DIỄN BIẾN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY...5 II.1.1.. - Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng gió c
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH SÓC TRĂNG 2
I.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TỈNH SÓC TRĂNG 2
I.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Sóc Trăng 2
I.1.2 Đặc điểm khí hậu tỉnh Sóc Trăng 2
I.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo tỉnh Sóc Trăng 3
I.1.4 Đặc điểm địa chất tỉnh Sóc Trăng 3
I.2 ĐẶC ĐIỂM CHẾ ĐỘ THỦY VĂN, HẢI VĂN TỈNH SÓC TRĂNG 4
CHƯƠNG II: BIỂU HIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH SÓC TRĂNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG 5
II.1 DIỄN BIẾN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 5
II.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 5
II.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam 5
II.1.3 Các biểu hiện biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, KTXH tỉnh Sóc Trăng 5
II.2 GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG 9
II.2.1 Hoạt động tập huấn 9
II.2.2 Hoạt động giáo dục 9
II.2.3 Tổ chức hội thảo 10
II.2.4 Hoạt động tuyên truyền 10
II.2.5 Hoạt động phong trào 10
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Sóc Trăng là một trong 13 tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 3.311,76 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL, với đường bờ biển kéo dài trên 72 km Là một tỉnh tuy nằm ngoài vùng chịu ảnh hưởng chính của bão nhưng vào tháng 5 – 12, vùng biển thường bị ảnh hưởng của
áp thấp nhiệt đới, bão Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến nay, tình hình khí hậu thủy văn diễn biến khá phức tạp tạo nên tình trạng ngập lũ, bão lốc, xâm nhập mặn sâu và rộng, hầu như năm nào nhân dân cũng phải hứng chịu những mất mát
do thiên tai gây nên về tài sản và sức khỏe dịch bệnh, trong khi đó nhận thức của nhân dân về vấn đề này hầu như chưa thật cụ thể Hầu hết giới khoa học đều công nhận biến đổi khí hậu là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức
độ cao Bản thân nó đã làm cho Trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên, nhiệt độ nóng lên này đã tạo ra các biến đổi trong các vấn đề thời tiết hiện nay
Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên Chính vì vậy, việc đề ra
những “Giải pháp nhằm giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng” về biến đổi khí hậu
và nước biển dâng là một công việc cần thiết và phải được thực hiện song song với những biện pháp cải tạo môi trường trên địa bàn tỉnh
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
I.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TỈNH SÓC TRĂNG
I.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Diện tích tự nhiên 3.311,76 km2 xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm 2009 là 1.293.165 người
Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Sóc Trăng và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề (mới có quyết định thành lập từ cuối năm 2009), trong
đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh
Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 3 tỉnh trong vùng ĐBSCL:
- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang
- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long qua sông Hậu
- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu
- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km
- Vị trí tọa độ 9°14’40” đến 9°33’56” độ vĩ Bắc và 105°49’37” đến 106°19’01”
độ kinh Đông
I.1.2 Đặc điểm khí hậu tỉnh Sóc Trăng
Khí hậu tỉnh Sóc Trăng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,6°C (năm 2008) Nhiệt độ cao nhất
trong năm vào tháng 4 (28,2°C) và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (25,4°C)
- Nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150
kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ
- Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 – 2.230mm, chênh lệch lớn
theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp
nhất 75% vào mùa khô)
- Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng
gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s
Trang 4- Các yếu tố khác: Tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực rất ít gặp bão Theo tài
liệu về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào Sóc Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn
Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở Sóc Trăng Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
I.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo tỉnh Sóc Trăng
- Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm trọng trong nửa phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so với mực nước biển, vùng nội đồng cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong, từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển
- Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:
- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vào mùa mưa
- Vùng địa hình cao ven sông Hậu và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần
Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, cao trình từ 1,2 – 2 m, giồng cát cao đến 2 m
- Vùng địa hình trung bình: gồm cò thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách
- Địa hình có cao độ thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn)
- Địa hình vùng biển ven biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở 3 mức độ sâu:
Độ sâu từ 0 – 10m nước: nhìn chung địa hình khá thoải và bằng phẳng Khu vực cửa sông có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển, có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch
Độ sâu từ 10 – 20m nước: địa hình có dạng sườn dốc Địa hình khu vực cửa sông (phía Đông Bắc) dốc hơn phía Tây Nam Đây là giới hạn ngoài của khu vực lắng đọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình thường thay đổi theo thời gian
Độ sâu 20 – 30m nước: địa hình khá thoải và rộng, có nhiều sóng cát, một số khu vực phân bố các cồn ngầm thoải
I.1.4 Đặc điểm địa chất tỉnh Sóc Trăng
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ
độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc Đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành các những tầng chính sau:
- Tầng Holocene: nằm trên mặt thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn tới trung bình
- Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển
- Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình
Trang 5- Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình.
