Trong thời gian qua, đi cùng với các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phá
Trang 1MỤC LỤC CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN
VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC 5
I LIÊN KẾT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5 1 Khái niệm về nông dân, hộ nông dân 5
3 Tổng quan về liên kết kinh tế trong nông nghiệp 7
4 Liên kết kinh tế trong nông nghiệp thông qua chuỗi giá trị 19
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC 23
1 Yếu tố nhận thức 23
2 Yếu tố nguồn lực sản xuất 24
3 Yếu tố thị trường 28
4 Yếu tố vĩ mô 29
5 Liên kết kinh tế nông dân trong bối cảnh gia nhập WTO 30
III KINH NGHIỆM LIÊN KẾT GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
1 Kinh nghiệm liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác ở một số quốc gia tương đồng 32
2 Kinh nghiệm mô hình liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác ở một số tỉnh thành trong nước 34
3 Một số bài học rút ra cho thành phố Đà Nẵng 38
II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 56
1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp và liên kết trong sản xuất nông nghiệp 56
2 Chính sách khuyến khích liên kết trong sản xuất nông nghiệp của Nhà nước 58
3 Hiệu quả của các chính sách đối với việc thúc đẩy liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng 62
III KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 65
1 Năng lực sản xuất của nông dân 66
2 Thực trạng liên kết nông dân với các chủ thể khác tại Thành phố Đà Nẵng 67
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG 75
1 Ưu điểm 75
2 Hạn chế 75
I NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 78
1 Xu hướng phát triển nông sản thế giới 78
3 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn tầm nhìn đến 2020 82
4 Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 84 5 Quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 87
6 Những chỉ tiêu chủ yếu của ngành nông nghiệp đến năm 2020 88
II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC Ở ĐÀ NẴNG 92
Trang 21 Quan điểm phát triển 92
3 Định hướng phát triển liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở Đà Nẵng 94III XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ CÁC CHỦ THỂ KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 97
1 Xây dựng mô hình liên kết dựa trên chuỗi giá trị nông sản 97
2 Hoàn thiện một số mô hình liên kết cụ thể hiện nay ở Đà Nẵng 101
3 Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 115
1 Tạo lập môi trường thuận lợi cho nông dân và các chủ thể khác tham gia liên kết kinh tế 120
2 Quy hoạch và rà soát điều chỉnh các quy hoạch làm cơ sở cho thực hiện các liên kết 122
3 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông dân, các chủ thể tham gia liên kết 123
4 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân với các chủ thể khác trên địa bàn thành phố 124
6 Hình thành và phát huy vai trò của hiệp hội ngành hàng gắn với hướng kinh doanh của từng nhóm hộ nông dân 127
7 Nâng cao vai trò của truyền thông, khuyến khích liên kết kinh tế 129
V KẾT LUẬN 131
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Biến động đất đai thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2000 - 2011 41
Bảng 2.2: Cơ cấu các hoạt động kinh doanh của hợp tác xã 48
Bảng 2.3 Tình hình phát triển một số ngành nghề nông thôn năm 2011 51
Bảng 2.4:Nguồn lực đầu tư theo cho nông nghiệp – nông thôn – nông dân 64
Bảng 2.6: Khó khăn khi tham gia liên kết 75
Bảng 2.7: Khó khăn khi vay vốn từ các tổ chức tín dụng 76
Bảng 2.8: Lý do nông dân không tham gia liên kết 76
Bảng 3.1: Đánh giá tính khả thi trong liên kết giữa các chủ thể 101
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hình 2.1: Tình hình biến động giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp 41
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1997-2010 42
Hình 2.3: Năng suất lao động trong nông nghiệp theo giá thực tế 46
Hình 2.4: Năng suất lao động trong nông nghiệp theo giá cố định năm 1994 46
Hình 2.5: Liên kết thông qua bán vật tư, mua lại nông sản hàng hóa 70
Hình 2.6: Liên kết trực tiếp giữa nông dân và doanh nghiệp 71
Hình 2.7: Liên kết giữa nông dân và hợp tác xã thông qua phân tích chuỗi giá trị 73
Hình 3.1: Mô hình liên kết chuỗi dự kiến giữa nhà nông và nhà khoa học 107
Hình 3.2: Một ví dụ về mô hình liên kết chuỗi giá trị nấm ăn, nấm dược liệu 110
Trang 4Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực thi nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn Trong thời gian qua, đi cùng với các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn và bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng, đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn của thành phố trên tất cả các lĩnh vực, hạ tầng kinh tế-xã hội được xây mới và nâng cấp, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm v.v , cơ cấu kinh tế nông thôn được chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó, tập trung gia tăng phát triển hàm lượng về giá trị của sản phẩm và liên tục đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất.
Qua đó, có thể thấy rằng vai trò quản lý của nhà nước trong nông nghiệp là rất lớn Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để nông nghiệp “tự đi vững trên đôi chân của mình“ thay vì luôn nhận được sự hỗ trợ và bảo hộ từ phía nhà nước trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia vào sân chơi WTO, cũng như ngày càng hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu Theo Schultz (1964)5, nhà nước nên quan tâm đối phó với các nguyên nhân cơ bản hơn là tập trung vào việc đề ra các chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp Trong công trình
có ảnh hưởng nhất của ông, Chuyển biến nông nghiệp truyền thống (1964)“ Thu nhập của
1 Lewis, W A 1955 Economic development with unlimited supplies of labor The Manchester School of Economics and
Social Studies 22 (2): 139–191.
2 Hirschman, A O 1958 The strategy of economic development New Haven, Conn.: Yale University Press
3 Fei, J C., and G Ranis 1961 A theory of economic development American Economic Review 51 (4): 533–565
4Mellor, J W 1966 The economics of agricultural development Ithaca, N.Y.: Cornell University Press.
5 Schultz, T W (1964), Transforming Traditional Agriculture, University of Chicago Press
Trang 5nông dân thấp tại các nước đang phát triển không phải do họ không có kiến thức để sử dụng hiệu quả các nguồn lực họ có sẵn mà do họ thiếu công nghệ có thể đem lại thu nhập cao hơn Việc các nhà tài trợ và các nhà hoạch định chính sách chú trọng đến nghiên cứu
và phát triển công nghệ nông nghiệp mới thông qua các tổ chức nghiên cứu cho thấy được
kết quả đáng ghi nhận“ Bên cạnh đó, trong cuốn Biến dạng các động cơ khuyến khích trong nông nghiệp của Schultz (1978), các vấn đề về tiêu thụ sản phẩm, nhu cầu thị
trường, giá cả hàng hóa cũng được tác giả đề cập đến Theo đó, các áp lực từ người tiêu dùng (chất lượng, giá cả, thị hiếu), sự bất ổn thị trường đã gây khó khăn đến nhà sản xuất nông nghiệp và lúc này sự can thiệp của chính phủ vào nông nghiệp dưới góc độ bảo trợ cũng không còn phù hợp; thay vào đó cơ quan nhà nước nên tạo ra những cơ chế khuyến khích sự liên kết giữa nhà sản xuất nông nghiệp và nhà doanh nghiêp nhằm tạo ra những giá trị tăng thêm cho sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường và tăng thu nhập cho các chủ thể liên quan
Một vấn đề quan trọng mà nhóm nghiên cứu quan tâm đó là xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố Đà Nẵng trong Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 theo hướng Dịch vụ: 54,2% - Công nghiệp, Xây dựng: 43,8% - Nông nghiệp: 2,0% Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3-4%/năm Điều này cho thấy thực trạng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn có nguy cơ tụt hậu sau khi đô thị hóa đang phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác
Mặt khác, theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu, trong những năm qua, bên cạnh những thành quả mà Thành phố Đà Nẵng đạt được, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố nói chung, sản xuất hộ nông dân nói riêng còn nhiều khó khăn, hạn chế: Thiên tai dịch bệnh thường xuyên diễn ra; quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán; công nghệ, kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu; thiếu vốn đầu tư cho sản xuất; ứng dụng công
nghệ mới còn hạn chế; tiêu thụ nông sản hàng hóa gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, mối liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác còn tồn tại nhiều bất cập như: liên kết chưa chặt chẽ, mang tính hình thức, còn nhiều mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, thiếu sự giám sát quản
lý của các cơ quan quản lý nhà nước, việc không tuân thủ hợp đồng thường xuyên diễn ra
Xuất phát từ những khó khăn, bất cập nêu trên đã đặt ra cho chính quyền thành phố thách thức không nhỏ trong việc hoàn thành những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XX đề ra Để thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển nhanh và bền vững theo hướng cải thiện chất lượng và gia tăng giá trị sản xuất hàng hóa, việc xây dựng đề tài
Trang 6“Phát triển liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng”
là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng và thực hiện đề tài nhằm các mục tiêu sau:
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác
(2) Đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; làm rõ các ưu điểm, hạn chế và các vấn đề đặt ra cần giải quyết
(3) Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng
(4) Đề xuất các giải pháp phát triển các liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác
Phạm vi nghiên cứu:
+ Nông dân trong phạm vi nghiên cứu bao gồm các hộ nông dân sản xuất trong các lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp và thủy sản (ngoại trừ đánh bắt hải sản xa bờ)
+ Các chủ thể khác: các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà khoa học
+ Địa bàn nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Đối tượng khảo sát:
Đề tài tập trung khảo sát vào 3 nhóm đối tượng: Nông dân, các chủ thể khác và các nhà quản lý ở Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp phân tích hệ thống các hoạt động nông nghiệp trên địa bàn thành phố;
- Phương pháp phân tích cạnh tranh SWOT;
- Phương pháp điều tra khảo sát: hộ nông dân, các chuyên gia và nhà quản lý, các chủ thể khác tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp;
Trang 7- Phương pháp phân tích thống kê các số liệu sơ cấp và thứ cấp về phát triển nông nghiệp trên địa bàn thành phố;
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến các chuyên gia và thảo luận;
5 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác Chương 2: Thực trạng liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác ở thành
phố Đà Nẵng
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển liên kết kinh tế giữa nông dân với
các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VỚI
CÁC CHỦ THỂ KHÁC
I LIÊN KẾT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Khái niệm về nông dân, hộ nông dân
Nông dân là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng rất phổ biến Tuy nhiên, xoay quanh khái niệm nông dân khá khác biệt Thông thường, nông dân được hiểu là những người mà hoạt động sản xuất chính của họ là nông nghiệp Nông dân có thể
được định nghĩa rất đơn giản như: “Người điều hành một trang trại” hay là “Người sống bằng hoạt động trồng trọt, chăn nuôi”
Nhưng cũng có không ít khái niệm phức tạp, theo Wikipedia thì: “Nông dân là một người tham gia vào nông nghiệp, người nuôi sinh vật bằng thực phẩm hoặc nguyên liệu, thường bao gồm chăn nuôi gia súc và trồng trọt như sản xuất và ngũ cốc Một người nông dân có thể sở hữu đất hoặc có thể làm việc như một người lao động về đất đai thuộc
sở hữu của người khác, nhưng trong nền kinh tế tiên tiến, nông dân thường là một chủ trang trại, trong khi nhân viên của trang trại là lao động nông nghiệp…”6
Còn theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội…”.
