TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHKHOA KINH TẾ BÁO CÁO MÔNKINH TẾ CÔNG CỘNG CHỦ ĐỀPHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGOẠI ỨNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA CÁC NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN KHU VỰC MIỀN TRUNG TÂY NGUYÊN Ở VIỆT NAM ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI. DANH SÁCH NHÓM (DH14KM)1. Đỗ Ngọc Phương Anh 141200742. Lê Thị Trang 141200573. Vũ Mạnh Quân 141201624. Nguyễn Thị Cẩm Tiên 14120055 5. Nguyễn Kim Ngân141200326. Bồ Thụy Ngọc Thuận 14120179 Học kỳ I_Năm học 20162017NỘI DUNG BÀI BÁO CÁODANH MỤC HÌNH1 DANH MỤC BẢNG2 CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU3I.Đặt vấn đề31.Giới thiệu32.Ý nghĩa4CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU6I.Mục tiêu nghiên cứu61.Mục tiêu chung62.Mục tiêu cụ thể6II.Phạm vi nghiên cứu6III.Bố cục nghiên cứu6IV.Phương pháp nghiên cứu6CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT8I.Khái niệm và phân loại ngoại ứng81.Khái niệm82.Phân loại8II.Đặc điểm của ngoại ứng8III.Sự phi hiệu quả của ngoại ứng91.Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực92.Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tích cực9IV.Giải pháp khắc phục ngoại ứng91.Các giải pháp tư nhân đối với ngoại ứng92.Các giải pháp chính phủ đối với ngoại ứng9CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ THỦY ĐIỆN KHU VỰC MIỀN TRUNGTÂY NGUYÊN11I.Thực trạng thủy điện của cả nước:11II.Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Miền Trung:11III.Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Tây Nguyên12CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGOẠI ỨNG14I.Ngoại ứng tích cực141.Cung cấp điện năng cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày142.Thúc đẩy phát triển kinh tế183.Cung cấp nguồn năng lượng sạch, giảm phát thải184.Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản195.Giúp chống lũ cho hạ du236.Phát triển du lịch ở nhà máy thủy điện237.Góp phần phát triển cơ sở hạ tầng24II.Ngoại ứng tiêu cực251.Nguyên nhân252.Các thành phần bị ảnh hưởng253.Các tác động đến nền kinh tế và xã hội253.1.Các tác động đến nền kinh tế253.1.1.Giảm lượng sản phẩm nông nghiệp từ các hộ dân sống trong khu vực, mất việc làm, đói khổ253.1.2.Nghề đánh bắt cá ở khu vực hạ lưu bị ảnh hưởng, làm mất đi thu nhập của người dân vùng hạ lưu.273.1.3.Vấn đề quy hoạch nhà ở không thỏa đáng, làm nhiều hộ dân không có đủ nhà ở và chi phí sinh hoạt293.2.Các tác động đến xã hội293.2.1.Thiếu nước sinh hoạt293.2.2.Mất rừng phòng hộ đầu nguồn và suy giảm đa dạng sinh học303.2.3.Hạn hán, sa mạc hóa hạ du và nhiễm mặn323.2.4.Úng ngập vào mùa lũ333.2.5.Các sự cố và rủi ro môi trường343.2.6.Các công ty thủy điện phát hành xả nước trong đập vào các thời điểm phù hợp với các hoạt động của họ chứ không quan tâm đến những ảnh hưởng sẽ có đối với vùng hạ lưu343.2.7.Những người di cư hầu như phải đối mặt với những khó khăn hơn của cuộc sống sau khi tái định cư.35CHƯƠNG 6: GIẢI PHÁP38I.Giải pháp về mặt môi trường38II.Giải pháp về mặt kinh tếxã hội391.Thực hiện chính sách công bố thông tin và nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng tái định cư thủy điện392.Đảm bảo nguồn lực sản xuất và sinh kế bền vững của cộng đồng tái định cư403.Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích thủy điện41CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ43I.Kết luận43II.Kiến nghị44TÀI LIỆU THAM KHẢO45 DANH MỤC HÌNH Hình 1Bản đồ Miền Trung – Tây NguyênHình 2Sơ đồ hệ thống điện Quốc gia Miền Trung – Tây nguyênHình 3Trạm bơm Tà PaoHình 4Nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động để phục vụ chống hạn.Hình 5Các hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện để phát triển sản xuấtHình 6Cảnh quan suối Đăk KeHình 7Bản đồ phân bố lượng nước thiếu trên 4 hệ thống sông vùng Tây NguyênHình 8Bản đồ phân bố lượng nước thiếu trên 4 hệ thống sông vùng Tây NguyênHình 9Tỷ lệ mất rừng theo khu vực từ năm 2001 đến 2013 của Việt NamHình 10Nhiều ngôi nhà chìm trong nước tại Hà TĩnhHình 11Nội dung của sinh kế bền vững đối với cộng đồng tái định cưHình 12Những quyền lợi và nghĩa vụ qua cơ chế chia sẻ lợi ích DANH MỤC BẢNGBảng 1Các dự án thuỷ điện lớn (công suất lắp máy >100 MW)ở Miền Trung – Tây Nguyên Bảng 2Các dự án thủy điện Miền Trung (công suất > 50 MW) và diện tích chiếm đất.Bảng 3Danh sách một số các hồ chứa Thủy điện trên địa bàn Miền TrungTây NguyênBảng 4Thống kê thiệt hại do thủy điện vào mùa khô trên địa bàn một số xã ở Miền trungTây NguyênBảng 5Thống kê thiệt hại do thủy điện vào mùa lũ trên địa bàn một số xã ở Miền TrungTây NguyênBảng 6Thống kê thiệt hại của ngư dân do thủy điện xả lũ tại một số tỉnhBảng 7Sinh kế của người dân thay đổi sau khi tái định cư do xây đập thủy điệnBảng 8Một số tác động chính và biện pháp giảm thiểu về mặt môi trường CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦUI. Đặt vấn đề: 1. Giới thiệu:Việt Nam có 8 vùng lưu vực sông lớn, Miền Trung Tây Nguyên là tên gọi chung để chỉ dải đất hẹp nằm giới hạn thành một khu vực. Phía Bắc giáp với vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng trung du miền Tây Bắc, phía Tây giáp với biên giới Lào và Campuchia, phía Đông nhìn ra Thái Bình Dương và phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà RịaVũng Tàu. (Theo VietNam Rives Network 2105) (Nguồn: Lê Anh Tuấn, Đặc Điểm sông ngòi miền TrungTây Nguyên)Hình 1: Bản đồ Miền Trung – Tây Nguyên. So với vùng đồng bằng Miền Bắc và Miền Nam thì vùng Miền Trung – Tây Nguyên có đặc điểm là khu vực hẹp, đất đai nghèo dinh dưỡng, địa hình dốc, dễ sạt lở và thường bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông ngắn, điều này ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền Trung Tây Nguyên. (Theo Centre for Social Research and Development – CSRD, 2015) Vùng Miền Trung – Tây Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển thuỷ điện do có sự chênh lệnh cao về độ đáng kể và lưu lượng dòng chảy trong mùa mưa khá lớn. Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 20112020 có xét đến năm 2030, sẽ đưa tổng công suất nguồn thủy điện từ 9.200 MW hiện nay lên 17.400 MW trong năm 2020, và đến năm 2030 thuỷ điện sẽ có tổng công suất khoảng 18.000 MW, chiếm 12% tổng lượng điện quốc gia. Các nhà máy thuỷ điện có công suất trên 30 MW (được xem là dự án thuỷ điện vừa và lớn) sẽ do cấp Bộ đầu tư quản lý, còn những nhà máy thuỷ điện nhỏ hơn 30 MW sẽ được cấp Tỉnh quyết định và quản lý. (Theo Bộ Công Thương Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 2020) Lưu vực sông của khu vực Miền Trung Tây Nguyên được xem là nơi có mật độ phát triển thuỷ điện cao nhất nước. Các nhà máy thuỷ điện phát triển theo thời gian đã góp phần gia tăng năng lượng điện cho quốc gia nói chung và khu vực Miền Trung Tây Nguyên nói riêng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các nhà máy thuỷ điện đã làm thay đổi chế độ dòng chảy của sông, gây tác động một phần đến môi trường tự nhiên cũng như đời sống kinh tế xã hội. (Theo Centre for Social Research and Development – CSRD, 2015)2. Ý nghĩa của việc phân tích ảnh hưởng, tác động từ ngoại ứng tích cực và tiêu cực của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền Trung Tây Nguyên:Năng lượng điện, trong đó thuỷ điện đã và đang góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá. Đồng thời nó cũng đem lại bộ mặt mới cho nhiều khu vực để từ đó giúp người dân có được cuộc sống hiện đại, tiện nghi và thuận lợi hơn. Các nhà máy thuỷ điện ra đời không chỉ cung cấp nguồn năng lượng điện với giá rẻ mà còn mang lại nhiều lợi ích khác như: cung cấp nguồn điện cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày, chống lũ cho hạ du, cấp nước tưới vào mùa khô, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch và làm thay đổi khí hậu theo chiều hướng tốt hơn, …Khi sử dụng tiềm năng của các dòng sông, không chỉ dừng lại ở mục tiêu phát triển nguồn năng lượng, con người còn biến nó thành động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Vì lợi ích của các đập thuỷ điện hết sức to lớn đã làm cho người ta quên mất mặt trái của nó, xem nhẹ hoặc chưa hiểu đầy đủ về những hậu quả nó mà nó gây ra. Việc tích nước hồ chứa có thể dẫn đến hàng loạt hecta rừng bị chìm ngập, gây xói mòn, huỷ hại môi trường, làm xáo trộn cuộc sống của một bộ phận dân cư đang sinh sống trong vùng lòng hồ, ngăn cản giao thông đường thủy, hạn chế vận tải hàng hóa, …Như vậy, những hậu quả mà các nhà máy thuỷ điện gây nên cho phúc lợi xã hội cũng không phải là nhỏ. Nhận thức được các ảnh hưởng trên, nhóm chúng em quyết định chọn chủ đề báo cáo là “phân tích ảnh hưởng, tác động từ ngoại ứng tích cực và tiêu cực của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền Trung Tây Nguyên”, nhằm thể hiện bức tranh tổng thể về vấn đề phát triển thuỷ điện ở Miền Trung Tây Nguyên, đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của các nhà máy thuỷ điện. Nghiên cứu và cung cấp thông tin đánh giá về tác động từ các yếu tố ngoại ứng đối với môi trường tự nhiên và đời sống kinh tế xã hội, phân tích rõ đâu là tác động tích cực, đâu là tác động tiêu cực, từ đó rút ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể và hiệu quả hơn. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU1. Mục tiêu nghiên cứu:1.1. Mục tiêu chung: “Phân tích các tác động và ảnh hưởng của các ngoại ứng do nhà máy thủy điện khu vực Miền TrungTây Nguyên đến đời sống kinh tếxã hội”.1.2. Mục tiêu cụ thể:•Nêu thực trạng, tình hình của các nhà máy thủy điện ở Miền TrungTây Nguyên.•Trình bày các tác động của ngoại ứng tích cực.•Nguyên nhân gây ra ngoại ứng tiêu cực và đối tượng chịu ảnh hưởng.•Trình bày tác động của các ngoại ứng tiêu cực trên các khía cạnh: Kinh tế, xã hội, môi trường.•Đưa ra giải pháp khắc phục cho các ngoại ứng tiêu cực.2. Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Miền TrungTây Nguyên, Việt Nam.3. Bố cục nghiên cứu:•Chương 1 Mở Đầu.•Chương 2: Mục tiêu nghiên cứu.•Chương 3: Tổng quan về lý thuyết.•Chương 4: Thực trạng về thủy điện khu vực Miền TrungTây Nguyên.•Chương 5: Phân tích tác động và ảnh hưởng của các ngoại ứng.•Chương 6 Giải pháp và kiến nghị•Chương 7: Kết luận.4. Phương pháp nghiên cứu:•Phương pháp luận: Kế thừa các tư liệu và phân tích các tài liệu thứ cấp.•Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê các ngoại ứng tích cực và ngoại ứng tích cực của vùng nghiên cứu. •Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu trên phần mềm EXCEL•Phương pháp thu thập dữ liệu: từ internet, tài liệu tham khảo, sách báo và các tài liệu có liên quan tới báo cáo.•Phương pháp phân tích: Từ những số liệu đã thu thập được phân tích đánh giá, thiết kế mô hình cần thiết, tính toán chi phí để thấy được sự cần thiết phải thay đổi hiện tại, từ đó rút ra kết luận. CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾTI. Khái niệm và phân loại ngoại ứng: 1. Khái niệm:Khi hành động của một đối tượng (có thể là cá nhân hoặc hãng) có ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của một đối tượng khác, nhưng những ảnh hưởng đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường thì ảnh hưởng đó được gọi là các ngoại ứng.2. Phân loại:Ngoại ứng có thể là ngoại ứng tiêu cực hoặc tích cực.•Ngoại ứng tiêu cực: Là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài người mua và người bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường.•Ngoại ứng tích cực: Là những lợi ích mang lại cho bên thứ ba (không phải là người mua và người bán), và lợi ích đó cũng không được phản ánh vào giá bán.II. Đặc điểm của ngoại ứng: Ngoại ứng, dù tích cực hay tiêu cực chúng đều có chung những đặc điểm sau:•Chúng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra.Ví dụ: Một nhà máy gây ô nhiễm là ngoại ứng tiêu cực do sản xuất.Một cá nhân hút thuốc lá làm nguy hiểm cho sức khỏe người ngồi xung quanh là ngoại ứng tiêu cực do tiêu dùng.•Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay mang lại lợi ích) cho ai nhiều khi chỉ mang tính tương đối.Ví dụ: Ngoại ứng không chỉ có thể nhìn dưới góc độ nhà máy gây thiệt hại cho ngư dân, mà trái lại cũng có thể phân tích dưới góc độ ngư trường của nông dân đã thu hẹp phạm vi hoạt động của nhà máy.•Sự phân biệt giữa tính chất tiêu cực và tích cực của ngoại ứng chỉ là tương đối.Ví dụ: Một lò nướng bánh có thể tạo ra ngoại ứng tích cực cho hàng xóm, nếu người bên cạnh có thể lợi dụng hơi nóng của lò cho hoạt động kinh doanh tẩy hấp quần áo của mình. Nhưng nó cũng có thể là ngoại ứng tiếu cực nếu nhà bên kinh doanh hàng đông lạnh.•Tất cả các ngoại ứng đều tạo ra phi hiệu quả, nếu xét dưới quan điển xã hội. Khi xuất hiện ngoại ứng, hoặc chi phí biên hoặc lợi ích biên của tư nhân không nhất trí với chi phí biên hoặc lợi ích biên xã hội. Do đó, mức sản xuất tối ưu thị trường cũng khác với mức hiệu quả xã hội.III. Sự phi hiệu quả của ngoại ứng:1. Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực:Ngoại ứng tiêu cực đã kích thích làm cho có quá nhiều doanh nghiệp trong ngành. Nền kinh tế không có hiệu quả, phần sản lượng vượt quá sẽ gây nên một tổn thất kinh tế vì ở đó chi phí xã hội để sản xuất một lượng hàng hóa lớn hơn lợi ích tiêu dùng lượng hàng hóa đó.2. Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tích cực:Tác động của ngoại vi tích cực dẫn đến kết quả là hàng hóa được sản xuất quá ít trên thị trường. Nền kinh tế không hiệu quả, tổn thất kinh tế được xác định bằng chi phí bỏ ra nhưng sản lượng đã bị hạn chế.IV. Giải pháp khắc phục ngoại ứng:1. Các giải pháp tư nhân đối với ngoại ứng:•Quy định quyền sở hữu tài sản: Coase cho rằng sự xuất hiện ngoại ứng xuất phát từ nguyên nhân thiếu một quy định rõ ràng về quyền sở hữu đối với các nguồn lực được các bên sử dụng chung.•Sáp nhập: Một cách để giải quyết vấn đề là “nội hóa” ngoại ứng bằng cách sáp nhập các bên có liên quan lại với nhau. Khi sáp nhập lợi nhuận của công ty liên doanh này sẽ cao hơn mức lợi nhuận đơn lẻ của từng bên khi họ chưa liên kết. Khi đó, liên doanh sẽ phải cân nhắc lợi ích của cả hai hoạt động và dừng lại ở mức sản lượng tối ưu xã hội, vì đó cũng là điểm mà lợi nhuận của liên doanh là lớn nhất.•Dùng dư luận xã hội: Khi ngoại ứng ảnh hưởng đến rất đông đối tượng (như cộng đồng dân cư chẳng hạn). Khi đó, người ta có thể sử dụng dư luận hoặc tập tục, lề thói xã hội làm một công cụ để buộc cá nhân phải lưu tâm đến ngoại ứng mà mình gây ra.2. Các giải pháp chính phủ đối với ngoại ứng:Trong những trường hợp giải pháp tư nhân không đủ hiệu lực để tạo ra một kết cục đạt hiệu quả, chính phủ sẽ phải can thiệp bằng nhiều cách:•Đánh thuế: Nguyên nhân khiến nhà máy sản xuất không hiệu quả là do giá cả đầu vào mà nhà máy phải trả để sản xuất đã không phản ánh đúng chi phí xã hội biên. Vì thế, một giải pháp rất tự nhiên được nhà kinh tế học người Anh A. Pigou đề nghị là đánh thuế ô nhiễm đối với nhà máy này. Thuế Pigou là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị sản xuất sản phẩm đầu ra của hãng gây ô nhiễm, sao cho nó đúng bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu xã hội.•Trợ cấp: Trong điều kiện người gây ô nhiễm là cố định thì có thể đạt được mức sản lượng hiệu quả bằng cách trả cho người gây ô nhiễm để họ giảm bớt mức độ gây ô nhiễm môi trường.•Hình thành thị trường về ô nhiễm: Do thiếu một thị trường về những nguồn lực được sử dụng chung như hồ nước, không khí sạch,… Điều này đã gợi ra một cách khắc phục ngoại ứng của chính phủ là bán giấy phép gây ô nhiễm hay còn gọi là giấy phép xả thải. Mức giá của những giấy phép (phí xả thải) này sẽ là mức giá cân bằng thị trường, sao cho lượng ô nhiễm sẽ đúng bằng mức mà chính phủ mong muốn. •Kiểm soát trực tiếp bằng mức chuẩn thải: Theo cách này, mỗi hãng gây ô nhiễm sẽ bị yêu cầu chỉ được gây ô nhiễm ở một mức nhất định, gọi là mức chuẩn thải, nếu không sẽ bị buộc đóng cửa.Tóm lại, sự xuất hiện của ngoại ứng thường đòi hỏi phải có những cách can thiệp khác nhau của chính phủ để đạt hiệu quả. Tuy vậy, thực hiện các chính sách can thiệp trong thực tế không phải vấn đề đơn giản. Không có một chính sách nào là hoàn hảo, nhưng các giải pháp như đánh thuế hay thiết lập thị trường về ô nhiễm được cho là hiệu quả hơn các giải pháp mang tính mệnh lệnh trực tiếp.(Nguồn: Giáo trình kinh tế công cộng – tái bản lần thứ nhất,TS. Vũ Cương PGS.TS. Phạm Văn Vận, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 2013) CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ THỦY ĐIỆN KHU VỰC MIỀN TRUNG TÂY NGUYÊNI. Thực trạng thủy điện của cả nước:Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng mưa trung bình hàng năm cao, khoảng 1.800 2.000mm. Với địa hình miền Bắc và biên giới miền Tây đồi núi cao, phía Đông là bờ biển dài trên 3.400km nên nước ta có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với hơn 3.450 hệ thống. Và với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên tiềm năng thuỷ điện của nước ta tương đối lớn. Theo tính toán lý thuyết, tổng công suất thuỷ điện của nước ta vào khoảng 35.000MW, trong đó 60% tập trung tại miền Bắc, 27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khu vực miền Nam. Tiềm năng kỹ thuật (tiềm năng có thể khai thác khả thi) vào khoảng 26.000MW, tương ứng với gần 970 dự án được quy hoạch, hàng năm có thể sản xuất hơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năng khoảng 15 20 tỉ kWhnăm. (theo Cơ quan hiệp hội năng lượng Việt Nam Thủy điện Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, 14092015) Theo báo cáo của Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương, hiện nay trên cả nước đã vận hành phát điện 268 dự án thủy điện (14.240,5 MW); đang thi công xây dựng 205 dự án (6.198,8 MW), dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017. Trong đó, khu vực miền Trung Tây Nguyên đã vận hành khai thác 118 dự án (5.978,2 MW); đang thi công xây dựng 75 dự án (1.945,2 MW), dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2015. Phát biểu tại cuộc họp, đánh giá hiệu quả của các dự án thủy điện. (Theo Bộ Công Thương Việt Nam Phát triển và quản lý thủy điện: Kiên quyết dừng các công trình vi phạm 25112015) Tại miền Trung và Tây Nguyên, rừng chiếm trên 50% và tạo ra nhiều nguồn tài nguyên dồi dào, trong đó có nguồn thủy năng dùng trong sản xuất điện. Với 3 lưu vực sông lớn là sông Ba, sông Sêsan Srêpôk và lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam.Trên các hệ thống sông này, các công trình thủy điện đã và đang mọc lên như nấm sau mưa đã bắt đầu bóp cổ những dòng sông này. (Theo Đoàn Tranh Phát triển bền vững thủy điện tại Miền Trung và Tây Nguyên 25082016) II. Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Miền Trung:Theo báo cáo của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia, tính đến đầu tháng 12016, nhiều hồ chứa của các nhà máy thủy điện ở miền Trung hụt nguồn nước dẫn đến tổng sản lượng điện thiếu hụt lên đến 3,2 tỷ kWh.Trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam) hiện có 6 hồ thủy điện, tổng công suất 870MW, với tổng dung tích hữu ích là 1,18 tỷ m3, trong đó có 4 hồ chứa có khả năng điều tiết đáp ứng nhu cầu nước hạ du là A Vương, Đăk Mi 4, Sông Tranh, Sông Bung 4. Trong năm 2015, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, lượng nước về các hồ chứa thiếu hụt từ 4060% so với trung bình nhiều năm, nhiều hồ trong suốt mùa mưa lũ không xuất hiện lũ A Vương. Cụ thể, tính đến thời điểm 132016, mực nước ở hồ A Vương ở mức 370,21m, thấp hơn 3,99m so với mực nước tối thiểu quy định của quy trình. Các nhà máy thủy điện lớn như A Vương, Sông Bung 4, Sông Tranh 2… ngoài việc các tổ máy hoạt động để đảm bảo sản lượng điện theo hợp đồng với các đối tác còn phải đảm bảo phân bổ nguồn nước hợp lý cho phía hạ du.Với nguồn nước dự trữ hiện tại, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn đã xảy ra ngay từ đầu năm tại thành phố Đà Nẵng bị nhiễm mặn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cung cấp nước sinh hoạt cho 900.000 hộ dân và 800 ha đất nông nghiệp (Theo Hà Minh Các nhà máy thủy điện ở Miền Trung 09032016, thoibao.today) Các tỉnh miền Trung Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ thiên tai bão lũ gây lo sợ, mà người dân ở khu vực này còn gánh chịu thêm những thảm hoạ bất ngờ do các hồ đập thuỷ điện gây ra.III. Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Tây Nguyên:Tây nguyên có 11 nhà máy thủy điện lớn đang vận hành với tổng công suất hơn 5.000MW, chiếm khoảng 25% tổng công suất nguồn điện của cả nước. Quy hoạch của ba tỉnh Gia Lai, Đắc Nông và Kontum có đến 257 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Theo Sở Công thương tỉnh Gia Lai, hiện tỉnh có bảy công trình thủy điện lớn do Tập đoàn Điện lực VN (EVN) đầu tư với công suất 1.871MW, trong đó trên dòng Sê San có bốn công trình (ba đang vận hành, một đang thi công), trên sông Ba có ba công trình đang thi công. Trong khi đó tổng số thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn Gia Lai là 113 với tổng công suất 549,781MW (chỉ bằng 110 tổng công suất 11 nhà máy thủy điện của EVN), trong đó có 21 nhà máy thủy điện đã vận hành.Tại Đắc Nông, trên lưu vực sông Đồng Nai (đoạn qua Đắc Nông) đang xây dựng ba nhà máy thủy điện lớn là Đồng Nai 3, 4 (tổng công suất 520MW, EVN làm chủ đầu tư), Đắc R’Tih (144MW Tổng công ty Xây dựng I làm chủ đầu tư). Các dự án này đều sẽ hoàn thành và phát điện lên lưới quốc gia trước năm 2012. Còn trên dòng Krông Nô Sêrêpôk có các nhà máy thủy điện vừa và lớn đã và đang được xây dựng: Buôn Tua Srah (86MW, EVN làm chủ đầu tư), Buôn Kuốp (280MW, EVN làm chủ đầu tư), Đray H’Linh II (16MW, Công ty cổ phần Điện lực 3 làm chủ đầu tư), Sêrêpôk III (220MW, EVN làm chủ đầu tư), Sêrêpôk IV (70MW, Công ty TNHH Đại Hải làm chủ đầu tư). (Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Đắc Nông, Tây nguyên: nhà nhà làm thủy điện 2014 tuổi trẻ online) Đối với hệ thống thuỷ điện vừa và nhỏ thuộc tỉnh Đắc Nông quản lý đã quy hoạch 70 dự án với tổng công suất 241,07MW và đến thời điểm này có 26 dự án đã vận hành. Tỉnh Kontum được xem là có nguồn thủy năng phong phú để phát triển thủy điện, chưa tính các công trình thủy điện quốc gia được đầu tư xây dựng trên hệ thống sông Sê San, Pô Kô, Đăk SNghé... Tỉnh này đã quy hoạch phát triển 74 công trình thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất khoảng 300MW. Đến nay đã có hai công trình thủy điện vừa và nhỏ khánh thành và đi vào hoạt động. Đó là thủy điện Đăk Rơ Sa nằm trên địa bàn hai xã Đăk Trăm và Ngọc Tụ, huyện Đăk Tô, có công suất 7,5MW. Kế đến là Nhà máy thủy điện Đăk Pô Ne 2 do Công ty TNHH Gia Nghi đầu tư xây dựng trên địa bàn xã Đăk Pờ Ne, huyện Kon Rẫy, tổng công suất 3,6MW. (Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Đắc Nông, Tây nguyên: nhà nhà làm thủy điện 2014 tuổi trẻ online) CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGOẠI ỨNGI. Ngoại ứng tích cực:Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên được đánh giá là vùng có tiềm năng thủy điện đứng thứ hai sau Miền Bắc, nhưng lại là khu vực tập trung nhiều nhà máy thủy điện nhất cả nước. Khoảng chục năm trở lại đây, phong trào đầu tư xây dựng thủy điện ồ ạt, dẫn đến sự xuất hiện dày đặc hệ thống thủy điện ở Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên gây thiệt hại đáng kể về môi trường và kinh tế xã hội trong thời gian qua. (Theo Lê Anh Đức 2014; Hồ, đập thủy điện: Lợi bất cập hạiBaomoi.com) Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận những lợi ích do công trình nhà máy thủy điện mang lại như: Thúc đẩy phát triển kinh tế, cung cấp một nguồn năng lượng sạch, góp phần vào phát triển bền vững, sử dụng nước đa mục tiêu, phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện công bằng xã hội…1. Cung cấp điện năng cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày:Theo Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia Giai đoạn 20112020 có xét đến năm 2030, sẽ đưa tổng công suất nguồn thủy điện từ 9.200 MW hiện nay lên 17.400 MW năm 2020, chiếm chừng 23% tổng lượng điện quốc gia. Đến năm 2030, thuỷ điện sẽ có tổng công suất là khoảng 18.000 MW (12% tổng lượng điện). Các dự án thuỷ điện có công suất lắp máy trên 30 MW (được xem là dự án thuỷ điện vừa và lớn) sẽ do cấp Bộ đầu tư và quản lý, còn những dự án thuỷ điện nhỏ hơn 30 MW sẽ được cấp Tỉnh quyết định và quản lý. Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) được Thủ tướng Chính phủ về việc giao thẩm định và phê duyệt quy hoạch các dòng sông nhỏ không thuộc dự án nghiên cứu Quy hoạch thủy điện Quốc gia (Công văn số 923CPCN ký ngày 0682002). (Nguồn: Bản đồ điện của Viện Năng Lượng, Bộ Công Thương)Hình 2: Sơ đồ hệ thống điện Quốc gia Miền Trung – Tây nguyên TTTênCông suấtTỉnhQuy hoạchVận hànhXây dựnglắp máy(MW)1Bác Ái1050Ninh ThuậnX2Yali720Gia LaiX3Sêsan 4330Gia LaiX4Hàm Thuận300Lâm ĐồngX5Đại Ninh300Lâm ĐồngX6Buôn Kuop280Đắc LắcX7Đồng Nai 4270Lâm ĐồngX8Sêsan 3260Gia LaiX9Thượng Kontum260KontumX10Đông Nai 3240Lâm ĐồngX11Sông Ba Hạ220Phú YênX12Srepok 3220Đắc LắcX13A Vương210Quảng NamX14Đakmi 1200Quảng NamX15Sông Tranh 2190Quảng NamX16Đa Mi175Hàm ThuậnX17KanakAn Khê173Gia LaiX18Đa Nhim160Lâm ĐồngX19A Sap150Thừa Thiên HuếX20Sông Bung 4145Quảng NamX21Đakmi 4140Quảng NamX22Plei Krong110KontumX23Sông Bung 2100Quảng Nam X(Nguồn: Tài liệu của bộ công thương 2015)Bảng 1: Các dự án thuỷ điện lớn (công suất lắp máy >100 MW)ở Miền Trung – Tây Nguyên Tên dự ánCông suất(MW)Diện tích chiếm đất (ha)Diện tíchcông suất (haMW)1Ka Nak132267.30174.412Sông Hinh705935.1084.793Pleikrông1003528.0053.284Buôn Tua Srah864097.1047.645Hương Điền813655.0045.126Krông Hnăng642584.5040.387Đồng Nai 31806116.0033.988Sông Đa Hạ2204808.7020.499Vĩnh Sơn661270.0019.2410Sê San 43605258.8014.6111Đăk Rtih1442060.9014.3112Quảng Trị64861.0013.4513Sông Tranh 21902343.2012.3314Srêpốk 32202276.8010.3515A Lưới1701690.009.9416Đại Ninh3002863.009.5417Sên San 3A108882.408.1718Srêpốk 480606.707.5819Đắt Mi 41901438.007.5720Sông Côn 263447.407.1021An Khê1601042.806.5222Ialy7204567.306.3423Đồng Nai 43401578.704.6424A Vương210941.604.4825Sông Bung 557219.503.8526Buôn Kuop2801037.303.7027Sê San 3260347.101.3428Sê San 4A6334.900.55 Tổng485966259.1013.64(Nguồn: Tài liệu của bộ công thương 2015)Bảng 2: Các dự án thủy điện miền Trung (công suất > 50 MW) và diện tích chiếm đất.2. Thúc đẩy phát triển kinh tếThông thường các công trình thuỷ điện có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng kéo dài, song hiệu quả cao và tuổi thọ đến 100 năm hoặc hơn. Về lâu dài mà nói thì không có công nghệ năng lượng nào rẻ bằng thuỷ điện. Các chi phí vận hành và bảo dưỡng hàng năm là rất thấp, so với vốn đầu tư và thấp hơn nhiều các nhà máy điện khác. Các nhà máy thủy điện khi đưa vào khai thác đã góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương, cải tạo môi trường xung quanh các hồ, góp phần đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống trong mùa khô ở vùng hạ du và khu vực xung quanh hồ chứa. Khi các công trình thủy điện hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ sản xuất một sản lượng điện năng lớn hoà