I.2 ĐẶC ĐIỂM CHẾ ĐỘ THỦY VĂN, HẢI VĂN TỈNH SÓC TRĂNG
Sông ngòi tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằng nhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vào tháng
5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103 cm (tháng 6), biên độ triều trung bình từ 194 – 220 cm
Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnh Sóc Trăng là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông Hậu đổ về Vì vậy, nước trên sông trong năm có thời gian bị nhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa có thể sử dụng cho tưới nông nghiệp Phần sông rạch giáp biển thì
bị nhiễm mặn quanh năm do đó không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, lợ ở đây lại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản
Trang 6CHƯƠNG II BIỂU HIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH SÓC TRĂNG
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NÂNG CAO
NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG
II.1 DIỄN BIẾN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
II.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC về biến đổi khí hậu cho thấy vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các vùng khí hậu phía Nam có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 là 2,4°C và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người
Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy, số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với nhiệt độ
bề mặt đại dương tăng lên Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD Gần đây nhất “siêu bão” Nargis tại Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số lượng người thiệt mạng Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất
II.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Trên thực tế, tại Việt Nam đã có những biểu hiện của BĐKH về các yếu tố khí hậu cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa ) cũng như các yếu tố thời tiết (bão, mưa lớn, hạn hán ) Được biết trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,7°C, mực nước biển dâng 20 cm Trong thời gian, cùng với tình hình chung của Thế giới, Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thiên tai bão lụt hạn hán đã diễn ra với cường độ mạnh hơn trước
Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2009, nhiệt độ trên tăng ít nhất 1,1 – 1,9°C, nhiều nhất 2,1 – 3,6°C, lượng mưa tăng ít nhất 1,0 – 5,2% và nhiều nhất từ 1,8 – 10,1%, mực nước biển dâng ít nhất 65cm, nhiều nhất 100cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 Tác động tiềm tàng BĐKH ở Việt Nam thể hiện trong tất cả các lĩnh vực chủ yếu: tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, sức khỏe
II.1.3 Các biểu hiện biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, KTXH tỉnh Sóc Trăng
II.1.3.1 Nhiệt độ
Sự thay đổi nhiệt độ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1985 – 2009 được thể hiện trên cả 3 giá trị: nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối thấp và nhiệt độ tối cao Nhiệt độ cao nhất qua các năm dao động trong khoảng từ 35,1 - 37,10C (chênh lệch
Trang 72,00C) và nhiệt độ thấp nhất dao động trong khoảng 16,7 - 20,70C (chênh lệch 4,00C), nhiệt độ với sự chênh lệch mức nóng nhất và lạnh nhất qua các năm 14,4 - 19,50C Biểu hiện sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong cùng một năm tại Sóc Trăng có sự khắc nghiệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng qua các năm Tuy nhiên đến năm 2000, sự chênh lệch này là 14,40C, năm 2006, 2008 là 15,10C do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina nên thời tiết dịu hơn
Nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 trong năm, do đây là thời kỳ chuyển tiếp
từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam, là thời kỳ nắng nóng nhất trong mùa khô Do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, nên nhiệt độ trung bình của năm sau so với năm trước chênh lệch đến 0,2 - 0,40C (giai đoạn 1987, 1988, 2000, 2002, 2005, 2006,
2007, 2009 nhiệt độ ở mức 26,9 - 270C) Nhìn chung qua chuỗi số liệu về nhiệt độ của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1985 – 2009 nhận thấy nhiệt độ trung bình năm đang có xu thế ngày càng gia tăng theo thời gian
Biểu đồ I.1: Diễn biến nhiệt độ qua các năm 1985 - 2009
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ
II.1.3.2 Lượng mưa
Tại tỉnh Sóc Trăng cả số ngày mưa và tổng lượng mưa đều tập trung vào các tháng mùa mưa, từ tháng 5 đến hết tháng 11 Mưa ở Sóc Trăng thường không kéo dài liên tục nhiều ngày mà phổ biến là mưa trận cách quãng nhau, số ngày mưa bình quân khoảng 130 ngày/năm, lượng mưa trong thời kỳ này chiếm từ 90 - 95% lượng mưa cả năm Tuy nhiên vào những tháng mùa khô trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc, xuất hiện những đợt mưa trái mùa với tổng lượng mưa đạt khoảng 171mm Lượng mưa trung bình trong các tháng dao động từ 30 - 50mm, thấp nhất thường xảy ra vào tháng 1 - 2
Qua bảng thống kê diễn biến lượng mưa từ năm 1985 - 2009 tại tỉnh Sóc Trăng cho thấy lượng mưa giai đoạn 1990 - 1993 và các năm 2004, 2006, 2009 là khá thấp, thời kỳ ảnh hưởng đỉnh điểm của hiện tượng El Nino làm cho mùa khô năm 2006
-2007 trở nên gay gắt hơn và khô hạn hơn so với thông thường Hiện tượng “mưa nắng thất thường” do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vào mùa mưa, tần suất mưa và chu kỳ mưa đã có sự thay đổi đáng kể Trong những năm qua mưa thường đến sớm hơn, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước Cụ thể trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1 năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng Mùa lũ cũng có độ trễ, đỉnh lũ thường xuất hiện muộn Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúc triều cường hàng tháng khiến cho nhiều nơi bị ngập Tuy nhiên, đến năm 2009 thì mùa mưa
Trang 8lại đến muộn hơn (bắt đầu vào khoảng giữa tháng 5) khoảng 10 - 15 ngày và kết thúc sớm hơn (cuối tháng 10)
Biểu đồ I.2: Diễn biến lượng mưa ngày lớn nhất trong năm (1985 – 2009)
Biểu đồ I.3: Diễn biến tổng lượng mưa năm (1985 – 2009)
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ
II.1.3.4 Xâm nhập mặn
Biểu hiện xâm nhập mặn tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn (năm 1985-2009) được đo tại các trạm trên sông Mỹ Thanh, Sông Hậu, kênh Nhu Gia và kênh Maspero cho thấy: mặn chủ yếu trong các tháng đầu năm từ (tháng 1 đến nữa đầu tháng 5) xâm nhập chủ yếu vào vùng cửa sông và đi sâu vào nội đồng Độ xâm nhập mặn vào hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở tỉnh Sóc Trăng đang có diễn biến bất thường và phức tạp
từ năm này qua năm khác, có cả sự thay đổi về thời gian, phạm vi và nồng độ mặn Có những năm do mùa mưa kết thúc sớm hơn và xâm nhập mặn đã nhập quá sâu vào trong cửa sông và nội đồng Nồng độ mặn thay đổi theo đặc thù từng năm phụ thuộc vào lượng nước sông Mekong chảy vào cũng như các yếu tố khí tượng, thủy văn, thủy triều trên toàn vùng theo thời gian và tổng lượng
