 46.000 tấn, năng suất bình quân chỉ đạt hơn 10 tạ/ha (thống kê của Sở địa chính Phú Thọ)

Tư bản Pháp và địa chủ thẳng tay bóc lột nhân dân bằng chính sách thuế khoá rất nặng nề Thuế đinh (thuế thân) đánh vào xuất đinh từ 18 – 60 tuổi có từ thời phong kiến vẫn được thực dân Pháp duy trì và tăng cao dần Những huyện miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thực dân Pháp không thu thuế đinh mà thu thuế theo gia đình và theo từng dân tộc khác nhau Mỗi gia đình người Mường mỗi năm phải đóng 3,5 đồng, gia đình người Dao mỗi năm phải đóng 2 đồng Thuế điền đánh vào diện tích đất canh tác theo đầu mẫu gồm năm hạng: hạng nhất 2,5 đồng, hạng nhì 1,5 đồng, hạng ba 1 đồng, hạng tư 0,2 đồng và hạng năm 0,05 đồng một mẫu Phân bổ như vậy nhưng khi phân bổ thuế, bọn kỳ hào thường đánh đồng xấu tốt như nhau, nên người nông dân vừa ít ruộng lại phải đóng thuế thay cho bọn địa chủ có nhiều ruộng toàn ruộng tốt Riêng năm 1930, Phú Thọ

có 62.960 xuất đinh, phải đóng 151.220, 15 đồng thuế đinh và 192.762,16 đồng thuế điền; cả 2 loại thuế phải đóng là 343.982,31 đồng, tương đương với 7490 tấn thóc

Ngoài hai loại thuế trực thu (thuế đinh và thuế điền), nhân dân còn phải gánh chịu thuế gián thu đánh vào hàng hoá, cũng tức là đánh vào người tiêu dùng, nhất là hàng hoá thiết yếu đối với người dân như muối,

Trang 19

vải, dầu thắp Ở thị xã, ngoài thuế đinh, nhân dân phải đóng thuế thổ trạch, thuế xe cộ, thuế biển hàng…

Thuế khoá đủ loại và ngày càng tăng đã đem lại cho bọn thực dân nguồn thu lớn, còn đối với người nông dân là một tai họa Khi đến vụ thuế nhiều nông dân phải bán chạy tài sản vốn đã ít ỏi hoặc đến nhà địa chủ vay lãi với lãi suất cắt cổ để có tiền nộp thuế Những cảnh quan lại, ký hào sai tuần đinh bắt trói đánh những người dân thiếu thuế ở đình, ở điếm, năm nào cũng xảy ra Có người không đủ tiền nộp thuế phải nhận làm tá điền ở các đồn điền hoặc sợ bị tù, bị đánh mà phải bỏ làng trốn đi nơi khác kiếm ăn

Do đó vấn đề trước mắt mà Đảng bộ Phú Thọ cần phải giải quyết là vấn đề đem lại quyền dân chủ cho nông dân Nông dân trở thành một hạng

vô sản, bị đế quốc và địa chủ bóc lột tới tận xương tủy Trong khi địa chủ, thực dân chiếm tới 60-70% tổng số ruộng đất thì hơn 90% dân số chỉ có khoảng 30% Mức chiếm hữu ruộng đất khác nhau đã dẫn tới sự khác nhau căn bản về địa vị trong quá trình sản xuất về nguồn sống và mức sống Sự phân phối ruộng đất không đều cùng với phương thức khai thác những ruộng đất đó đã nói lên tính chất phong kiến và thuộc địa của chế độ ruộng đất ở Phú Thọ nói riêng cũng như của nước ta nói chung dưới thời Pháp thống trị Chế độ ruộng đất đó có xu hướng ngày càng bành trướng thêm lên bằng cách chèn ép và làm phá sản những người tiểu nông độc lập và nuốt chửng những mảnh đất nhỏ bé của họ Nó đặt tuyệt đại đa số nông dân Phú Thọ trong tình cảnh bần cùng, đói rách, và giam hãm nông dân trong vòng nghèo nàn, lạc hậu