Dưới góc độ của liên kết kinh tế, nông dân tham gia vào chuỗi liên kết với vai trò
là một chủ thể kinh tế, hộ nông dân, là loại hình kinh tế trong đó hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp, dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê)7
2 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp
2.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc điểm trên cho thấy ở đâu có đất
6 http://en.wikipedia.org/wiki/Farmer
7 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình, Phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trang 9và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu khó có thể thay thế được (chỉ có thể thay thế một phần dựa vào công nghệ) Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết sử dụng tiết kiệm, cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ, sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất trên cùng một diện tích
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi, phát triển theo quy luật sinh học (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt trong quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn chặt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời
vụ cao trong nông nghiệp
Có nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp, chất lượng cao Do đó, trong nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu
Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn
Trang 10đồng đều và giá bán thường cao Ngoài ra, do đặc tính thu hoạch theo thời vụ nên hoạt động thu hoạch nông sản thường chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn
- Nông sản chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố khí hậu, thời tiết Nếu năm nào, khu vực nào có mưa thuận gió hòa, thì cây cối phát triển, cho năng suất cao, hàng nông sản sẽ tràn ngập trên thị trường và giá rẻ Ngược lại, nếu năm nào, khu vực nào có khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên thì hàng nông sản sẽ khan hiếm và có chất lượng thấp mà giá lại cao
- Đối với hàng nông sản, khâu bảo quản và chế biến rất quan trọng vì: Giá cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào chất lượng Chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản và chế biến vì tính dễ ẩm, mốc, biến chất của nó
- Chủng loại hàng nông sản rất phong phú và đa dạng nên chất lượng của cùng một mặt hàng cũng rất phong phú và đa dạng Thói quen tiêu dùng và sự đánh giá về cùng một mặt hàng trên thị trường thế giới rất khác nhau Với một loại nông sản nó có thể được ưa thích ở thị trường này song lại không được chấp nhận ở thị trường khác, giá có thể cao ở thị trường này song lại rất thấp ở thị trường khác
3 Tổng quan về liên kết kinh tế trong nông nghiệp
3.1 Các cách tiếp cận khác nhau về liên kết kinh tế
Cùng với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển sâu rộng của chuỗi giá trị toàn cầu, liên kết kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra sự thành công đối với một quốc gia, địa phương và doanh nghiệp Chính các mối quan hệ liên kết đã đưa đến cho các chủ thể những cơ hội để nhận được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn và nhân bản hơn Xét ở tầm vĩ mô, liên kết kinh tế thể hiện thông qua việc thiết lập các liên minh kinh tế giữa các quốc gia, địa phương hoặc vùng lãnh thổ để hình thành nên các định chế khu vực ở các mức độ khác nhau Chính việc liên kết này đã giúp xác lập các không gian kinh tế rộng lớn hơn, an toàn hơn cho các hoạt động kinh tế của mỗi đối tác tham gia trên cơ sở phân công và hợp tác lao động, phân bố dân cư hợp lý cho toàn vùng Trong khi đó, liên kết ở tầm vi mô được thực hiện thông qua sự thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các chủ thể trong nền kinh tế Việc đẩy mạnh liên kết ở tầm vi
mô, đến một mức độ nhất định sẽ tác động ngược lại đối với liên kết vĩ mô, nó thúc đẩy các quan hệ liên kết vĩ mô phát triển, chuyển hóa theo hướng thuận lợi cho liên kết vi mô phát huy tác dụng
Trang 11Như vậy, liên kết ở tầm vĩ mô là tiền đề tốt để thúc đẩy việc thiết lập và mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế ở tầm vi mô giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh tham gia vào quá trình liên kết Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu mối
kết ở tầm vi mô, cụ thể là mối liên hệ giữa hộ nông dân và các chủ thể khác trong nền kinh tế
Vậy, liên kết kinh tế là gì? Trong nông nghiệp và cụ thể là các hộ nông dân liên kết với các chủ thể khác thông qua những hình thức, nội dung và cơ chế liên kết như thế nào để có thể đảm bảo tính bên vững và phát huy lợi thế của từng chủ thể tham gia?
Theo Lê Xuân Bá (2003) thì liên kết kinh tế là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn các khả năng, mở ra những thị trường mới
Trong khi đó, Hồ Quế Hậu (2008) và Dương Đình Giám (2007) đã đưa ra khái niệm liên kết kinh tế ở tầm khái quát hơn Theo Hồ Quế Hậu, liên kết kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế - xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế - xã hội chung Còn theo Dương Đình Giám, liên kết kinh tế là sự hợp tác của hai hay nhiều bên trong quá trình hoạt động kinh tế, cùng mang lại lợi ích cho các bên tham gia Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp thiếu hụt và khắc phục hạn chế của mình từ sự phối hợp hoạt động với đối tác
Nhìn chung, Liên kết kinh tế là một trong những hình thức hợp tác ở trình độ cao
của con người trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm các hoạt động hợp tác và phối hợp thường xuyên do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đưa ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Nguyên tắc thực hiện liên kết phải dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi Những cơ sở này phải được thống nhất, thể hiện trên văn bản hợp đồng ký kết giữa các bên tham gia và phù hợp với khuôn khổ pháp luật của các quốc gia
Dù phát triển ở hình thức nào, các mối quan hệ liên kết kinh tế đều hướng đến những mục tiêu chung là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định Thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hợp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của từng đơn vị tham gia liên kết
Trang 12Hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau và giảm thiểu, dàn trải các rủi ro nếu có.
Liên kết kinh tế trong nông nghiệp thì sao?
Trong nền nông nghiệp mới, sự liên kết kinh tế là rất cần thiết Sự liên kết kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là liên kết giữa các vùng sản xuất nông nghiệp trong những
ngành hàng liên vùng, giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và giữa chính nông dân với nhau để tăng quy mô sản xuất kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, tăng cạnh tranh
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, khái niệm liên kết kinh tế trong nông nghiệp sẽ
được cô đọng trong mối quan hệ liên kết kinh tế giữa nông dân với một hoặc nhiều chủ thể kinh tế khác ở thành phố Đà Nẵng Đó có thể là sự liên kết giữa chính nông dân với nhau; hay giữa nông dân với chính quyền địa phương; giữa nông dân với nhà khoa học, các trường, viện nghiên cứu; giữa nông dân với doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ tín dụng; hoặc giữa nông dân với nhiều chủ thể khác trong nền kinh tế mà thuật ngữ phổ biến hiện nay gọi là “Liên kết bốn nhà”: nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, và nhà doanh nghiệp
Tổ chức GTZ có nhiều nghiên cứu về liên kết kinh tế nông nghiệp thông qua mô hình chuỗi giá trị tại một số tỉnh thành ở Việt Nam Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy rằng mặc dù có rất nhiều tiềm năng đã được khám phá trong chuỗi giá trị ở một số ngành như cà phê, bơ, rau sạch…Tuy nhiên, việc liên kết này vẫn bộc lộ nhiều thiếu sót và trở ngại chính trong quá trình thực hiện như:
- Mối liên hệ và hợp tác lỏng lẻo của các tác nhân dọc theo chuỗi
- Người sản xuất thường không chú ý đến thị trường và các yêu cầu của thị trường
- Cơ cấu hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển còn lạc hậu
- Chưa có một cơ chế liên kết rõ ràng
- Hoạt động tự phát và không có chiến lược, mục tiêu dài hạn…
Do vậy, để triển khai và nhân rộng mô hình này được thành công và bền vững, các bên tham gia cần hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong liên kết chuỗi, việc phân chia lợi ích, chia sẻ rủi ro phải rõ ràng và phải có một chương trình hành động cụ thể, xác định mục tiêu dài hạn mong muốn đạt tới với sự tham gia của tất các bên là điều cần thiết
3.2 Vai trò của liên kết kinh tế
3.2.1 Vai trò của liên kết kinh tế trong phát triển kinh tế xã hội
Trang 13Từ khái niệm liên kết kinh tế ở trên cho thấy, cho dù liên kết ở hình thức nào, thì những lợi ích mà liên kết kinh tế mang lại đều có vai trò rất lớn và rất đa dạng Lê Xuân
Bá (2003), Lê Đình Giám (2007) đã chỉ ra trong các nghiên cứu của mình về một số vai trò chủ yếu của liên kết kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội như sau:
Thứ nhất, liên kết kinh tế giúp đạt được hiệu quả kinh tế theo qui mô Thông qua liên kết kinh tế tạo điều kiện cho các chủ thể mở rộng qui mô thị trường, gia tăng sản lượng và giảm chi phí sản xuất Nhờ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh, bảo đảm sự phát triển bền vững
Thứ hai, liên kết kinh tế làm giảm chi phí và tiêu hao nguồn lực, tăng hiệu quả đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu phát triển Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi chủ thể đều có một hoặc vài lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt; bên cạnh
đó, là một loạt các hoạt động phụ, mà bản thân một chủ thể không thể thực hiện được, nhưng nó lại không thể thiếu đối với dây chuyền sản xuất chính Tạo điều kiện giảm nhẹ
cơ cấu bên trong mỗi chủ thể, thông qua việc chuyên môn hóa trong các công đoạn sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, liên kết kinh tế giúp phản ứng nhanh với những thay đổi của môi trường kinh doanh Liên kết kinh tế tạo điều kiện tăng khả năng linh hoạt cho các chủ thể thông qua giảm thiểu cơ cấu theo cấp bậc và như vậy, sẽ dễ dàng hơn trong việc thay đổi, tập trung hơn cho một lĩnh vực mà mối liên kết đó có thế mạnh
Thứ tư, liên kết kinh tế giúp giảm thiểu các rủi ro Khi tham gia liên kết, rủi ro sẽ được phân bổ cho các đối tác tham gia, chứ không phải chỉ tập trung vào một chủ thể, khi
đó khả năng vượt qua khó khăn sẽ cao hơn
Thứ năm, liên kết kinh tế giúp các chủ thể trong thị trường tiếp cận nhanh chóng hơn với các công nghệ mới Các bên tham gia liên kết có thể chuyển giao công nghệ cho nhau, với những chi phí hợp lý và thời gian nhanh chóng, do sự tin cậy lẫn nhau
Thứ sáu, liên kết kinh tế tạo sức mạnh nội sinh, hạn chế sự tác động tiêu cực từ bên ngoài, đồng thời tạo môi trường thu hút đầu tư có hiệu quả
Thứ bảy, Liên kết kinh tế tăng thêm sự phân công chuyên môn hóa và phát triển kinh tế tổng hợp, xóa bỏ sự phát triển đơn cực, cục bộ, khép kín, mở rộng sự hợp tác và phân công quốc tế, mở rộng thị trường Liên kết kinh tế giúp doanh nghiệp chinh phục những thị trường mới do khả năng tài chính, tận dụng lợi thế chi phí thấp (hợp đồng cung cấp sản phẩm, hợp đồng nhượng quyền…)
Tuy nhiên, sự liên kết kinh tế đôi khi cũng có thể gây ra những mặt tiêu cực như là
Trang 14việc tạo ra sự độc quyền Gây ra ảnh hưởng xấu đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường, dẫn đến gây thiệt hại cho người mua (do độc quyền bán) hoặc người bán (do độc quyền mua) Ngoài ra, liên kết còn có thể dẫn đến tình trạng sụp đổ dây chuyền khi mà một trong những chủ thể tham gia bị phá sản… gây mất ổn định cho cả nền kinh tế.