vào lưới điện quốc gia, làm giảm tình trạng thiếu hụt điện năng trong cả nước cũng như tỉnh ta như hiện nay. Không những thế, việc phát triển thuỷ điện còn đem lại cơ hội cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh; tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương. Hàng năm, các nhà máy thủy điện đang vận hành tại khu vực này còn đóng góp cho ngân sách nhà nước và xã hội khoảng 6.500 tỷ đồng thông qua việc nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên nước. Công nghiệp thủy điện đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà đầu tư và đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh Tây NguyênMiền Trung nói riêng và cả nước nói chung. (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)3. Cung cấp nguồn năng lượng sạch, giảm phát thảiSo với nhiệt điện, thủy điện cung cấp một nguồn năng lượng sạch, hầu như không phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Góp phần vào phát triển bền vững. Về khía cạnh bền vững, thuỷ năng có tiềm năng rất lớn về bảo tồn hệ sinh thái, cải thiện khả năng kinh tế và tăng cường sự công bằng xã hội. Bằng cách sử dụng nguồn nước thay vì các loại nhiên liệu hoá thạch (đặc biệt là than), thuỷ điện giảm bớt ô nhiễm môi trường, giảm bớt các trận mưa axít, giảm axit hoá đất và các hệ thống thủy sinh. Thuỷ điện thải ra rất ít khí hiệu ứng nhà kính so với các phương án phát điện quy mô lớn khác, do vậy làm giảm sự nóng lên của trái đất. Lượng khí nhà kính mà thuỷ điện thải ra nhỏ hơn 10 lần so với các nhà máy tuabin khí chu trình hỗn hợp và nhỏ hơn 25 lần so với các nhà máy nhiệt điện than. Nếu tiềm năng thuỷ năng thực tế còn lại mà được sử dụng thay cho các nhà máy nhiệt điện đốt nhiên liệu hoá thạch thì hằng năm còn có thể tránh được 7 tỷ tấn khí thải nữa. Điều này tương đương với việc mỗi năm tránh được một phần ba các chất khí do con người thải ra hiện nay, hoặc ba lần các khí thải của xe hơi trên hành tinh. (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)4. Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản:4.1. Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệpThuỷ điện không tiêu thụ lượng nước mà nó đã dùng để phát điện, mà xả lại nguồn nước quan trọng này để sử dụng vào những việc khác. Hơn nữa, các dự án thuỷ điện còn sử dụng nước đa mục tiêu. Trên thực tế, hầu hết các đập và hồ chứa đều có nhiều chức năng như: cung cấp nước cho sản xuất lương thực. Hồ chứa còn có thể cải thiện các điều kiện nuôi trông thủy sản và vận tải thủy. Tuy nhiên, lợi ích cục bộ của một nhà máy thủy điện đôi lúc mâu thuẫn với chức năng căn bản của một hồ chứa. Ví dụ, trong mùa khô hạn, nhà máy có thể quyết định ngưng phát điện trong một thời gian nào đó (nghĩa là không xả nước về hạ lưu) vì nhiều lý do khác nhau (ví dụ để sửa chữa tuốc bin). Tương tự trong mùa lũ, nhà máy có thể giữ mực nước hồ cao (để tăng công suất phát điện) do đó làm giảm khả năng điều tiết lũ của hồ chứa. Để phát huy được tối đa tài nguyên nước, các cơ quan chức năng với vai trò là người quản lý tài nguyên và điều hòa lợi ích chung cho cả khu vực cần có những quy định hợp lý trong việc vận hành các nhà máy thủy điện để bảo đảm tài nguyên nước được sử dụng một cách công bằng và hiệu quả cho toàn xã hội. (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)Cụ thể là vào mùa khô năm 2015 tại khu vực Tây NguyênMiền Trung, các nhà máy thủy điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam tại đây đều tham gia xả nước chống hạn, phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho người dân vùng hạ du. (Nguồn: Ảnh: VGPToàn Thắng)Hình 3: Trạm bơm Tà Pao, huyện Tánh Linh, Bình Thuận xả nước để người dân bơm vào hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất. Ông Trương Văn Thưởng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh, Bình Thuận cho biết: “Hằng năm các hồ thủy điện của EVN đã làm tốt công tác cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Nhờ đó góp phần tăng vụ, nâng cao năng suất cho người dân”. (Theo Toàn Thắng, Thủy điện miền Trung, Tây Nguyên xả nước chống hạn 21042106, Baochinhphu.vn) Còn vào năm 2016, do ảnh hưởng của El Nino, mực nước tại các hồ thủy điện trên tại các địa phương ở miền Trung xuống thấp, trong đó nhiều hồ đã ở mực nước chết. Để đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân ở vùng hạ du theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa, các nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động. (Nguồn: Báo điện tử tài nguyên và môi trường, Các nhà máy thủy điện hạ công suất phục vụ chống hạn)Hình 4: Nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động để phục vụ chống hạn. Điển hình là hồ chứa thủy điện A Vương chỉ tích được đến mức 361,6m; thiếu 18,4m so với mực nước dâng bình thường. Kể từ khi nhà máy đi vào vận hành đến nay, đây là năm khô hạn nhất về lưu lượng nước về. Đến hết quý 12016, Nhà máy thủy điện A Vương mới sản xuất được 4 triệu kWh điện, chưa bằng 1% so với kế hoạch năm. (Theo Minh Đường, Nho Quan tích cực chống hạn cho vụ sản xuất đông xuân 022016, Baoninhbinh.org.vn) Theo Quyết định 1537QĐTTg ngày 792015, trong thời gian này Nhà máy thủy điện A Vương không phát điện mà chủ yếu tập trung tích nước hồ chứa để đối phó với tình hình hạn hán, chống hạn cho hạ du diễn ra trong năm 2016 theo sự điều hành của UBND tỉnh Quảng Nam. Tương tự, hiện mực nước tại Nhà máy thủy điện Đakdrinh, ở huyện Sơn Tây đang xuống rất thấp, chỉ đủ cho 1 tổ máy vận hành từ 1315 giờngày, tương đương 13 công suất. Để giữ nước phục vụ nước tưới tiêu nên nhà máy phát với công suất thấp để phục vụ vào những tháng cao điểm theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn và của tỉnh. (Theo Lan AnhAnh Dũng, Miền Trung: Các nhà máy thủy điện hạ công suất phục vụ chống hạn 06042016, Baotainguyenmoitruong.vn)4.2. Cung cấp nước cho nuôi trồng thủy sản:Thêm vào đó, để phát huy lợi thế hồ thủy điện, những năm qua đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển nghề cá. Vì vậy, nghề nuôi trồng thủy sản của địa phương đã phát triển khá nhanh về diện tích, tăng sản lượng, thu được giá trị cao, đồng thời tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. (Theo Vũ Quang Đán, Phát triển nghề cá trên lòng Hồ Điện 14112016, Baotintuc.vn) (Nguồn: EVN Tập đoàn điện lực Việt Nam, Phát triển nghề cá trên lòng hồ thủy điện)Hình 5 : Các hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện để phát triển sản xuất Điển hình là Tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích hồ chứa thủy lợi, thủy điện và hồ chứa tự nhiên khá lớn, với 98 hồ trên 7 huyện và thị xã, tổng dung tích hơn 1.189 triệu m3, khoảng 5.300ha. Nuôi trồng thuỷ sản được xem là một thế mạnh của tỉnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm đa dạng hoá các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện để sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn nguồn lợi và tài nguyên thiên nhiên. (Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, Phát triển nuôi cá hồ chứa thủy lợi, thủy điện 092015, snnptnt.thuathienhue.gov.vn)STTXãTên hồDung tích (tr.m3)Chiều cao lớn nhất (m)Loại hồ1Hồng ThượngThủy điện A Lưới60.218Thủy điện2Hương TràThủy điện Hương Vân206.725Thủy điện3Bình ThànhBình Điền344.430Thủy điện4Hương ThủyHồ Tả Trạch64660Thủy điện, thủy lợi(Nguồn: Tổng hợp Sở Nông nghiệp và PTNT 2015)Bảng 3: Danh sách một số các hồ chứa Thủy điện trên địa bàn Miền TrungTây Nguyên5. Giúp chống lũ cho hạ du:Các hồ thủy điện vừa, nhỏ ở miền Trung và Tây nguyên vừa được xây dựng còn có nhiệm vụ, chức năng là bố trí dung tích chống lũ cho hạ du giúp chống lũ và ngập lục cho hạ du. Cụ thể là trong mùa mưa lũ 2015. Hệ thống bậc thang các thủy điện và hồ chứa nước khổng lồ như Ialy, Sêsan, A Vương... không gây ngập lụt cho hạ du, mà ngược lại còn góp phần chống lũ, bảo đảm an toàn cho đê sông Sêsan. Vào năm 112016, tại Bình Thuận, hệ thống các đập tràn và thủy điện vẫn đang tích nước trên 90% công suất để chống lũ. Tại Khánh Hòa, các hồ chứa trên địa bàn tỉnh đã tích được trên 193 triệu m3 nước, chiếm 78% tổng dung tích. Tại thủy điện Sông Hinh – Phú Yên vẫn đang tăng cường tích nước phòng lũ. Hơn thế nữa, các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận khẳng định công tác chống lũ vẫn trong tầm kiểm soát và đã xây dựng nhiều kịch bản ứng phó nếu xảy ra tình huống xấu. (Triển khai biện pháp chống lũ 112016, Daubao.com)6. Phát triển du lịch ở nhà máy thủy điện:Với tiềm năng của vùng hồ thủy điện, tỉnh đã ban hành những chủ trương chính sách để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội vùng hồ thủy. Phát triển theo hướng du lịch tham quan, sinh thái, du lịch cộng đồng, du lich nghỉ dưỡng cuối tuần. Các hoạt động du lịch, gồm: tham quan hồ thủy điện, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, khám phá hang động, du lịch điều dưỡng chữa bệnh gắn với nước khoáng nóng, du lịch văn hóa lịch sử tâm linh, du lịch thể thao, mạo hiểm, vui chơi giải trí cao cấp trên núi và trên mặt nước. (Theo Huy Ngoan, Phát huy lợi thế