Sóc Trăng thuộc tiểu vùng cửa sông Cửu Long theo sông Hậu thì vào mùa kiệt, lượng nước ngọt từ thượng nguồn chảy về rất hạn chế Mặt khác, do độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình thấp tạo điều kiện nước mặn tiến sâu vào nội đồng Trong mùa khô lượng dòng chảy nhỏ hơn, cộng với gió chướng thổi mạnh, liên tục nên tốc độ xâm nhập mặn vào nội đồng nhanh hơn dự báo Những dòng chảy trên toàn hệ thống sông Mekong đang ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm 10 - 20cm nên dòng chảy đổ ra cửa biển rất thấp, làm mặn xâm nhập sớm và lấn sâu vào đất liền gần 40km Những ngày triều cường kết hợp với gió chướng thổi mạnh, mặn xâm nhập sâu đến 80km
Tại vị trí đo qua từng năm cho thấy độ mặn cao nhất tại các trạm đo tăng, cao nhất vào năm 2005 do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng
Trang 9thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, thời điểm nắng nóng và khô hạn kéo dài Độ mặn cao nhất của các năm 2006, 2007, 2008 và năm 2009 có diễn biến thất thường và thấp hơn cùng kỳ 2005 Đến năm 2010 do mùa mưa kết thúc sớm (cuối tháng 10) năm 2009, mực nước đầu nguồn sông Hậu tại Châu Đốc xuống nhanh và ở mức thấp hơn cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó gió Đông Bắc hoạt động khá mạnh và thủy triều vùng ven biển Đông ở mức cao nên từ đầu tháng 1/2010 đến nay mặn đã xâm nhập khá mạnh vào vùng cửa sông và đi sâu dần vào nội đồng, do ảnh hưởng của hiện tượng El-nino nên trong các tháng 2, 3, 4 và những ngày đầu tháng 5 thời tiết các nơi trong tỉnh tiếp tục khô hạn, mặn tiếp tục xâm nhập mạnh vào các sông rạch trong tỉnh và đạt mức cao nhất năm 2010 là: tại Đại Ngãi độ mặn cao nhất 11,6‰; tại Trần
Đề 26,6‰; tại Thạnh Phú 16‰; và tại TP.Sóc Trăng 5,2‰
II.1.3.5 Hạn hán
Hạn hán Sóc Trăng đều tập trung vào những tháng mùa khô trong năm, mùa khô trên địa bàn tỉnh thường bắt đầu vào cuối tháng 10 hoặc giữa tháng 11 hàng năm
và kết thúc vào cuối tháng 4 hoặc giữa tháng 5 năm sau hàng năm Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tình hình hạn hán tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2006 - 2010 với diễn biến phức tạp hơn cả về thời gian, mức độ và có xu hướng tăng đợt hạn hán vào những năm sau kế tiếp Cụ thể, theo nguồn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng vào năm 2006 xuất hiện 2 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 18/8 - 24/8, đợt 2 vào đầu tháng 9); năm 2007 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 5/6 - 9/6, đợt 2 từ 17/7 - 27/7, đợt 3
từ 5/9 - 10/9); năm 2008 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 2/6 - 8/6, đợt 2 từ 10/7
- 21/7, đợt 3 từ 22/8 - 31/8)
II.1.3.6 Bão, áp thấp nhiệt đới
Trong những năm trước đây trên thế giới cũng như Việt Nam bão, áp thấp nhiệt đới là một hiện tượng tự nhiên theo quy luật Đối với bão trước đây tại nước ta thường xảy ra theo quy luật, khoảng tháng 5, 6, 7 xảy ra ở vùng các tỉnh ven biển Bắc bộ; tháng 8, 9 bão xảy ra ở ven biển Trung bộ; tháng 10, 11, 12 xảy ra ở Nam bộ Theo số liệu thống kê 50 năm trở lại đây (1949 - 1998) ở khu vực phía Nam Việt Nam đã xuất hiện 33 cơn bão trong đó chỉ có 8 cơn bão đổ bộ vào khu vực biển Sóc Trăng Tuy ít bão nhưng cơn bão số 5 – cơn bão Linda (1997) là những trận bão lịch sử đã ghi nhận bởi hậu quả nặng nề mà chúng gây ra cho các tỉnh vùng ĐBSCL (trong đó có tỉnh Sóc Trăng)
Những năm gần đây quy luật đó không còn nữa mà nó đã trở nên bất thường,
số lượng cơn bão, tần suất và cường độ của các cơn bão đổ bộ vào nước ta tăng nhanh