3.2.2 Vai trò của liên kết kinh tế trong nông nghiệp qua mô hình “liên kết bốn nhà”
Việt Nam là một nước nông nghiệp Đại bộ phận người dân sống ở vùng nông thôn lấy sản xuất nông nghiệp làm nghề chính Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, để góp phần phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định “Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “bốn nhà” (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp”
“Liên kết bốn nhà” về bản chất là một hình thức liên kết thị trường, thông qua các chính sách giúp điều hòa mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên tham gia, đặc biệt khi nhu cầu
và giá cả thị trường biến động mạnh (Vũ Thành Tự Anh, 2011) Ngoài ra, qua nghiên cứu thực tiễn của Nguyễn Công Thành (2011) còn chỉ ra nhiều lợi ích mà liên kết bốn nhà đã mang lại như:
- Giúp đỡ lẫn nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp: Ví dụ nhà doanh nghiệp đầu tư vật
tư ban đầu cho nhà sản xuất (nông dân) Giúp đỡ bao tiêu sản phẩm và tiêu thụ đầu ra với giá ổn định cho người sản xuất an tâm và có lợi nhuận, đảm bảo đời sống và phát triển kinh tế
- “Một nhà” là chỗ dựa, là hậu thuẫn, là mốc đầu trong liên hoàn với “các nhà” khác: Nhà nông dựa vào vốn, chính sách, pháp luật của Nhà nước (nhà quản lý) để sản
xuất đúng hướng và có hiệu quả Nhà quản lý cung cấp vốn thông qua ngân hàng, cung
cấp thông tin, thị trường cho nông dân Nhà quản lý có thể đứng ra tổ chức việc liên kết
sản xuất và kinh doanh đi đúng hướng và có hiệu quả Nhà khoa học tạo ra giống, quy
trình kỹ thuật và đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho người nông dân Chẳng hạn mốc đầu tiên là giống/quy trình kỹ thuật có từ các nhà khoa học đem đến cho người nông dân sản xuất và “nhà sản xuất” là mốc đầu tiên trong liên hoàn với “nhà doanh nghiệp” để
tiêu thụ sản phẩm Nhà doanh nghiệp thường là “mốc cuối cùng” trong liên hoàn vì là nơi
tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, cũng có thể là “mốc khởi đầu” trong nhiều trường hợp Ví
dụ, không những bao tiêu sản phẩm cho nông dân mà họ còn đầu tư giống ban đầu (để chủ động chất lượng), vật tư, tiền vốn… Như vậy nhà doanh nghiệp trong liên kết cũng có
Trang 15thuận lợi là chủ động nguồn hàng, định hướng đầu ra, chủ động chất lượng, số lượng ngay
từ đầu để hạch toán và lên kế hoạch kinh doanh, hạn chế rủi ro so với kinh doanh không liên kết Thường những doanh nghiệp làm ăn lớn thường liên kết với nông dân và liên kết
“4 nhà” Và sự liên kết rất đảm bảo, nâng cao uy tín và kinh doanh có hiệu quả hơn những nhà doanh nghiệp không liên kết và thường là những nhà kinh doanh nhỏ
- Thông qua liên kết, sản xuất mang tính quy mô cao, hiện đại, hạn chế rủi ro và
hiệu quả cao: Do có kế hoạch từ đầu về phương hướng sản xuất, giống kỹ thuật gì? Ai
chịu trách nhiệm từng khâu thế nào, đầu ra ai bao tiêu? Giá cả được định sẵn có sự thống nhất từ đầu và thị trường đã được các doanh nghiệp định hướng theo hoạt động kinh doanh thường xuyên của họ Từ đó, người sản xuất và người kinh doanh lên phương án và hạch toán sản xuất, kinh doanh ngay từ ban đầu để biết được chi phí và lợi nhuận một cách chủ động Với trí tuệ và sức mạnh tổng hợp của liên kết “nhiều nhà” chắc chắn sẽ hạn chế rủi ro và thất bại trong sản xuất Thực tế chứng minh những nơi có sự liên kết tốt,
cả doanh nghiệp và nông dân đều phấn khởi khi mà vụ mùa nào cũng có lợi nhuận cao và
ổn định so với những hộ nông dân sản xuất tự phát và nhỏ lẻ, manh mún không có cả sự liên kết hoặc hợp tác với nhau
Như vậy, liên kết không chỉ có lợi cho sản xuất của nông dân mà cho cả nhà doanh nghiệp và các chủ thể khác Ngoài ra, giá trị của nông sản cũng được gia tăng sau mỗi công đoạn của quá trình liên kết, tạo nên sức mạnh cạnh tranh trên thị trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
3.3 Những nội dung cơ bản trong liên kết kinh tế
3.3.1 Mối liên hệ giữa hộ nông dân với các chủ thể khác
Một trong những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường
là, đối với một loại nông sản, nhiều nông dân (có khi lên tới hàng chục ngàn) thường bán sản phẩm của mình cho một doanh nghiệp chế biến, bảo quản, tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước Còn sản phẩm của doanh nghiệp chế biến thường bán cho rất nhiều
tổ chức và cá nhân trên thị trường Cả nhà nông và nhà doanh nghiệp đều rất cần liên kết với nhau một cách bền vững trong việc bán và mua nông sản
Nhờ vào sự hợp tác này mà nhà doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản sẽ có
“chân hàng” ổn định, cung ứng nông sản nguyên liệu chất lượng, giá cả hợp lý nhằm đáp ứng những những đòi hỏi khắt khe hơn từ phía người tiêu dùng Tuy hiện nay đã có một vài mô hình liên kết giữa hai chủ thể này nhưng còn rất lỏng lẻo và thiếu tính bền vững Hàng hóa nhiều nhưng sản xuất không đồng loạt, mạnh ai nấy làm, hàng nông sản cứ luẩn
Trang 16quẩn trong vòng vây giá cao thì nông dân hết hàng, khi dư hàng thì rớt giá Nếu cứ lặp lại tình trạng ấy thì rõ ràng khó có thể tạo ra mối quan hệ hợp tác lâu dài
Ở một khía cạnh khác của liên kết nông nghiệp là để chiếm lĩnh thị trường, giành thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản ngoài việc “đặt hàng” với các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết các vấn đề công nghệ chế biến, bảo quản nông sản mà cả các vấn đề sản xuất nông phẩm của các hộ nông dân Nhờ đó, sự liên kết giữa nhà doanh nghiệp, nhà nông với các nhà khoa học được thiết lập ngày càng vững chắc trên qui mô lớn, dẫn đến thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của giới khoa học ở các trường, các viện nghiên cứu khoa học
Tuy nhiên thể chế thị trường nông sản nếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân - doanh nghiệp theo kiểu hợp đồng nông nghiệp thì sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông, làm cho việc phân phối lợi nhuận không công bằng Người nông dân không có quyền mặc cả trên thị trường vì giá cả do doanh nghiệp quyết định Vì vậy trong mối liên kết này cần phải có vai trò điều tiết của nhà nước Hơn nữa, nhà nước còn đóng vai trò hỗ trợ cho người nông dân thông qua các dịch vụ công, đảm bảo phục vụ phát triển nông nghiệp và quyền lợi cho người nông dân
Nhìn chung, muốn phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao được giá trị của sản xuất nông nghiệp thì tất yếu phải liên kết và liên kết chặt chẽ hơn giữa “4 nhà”, phát huy vai trò của từng chủ thể trong mối liên kết này
3.3.2 Nhiệm vụ của từng chủ thể trong liên kết nông nghiệp
Thông qua mối liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả sản xuất của một số mặt hàng nông sản Tuy nhiên để có thể phát huy tốt được mối liên kết này chúng ta cần phải hiểu rõ đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ của từng chủ thể trong sản xuất nông nghiệp cũng như tính cầp thiết phải liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể kinh tế khác
Trang 17nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự
ổn định, đảm bảo sự an toàn cho phát triển
- Sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước đang phát triển
- Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế thông qua các nguồn thuế
- Người nông dân cũng là một người tiêu thụ hàng hóa Việc tiêu dùng của người nông dân đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng là tiêu biểu cho sự đóng góp
về mặt thị trường của nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế
Như vậy có thể thấy vai trò của người nông dân trong nền kinh tế so với các chủ thể khác là rất quan trọng Nếu người nông dân không tham gia vào nền kinh tế thì lúc đó
sẽ không thể nào có sự phát triển về kinh tế
+ Nhà nước
Vai trò của nhà nước thể hiện trước tiên là định hướng phát triển Trong nghị quyết
06 - NQ/TW8 về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” đề ra những cơ chế
và chính sách mới, tạo sự thông thoáng hơn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp
+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước;
+ Phát huy lợi thế từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học - công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh ra xuất khẩu
+ Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn
Theo quan điểm này thì nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng phát triển Trong đó, khuyến khích sự liên kết giữa các thành phần kinh tế và sự hợp tác giữa các chủ thể khác nhau nhằm nâng cao khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, tìm kiếm thị trường và nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp
8 Chính phủ Việt Nam (01/1998), Nghị quyết 06 - NQ/TW về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn”, Nghị quyết.
Trang 18Bên cạnh đó, nhà nước cũng thể hiện vai trò của mình thông qua một số chính sách, và các chương trình phát triển trong nông nghiệp, cụ thể là việc tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ sản xuất và xóa đói giảm nghèo (Peter Timmer P., 2010)9 và cũng được xem như chủ thể chính tạo ra môi trường liên kết thông thoáng, khuyến khích cho các chủ thể khác tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất nông nghiêp (GTZ, 2011)
+ N hà khoa học
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, các nhà khoa học đã liên kết với nhân dân, giúp họ tạo ra nông sản có sản lượng cao, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Sau đây là một số minh chứng cho thấy vai trò của nhà khoa học là không thể thiếu trong các mô hình liên kết nông nghiệp;
- Giúp bảo tồn và nâng cao chất lượng các sản phẩm của nhà nông như: Tám thơm Hải Hậu, vải thiều Thanh Hà Đây là những liên kết dựa trên cơ sở giúp nông dân bảo tồn giống sản phẩm truyền thống, tạo dựng thương hiệu; Qua các doanh nghiệp kinh doanh, sản phẩm đã đi vào thị trường, thúc đẩy ngành sản xuất lúa tám thơm Hải Hậu cổ truyền và vải thiều Thanh Hà phát triển
- Các nhà khoa học còn lai ghép nhiều giống cây mới, có sức chống bệnh cao, thích nghi tốt với môi trường để mở rộng ra trồng tại những nơi không thuận lợi như việc đưa cây điều ghép mở rộng ra trồng ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ - vùng còn nhiều đất trống, đồi núi trọc, cát trắng mênh mông thuộc các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Quảng Bình Cây điều ghép đã phát triển thành công trên vùng đất cát và đất đồi ở vùng này, bắt đầu cho thu hoạch thành sản phẩm hàng hóa Như vậy, sản phẩm mới - cây điều ghép, đã được tạo ra trên cơ sở sự liên kết giữa nông dân và nhà khoa học
- Giúp nông dân áp dụng KHCN để đạt sản lượng cao, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đáp ứng yêu cầu của thị trường Bên cạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ để tạo ra giống mới, với điều kiện khí hậu ngày càng biến đổi thất thường như hiện nay, các nhà khoa học còn phải nghiên cứu các giải pháp nhằm ứng phó với những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất của người nông dân Nhà khoa học dựa trên cơ sở khoa học để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến ngập lụt, môi trường và hệ thống thủy lợi của địa phương Từ đó đề xuất những quy hoạch, giải pháp để đối phó