du lịch vùng hồ thủy điện 102016, baonhandan.com) Cụ thể vào năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 298QĐTTg ngày 05 tháng 02 năm 2013 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng Vùng du lịch sinh thái Măng Đen và quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên huyện Kon Plong, trong đó suối Đăk Ke và thác Đăk Ke hạ lưu của đập hồ B thuộc công trình thủy điện Đăk Pône, đều nằm trong dự án Vùng du lịch sinh thái Măng Đen. (Theo Số: 298QĐTTg Thủ tướng chính phủ, Xây dựng vùng du lịch sinh thái Tỉnh Kon Tum 05022013, Thuvienphapluat.vn) (Nguồn: Tổng công ty điện lực miền Trung, Tạo cảnh quan để phát triển du lịch ở Nhà máy thủy điện Đăk Pône)Hình 6 : Cảnh quan suối Đăk KeViệc ban hành Đề án thể hiện tầm chiến lược phát triển lâu dài nhằm phát huy tiềm năng các vùng hồ thủy điện trên địa bàn tỉnh. Đề án sẽ góp phần đánh giá và làm rõ thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực, dự báo những thuận lợi, khó khăn để đề ra những định hướng cho phát triển các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh trong giai đoạn tới. Đồng thời là cơ sở để các cấp, các ngành cụ thể hóa thành kế hoạch, cơ chế chính sách thu hút, hỗ trợ nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội vùng hồ phát triển; trong đó, khai thác tiềm năng du lịch là một trong những nội dung quan trọng. (Theo Huy Ngoan, Phát huy lợi thế du lịch vùng hồ thủy điện 102016, baonhandan.com)7. Góp phần phát triển cơ sở hạ tầngNgoài ra, thu nhập nhờ bán điện còn cho phép tài trợ cho các nhu cầu hạ tầng cơ sở cơ bản khác, cũng như để xoá đói giảm nghèo cho những người dân bị ảnh hưởng bởi việc xây dựng thuỷ điện, và cộng đồng dân cư nói chung. Đối với một số dự án thủy điện nằm trên địa phận của 2 tỉnh khác nhau, ngoài những lợi ích kinh tế mang lại cho các địa phương như bao dự án thủy điện khác, các dự án này chính là cầu nối cho sự liên kết cùng phát triển giữa các địa phương. Chẳng hạn, Dự án Thủy điện Krông H’năng có công suất 64 MW, lượng điện bình quân 247,7 triệu kWh, tổng vốn đầu tư 1.569,2 tỷ đồng nằm trên địa phận 2 tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk. Chính quyền địa phương hai tỉnh này đều có chung lập trường là tạo điều kiện tốt nhất để chủ đầu tư triển khai dự án, trên cơ sở đó dự án sẽ góp phần đáng kể trong việc giúp tỉnh Đắk Lắk cải thiện hạ tầng giao thông vùng dự án, góp phần nâng cao đời sống vật chất của người dân do trước đây giao thông đường xá xuống cấp không thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, buôn bán và mang lại tiềm năng khai thác du lịch trong tương lai gần. Trong khi đó, hồ chứa nước của Dự án sẽ hỗ trợ đắc lực cho vùng đồng bằng tỉnh Phú Yên phát triển nông nghiệp…(Báo Đầu Tư, Công ty lưới điện cao thế Miền Trung 10092010, cgc.vn). Có thể nói, các dự án thủy điện tại miền Trung tuy quy mô chưa lớn so với các dự án thủy điện khu vực phía Bắc, nhưng tiềm năng khai thác rất lớn, đã tạo nên những cơ hội mới cho các tỉnh miền Trung thu hút đầu tư, tăng nguồn thu ngân sách, cải thiện cuộc sống của người dân các khu vực miền núi khó khăn… Và xa hơn, tổng hợp các dự án này lại, có thể cho rằng, miền Trung sẽ là vùng đất cung cấp năng lượng khá lớn cho sự phát triển chung của cả nước trong tương lai.II. Ngoại ứng tiêu cực:1. Nguyên nhân:Các công trình thủy điện làm mất diện tích đất của người dân, chặt rừng phòng hộ.Trong quá trình hoạt động của các đập thủy điện, làm thay đổi lưu lượng nước sông, thay đổi dòng chảy gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và người dân khu vực hạ lưu sông.2. Các thành phần bị ảnh hưởng:Người dân sống ở khu vực, đặt biệt là người nghèo, họ bị mất đất làm nhà ở,làm nông nghiệp, canh tác,…Môi trường khu vực, cụ thể là diện tích rừng, chất lượng nước sông có đập thủy điện,…3. Các tác động đến nền kinh tế và xã hội:3.1. Các tác động đến nền kinh tế 3.1.1. Giảm lượng sản phẩm nông nghiệp từ các hộ dân sống trog khu vực, mất việc làm, đói khổVì quá phụ thuộc vào thời tiết mà nhiều công trình thủy điện không thể phát huy hết công suất vào mùa hè, hay buộc phải xả nước thay vì phát điện để phục vụ cấp nước cho thủy lợi, gây ra lũ lụt lớn phía hạ lưu vào mùa mưa. Việc xả lũ của hồ thủy điện A Vương, và thủy điện Sông Ba Hạ đã làm tổn thất về ngư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NAM ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI
Trang 2DANH MỤC HÌNH 1
DANH MỤC BẢNG 2
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 3
I Đặt vấn đề 3
1 Giới thiệu 3
2 Ý nghĩa 4
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
I Mục tiêu nghiên cứu 6
1 Mục tiêu chung 6
2 Mục tiêu cụ thể 6
II Phạm vi nghiên cứu 6
III Bố cục nghiên cứu 6
IV Phương pháp nghiên cứu 6
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 8
I Khái niệm và phân loại ngoại ứng 8
1 Khái niệm 8
2 Phân loại 8
II Đặc điểm của ngoại ứng 8
III Sự phi hiệu quả của ngoại ứng 9
1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực 9
2 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tích cực 9
IV Giải pháp khắc phục ngoại ứng 9
1 Các giải pháp tư nhân đối với ngoại ứng 9
2 Các giải pháp chính phủ đối với ngoại ứng 9
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ THỦY ĐIỆN KHU VỰC MIỀN TRUNG-TÂY NGUYÊN 11
I Thực trạng thủy điện của cả nước: 11
II Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Miền Trung: 11
III Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Tây Nguyên 12
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGOẠI ỨNG 14
Trang 31 Cung cấp điện năng cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày 14
2 Thúc đẩy phát triển kinh tế 18
3 Cung cấp nguồn năng lượng sạch, giảm phát thải 18
4 Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 19
5 Giúp chống lũ cho hạ du 23
6 Phát triển du lịch ở nhà máy thủy điện 23
7 Góp phần phát triển cơ sở hạ tầng 24
II Ngoại ứng tiêu cực 25
1 Nguyên nhân 25
2 Các thành phần bị ảnh hưởng 25
3 Các tác động đến nền kinh tế và xã hội 25
III.1 Các tác động đến nền kinh tế 25
III.1.1 Giảm lượng sản phẩm nông nghiệp từ các hộ dân sống trong khu vực, mất việc làm, đói khổ 25
III.1.2 Nghề đánh bắt cá ở khu vực hạ lưu bị ảnh hưởng, làm mất đi thu nhập của người dân vùng hạ lưu 27
III.1.3 Vấn đề quy hoạch nhà ở không thỏa đáng, làm nhiều hộ dân không có đủ nhà ở và chi phí sinh hoạt 29
III.2 Các tác động đến xã hội 29
III.2.1 Thiếu nước sinh hoạt 29
III.2.2 Mất rừng phòng hộ đầu nguồn và suy giảm đa dạng sinh học 30
III.2.3 Hạn hán, sa mạc hóa hạ du và nhiễm mặn 32
III.2.4 Úng ngập vào mùa lũ 33
III.2.5 Các sự cố và rủi ro môi trường 34
III.2.6 Các công ty thủy điện phát hành xả nước trong đập vào các thời điểm phù hợp với các hoạt động của họ chứ không quan tâm đến những ảnh hưởng sẽ có đối với vùng hạ lưu .34
III.2.7 Những người di cư hầu như phải đối mặt với những khó khăn hơn của cuộc sống sau khi tái định cư 35
CHƯƠNG 6: GIẢI PHÁP 38
I Giải pháp về mặt môi trường 38
II Giải pháp về mặt kinh tế-xã hội 39
1 Thực hiện chính sách công bố thông tin và nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng tái định cư thủy điện 39
2 Đảm bảo nguồn lực sản xuất và sinh kế bền vững của cộng đồng tái định cư 40
3 Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích thủy điện 41
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
I Kết luận 43
II Kiến nghị 44
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Bản đồ Miền Trung – Tây Nguyên
Hình 2 Sơ đồ hệ thống điện Quốc gia Miền Trung – Tây nguyên
Hình 4 Nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động để phục vụchống hạn.Hình 5 Các hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện để phát triển sản xuất
Hình 6 Cảnh quan suối Đăk Ke
Hình 7 Bản đồ phân bố lượng nước thiếu trên 4 hệ thống sông vùng Tây Nguyên
Hình 8 Bản đồ phân bố lượng nước thiếu trên 4 hệ thống sông vùng Tây Nguyên
Hình 9 Tỷ lệ mất rừng theo khu vực từ năm 2001 đến 2013 của Việt Nam
Hình 10 Nhiều ngôi nhà chìm trong nước tại Hà Tĩnh
Hình 11 Nội dung của sinh kế bền vững đối với cộng đồng tái định cư
Hình 12 Những quyền lợi và nghĩa vụ qua cơ chế chia sẻ lợi ích
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 ở Miền Trung – Tây Nguyên Các dự án thuỷ điện lớn (công suất lắp máy >100 MW)
Bảng 2 Các dự án thủy điện Miền Trung (công suất > 50 MW) và diện tích chiếm đất
Bảng 3 Danh sách một số các hồ chứa Thủy điện trên địa bàn Miền Trung-Tây Nguyên
Bảng 4 Tây NguyênThống kê thiệt hại do thủy điện vào mùa khô trên địa bàn một số xã ở Miền Bảng 5 Tây NguyênThống kê thiệt hại do thủy điện vào mùa lũ trên địa bàn một số xã ở Miền Trung-Bảng 6 Thống kê thiệt hại của ngư dân do thủy điện xả lũ tại một số tỉnh
trung-Bảng 7 Sinh kế của người dân thay đổi sau khi tái định cư do xây đập thủy điện
Bảng 8 Một số tác động chính và biện pháp giảm thiểu về mặt môi trường
Trang 7Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu (Theo VietNam Rives Network 2105)
(Nguồn: Lê Anh Tuấn, Đặc Điểm sông ngòi miền Trung-Tây Nguyên)
Hình 1: Bản đồ Miền Trung – Tây Nguyên.