Người nông dân bị dồn vào tình thế cùng quẫn bởi sưu cao, thuế nặng, địa tô nợ lãi cùng đủ mọi sự áp bức nghẹt thở ở nông thôn, cuối cùng phải rời bỏ vợ con và nơi chôn rau, cắt rốn, bán mình cho bọn chủ đồn điền

và nhận lấy một cuộc sống cơ cực, tù hãm, nô lệ thực sự

Trang 20

Nhìn chung trước cách mạng tháng Tám kinh tế nông nghiệp Phú Thọ cũng như nông dân trong tỉnh hoàn toàn phụ thuộc vào đế quốc thực dân Pháp và bọn tay sai Nhân dân Phú Thọ đặc biệt là người nông dân bị

áp bức về chính trị và bị bóc lột về kinh tế, bị chà đạp về văn hóa, họ bị bóc lột tàn nhẫn và nặng nề Một yêu cầu đặt ra cho Đảng bộ Phú Thọ là phải làm sao để thu hẹp và xóa bỏ phạm vi bóc lột của đế quốc và tay sai, đem lại quyền lợi cho người dân trong tỉnh, đặc biệt là nông dân

1.2 Thực hiện Chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

1.2.1 Từ năm 1945 tới tháng 12 năm 1946

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc đã có sự biến đổi căn bản Nếu như trước cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ chủ yếu là đấu tranh giành chính quyền thì ngày nay, nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh để củng cố chính quyền, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ quyền độc lập, tự do của dân tộc trong một tình thế "nghìn cân treo sợi tóc"

Sau ngày tuyên bố với quốc dân đồng bào và toàn thế giới về quyền

tự do, độc lập của Việt Nam, sáng ngày 3-9-1945, tại trụ sở của Chính phủ lâm thời ở Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách đang đặt ra trước chính phủ:

Vấn đề thứ nhất: Nhân dân đang đói

Vấn đề thứ hai: Nạn dốt…hơn 90% đồng bào chúng ta mù chữ

Vấn đề thứ ba: Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ

Vấn đề thứ tư: Chế độ thực dân đã đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân

Ngày đăng: 08/04/2017, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Phú Thọ (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, tập 1 (1939-1968), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
2. Ban chấp hành Trung ƣơng Hội nông dân Việt Nam, Viện lịch sử Đảng (1998), Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Việt Nam (1930-1945), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Việt Nam (1930-1945)
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Hội nông dân Việt Nam, Viện lịch sử Đảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998
3. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
4. Ban công tác nông thôn Trung ƣơng(1960), Nông dân Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám, Nhà xuất bản Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám
Tác giả: Ban công tác nông thôn Trung ƣơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông thôn
Năm: 1960
5. Ban tổng kết chiến tranh(1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp (thắng lợi và bài học), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp (thắng lợi và bài học)
Tác giả: Ban tổng kết chiến tranh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Bản tổng kết tình hình tô thuế tại xã Phú Xuân Huyện Lâm Thao-Phú Thọ. Tập 44, Hồ sơ 369, cặp 52, Tài liệu lưu tại Văn Phòng tỉnh ủy Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tổng kết tình hình tô thuế tại xã Phú Xuân Huyện Lâm Thao-Phú Thọ
7. Báo cáo 16 tháng kháng chiến từ 1/1/1947 tới 4/1948 của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ. Hồ sơ 105, Mục lục 02, Phông Phủ Thủ Tướng (giai đoạn 1945-1954). Trung tâm Lưu trữ quốc gia III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 16 tháng kháng chiến từ 1/1/1947 tới 4/1948 của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ
8. Báo cáo về chương trình hoạt động 6 tháng cuối năm 1949 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trích: Báo cáo tình hình chung trong năm 1949 của UBKCHC Phú Thọ. Hồ sơ 181, Mục lục 02, Phông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về chương trình hoạt động 6 tháng cuối năm 1949 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ
10. Báo cáo tổng kết giảm tô năm 1950. Tập 44, Hồ sơ 368, Cặp 52, Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết giảm tô năm 1950
11. Báo cáo về việc tạm cấp ruộng đất ở các đồn điền của Pháp, Hoa gian và Việt gian cho dân cày nghèo năm 1950 tỉnh Phú Thọ. Tập 48, Hồ sơ 25, cặp 12. Tài liệu lưu tại Văn phòng tỉnh ủy Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc tạm cấp ruộng đất ở các đồn điền của Pháp, Hoa gian và Việt gian cho dân cày nghèo năm 1950 tỉnh Phú Thọ
12. Báo cáo về công tác thuế nông nghiệp Phú Thọ 1951. Trích: Chỉ thị, báo cáo của BCH tỉnh, Đảng bộ UBKCHC tỉnh Phú Thọ về công tác thuế nông nghiệp năm 1951, Hồ sơ 2238, Mục lục 02, Phông Phủ Thủ tướng (giai đoạn 1945- 1954), Trung tâm lưu trữ Quốc gia III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác thuế nông nghiệp Phú Thọ 1951
13. Báo cáo tình hình Kinh tế tài chính từ 15/11 đến 15/12/ 1952. Hồ sơ 444, Mục lục 02, Phông Phủ Thủ tướng, Trung Tâm lưu trữ quốc gia III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình Kinh tế tài chính từ 15/11 đến 15/12/ 1952
15. Báo cáo của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ về thành tích 8 năm kháng chiến của tỉnh . Hồ sơ 578, Mục lục 02, phông Phủ Thủ Tướng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ về thành tích 8 năm kháng chiến của tỉnh
16. Bộ giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2005
17. Bộ giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (dùng trong các trường Đại học và Cao đẳng), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (tập 1). Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự Thật
Năm: 1975
19. Trường Chinh (1963), Tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên dưới lá cờ vẻ vang của Đảng
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự Thật
Năm: 1963
20. Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp (1959), Vấn đề dân cày, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân cày
Tác giả: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự Thật
Năm: 1959
21. Trường Chinh (1967), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự Thật
Năm: 1967
22. Công văn, Báo cáo của U.B.K.C.H.C Phú Thọ về việc giải quyết đơn khiếu nại về thuế nông nghiệp năm 1951-1953 (từ 28/10/1951 tới 17/01/1953). Hồ sơ 2519, Mục lục 02, Phông Phủ Thủ tướng, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn, Báo cáo của U.B.K.C.H.C Phú Thọ về việc giải quyết đơn khiếu nại về thuế nông nghiệp năm 1951-1953 (từ 28/10/1951 tới 17/01/1953)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích đất nông nghiệp phân bố ở Phú Thọ (đơn vị: ha)  (Nguồn: Sở nông nghiệp Phú Thọ, thống kê năm 1944) - Đảng bộ tỉnh phú thọ thực hiện chủ trương xóa bỏ dần dần phạm bi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945 1953)
Bảng 1.1 Diện tích đất nông nghiệp phân bố ở Phú Thọ (đơn vị: ha) (Nguồn: Sở nông nghiệp Phú Thọ, thống kê năm 1944) (Trang 10)
Bảng 1.3: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích của ruộng đất thờ - Đảng bộ tỉnh phú thọ thực hiện chủ trương xóa bỏ dần dần phạm bi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945 1953)
Bảng 1.3 Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích của ruộng đất thờ (Trang 12)
Bảng 1.2: Bảng thống kê diện tích ruộng của nhà thờ, đình chùa, nhà  thờ họ qua các năm  (đơn vị: Ha) - Đảng bộ tỉnh phú thọ thực hiện chủ trương xóa bỏ dần dần phạm bi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945 1953)
Bảng 1.2 Bảng thống kê diện tích ruộng của nhà thờ, đình chùa, nhà thờ họ qua các năm (đơn vị: Ha) (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w