9 Peter Timmer P.(2010), Vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp, Tố Như dịch.
Trang 19- Trong bối cảnh đất đai ngày càng khan hiếm, chất lượng đất ngày càng kém, nguồn nước thì ngày càng ô nhiễm, mực nước ngầm xuống rất thấp dễ có hiện tượng thiếu nước vào mùa khô như hiện nay, các nhà khoa học còn nghiên cứu các mô hình, công nghệ quy trình sản xuất sao cho tiết kiệm được nguồn nước, cải thiện, phục hồi được những phần đất suy thoái nhưng lại không gây ra ô nhiễm môi trường
- Nhà khoa học chính là việc bảo tồn và phát huy những giống gen cây trồng, vật nuôi quý hiếm có nguy cơ biến mất Lai tạo những giống cây, con này với các giống cây, con hiện tại để tạo ra nguồn gen quý
Như vậy có thể thấy, để nông nghiệp phát triển một cách bền vững thì vai trò của những nhà khoa học là rất quan trọng
+ D oanh nghiệp nông nghiệp
Sản phẩm của nhà nông muốn được trao đổi trên thị trường, chuyển đến người tiêu dùng đều phải thông qua các doanh nghiệp Việc các nhà doanh nghiệp hỗ trợ nông dân, liên kết nông dân, giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm cũng là mắt xích quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Mặt khác, ba vấn đề lớn của kinh tế thị trường mà từng nhà nông không thể giải quyết được là (i) thị trường tiêu thụ và thương hiệu, (ii) công nghệ mới, (iii) vốn đầu tư; Mà chỉ có doanh nghiệp mới có thể giải quyết tốt ba vấn đề này Giải quyết ba vấn đề này không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nông mà cho cả nhà doanh nghiệp chế biến - tiêu thụ nông sản
Các doanh nghiệp còn “đặt hàng” với các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết các vấn đề từ công nghệ chế biến, bảo quản nông sản đến sản xuất nông phẩm nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất trong cả chuỗi giá trị “từ trang trại đến bàn ăn”
Cụ thể là họ không chỉ đầu tư áp dụng các công nghệ mới nhất do các nhà khoa học tạo ra trong khâu chế biến - bảo quản - tiêu thụ nông sản, mà còn đầu tư giúp nhà nông áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông sản ở mỗi trang trại
Do vậy, hoạt động khuyến nông vì lợi nhuận do các doanh nghiệp thực hiện ngày càng phát triển, làm cầu nối giữa các nhà khoa học và nhà nông, đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và góp phần đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn
3.3.3 Cơ chế liên kết kinh tế
Để đảm bảo thành công của các liên kết kinh tế, cần có một cơ chế liên kết hợp lý
để tạo môi trường chính sách minh bạch, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
Trang 20Theo “Thuyết thiết kế cơ chế10” (Mechanism design Theory) đã đạt giải Nobel
2007 của ba nhà Kinh tế học người Mỹ là Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson thì cơ chế có thể là mọi thể chế và “luật chơi” chi phối các sinh hoạt kinh tế, từ việc xây dựng kế hoạch trong một nền kinh tế chỉ huy, tổ chức nội bộ một công ty, đến việc buôn bán nhỏ lẻ trên thị trường Theo quan điểm này, tất cả các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào một “cuộc chơi” đều phải tuân theo những quy tắc chung của “cuộc chơi”
đó và các chủ thể khi tham gia vào chuỗi giá trị nông sản cũng không nằm ngoài quy luật này Do vậy, quá trình liên kết giữa các bên mang tính bền vững và thành công đòi hỏi phải có một cơ chế liên kết rõ ràng, phù hợp với năng lực và hoàn cảnh nhất định
Trong nghiên cứu về “Cơ chế liên kết kinh tế giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long
và Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đinh Sơn Hùng (2011) đã nhận định rằng “Hiện nay, cơ chế liên kết kinh tế chỉ mới dừng lại ở những hợp đồng hợp tác, biên bản thỏa thuận giữa các bên chứ chưa có một cơ chế liên kết cụ thể, xác định vai trò, trách nhiệm
và những ràng buộc của các bên liên quan” Chính vì đặc điểm này khiến cho liên kết
vẫn còn rời rạc, mang tính chủ quan, chưa phát huy được hết tìm năng, thế mạnh của từng chủ thể Điều cần thiết là có một cơ chế liên kết với sự tham gia của tất cả các bên Như vậy liên kết mới có cái nhìn mang tính tổng thể, tránh được tình trạng mạnh ai nấy làm, dẫm chân nhau giữa các bên hoặc khi gặp những tranh chấp diễn ra, không có cơ sở pháp
lý để giải quyết
Bên cạnh đó, khi nói đến liên kết kinh tế thì chắc chắn sẽ phát sinh nhiều vấn đề mới vì mỗi chủ thể đều có một lợi ích khác nhau Do vậy, bên cạnh có một cơ quan điều phối thì cần phải có một cơ chế chung để dung hòa lợi ích của các bên tham gia Để đạt được điều đó, cơ chế liên kết kinh tế cần phải đạt được một số đặc điểm sau:
- Cơ chế liên kết phải được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của các bên tham gia trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi Cần hình thành hệ thống cơ chế sao cho vừa có tính ràng buộc, tổng quát, vừa có khả năng điều chỉnh uyển chuyển Hệ thống các cơ chế có thể bao gồm:
+ Cơ chế mang tính ràng buộc: xây dựng theo hướng tổng quát, mang tầm nhìn lớn cho toàn chuỗi liên kết, dựa trên các định chế, quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế
10Cơ chế (mechanism) theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary thì đó là “a method or a system for
achieving something” nghĩa là “một phương pháp hoặc một hệ thống để đạt được mục đích nào đó”
Trang 21+ Cơ chế uyển chuyển, để có thể điều chỉnh cho thích hợp với những diễn biến mới của nền kinh tế, phù hợp với điều kiện phát triển riêng của từng địa phương Thứ nhất,
cơ chế liên kết ở cấp độ chính quyền Hình thức thực thi của cơ chế này rất phong phú: đối thoại thông qua diễn đàn, các tổ công tác, hay cuộc gặp định kỳ với các nhà lãnh đạo địa phương với các cơ quan ban ngành chức năng và các doanh nghiệp Thứ hai, cơ chế thông qua các hiệp hội nghề nghiệp, hội doanh nghiệp Hỗ trợ xây dựng và phát triển thêm các hiệp hội có tổ chức tốt và đại diện được cho quyền lợi của các thành viên Từ
đó tạo tiền đề để mở rộng quy mô hoạt động, thu hút thêm các thành viên tham gia
- Tuy nhiên, nguyên tắc đồng thuận chỉ phát huy tác dụng ở giai đoạn khởi động, song khi hợp tác đi vào chiều sâu, đối với một số vấn đề lớn hoặc hiệu quả nhanh, nếu căn cứ theo nguyên tắc đồng thuận sẽ mất đi cơ hội, hoặc giá thành cao, không hiệu quả
và mang tính hình thức Do vậy cũng cần xây dựng cơ chế “đa số quyết định” Điều này
có thể xảy ra một số ảnh hưởng đối với lợi ích riêng lẻ của một địa phương nào đó Tuy nhiên, để liên kết tổng thể thật sự hiệu quả và bền vững, đôi khi cũng cần hy sinh vì lợi ích chung và lâu dài của chuỗi liên kết
Như vậy, Về mặt lý thuyết cơ chế liên kết kinh tế là một hệ thống các quy định do
cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền ban hành, nhằm vận hành, điều chỉnh, quản lý hệ thống các quan hệ, các yếu tố trong quá trình liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhằm đạt tới hiệu quả tối ưu cho sự phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của địa phương Trong phạm vi nghiên cứu về sự hợp tác, liên kết kinh tế trong nông nghiệp, các bên tham gia vào chuỗi liên kết này cần thiết phải xây dựng một cơ chế hoạt động rõ ràng và phù hợp nhằm tạo niềm tin và động lực phát triển cho từng chủ thể
kể cả hộ nông dân, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp hay cơ quan quản lý nhà nước
Trong phạm vi nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung tìm hiểu mức độ liên kết của các chủ thể khác nhau (Hộ nông dân, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và nhà nước) từ khâu sản xuất - tiêu thụ sản phẩm (chuỗi giá trị) Việc tạo ra sự liên kết của tất cả các chủ thể tham gia trong toàn bộ quy trình chuỗi theo nhận định sẽ rất khó khăn và phức tạp Do đó, dựa trên những bài học thành công của các mô hình liên kết hiện nay, nhóm nghiên cứu cố gắng tạo ra mô hình liên kết nhỏ (có thể có hai, ba hoặc bốn chủ thể tham gia) Trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu các cơ chế, vai trò, nhiệm vụ cũng như những điều kiện tác động nhằm đề xuất một mô hình bền vững, khắc phục những hạn chế nêu trên Để thực hiện được mục tiêu này, phần trình bày dưới đây sẽ giới thiệu và tìm hiểu mô hình
Trang 22liên kết kinh tế nông nghiệp thông qua chuỗi giá trị.
4 Liên kết kinh tế trong nông nghiệp thông qua chuỗi giá trị
4.1 Khái niệm Chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách bán chạy nhất của ông có tựa đề: Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance (Tạm dịch: Lợi thế Cạnh tranh: Tạo ra và duy trì hiệu suất cao) Khi đề cập đến chuỗi giá trị tức là nói đến một loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân bố đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky 199911; Kaplinsky và Morris
200112) Mục tiêu quan trọng nhất của chuỗi giá trị là đạt được hiệu quả cao nhất, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra giá trị tối ưu
Từ những khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu được chuỗi giá trị là một quy trình liên kết các hoạt động và các bên tham gia từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Trong đó, những người tham gia chuỗi giá trị làm việc cùng nhau, tận dụng những thế mạnh của mỗi bên và khắc phục những hạn chế bằng việc thiết lập tính hỗ trợ và các quy tắc quản trị nhằm tạo ra giá trị cao hơn, mang lại lợi ích tốt hơn cho các bên.