So với vùng đồng bằng Miền Bắc và Miền Nam thì vùng Miền Trung – Tây Nguyên có đặc điểm làkhu vực hẹp, đất đai nghèo dinh dưỡng, địa hình dốc, dễ sạt lở và thường bị chia cắt bởi nhiều nhánh
Trang 8sông ngắn, điều này ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền
Trung - Tây Nguyên (Theo Centre for Social Research and Development – CSRD , 2015)
Vùng Miền Trung – Tây Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển thuỷ điện do có sự chênh lệnh cao về
độ đáng kể và lưu lượng dòng chảy trong mùa mưa khá lớn Theo quy hoạch phát triển điện lực quốcgia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, sẽ đưa tổng công suất nguồn thủy điện từ 9.200 MWhiện nay lên 17.400 MW trong năm 2020, và đến năm 2030 thuỷ điện sẽ có tổng công suất khoảng18.000 MW, chiếm 12% tổng lượng điện quốc gia Các nhà máy thuỷ điện có công suất trên 30 MW(được xem là dự án thuỷ điện vừa và lớn) sẽ do cấp Bộ đầu tư quản lý, còn những nhà máy thuỷ điện
nhỏ hơn 30 MW sẽ được cấp Tỉnh quyết định và quản lý (Theo Bộ Công Thương- Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020)
Lưu vực sông của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên được xem là nơi có mật độ phát triển thuỷđiện cao nhất nước Các nhà máy thuỷ điện phát triển theo thời gian đã góp phần gia tăng năng lượngđiện cho quốc gia nói chung và khu vực Miền Trung - Tây Nguyên nói riêng Tuy nhiên, sự xuất hiệncủa các nhà máy thuỷ điện đã làm thay đổi chế độ dòng chảy của sông, gây tác động một phần đến môi
trường tự nhiên cũng như đời sống kinh tế - xã hội (Theo Centre for Social Research and Development – CSRD , 2015)
2 Ý nghĩa của việc phân tích ảnh hưởng, tác động từ ngoại ứng tích cực và tiêu cực của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền Trung - Tây Nguyên:
Năng lượng điện, trong đó thuỷ điện đã và đang góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hoá và công nghiệphoá Đồng thời nó cũng đem lại bộ mặt mới cho nhiều khu vực để từ đó giúp người dân có được cuộcsống hiện đại, tiện nghi và thuận lợi hơn
Các nhà máy thuỷ điện ra đời không chỉ cung cấp nguồn năng lượng điện với giá rẻ mà còn manglại nhiều lợi ích khác như: cung cấp nguồn điện cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày, chống lũ cho
hạ du, cấp nước tưới vào mùa khô, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch và làm thay đổi khí
Trang 9tiêu phát triển nguồn năng lượng, con người còn biến nó thành động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế
-xã hội
Vì lợi ích của các đập thuỷ điện hết sức to lớn đã làm cho người ta quên mất mặt trái của nó, xemnhẹ hoặc chưa hiểu đầy đủ về những hậu quả nó mà nó gây ra Việc tích nước hồ chứa có thể dẫn đếnhàng loạt hecta rừng bị chìm ngập, gây xói mòn, huỷ hại môi trường, làm xáo trộn cuộc sống của một
bộ phận dân cư đang sinh sống trong vùng lòng hồ, ngăn cản giao thông đường thủy, hạn chế vận tảihàng hóa, …Như vậy, những hậu quả mà các nhà máy thuỷ điện gây nên cho phúc lợi xã hội cũngkhông phải là nhỏ
Nhận thức được các ảnh hưởng trên, nhóm chúng em quyết định chọn chủ đề báo cáo là “ phân tích ảnh hưởng, tác động từ ngoại ứng tích cực và tiêu cực của các nhà máy thuỷ điện ở khu vực Miền Trung - Tây Nguyên”, nhằm thể hiện bức tranh tổng thể về vấn đề phát triển thuỷ điện ở Miền Trung -
Tây Nguyên, đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của các nhà máy thuỷ điện Nghiên cứu vàcung cấp thông tin đánh giá về tác động từ các yếu tố ngoại ứng đối với môi trường tự nhiên và đờisống kinh tế - xã hội, phân tích rõ đâu là tác động tích cực, đâu là tác động tiêu cực, từ đó rút ra các giảipháp, kiến nghị cụ thể và hiệu quả hơn
Trang 10CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu nghiên cứu:
1.1 Mục tiêu chung:
“Phân tích các tác động và ảnh hưởng của các ngoại ứng do nhà máy thủy điện khu vực Miền Tây Nguyên đến đời sống kinh tế-xã hội”
Trung-1.2 Mục tiêu cụ thể:
• Nêu thực trạng, tình hình của các nhà máy thủy điện ở Miền Trung-Tây Nguyên
• Trình bày các tác động của ngoại ứng tích cực
• Nguyên nhân gây ra ngoại ứng tiêu cực và đối tượng chịu ảnh hưởng
• Trình bày tác động của các ngoại ứng tiêu cực trên các khía cạnh: Kinh tế, xã hội, môi trường
• Đưa ra giải pháp khắc phục cho các ngoại ứng tiêu cực
2 Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Miền Trung-Tây Nguyên, Việt Nam.
3 Bố cục nghiên cứu:
• Chương 1 Mở Đầu
• Chương 2: Mục tiêu nghiên cứu
• Chương 3: Tổng quan về lý thuyết
• Chương 4: Thực trạng về thủy điện khu vực Miền Trung-Tây Nguyên
• Chương 5: Phân tích tác động và ảnh hưởng của các ngoại ứng
• Chương 6 Giải pháp và kiến nghị
• Chương 7: Kết luận
4 Phương pháp nghiên cứu:
• Phương pháp luận: Kế thừa các tư liệu và phân tích các tài liệu thứ cấp
• Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê các ngoại ứng tích cực và ngoại ứng tích cực của vùngnghiên cứu
• Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu trên phần mềm EXCEL
• Phương pháp thu thập dữ liệu: từ internet, tài liệu tham khảo, sách báo và các tài liệu có liênquan tới báo cáo
• Phương pháp phân tích: Từ những số liệu đã thu thập được phân tích đánh giá, thiết kế mô hìnhcần thiết, tính toán chi phí để thấy được sự cần thiết phải thay đổi hiện tại, từ đó rút ra kết
Trang 12CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
I Khái niệm và phân loại ngoại ứng:
1 Khái niệm:
Khi hành động của một đối tượng (có thể là cá nhân hoặc hãng) có ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợicủa một đối tượng khác, nhưng những ảnh hưởng đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trườngthì ảnh hưởng đó được gọi là các ngoại ứng
2 Phân loại:
Ngoại ứng có thể là ngoại ứng tiêu cực hoặc tích cực
• Ngoại ứng tiêu cực: Là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài người mua vàngười bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường
• Ngoại ứng tích cực: Là những lợi ích mang lại cho bên thứ ba (không phải là người mua vàngười bán), và lợi ích đó cũng không được phản ánh vào giá bán
II Đặc điểm của ngoại ứng:
Ngoại ứng, dù tích cực hay tiêu cực chúng đều có chung những đặc điểm sau:
• Chúng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra
Ví dụ: Một nhà máy gây ô nhiễm là ngoại ứng tiêu cực do sản xuất.
Một cá nhân hút thuốc lá làm nguy hiểm cho sức khỏe người ngồi xung quanh là ngoạiứng tiêu cực do tiêu dùng
• Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay mang lại lợi ích) cho ai nhiều khi chỉ mangtính tương đối
Ví dụ: Ngoại ứng không chỉ có thể nhìn dưới góc độ nhà máy gây thiệt hại cho ngư dân, mà trái
lại cũng có thể phân tích dưới góc độ ngư trường của nông dân đã thu hẹp phạm vi hoạt độngcủa nhà máy
• Sự phân biệt giữa tính chất tiêu cực và tích cực của ngoại ứng chỉ là tương đối
Ví dụ: Một lò nướng bánh có thể tạo ra ngoại ứng tích cực cho hàng xóm, nếu người bên cạnh
có thể lợi dụng hơi nóng của lò cho hoạt động kinh doanh tẩy hấp quần áo của mình Nhưng nócũng có thể là ngoại ứng tiếu cực nếu nhà bên kinh doanh hàng đông lạnh
• Tất cả các ngoại ứng đều tạo ra phi hiệu quả, nếu xét dưới quan điển xã hội
Trang 13Khi xuất hiện ngoại ứng, hoặc chi phí biên hoặc lợi ích biên của tư nhân không nhất trí với chiphí biên hoặc lợi ích biên xã hội Do đó, mức sản xuất tối ưu thị trường cũng khác với mức hiệuquả xã hội.