rõ rệt, các cơn bão thường lệch theo quỹ đạo phía Nam và thường kết thúc muộn Nguy hiểm hơn, số lượng các cơn bão hướng vào vùng ĐBSCL, khu vực mà trong quá khứ rất ít khi hứng chịu bão, ngày càng nhiều với cường độ khá lớn Sự biến đổi khí hậu còn được thể hiện rõ rệt qua hai hiện tượng El Nino và La Nina dẫn đến sự hạn hán và mưa không theo quy luật Theo kinh nghiệm của những năm trước, khi xuất hiện El Nino đã xảy ra nhiều cơn bão trái quy luật, kết hợp với tần số không khí lạnh (gió mùa đông bắc) ít hơn và kết thúc sớm hơn mọi năm, dẫn đến mùa đông ấm hơn bình thường ở các tỉnh phía Bắc Thường xảy ra sau hiện tượng El Nino là hiện tượng
La Nina với biểu hiện là những cơn bão và ấp thấp nhiệt đới với cường độ mạnh gây mưa nhiều trên diện rộng kèm theo giông lốc Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm tại các tỉnh phía Nam Bộ nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng
Trang 10Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Sóc Trăng không nhiều Tuy nhiên, những hiện tượng bất thường của thời tiết như sự hình thành của áp thấp nhiệt đới ngay trên khu vực biển Đông, một số cơn bão có cường độ rất mạnh (cấp 12, trên cấp 12) đã xảy ra; lốc xoáy cục bộ xuất hiện nhiều Ảnh hưởng
về tai biến thiên tai nặng nhất trong những năm gần đây là cơn bão số 9 năm 2006 và trong năm 2007 là cơn bão số 7 gây thiệt hại nặng nề và người và của Riêng trong năm 2008 tuy là ảnh hưởng của hiện tượng La Nina gây mưa nhiều trên diện rộng cả nước nhưng riêng tỉnh Sóc Trăng trong năm này lại không ảnh hưởng trực tiếp nhiều
II.1.3.7 Các yếu tố thời tiết cực đoan
Trong những năm qua, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp, các đợt nắng nóng, số ngày nắng nóng, các đợt rét, số ngày rét, lốc xoáy đã có sự thay đổi, tăng lên
và tác động ngày càng lớn Nắng nóng gay gắt trong mùa khô, mùa mưa có lượng mưa tương đối nhiều, thường xuyên xảy ra lốc xoáy, giông, sét
II.2 GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG
Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng bao giờ cũng mang lại kết quả tốt đẹp
và tốn ít chi phí nhất Để cộng đồng có hành động tự giác ứng phó với BĐKH và mực nước biển dâng thì cộng đồng phải hiểu được biến đổi khí hậu và nước biển dâng là gì Tại tỉnh Sóc Trăng đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH và nước biển dâng như sau:
Đối tượng cần được giáo dục nâng cao nhận thức: toàn bộ người dân sống tại
tỉnh Sóc Trăng Đặc biệt chú ý đến đồng bào Khmer đang sinh sống tại đây
II.2.1 Hoạt động tập huấn
- Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nhận thức về BĐKH và NBD cho các cán
bộ phường xã, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Ban điều hành khu phố các kiến thức
cơ bản về BĐKH như:
+ Sự nóng lên toàn cầu
+ Xâm nhập mặn
+ Nước biển dâng
+ Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sinh kế của người dân
- Tổ chức tập huấn về công tác phòng chống, ứng phó khi có thiên tai, sự cố xảy
ra trên địa bàn (vỡ bờ bao, xâm nhập mặn, hạn hán, bão, áp thấp nhiệt đới ) Các biện pháp căn bản tại chỗ đối phó với thiên tai, sự cố khi xảy ra đột ngột, không phòng tránh kịp thời
- Tập huấn cho bà con kỹ thuật nuôi trồng các giống mới có khả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập…
II.2.2 Hoạt động giáo dục
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho các em học sinh giúp các em hiểu rõ về thực tế, tranh luận và giải đáp những hiện tượng thời tiết và những vấn đề liên quan đến BĐKH Bên cạnh đó, để các em có thể phát huy được những hiểu biết, khả năng sáng tạo của mình hoạt động về giảm thiểu và thích ứng với BĐKH
- Chi cục Bảo vệ Môi trường, phòng Tài nguyên Môi trường các huyện tổ chức các khóa học về BĐKH và NBD cho các giáo viên Sau đó nhóm các giáo viên này sẽ