4.2 Phân tích chuỗi giá trị
Tùy theo mục đích mà xem xét mức độ chi tiết khi phân tích chuỗi giá trị Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng ta tìm hiểu hai loại chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng
Chuỗi giá trị nông sản giản đơn
Hoạt động trong các khâu cơ bản từ điểm khởi đầu sản xuất ra nông sản đến điểm kết thúc của sản phẩm, tức bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối cùng (từ thiết kế - sản xuất, phân phối - tiêu dùng) Chẳng hạn, hộ nông dân trồng rau xanh, sau khi thu hoạch, mang ra chợ bán trực tiếp cho người tiêu dùng Có thể trước khi đem ra bán, hộ nông dân có sơ chế rau xanh của mình bằng cách nhặt bỏ rễ, lá sâu… và rửa sơ qua bằng
11 Kaplinsky, R (1999) Globalisation and Unequalization: What can be learned from Value Chain Analysis Journal
of Development Studies 37(2).
12 Kaplinsky, R and M.Morris (2001) A Handbook for Value Chain Research Brighton, United Kingdom, Institute
of Development Studies, University of Sussex
Trang 23nước Trong chuỗi giá trị chỉ có sự tham gia của người nông dân - người sản xuất trực tiếp
và người tiêu thụ nông sản cuối cùng
Chuỗi giá trị nông sản giản đơn
Chuỗi giá trị nông sản mở rộng
Chuỗi giá trị nông sản mở rộng là được chi tiết hóa hay chuyên môn hóa các hoạt động và các khâu trong chuỗi giá trị nông sản giản đơn Mức độ chi tiết, chuyên môn hóa càng cao thì thể hiện càng nhiều bên tham gia và có liên quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau Cũng giống như chuỗi giá trị nông sản giản đơn, vấn đề ở đây là những hoạt động nào và thành phần nào của chuỗi được phối hợp và có khả năng tăng giá trị Quan trọng hơn là tác nhân nào đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị, giữ vai trò phối hợp và thúc đẩy hoạt động hiệu quả của toàn bộ chuỗi
Chuỗi giá trị nông sản mở rộng
Đầu vào sản xuất
Quá trình sản xuất
của người nông dân
Thu mua, bán buôn
Người thu gom
Người bán buôn
Người bán lẻ
Quá trình sản xuất
của người nông dân
Quá trình sản xuất của
người nông dân
Quá trình sản xuất
của người nông dân Người thu gom
Người thu gom
Người bán lẻ
Người bán lẻ
Sơ chế Phân phối
Người thu gom
Người thu gom
Người tiêu dùng
Trang 24Các tác nhân tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị
Các nhân tố và các liên kết chính trong chuỗi giá trị cần được xác định và làm rõ Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị được tạo ra bởi các liên kết giữa các tác nhân với nhau
và ngay trong tác nhân (intra và inter actor) qua thấu kính của các vấn đề về quản trị, nâng cấp và phân phối
Tùy theo tính chất của sản phẩm (có thể tiêu dùng ngay hay phải qua sơ chế/chế biến), vị trí của người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường (trong vùng hay ngoài vùng, trong nước hay ngoài nước) mà số lượng các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị của sản phẩm có sự khác nhau Ngoài ra cũng tùy tính chất của mỗi tác nhân chính trong chuỗi
mà có yêu cầu các hoạt động hỗ trợ khác nhau, qua đó mức độ tham gia của các tác nhân này cũng khác nhau trong chuỗi giá trị nông sản Cùng với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị thì vấn đề quan trọng là xác định những hoạt động, thành phần nào của chuỗi cần được hay có thể phối hợp và gia tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng Điều quan trọng là phải xác định được ai đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị, ai sẽ phối hợp và thúc đẩy toàn bộ hoạt động của toàn chuỗi
Theo đó, trong chuỗi giá trị nông sản, sự tham gia trực tiếp vào chuỗi có thể ở công đoạn sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm thô (tươi sống), hoặc công đoạn chế biến bao gồm sơ chế và tinh chế nông sản Tham gia vào khâu sản xuất nông nghiệp thường là những hộ nông dân, các trang trại với quy mô sản xuất rất khác nhau do điều kiện đất đai, nguồn nước và các điều kiện khác quyết định Tham gia vào công đoạn chế biến nông sản lại gồm nhiều hình thức khác, như chế biến thủ công, chế biến cơ giới, chế biến tự động hóa và kết hợp giữa thủ công và tự động hóa
Điều quan trọng là giá trị gia tăng được tạo ra ở hai nhóm công đoạn trên khác nhau, thường thì ở công đoạn sản xuất nông nghiệp chỉ tạo ra giá trị gia tăng rất thấp do năng suất của ngành nông nghiệp thấp hơn so với khu vực chế tạo, quá trình sản xuất với đối tượng là cây trồng, vật nuôi là những sinh vật sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng, lại chịu sự ảnh hưởng của khả năng sử dụng đất đai, nguồn nước cũng như ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, thời tiết… nên có rất nhiều hạn chế
Ngoài ra, tại các nước đang phát triển như Việt Nam, quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ bé, tính chất sản xuất hàng hóa chưa cao, còn mang nặng tính tự cấp tự túc, lao động thủ công là chính nên năng suất lao động thấp và hạn chế, hơn nữa, khả năng thay đổi công nghệ sản xuất rất khó khăn, khả năng đầu tư vào công nghệ mới rất hạn chế; nông dân thường sản xuất theo tập quán, kinh nghiệm từ xưa đến nay, truyền từ đời này sang
Trang 25đời khác, lạc hậu… nên ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của sản xuất và vị thế của nông dân trong đàm phán nói chung và tham gia vào chuỗi giá trị nông sản nói riêng
Trong khi đó, sở hữu công đoạn chế biến là những nhà đầu tư có vốn, có mục đích kinh doanh vì lợi nhuận, họ giữ bí quyết chế biến, và sử dụng nó để mưu cầu lợi nhuận Một nhà chế biến có thể có mối quan hệ với nhiều hộ nông dân sản xuất, vì vậy họ thường mua bán với hộ nông dân theo nguyên lý “mua đứt, bán đoạn” Sự chia sẻ lợi ích giữa hai công đoạn sản xuất và chế biến là hết sức khó khăn và luôn ẩn chứa những mâu thuẫn, đôi khi nảy sinh quan hệ đối kháng, bất hợp tác
Sự hợp nhất giữa hai nhóm công đoạn nói trên tạo ra mối liên kết dọc và là điều kiện tiên quyết của sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị nông sản
Trong trường hợp chuỗi giá trị nông sản mang tính toàn cầu thì hai công đoạn này phải được tổ chức rất chặt chẽ để tạo nên mối liên kết dọc giữa sản xuất nông nghiệp với chế biến công nghiệp, điều này là vô cùng khó vì nhà chế biến thường không quan tâm tới
sự hài lòng hay không của người nông dân đã cung cấp đầu vào sản phẩm cho mình Vì vậy sự tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị nông sản ở công đoạn sản xuất nông nghiệp tuy không khó khăn, do không đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật cao, nhưng gặp trở ngại lớn về khả năng liên kết với các tác nhân ở công đoạn chế biến, tức là liên kết giữa tầng lớp nông dân và các doanh nghiệp, nhà đầu tư
Trang 26II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC
1 Yếu tố nhận thức
Sự nhận thức về thế giới giúp con người có được định hướng phát triển những mối quan hệ có lợi và kìm hãm những mối quan hệ có hại Do đó, để phát triển mối liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác, yếu tố nhận thức của các chủ thể có ảnh hưởng quan trọng hàng đầu, mà trước hết là nhận thức một cách đầy đủ những lợi ích sự liên kết mang lại Lợi ích ấy sẽ trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia và duy trì liên kết hiệu quả
Các chủ thể cần có sự nhận thức đúng đắn về việc phát triển liên kết Trong đó, nhận thức của chủ thể nông dân mang ý nghĩa quyết định Bởi lẽ, nông dân là chủ thể trung tâm của mối liên kết, song trình độ của đa số nông dân Việt Nam hiện nay còn ở mức thấp và mặt bằng chung thấp hơn tất cả các chủ thể tham gia liên kết khác Trình độ thấp khiến người nông dân chưa thoát được những tập quán sản xuất lạc hậu để tiếp cận với nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa khi hội nhập với kinh tế thế giới Trình độ thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến những đặc điểm khó thay đổi của nông dân như: rụt rè, thiếu chủ động trong việc tạo lập và xây dựng mối quan hệ liên kết; tùy tiện trong quá trình sản xuất và thiếu kỷ luật trong việc tuân thủ các quy định liên kết Do đó, phát triển mối liên kết giữa nông dân với các chủ thể đòi hỏi tất cả các chủ thể mà đặc biệt là người nông dân phải:
- Nâng cao trình độ: nâng cao trình độ giúp người nông dân hiểu biết và sử dụng được các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; nắm được các thông tin về thị trường; tăng tính kỷ luật trong sản xuất và biết cách bảo vệ lợi ích chính đáng của bản thân trong quá trình liên kết… Nhờ đó, thúc đẩy phát triển mối liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác mà đặc biệt là các doanh nghiệp Các doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn khi bỏ vốn vào lĩnh vực nông nghiệp, mạnh dạn liên kết với các hộ nông dân để có nguồn đầu vào ổn định cả về số lượng lẫn chất lượng
- Chủ động trong liên kết: sự thụ động của người nông dân trong quá trình sản xuất khiến cho việc sản xuất không gắn với thị trường tiêu thụ và thiếu phương án lâu dài Một khi trình độ được nâng cao, nhận thức về lợi ích của việc liên kết mang lại càng đầy đủ, người nông dân sẽ càng chủ động trong việc tạo lập và xây dựng các mối liên kết Ngược lại, chủ động trong liên kết giúp người nông dân tạo thói quen chủ động tìm kiếm thị trường đầu ra, chủ động học hỏi kỹ thuật và công nghệ sản xuất để nâng cao trình độ, chủ
Trang 27động tính đến phương án kinh doanh lâu dài để duy trì mối liên kết Chủ động trong liên kết cũng là tiền đề để tạo ra các tổ chức liên kết giữa nông dân với nhau như: tổ, đội sản xuất hay điển hình là các hợp tác xã Trên cơ sở này, việc liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác sẽ trở nên thuận lợi hơn nhờ cắt giảm được các chi phí hành chính khi liên kết thông qua tổ chức đại diện cho các hộ nông dân
- Nâng cao ý thức pháp luật trong thực hiện liên kết: quá trình liên kết có sự tham gia của nhiều chủ thể với nhiều công đoạn được chuyên môn hóa Sự thành công của chuỗi giá trị được tạo ra từ liên kết phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các chủ thể tham gia liên kết Khi một công đoạn gặp sự cố sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến những công đoạn khác và ảnh hưởng đến tiến trình đưa sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng Vì vậy, ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể bằng một hợp đồng pháp lý là điều cần thiết
Để sự liên kết được duy trì và phát triển bền vững đòi hỏi các chủ thể phải nâng cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của hợp đồng Cần tránh các trường hợp đã diễn ra như: doanh nghiệp ép giá nông dân khi được mùa; nông dân tự ý bán sản phẩm cho các đối tượng khác khi được đề nghị với giá cao hơn…
2 Yếu tố nguồn lực sản xuất
Liên kết kinh tế giải quyết tất cả các công đoạn từ sản xuất cho đến phân phối sản phẩm cuối cùng tới tay người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất Trong đó, công đoạn sản xuất đóng vai trò chủ đạo và chi phối tất cả các công đoạn khác Vì thế, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác không thể không kể đến các nguồn lực sản xuất, bao gồm:
2.1 Quy mô đất đai
Liên kết giữa nông dân với các chủ thể giúp sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn dựa trên cơ sở tăng quy mô sản xuất và giảm thiểu chi phí theo quy mô Quy mô sản xuất gắn với quy mô nguồn vốn đầu tư và quy mô đất đai được sử dụng
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế Diện tích và mức độ tập trung của đất sản xuất nông nghiệp là một trong những nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến tiến trình liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác Ruộng đất càng manh mún và phân tán thì định phí sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích càng cao và việc liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác càng diễn ra khó khăn Ngược lại, khi các mảnh ruộng được tập trung gần nhau và tạo ra một diện tích đủ lớn, việc áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ cho sản xuất sẽ thuận lợi hơn; đồng thời, công tác giám sát
Trang 28toàn bộ quá trình sản xuất cũng thực hiện dễ dàng hơn, nhờ đó chất lượng của sản phẩm đầu ra đồng đều và đảm bảo hơn.