III Sự phi hiệu quả của ngoại ứng:
1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực:
Ngoại ứng tiêu cực đã kích thích làm cho có quá nhiều doanh nghiệp trong ngành Nền kinh tế không
có hiệu quả, phần sản lượng vượt quá sẽ gây nên một tổn thất kinh tế vì ở đó chi phí xã hội để sản xuấtmột lượng hàng hóa lớn hơn lợi ích tiêu dùng lượng hàng hóa đó
2 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tích cực:
Tác động của ngoại vi tích cực dẫn đến kết quả là hàng hóa được sản xuất quá ít trên thị trường Nềnkinh tế không hiệu quả, tổn thất kinh tế được xác định bằng chi phí bỏ ra nhưng sản lượng đã bị hạnchế
IV Giải pháp khắc phục ngoại ứng:
1 Các giải pháp tư nhân đối với ngoại ứng:
• Quy định quyền sở hữu tài sản: Coase cho rằng sự xuất hiện ngoại ứng xuất phát từ nguyên
nhân thiếu một quy định rõ ràng về quyền sở hữu đối với các nguồn lực được các bên sử dụngchung
• Sáp nhập: Một cách để giải quyết vấn đề là “nội hóa” ngoại ứng bằng cách sáp nhập các bên có
liên quan lại với nhau Khi sáp nhập lợi nhuận của công ty liên doanh này sẽ cao hơn mức lợinhuận đơn lẻ của từng bên khi họ chưa liên kết Khi đó, liên doanh sẽ phải cân nhắc lợi ích của
cả hai hoạt động và dừng lại ở mức sản lượng tối ưu xã hội, vì đó cũng là điểm mà lợi nhuậncủa liên doanh là lớn nhất
• Dùng dư luận xã hội: Khi ngoại ứng ảnh hưởng đến rất đông đối tượng (như cộng đồng dân cư
chẳng hạn) Khi đó, người ta có thể sử dụng dư luận hoặc tập tục, lề thói xã hội làm một công
cụ để buộc cá nhân phải lưu tâm đến ngoại ứng mà mình gây ra
2 Các giải pháp chính phủ đối với ngoại ứng:
Trong những trường hợp giải pháp tư nhân không đủ hiệu lực để tạo ra một kết cục đạt hiệu quả, chínhphủ sẽ phải can thiệp bằng nhiều cách:
Trang 14• Đánh thuế: Nguyên nhân khiến nhà máy sản xuất không hiệu quả là do giá cả đầu vào mà nhà
máy phải trả để sản xuất đã không phản ánh đúng chi phí xã hội biên Vì thế, một giải pháp rất
tự nhiên được nhà kinh tế học người Anh A Pigou đề nghị là đánh thuế ô nhiễm đối với nhàmáy này Thuế Pigou là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị sản xuất sản phẩm đầu ra của hãng gây ônhiễm, sao cho nó đúng bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu xã hội
• Trợ cấp: Trong điều kiện người gây ô nhiễm là cố định thì có thể đạt được mức sản lượng hiệu
quả bằng cách trả cho người gây ô nhiễm để họ giảm bớt mức độ gây ô nhiễm môi trường
• Hình thành thị trường về ô nhiễm: Do thiếu một thị trường về những nguồn lực được sử dụng
chung như hồ nước, không khí sạch,… Điều này đã gợi ra một cách khắc phục ngoại ứng củachính phủ là bán giấy phép gây ô nhiễm hay còn gọi là giấy phép xả thải Mức giá của nhữnggiấy phép (phí xả thải) này sẽ là mức giá cân bằng thị trường, sao cho lượng ô nhiễm sẽ đúngbằng mức mà chính phủ mong muốn
• Kiểm soát trực tiếp bằng mức chuẩn thải: Theo cách này, mỗi hãng gây ô nhiễm sẽ bị yêu
cầu chỉ được gây ô nhiễm ở một mức nhất định, gọi là mức chuẩn thải, nếu không sẽ bị buộcđóng cửa
Tóm lại, sự xuất hiện của ngoại ứng thường đòi hỏi phải có những cách can thiệp khác nhau của chính
phủ để đạt hiệu quả Tuy vậy, thực hiện các chính sách can thiệp trong thực tế không phải vấn đề đơngiản Không có một chính sách nào là hoàn hảo, nhưng các giải pháp như đánh thuế hay thiết lập thịtrường về ô nhiễm được cho là hiệu quả hơn các giải pháp mang tính mệnh lệnh trực tiếp
(Nguồn: Giáo trình kinh tế công cộng – tái bản lần thứ nhất,TS Vũ Cương - PGS.TS Phạm Văn Vận,
NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 2013)
Trang 15CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ THỦY ĐIỆN KHU VỰC MIỀN TRUNG - TÂY
NGUYÊN
I Thực trạng thủy điện của cả nước:
Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng mưa trung bình hàng năm cao, khoảng 1.800 2.000mm Với địa hình miền Bắc và biên giới miền Tây đồi núi cao, phía Đông là bờ biển dài trên3.400km nên nước ta có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với hơn 3.450 hệ thống Và với điều kiện tựnhiên thuận lợi như vậy nên tiềm năng thuỷ điện của nước ta tương đối lớn Theo tính toán lý thuyết,tổng công suất thuỷ điện của nước ta vào khoảng 35.000MW, trong đó 60% tập trung tại miền Bắc,27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khu vực miền Nam Tiềm năng kỹ thuật (tiềm năng có thểkhai thác khả thi) vào khoảng 26.000MW, tương ứng với gần 970 dự án được quy hoạch, hàng năm cóthể sản xuất hơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năng
-khoảng 15 - 20 tỉ kWh/năm (theo Cơ quan hiệp hội năng lượng Việt Nam - Thủy điện Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, 14/09/2015)
Theo báo cáo của Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương, hiện nay trên cả nước đã vận hành phátđiện 268 dự án thủy điện (14.240,5 MW); đang thi công xây dựng 205 dự án (6.198,8 MW), dự kiếnđưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017 Trong đó, khu vực miền Trung Tây Nguyên đã vậnhành khai thác 118 dự án (5.978,2 MW); đang thi công xây dựng 75 dự án (1.945,2 MW), dự kiến đưavào vận hành khai thác từ nay đến năm 2015 Phát biểu tại cuộc họp, đánh giá hiệu quả của các dự án
thủy điện (Theo Bộ Công Thương Việt Nam- Phát triển và quản lý thủy điện: Kiên quyết dừng các công trình vi phạm 25/11/2015)
Tại miền Trung và Tây Nguyên, rừng chiếm trên 50% và tạo ra nhiều nguồn tài nguyên dồi dào,trong đó có nguồn thủy năng dùng trong sản xuất điện Với 3 lưu vực sông lớn là sông Ba, sông Sêsan-Srêpôk và lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam.Trên các hệ thống sông này, các công
trình thủy điện đã và đang mọc lên như nấm sau mưa đã bắt đầu bóp cổ những dòng sông này (Theo Đoàn Tranh - Phát triển bền vững thủy điện tại Miền Trung và Tây Nguyên 25/08/2016)
II Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Miền Trung:
Theo báo cáo của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia, tính đến đầu tháng 1/2016, nhiều hồ chứacủa các nhà máy thủy điện ở miền Trung hụt nguồn nước dẫn đến tổng sản lượng điện thiếu hụt lên đến
Trang 163,2 tỷ kWh.Trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam) hiện có 6 hồ thủy điện, tổng côngsuất 870MW, với tổng dung tích hữu ích là 1,18 tỷ m3, trong đó có 4 hồ chứa có khả năng điều tiết đápứng nhu cầu nước hạ du là A Vương, Đăk Mi 4, Sông Tranh, Sông Bung 4.
Trong năm 2015, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, lượng nước về các hồ chứa thiếu hụt từ 60% so với trung bình nhiều năm, nhiều hồ trong suốt mùa mưa lũ không xuất hiện lũ A Vương Cụthể, tính đến thời điểm 1/3/2016, mực nước ở hồ A Vương ở mức 370,21m, thấp hơn 3,99m so với mựcnước tối thiểu quy định của quy trình Các nhà máy thủy điện lớn như A Vương, Sông Bung 4, SôngTranh 2… ngoài việc các tổ máy hoạt động để đảm bảo sản lượng điện theo hợp đồng với các đối táccòn phải đảm bảo phân bổ nguồn nước hợp lý cho phía hạ du.Với nguồn nước dự trữ hiện tại, hạn hán,thiếu nước, xâm nhập mặn đã xảy ra ngay từ đầu năm tại thành phố Đà Nẵng bị nhiễm mặn, ảnh hưởng
40-nghiêm trọng đến việc cung cấp nước sinh hoạt cho 900.000 hộ dân và 800 ha đất nông nghiệp (Theo
Hà Minh - Các nhà máy thủy điện ở Miền Trung 09/03/2016, thoibao.today)
Các tỉnh miền Trung Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ thiên tai bão lũ gây lo sợ, màngười dân ở khu vực này còn gánh chịu thêm những thảm hoạ bất ngờ do các hồ đập thuỷ điện gây ra
III Thực trạng nhà máy thuỷ điện ở Tây Nguyên:
Tây nguyên có 11 nhà máy thủy điện lớn đang vận hành với tổng công suất hơn 5.000MW, chiếmkhoảng 25% tổng công suất nguồn điện của cả nước Quy hoạch của ba tỉnh Gia Lai, Đắc Nông vàKon-tum có đến 257 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ Theo Sở Công thương tỉnh Gia Lai, hiện tỉnh cóbảy công trình thủy điện lớn do Tập đoàn Điện lực VN (EVN) đầu tư với công suất 1.871MW, trong đótrên dòng Sê San có bốn công trình (ba đang vận hành, một đang thi công), trên sông Ba có ba côngtrình đang thi công Trong khi đó tổng số thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn Gia Lai là 113 với tổngcông suất 549,781MW (chỉ bằng 1/10 tổng công suất 11 nhà máy thủy điện của EVN), trong đó có 21nhà máy thủy điện đã vận hành.Tại Đắc Nông, trên lưu vực sông Đồng Nai (đoạn qua Đắc Nông) đangxây dựng ba nhà máy thủy điện lớn là Đồng Nai 3, 4 (tổng công suất 520MW, EVN làm chủ đầu tư),Đắc R’Tih (144MW - Tổng công ty Xây dựng I làm chủ đầu tư) Các dự án này đều sẽ hoàn thành vàphát điện lên lưới quốc gia trước năm 2012 Còn trên dòng Krông Nô - Sêrêpôk có các nhà máy thủyđiện vừa và lớn đã và đang được xây dựng: Buôn Tua Srah (86MW, EVN làm chủ đầu tư), Buôn Kuốp(280MW, EVN làm chủ đầu tư), Đray H’Linh II (16MW, Công ty cổ phần Điện lực 3 làm chủ đầu tư),Sêrêpôk III (220MW, EVN làm chủ đầu tư), Sêrêpôk IV (70MW, Công ty TNHH Đại Hải làm chủ đầu
Trang 17tư) (Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Đắc Nông, Tây nguyên: nhà nhà làm thủy điện 2014- tuổi trẻ online)
Đối với hệ thống thuỷ điện vừa và nhỏ thuộc tỉnh Đắc Nông quản lý đã quy hoạch 70 dự án với tổngcông suất 241,07MW và đến thời điểm này có 26 dự án đã vận hành Tỉnh Kon-tum được xem là cónguồn thủy năng phong phú để phát triển thủy điện, chưa tính các công trình thủy điện quốc gia đượcđầu tư xây dựng trên hệ thống sông Sê San, Pô Kô, Đăk SNghé Tỉnh này đã quy hoạch phát triển 74công trình thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất khoảng 300MW Đến nay đã có hai công trình thủyđiện vừa và nhỏ khánh thành và đi vào hoạt động Đó là thủy điện Đăk Rơ Sa nằm trên địa bàn hai xãĐăk Trăm và Ngọc Tụ, huyện Đăk Tô, có công suất 7,5MW Kế đến là Nhà máy thủy điện Đăk Pô Ne
2 do Công ty TNHH Gia Nghi đầu tư xây dựng trên địa bàn xã Đăk Pờ Ne, huyện Kon Rẫy, tổng công
suất 3,6MW (Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Đắc Nông, Tây nguyên: nhà nhà làm thủy điện 2014 - tuổi trẻ online)
Trang 18CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGOẠI ỨNG
1 Cung cấp điện năng cho công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày:
Theo Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia Giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, sẽ đưa tổngcông suất nguồn thủy điện từ 9.200 MW hiện nay lên 17.400 MW năm 2020, chiếm chừng 23% tổnglượng điện quốc gia Đến năm 2030, thuỷ điện sẽ có tổng công suất là khoảng 18.000 MW (12% tổnglượng điện) Các dự án thuỷ điện có công suất lắp máy trên 30 MW (được xem là dự án thuỷ điện vừa
và lớn) sẽ do cấp Bộ đầu tư và quản lý, còn những dự án thuỷ điện nhỏ hơn 30 MW sẽ được cấp Tỉnhquyết định và quản lý Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) được Thủ tướng Chính phủ về việcgiao thẩm định và phê duyệt quy hoạch các dòng sông nhỏ không thuộc dự án nghiên cứu Quy hoạchthủy điện Quốc gia (Công văn số 923/CP-CN ký ngày 06/8/2002)
Trang 19(Nguồn: Bản đồ điện của Viện Năng Lượng, Bộ Công Thương)
Hình 2: Sơ đồ hệ thống điện Quốc gia Miền Trung – Tây nguyên
Trang 20TT Tên Công suất Tỉnh Quy
hoạch
Vậnhành
Xâydựnglắp máy(MW)
(Nguồn: Tài liệu của bộ công thương 2015)
Bảng 1: Các dự án thuỷ điện lớn (công suất lắp máy >100 MW)
ở Miền Trung – Tây Nguyên
Trang 21(Nguồn: Tài liệu của bộ công thương 2015)
Bảng 2: Các dự án thủy điện miền Trung (công suất > 50 MW) và diện tích chiếm đất.
2 Thúc đẩy phát triển kinh tế
Thông thường các công trình thuỷ điện có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng kéo dài, song hiệu quảcao và tuổi thọ đến 100 năm hoặc hơn Về lâu dài mà nói thì không có công nghệ năng lượng nào rẻbằng thuỷ điện Các chi phí vận hành và bảo dưỡng hàng năm là rất thấp, so với vốn đầu tư và thấp hơnnhiều các nhà máy điện khác
Trang 22Các nhà máy thủy điện khi đưa vào khai thác đã góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương, cảitạo môi trường xung quanh các hồ, góp phần đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống trongmùa khô ở vùng hạ du và khu vực xung quanh hồ chứa Khi các công trình thủy điện hoàn thành và đivào hoạt động sẽ sản xuất một sản lượng điện năng lớn hoà vào lưới điện quốc gia, làm giảm tình trạngthiếu hụt điện năng trong cả nước cũng như tỉnh ta như hiện nay Không những thế, việc phát triển thuỷđiện còn đem lại cơ hội cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh; tạo công ăn việc làm cho lao động địaphương Hàng năm, các nhà máy thủy điện đang vận hành tại khu vực này còn đóng góp cho ngân sáchnhà nước và xã hội khoảng 6.500 tỷ đồng thông qua việc nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanhnghiệp, thuế tài nguyên nước.
Công nghiệp thủy điện đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà đầu tư và đóng góp quantrọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Tây Nguyên-Miền Trung nói riêng và cả nước nói
chung (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)
3 Cung cấp nguồn năng lượng sạch, giảm phát thải
So với nhiệt điện, thủy điện cung cấp một nguồn năng lượng sạch, hầu như không phát khí thải gâyhiệu ứng nhà kính Góp phần vào phát triển bền vững Về khía cạnh bền vững, thuỷ năng có tiềm năngrất lớn về bảo tồn hệ sinh thái, cải thiện khả năng kinh tế và tăng cường sự công bằng xã hội
Bằng cách sử dụng nguồn nước thay vì các loại nhiên liệu hoá thạch (đặc biệt là than), thuỷ điệngiảm bớt ô nhiễm môi trường, giảm bớt các trận mưa axít, giảm axit hoá đất và các hệ thống thủy sinh.Thuỷ điện thải ra rất ít khí hiệu ứng nhà kính so với các phương án phát điện quy mô lớn khác, do vậylàm giảm sự nóng lên của trái đất
Lượng khí nhà kính mà thuỷ điện thải ra nhỏ hơn 10 lần so với các nhà máy tuabin khí chu trình hỗnhợp và nhỏ hơn 25 lần so với các nhà máy nhiệt điện than Nếu tiềm năng thuỷ năng thực tế còn lại màđược sử dụng thay cho các nhà máy nhiệt điện đốt nhiên liệu hoá thạch thì hằng năm còn có thể tránhđược 7 tỷ tấn khí thải nữa Điều này tương đương với việc mỗi năm tránh được một phần ba các chất
khí do con người thải ra hiện nay, hoặc ba lần các khí thải của xe hơi trên hành tinh (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)
Trang 234 Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản:
4.1 Cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Thuỷ điện không tiêu thụ lượng nước mà nó đã dùng để phát điện, mà xả lại nguồn nước quan trọngnày để sử dụng vào những việc khác
Hơn nữa, các dự án thuỷ điện còn sử dụng nước đa mục tiêu Trên thực tế, hầu hết các đập và hồchứa đều có nhiều chức năng như: cung cấp nước cho sản xuất lương thực Hồ chứa còn có thể cảithiện các điều kiện nuôi trông thủy sản và vận tải thủy
Tuy nhiên, lợi ích cục bộ của một nhà máy thủy điện đôi lúc mâu thuẫn với chức năng căn bản củamột hồ chứa Ví dụ, trong mùa khô hạn, nhà máy có thể quyết định ngưng phát điện trong một thờigian nào đó (nghĩa là không xả nước về hạ lưu) vì nhiều lý do khác nhau (ví dụ để sửa chữa tuốc bin).Tương tự trong mùa lũ, nhà máy có thể giữ mực nước hồ cao (để tăng công suất phát điện) do đó làmgiảm khả năng điều tiết lũ của hồ chứa
Để phát huy được tối đa tài nguyên nước, các cơ quan chức năng với vai trò là người quản lý tàinguyên và điều hòa lợi ích chung cho cả khu vực - cần có những quy định hợp lý trong việc vận hànhcác nhà máy thủy điện để bảo đảm tài nguyên nước được sử dụng một cách công bằng và hiệu quả cho
toàn xã hội (Theo An ninh năng lượng và môi trường 2014, Tổng quan lợi ích và ảnh hưởng của công trình thủy điện – nangluongvietnam.vn)
Cụ thể là vào mùa khô năm 2015 tại khu vực Tây Nguyên-Miền Trung, các nhà máy thủy điện thuộcTập đoàn Điện lực Việt Nam tại đây đều tham gia xả nước chống hạn, phục vụ sản xuất và sinh hoạtcho người dân vùng hạ du
Trang 24(Nguồn: Ảnh: VGP/Toàn Thắng)
Hình 3: Trạm bơm Tà Pao, huyện Tánh Linh, Bình Thuận xả nước để người dân bơm vào hệ thống
kênh mương phục vụ sản xuất
Ông Trương Văn Thưởng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh, Bình Thuận cho biết: “Hằng nămcác hồ thủy điện của EVN đã làm tốt công tác cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Nhờ đó
góp phần tăng vụ, nâng cao năng suất cho người dân” (Theo Toàn Thắng, Thủy điện miền Trung, Tây Nguyên xả nước chống hạn 21/04/2106, Baochinhphu.vn)
Còn vào năm 2016, do ảnh hưởng của El Nino, mực nước tại các hồ thủy điện trên tại các địa
phương ở miền Trung xuống thấp, trong đó nhiều hồ đã ở mực nước chết Để đảm bảo nước phục vụsản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân ở vùng hạ du theo quy định của Quy trình vận hànhliên hồ chứa, các nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động
Trang 25(Nguồn: Báo điện tử tài nguyên và môi trường, Các nhà máy thủy điện hạ công suất phục vụ chống
hạn)
Hình 4: Nhà máy thủy điện phải cắt giảm công suất hoặc ngừng hoạt động để phục vụ chống hạn.
Điển hình là hồ chứa thủy điện A Vương chỉ tích được đến mức 361,6m; thiếu 18,4m so với mựcnước dâng bình thường Kể từ khi nhà máy đi vào vận hành đến nay, đây là năm khô hạn nhất về lưulượng nước về Đến hết quý 1/2016, Nhà máy thủy điện A Vương mới sản xuất được 4 triệu kWh điện,
chưa bằng 1% so với kế hoạch năm (Theo Minh Đường, Nho Quan tích cực chống hạn cho vụ sản xuất đông xuân 02/2016, Baoninhbinh.org.vn)
Theo Quyết định 1537/QĐ-TTg ngày 7/9/2015, trong thời gian này Nhà máy thủy điện A Vươngkhông phát điện mà chủ yếu tập trung tích nước hồ chứa để đối phó với tình hình hạn hán, chống hạncho hạ du diễn ra trong năm 2016 theo sự điều hành của UBND tỉnh Quảng Nam
Tương tự, hiện mực nước tại Nhà máy thủy điện Đakdrinh, ở huyện Sơn Tây đang xuống rất thấp,chỉ đủ cho 1 tổ máy vận hành từ 13-15 giờ/ngày, tương đương 1/3 công suất Để giữ nước phục vụnước tưới tiêu nên nhà máy phát với công suất thấp để phục vụ vào những tháng cao điểm theo yêu cầu
của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và của tỉnh (Theo Lan Anh-Anh Dũng, Miền Trung: Các nhà máy thủy điện hạ công suất phục vụ chống hạn 06/04/2016, Baotainguyenmoitruong.vn)
4.2 Cung cấp nước cho nuôi trồng thủy sản:
Thêm vào đó, để phát huy lợi thế hồ thủy điện, những năm qua đã có nhiều chủ trương, chính sách tạođiều kiện thuận lợi để người dân phát triển nghề cá Vì vậy, nghề nuôi trồng thủy sản của địa phương