Ở Việt Nam, sau cải cách kinh tế năm 1986, kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển, ruộng đất theo đó cũng được chia nhỏ và phân tán Qua thời gian, nhu cầu liên kết giữa nông dân và các chủ thể lại được đặt ra một cách bức thiết, xu hướng tập trung hóa ruộng đất để hình thành các cánh đồng mẫu lớn và mở rộng diện tích sản xuất để phát triển hình thức tổ chức sản xuất trang trại là tất yếu
2.2 Nguồn nhân lực
Con người là chủ thể chính của mọi hoạt động, là nguồn lực của mọi nguồn lực Trong thời đại ngày nay khi các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, liên quan mật thiết và chi phối những yếu tố khác
Nghiên cứu về ảnh hưởng nguồn nhân lực đối với liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác, thực chất là đề cập đến số lượng và chất lượng của tất cả các chủ thể: nông dân, nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ so sánh với các yêu cầu của việc liên kết Chất lượng của nguồn nhân lực thể hiện qua các yếu tố:
- Thể lực: là tình trạng sức khỏe của người lao động, biểu hiện ở sự phát triển bình thường, có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất và đảm bảo thời gian lao động lâu dài Thể lực ảnh hưởng trực tiếp đến trí lực, nếu con người không nâng cao được thể lực thì khó phát triển trí tuệ và khả năng sáng trong học tập và lao động Trong nông nghiệp, hoạt động sản xuất gắn với các cơ thể sống
và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên yếu tố thể lực đóng vai trò rất quan trọng,
mà đặc biệt là đối với người nông dân – chủ thể trực tiếp của quá trình sản xuất nông nghiệp
- Trí lực: là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo để thích ứng với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các chủ thể Trí lực biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất (tư liệu sản xuất) và tinh thần (kinh nghiệm, tri thức khoa học…) vào hoạt động sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao; đồng thời trí lực cũng
là khả năng tự định hướng giá trị hoạt động của mỗi chủ thể để đạt được mục tiêu liên kết Trí lực đóng vai trò quyết định trong chất lượng nguồn nhân lực và chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của các chủ thể tham gia liên kết Vì thế, nâng cao trí lực của các chủ thể thông qua nâng cao trình độ là điều cần thiết
Trang 29- Tâm lực: là những chuẩn mực đạo đức của con người được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân Tâm lực tạo ra động cơ của các chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của các chủ thể trong quá trình liên kết như: sự tuân thủ các quy định của hợp đồng liên kết, sản xuất đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, cung cấp thông tin trung thực đối với người tiêu dùng… Nói cách khác, tâm lực góp phần phát huy vai trò của thể lực và trí lực của các chủ thể với tư cách là nguồn lực của xã hội nói chung
và của hoạt động liên kết nói riêng
Song song với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế - giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân - là sự dịch chuyển lao động ở nông thôn sang các lĩnh vực phi nông nghiệp, số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp mà đặc biệt là lực lượng lao động trẻ tuổi có xu hướng giảm dần Sự già hóa của lực lượng lao động trong nông nghiệp trở thành rào cản đối với tiến trình liên kết giữa nông dân với các chủ thể Giới hạn về tuổi tác khiến người lao động nói chung và người nông dân nói riêng thiếu sự sáng tạo và năng động trong hoạt động sản xuất; khó khăn trong việc tiếp cận với thị trường và các kỹ thuật sản xuất tiên tiến; rụt rè trong việc tạo lập và duy trì mối liên kết… Vì thế, phát triển liên kết giữa nông dân và các chủ thể phải tính đến việc thu hút lực lượng lao động trẻ tuổi tham gia vào sản xuất nông nghiệp
2.3 Khả năng tài chính
Khả năng tài chính bao gồm khả năng tự trang trải nguồn vốn kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay Khả năng tiếp cận vốn vay phụ thuộc vào khả năng chi trả các khoản vay trên cơ sở đánh giá mức độ khả thi của phương án kinh doanh cũng như nguồn tài sản đảm bảo cho khoản vay đó Khả năng tài chính càng tốt thì nguồn vốn cung ứng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp càng dồi dào
Tiến trình liên kết giữa nông dân với các chủ thể yêu cầu phải mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh nhằm tận dụng tính hiệu quả theo quy mô Vì vậy, nhu cầu về nguồn vốn của các chủ thể cũng sẽ tăng lên Ngược lại, khi nguồn vốn kinh doanh được đáp ứng, người nông dân và doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nguồn cung sản phẩm tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy và tăng cường liên kết kinh tế giữa các chủ thể để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách hiệu quả
Nhà khoa học cần vốn để thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đưa các ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất Nhà nước cần vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển hoạt động khuyến nông… Quá trình liên kết với sự tham gia của doanh nghiệp giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho người nông dân và nhà nước Doanh nghiệp cung
Trang 30ứng vốn cho nông dân đầu tư phát triển sản xuất và thực hiện bao tiêu sản phẩm đầu ra, cũng như tham gia cùng nhà nước phát triển hạ tầng nông nghiệp (bao gồm hạ tầng cơ sở vật chất; hạ tầng nguồn nhân lực) Nông dân là đối tượng bị hạn chế nhiều về khả năng tài chính vì không có tư cách pháp nhân, tài sản đảm bảo thiếu hụt… Hình thành hợp tác xã
là một cách để nâng cao khả năng tài chính cho người nông dân Với tư cách là tổ chức đại diện cho tập hợp những người nông dân, hợp tác xã có thể tiếp cận được với các nguồn vốn như ODA, FDI giúp người nông dân phát triển sản xuất
Một nhân tố quan trọng đòi hỏi người nông dân cần thiết phải tham gia liên kết nhằm tận dụng các nguồn vốn từ các chủ thể khác như nhà doanh nghiệp, nhà nước…tự thân người nông dân khó có khả năng tiếp cận được vốn từ các tổ chức tín dụng do không có cơ sở đảm bảo thế chấp nguồn vốn vay cũng như khả năng chi trả Khi tham gia liên kết, những hạn chế này sẽ được giải quyết và dễ dàng tiếp cận hơn thông qua sự bảo lãnh của nhà nước, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp
2.4 Ứng dụng khoa học công nghệ
Thành tựu khoa học công nghệ có thể tham gia vào tất cả các khâu trong chuỗi giá trị hàng nông sản từ sản xuất đến tiêu dùng, thể hiện qua việc tạo ra các hạt giống, con giống năng suất và chất lượng; các phương pháp sản xuất, bảo quản và chế biến hiệu quả; các phương tiện, máy móc thiết bị giúp tiết kiệm sức lao động; các phương pháp giám sát, quản lý trong tất cả các khâu…
Liên kết giữa nông dân và các chủ thể tạo điều kiện cho các thành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng trên diện rộng Trong điều kiện các nguồn lực sản xuất ngày càng bị giới hạn thì khoa học công nghệ là yếu tố giúp gia tăng hiệu quả sản xuất và tiết kiệm các nguồn lực khác Quy mô sản xuất càng manh mún và phân tán, việc ứng dụng khoa học công nghệ càng khó khăn vì định phí trên đơn vị sản phẩm ở mức cao Liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể giúp tăng quy mô sản xuất, tạo ra những cánh đồng mẫu lớn, nhờ vậy các thành tựu khoa học công nghệ có điều kiện được áp dụng trên diện rộng Đồng thời, sự quan tâm và giành nhiều nguồn lực của các chủ thể tham gia liên kết đối với các thành tựu này sẽ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ ngày càng phát triển
Ngược lại, khoa học công nghệ giúp tăng cường mối liên kết giữa nông dân và các chủ thể thông qua các nội dung như:
- Làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển mối liên kết bao tiêu sản phẩm giữa nông dân và doanh nghiệp Trong trường hợp
Trang 31quỹ đất bị hạn chế, việc mở rộng diện tích sản xuất gặp khó khăn thì hướng đi sản xuất theo chiều sâu, tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ là lựa chọn không thể thay thế.
- Làm tăng giá trị sản phẩm đầu ra, là động lực thúc đẩy nông dân và doanh nghiệp liên kết với nhà khoa học để đưa các thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất Doanh nghiệp với dây chuyền sản xuất và chế biến hiện đại, càng tạo ra được nhiều giá trị tăng thêm thì càng thắt chặt mối liên kết với nông dân để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào
- Khoa học công nghệ tăng cường khả năng giám sát việc tuân thủ các quy định của hợp đồng liên kết, cũng như giám sát để quá trình phân phối lợi ích giữa các chủ thể diễn ra một cách hợp lý Nhờ vậy, tạo môi trường lành mạnh để mối liên kết giữa nông dân với các chủ thể được duy trì và phá triển bền vững
3 Yếu tố thị trường
Trong thời đại ngày nay, bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng phải hướng đến thị trường để giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào Trong nông nghiệp, người nông dân sản xuất ồ ạt theo kiểu mạnh ai nấy làm thường chịu thua lỗ khi lượng cung dư thừa Tuy nhiên, do trình độ thấp và quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, người nông dân rất khó khắc phục được vấn đề này Hoạt động liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp sẽ giúp giải quyết các vấn đề về thị trường trong sản xuất nông nghiệp Trong liên kết, doanh nghiệp dưới sự hỗ trợ của nhà nước sẽ thực hiện các hoạt động tìm kiếm, nghiên cứu và phát triển thị trường thay cho người nông dân Nhà khoa học sẽ cung cấp các yếu tố đầu vào như: hạt giống, con giống và các kỹ thuật sản xuất, chế biến, bảo quản sao cho đáp ứng được thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng
Ngược lại, thị trường có vai trò định hướng, điều chỉnh cũng như quyết định mức
độ thành công của liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác Sự định hướng của thị trường tạo sự năng động cho tất cả các chủ thể tham gia liên kết Mọi hoạt động trong chuỗi liên kết phải dựa vào thị trường để giải quyết 3 vấn đề: liên kết để làm gì, liên kết với ai và liên kết như thế nào
Thị trường được cấu thành từ ba yếu tố: dung lượng, nhu cầu và sức mua Lần lượt từng yếu tố đều có những ảnh hưởng nhất định đến tiến trình liên kết giữa nông dân và các chủ thể:
+ Dung lượng: là toàn bộ khối lượng hàng hóa được đưa ra thị trường trong một thời gian nhất định Dung lượng thị trường phụ thuộc vào khả năng cung ứng của các chủ
Trang 32thể sản xuất hàng hóa trong xã hội và khả năng thanh toán của người tiêu dùng Nguồn cung trên thị trường của một mặt hàng hoặc mặt hàng thay thế cho mặt hàng đó càng dồi dào thì áp lực tạo ra đối với hoạt động liên kết giữa nông dân và các chủ thể càng lớn, vì hoạt động liên kết phải đảm bảo tạo ra và duy trì được sản phẩm có tính cạnh tranh với những đối thủ khác.
+ Nhu cầu: Các chủ thể tham gia liên kết căn cứ vào nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất cho ai cũng như liên kết để làm gì, liên kết với ai; căn cứ vào thị hiếu tiêu dùng để quyết định sản xuất như thế nào và liên kết như thế nào Đa phần hàng nông sản là hàng thiết yếu nên cầu ít co giãn theo giá Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì thị hiếu tiêu dùng càng trở nên phức tạp, trong đó mặt hàng nông sản cũng không
có tính loại trừ Ngày nay, thị hiếu tiêu dùng đối với hàng nông sản bị chi phối nhiều bởi yếu tố chất lượng, sản phẩm sạch và an toàn rất được ưa chuộng Bên cạnh đó, nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng thay đổi liên tục theo thời gian và khác nhau giữa các địa phương, vùng miền Do đó, các chủ thể tham gia liên kết cần nắm bắt những điều này để sản xuất, phân phối sản phẩm phù hợp nhất đến tay người tiêu
+ Sức mua: Sức mua của thị trường là căn cứ quan trọng để nhà sản xuất lựa chọn thị trường mục tiêu Đồng thời, nhà sản xuất cũng dựa vào sức mua của thị trường để tạo sản phẩm với giá thành phù hợp Tuy nhiên, đa số hàng nông sản là hàng thiết yếu, cầu kém co giãn theo giá và theo thu nhập, nên khi thu nhập tăng thì sức mua đối với chúng cũng không có nhiều thay đổi Mặt khác, vì là nhu cầu thiết yếu của đời sống, nên hàng nông sản cũng ít chịu ảnh hưởng của các biến động kinh tế vĩ mô như suy thoái kinh tế Nhờ vậy, liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể vẫn được giữ vững Bên cạnh đó, liên kết kinh tế cũng tạo ra nhiều cơ hội để khai thác sức mua của thị trường như thông qua hoạt động khoa học công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, hoặc thông qua hoạt động sơ chế, chế biến để tạo ra sản phẩm với giá trị tăng thêm… đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
4 Yếu tố vĩ mô
4.1 Cơ sở hạ tầng
Nếu các yếu tố về môi trường pháp lý là “phần mềm” thì cơ sở hạ tầng được xem
là “phần cứng” thúc đẩy liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác Cơ sở hạ tầng trong sản xuất nông nghiệp bao gồm: hệ thống giao thông; hệ thống đèn chiếu sáng; hệ thống thủy lợi, tưới tiêu; hệ thống cảng hậu cần… Cơ sở hạ tầng càng phát triển, càng mang lại nhiều lợi ích cho việc tạo lập và phát triển liên kết giữa nông dân và các chủ thể:
Trang 33- Hỗ trợ người nông dân mở rộng quy mô sản xuất khi được đáp ứng các điều kiện
về cơ sở hạ tầng; đồng thời tạo điều kiện cho các yếu tố sản xuất khác phát huy vai trò của mình, nhờ vậy thúc đẩy sản xuất phát triển
- Tăng cường trao đổi hàng hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa địa phương này với địa phương khác, giữa đất nước này với đất nước khác, giúp người nông dân tiếp cận tốt hơn với thị trường các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra
- Thu hút các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và tham gia liên kết với nông dân Bên cạnh đó, sự góp mặt của khu vực tư nhân cũng là cách để chia
sẽ gánh nặng tài chính cho nhà nước trong việc tiếp tục xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp
4.2 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm cơ chế, chính sách, pháp luật trong và ngoài nước Môi trường pháp lý thường tác động đến liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể theo các chiều hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển, đổi hướng phát triển tùy theo chủ đích của nhà hoạch định chính sách, đây là nhóm yếu tố vô cùng quan trọng và nhiều khi
có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động liên kết
Pháp luật điều tiết mối quan hệ của các bên khi tham gia vào liên kết Cơ chế chính sách thể hiện ý chí của nhà hoạch định đối với hoạt động liên kết Nhà nước thông qua rất nhiều chính sách để thúc đẩy liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác như: chính sách ruộng đất khuyến khích dồn điền đổi thửa để mở rộng quy mô sản xuất; chính sách khoa học công nghệ khuyến khích đầu tư nghiên cứu giống mới, kỹ thuật sản xuất mới; chính sách đầu tư thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp; chính sách nguồn nhân lực hỗ trợ nâng cao trình độ, đào tạo tay nghề cho người nông dân; chính sách tín dụng tạo điều kiện để người nông dân được tiếp cận vốn vay phát triển sản xuất… Môi trường pháp lý càng ổn định, thống nhất và thông thoáng càng thúc đẩy hoạt động liên kết phát triển mạnh mẽ Vai trò của chủ thể nhà nước trong liên kết bốn nhà được thể hiện rõ ở yếu tố này
5 Liên kết kinh tế nông dân trong bối cảnh gia nhập WTO
Từ năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO đã mở ra nhiều
cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho ngành nông nghiệp Việt Nam có điều kiện
mở rộng thị trường ra các nước, hàng hóa nông sản Việt Nam được hưởng quy chế đối xử quốc gia bình đẳng với các nước Việc cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản, mở rộng hạn ngạch và các ưu đãi quốc gia khác sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa nông sản Việt Nam xâm
Trang 34nhập và mở rộng thị trường sang các nước thành viên WTO và nhiều nước khác Tuy nhiên, các vấn đề rào cản thương mại, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, biến động giá cả, đặc biệt là việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên… sẽ là những thách thức lớn đối với nền nông nghiệp nước ta.
Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng, phần lớn sản xuất nông nghiệp do hộ nông dân với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đảm nhận Do vậy, bản thân từng nông
hộ khó có thể đáp ứng được các đơn đặt hàng lớn từ doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Bên cạnh đó, việc sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún khó đảm bảo được chất lượng nông sản đồng đều, giá thành rẻ để đủ sức cạnh tranh với nông sản từ các nước, đặc biệt là nông sản từ Trung Quốc và Thái Lan, thậm chí ngay trên thị trường nội địa Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Đà Nẵng như thủy sản, gạo, cà phê… cũng phải cạnh tranh vô cùng gay gắt với sản phẩm cùng loại của các nước Vì vậy, việc liên kết sẽ giúp cho nông dân và cho nền nông nghiệp phát triển vững mạnh hơn
Hơn nữa, nền kinh tế thế giới đang vận hành theo mô hình chuỗi giá trị toàn cầu Nghĩa là mỗi một quốc gia trở thành một mắt xích trong việc tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh để có thể tận dụng hết các thế mạnh của nhau Hàng nông sản Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất Việc xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị đối với hàng nông sản của Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng, có năng lực cạnh tranh cao ở trong nước làm tiền đề và điều kiện cho việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Như vậy, để hướng đến sự phát triển hợp tác liên kết bền vững trong sản xuất nông nghiệp, không chỉ đòi hỏi tăng cường liên kết giữa nông dân với nông dân, nông dân với các chủ thể khác, mà còn phải liên kết trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu Từ đó tạo điều kiện cho hộ nông dân khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức để phát triển ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới
Trang 35III KINH NGHIỆM LIÊN KẾT GIỮA NÔNG DÂN VỚI CÁC CHỦ THỂ KHÁC VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1 Kinh nghiệm liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác ở một số quốc gia tương
đồng
1.1 Kinh nghiệm liên kết thông qua hợp đồng ở Thái Lan
Sản xuất theo hợp đồng tiêu thụ nông sản là hình thức liên kết khá thành công trong sản xuất nông nghiệp ở Thái Lan Hình thức hợp đồng khá đa dạng và phần lớn xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp chế biến13
Phổ biến nhất là mô hình tập trung, giữa một bên là doanh nghiệp chế biến và một
bên là các trang trại Trong mô hình này người nông dân chủ yếu sản xuất gia công cho
doanh nghiệp chế biến Các doanh nghiệp chế biến đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, cung cấp đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật và kiểm soát chất lượng Hình thức này được Tập đoàn Charoen Pokphand thực hiện đầu tiên ở Thái Lan vào đầu những năm 1970 thông qua các hợp đồng ký với nông dân để chăn nuôi gà gia công Đây là hình thức thành công và được nhân rộng khắp Thái Lan Đến cuối thập niên 1990, gần 100% hộ chăn nuôi gà ở Thái Lan đều sản xuất gia công cho các doanh nghiệp chế biến Ngoài ra, Charoen Pokphand cũng triển khai nhiều hình thức khác nhưng đều thất bại như giữa thập niên 1980, được sự
hỗ trợ của Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp, Charoen Pokphand ký hợp đồng nuôi tôm và sản xuất lúa nhưng đều thất bại do nông dân không chấp nhận giá cố định do Charoen Pokphand đưa ra Ngoài ra, các tổ chức của chính phủ, các ngân hàng, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hỗ trợ tích cực việc thực hiện sản xuất theo hợp đồng, nên hình thức sản xuất theo hợp đồng đã lan tỏa sang nhiều sản phẩm khác như mía đường, rau quả Hiện nay, sản xuất rau an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) để xuất khẩu sang Hà Lan và Nhật Bản đều dưới hình thức sản xuất theo hợp đồng14
Mô hình trang trại hạt nhân cũng được nhiều doanh nghiệp kinh doanh trang trại ở
Thái Lan thực hiện như Công ty CP trong sản xuất giống lúa và bắp, công ty Euro Asian Seeds, công ty Saha Farm… Năm 1995, Frito-Lay mua lại Công ty TNHH Trang trại NS (NS Farm) của Tập đoàn United Foods ở San Sai Họ tiếp nhận các nhóm nông dân của
NS Farm và thành lập thêm nhóm nông dân khác để thực hiện sản xuất theo hợp đồng theo mô hình trang trại hạt nhân
13 Bảo Trung (2009), Luận án Tiến sĩ, “Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh.
14 Singh, Sukhpal (2005), “Role of State in Contract Farming in Thailand – Experience and Lessons”, ASEAN Economic Bullentin 22.
Trang 36Hợp đồng miệng giữa nông dân và người mua gom, hợp tác xã và doanh nghiệp ở
địa phương cũng khá phổ biến ở Thái Lan Đây là mô hình phi chính thức Nông dân
trồng rau, hoa ở Đông Bắc Thái Lan chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng với người mua để thực hiện sản xuất
Đối với mô hình trung gian, hai công ty chế biến rau quả ở Miền Bắc Thái Lan ký
hợp đồng trực tiếp với người mua gom và mỗi người mua gom chịu trách nhiệm giám sát 200-250 nông dân và được hưởng hoa hồng
Để phát triển hình thức sản xuất theo hợp đồng, mô hình đa chủ thể cũng được
khuyến khích Năm 1999, Cục Nội thương đã ban hành quy định về các điều khoản trong thỏa thuận sản xuất theo hợp đồng nhằm đảm bảo công bằng cho các bên Có nhiều tổ chức của nhà nước đã tham gia vào xúc tiến việc sản xuất theo hợp đồng như Ủy ban Đầu
tư, Ủy ban Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia,… Trong đó, hai tổ chức hỗ trợ phát triển mạnh sản xuất theo hợp đồng là Cục khuyến nông thuộc Bộ Nông nghiệp & hợp tác
xã và Ngân hàng Nông nghiệp & hợp tác xã thuộc Bộ Tài chính
Theo kinh nghiệm của Thái Lan, sản xuất theo hợp đồng với mô hình tập trung và
mô hình trang trại hạt nhân chỉ thực hiện đối với sản phẩm có yêu cầu về chất lượng cao
và sản phẩm có tính độc quyền của người mua Mô hình phi chính thức, mô hình đa chủ thể và mô hình trung gian là những mô hình phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp phân tán, lạc hậu; việc kinh doanh những sản phẩm này không có tính chuyên biệt hóa Đối với hình thức đa chủ thể, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy, phối hợp, tín dụng và khuyến nông
1.2 Kinh nghiệm liên kết trong sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc
Các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc mới trở nên phổ biến và mang lại hiệu quả khả quan từ thập niên 1990 nhờ vào chính sách công nghiệp hóa nông nghiệp Bằng những chính sách hỗ trợ và khuyến khích sản xuất theo hợp đồng của Chính phủ và chính quyền địa phương như hỗ trợ tín dụng, giảm thuế đã giúp cho ngành nông nghiệp nước này nâng cao thu nhập và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Việc liên kết sản xuất giữa nông dân và các chủ thể khác ở Trung Quốc bao gồm các hình thức: hợp đồng trực tiếp giữa nông dân và doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế lớn; giữa nông dân và người mua gom; giữa nông dân và chính quyền địa phương; và một số hình thức khác như tổ chức hợp tác của nông dân (Village cooperative organization) và hợp tác xã.15
15 Bảo Trung (2009), Luận án Tiến sĩ, “Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 37Để thúc đẩy sản xuất theo hợp đồng, Chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn và chỉ định các doanh nghiệp trung ương hoặc địa phương có tiềm lực kinh tế, quy mô lớn, có kỹ thuật và công nghệ ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân Ủy ban phối hợp phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp quốc gia đưa ra tiêu chuẩn và giám sát việc thực hiện của các doanh nghiệp này Nhờ đó việc sản xuất theo hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao Tuy nhiên, hình thức hợp đồng giữa nông dân và người mua gom trung gian cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn và chủ yếu là hợp đồng miệng
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, liên kết Sản xuất theo hợp đồng thành công còn tùy thuộc vào loại sản phẩm và thường liên quan nhiều đến những người mua có quy mô làm ăn lớn, chẳng hạn như công ty xuất khẩu hay các nhà máy chế biến lương thực Những đối tượng này cần một nguồn cung nguyên liệu đều đặn và những nguyên liệu đó phải đảm bảo về quy chuẩn chất lượng nhất định Do vậy, hình thức liên kết sản xuất theo hợp đồng thường ít thấy xuất hiện ở loại thực phẩm chính yếu, mà khá phổ biến trong hoạt động trồng trọt các cây công nghiệp (như mía, thuốc lá và cây chè), chăn nuôi
gà, ở các trang trại bò sữa, làm vườn, đặc biệt là khi sản xuất cho đối tượng người tiêu dùng có thu nhập cao, những người sẵn sàng trả giá cao nhất cho chất lượng và an toàn thực phẩm Và thực tế cho thấy, liên kết sản xuất theo hợp đồng có thể giúp những nông
hộ nhỏ tăng thu nhập và tiếp cận với các thị trường xuất khẩu cũng như các thị trường ở
đô thị
2 Kinh nghiệm mô hình liên kết giữa nông dân và các chủ thể khác ở một số tỉnh
thành trong nước
2.1 Kinh nghiệm liên kết thông qua các tổ hợp tác, hợp tác xã… trong canh tác rau -
hoa tại Lâm Đồng
Những năm gần đây, để khắc phục tình trạng sản xuất manh mún – nhỏ lẻ, nhất là khu vực canh tác rau – hoa, ngành nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng đã khuyến khích bà con nông dân tăng cường liên kết trong sản xuất, mà hình thức được nhiều nông dân tham gia
là các tổ hợp tác sản xuất Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 269 đơn vị kinh tế tập thể, gồm: 02 liên hiệp hợp tác xã, 65 hợp tác xã và 202 tổ hợp tác Trong đó sản xuất nông nghiệp được xem là lĩnh vực có nhiều tổ liên kết hoạt động hiệu quả
Trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng được phân thành 2 vùng sản xuất: Vùng cây công nghiệp ở 5 huyện phía Nam (Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên) và thành phố Bảo Lộc, các Hợp tác xã đã trực tiếp hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng, tiến hành cung ứng từ 80 - 85% khối lượng vật tư sản xuất nông nghiệp đến từng hộ xã viên Vùng rau, hoa ở 5 huyện phía Bắc (Đức Trọng, Đơn Dương,
Trang 38Lâm Hà, Lạc Dương, Đam Rông) và thành phố Đà Lạt, các Hợp tác xã đã ký kết và triển khai nhiều hợp đồng dài hạn với các đối tác trong nước, tiêu thụ từ 80 - 90% sản phẩm thu hoạch của xã viên.
Việc hình thành các tổ hợp tác được các hộ nông dân tự đứng ra thành lập Hình thức liên kết này khá đơn giản, số lượng hội viên tùy thuộc vào nhu cầu thực tế ở địa phương, lợi ích của hội viên được đặt lên hàng đầu, không đặt nặng vấn đề quản lý và hội họp Việc hình thành các tổ hợp tác vừa giúp bà con nông dân trong và ngoài tổ hợp tác tiêu thụ nông sản, vừa tiếp cận được những hỗ trợ mà ngành nông nghiệp địa phương triển khai Chính bởi được thành lập dựa trên nguyện vọng và nhu cầu thực tế của bà con nông dân, nên “sức sống” và “tuổi thọ” của các tổ liên kết hiện nay khá đảm bảo, tinh thần hợp tác và trách nhiệm của các tổ viên cũng được cải thiện Đây chính là cơ sở để giảm bớt tình trạng “mạnh ai nấy làm” thường thấy tại các vùng chuyên canh rau – hoa trước kia.16
Một trong những mô hình liên kết điển hình có thể kể đến là mô hình liên kết làm rau an toàn tại trang trại Phong Thúy, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng Tại khu vực trang trại Phong Thúy đã hình thành một tổ liên kết, trồng khoảng 30 loại sản phẩm rau củ được cấp chứng nhận VietGap như cà chua, ớt ngọt, ớt cay, đậu, su su, bí, dưa chuột, bắp cải, hành lá, cần tây, khoai tây… Bình quân mỗi năm trang trại Phong Thúy cung ứng cho thị trường khoảng 5.000 tấn rau an toàn, trong đó 3.000 tấn là do các nông hộ trong liên kết cung cấp. 17
Kinh nghiệm từ các mô hình canh tác rau hoa ở Lâm Đồng cho thấy, để đảm bảo hiệu quả, các nông hộ muốn được chọn tham gia chương trình chuỗi rau an toàn phải có kinh nghiệm thực tế, sản xuất và tiêu thụ nông sản với quy mô lớn, có khả năng liên kết với các nông hộ sản xuất đơn lẻ để xây dựng các liên kết sản xuất, tạo “đầu tàu” kéo những mô hình canh tác nhỏ lẻ cùng phát triển Việc triển khai chương trình chuỗi liên kết sản xuất đã tạo điều kiện cho các hộ đơn lẻ có thể liên kết với các đơn vị có quy mô sản xuất lớn, cùng nhau xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cung ứng cho thị trường
2.2 Kinh nghiệm liên kết sản xuất nông nghiệp thông qua mô hình liên kết bốn nhà ở
tỉnh An Giang
An Giang có thể được xem là một trong những địa phương đi đầu trong việc xây dựng mô hình liên kết bốn nhà Ngay từ năm 2000, tỉnh An Giang đã mạnh dạn đưa ra chủ trương “liên kết bốn nhà” nhằm kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo,
16 Anh Vũ (2012), Khó khăn trong liên kết sản xuất, Truy cập ngày 20/11/2012 tại địa chỉ:
http://www.dalat.gov.vn/ptth/detail.asp?id=975
17 Minh Sáng và Bùi Nguyễn (2012), Liên kết làm rau an toàn, Truy cập ngày 20/11/2012 tại địa chỉ:
http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/2/2/94123/Lien-ket-lam-rau-an-toan.aspx
Trang 39điểm hình như mô hình liên kết sản xuất lúa Nhật giữa Công ty Xuất Nhập khẩu An Giang (Angimex) và Công ty Kitoku của Nhật Bản với mục tiêu sản xuất lúa Nhật có giá
cố định theo hợp đồng ngay từ đầu vụ Đầu năm 2003, Hiệp hội nuôi và chế biến thủy sản
An Giang được thành lập, nhằm mục đích hình thành cách làm ăn mới theo hướng gắn kết giữa người nuôi, nhà chế biến và tiêu thụ sản phẩm, kết hợp hài hòa các lợi ích Vụ đông xuân năm 2004, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của tỉnh đã ký hợp đồng bao tiêu hơn 45.000ha lúa chất lượng cao, Công ty Antesco ký kết hợp đồng bao tiêu bắp non với
hộ nông dân
Mô hình liên kết bốn nhà trong sản xuất lúa ở An Giang đã thực hiện được liên kết
“dọc” giữa nông dân – tổ hợp tác – doanh nghiệp theo chuỗi giá trị sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng, giúp giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm, đồng thời giúp doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, dồi dào để xây dựng sản phẩm chế biến Qua đó cũng đã hình thành liên kết “ngang” giữa nông dân – tổ hợp tác nông nghiệp, trong đó người nông dân cùng hợp tác để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp, nâng cao năng lực cho chính họ và góp phần thực hiện thành công chỉ tiêu nông thôn mới đối với tiêu chí hợp tác sản xuất.18
Kinh nghiệm thực hiện mô hình liên kết bốn nhà ở An Giang cho thấy thuận lợi cũng nhiều nhưng khó khăn cũng chẳng ít Thuận lợi chủ yếu của mô hình là: (i) Do đây
là phương thức làm ăn mới và được chính quyền nhiều địa phương chú trọng thúc đẩy sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân như đề ra các chính sách liên kết 4 nhà, phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng và triển khai các đề án về tổ chức lại sản suất, gắn liền với chế biến và thị trường tiêu thụ; (ii) Nông dân được tiếp cận và ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rộng hơn, giúp tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận; (iii) Nông dân tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tạo thương hiệu cho nông sản địa phương, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng Bên cạnh đó, mô hình cũng bộc lộ nhiều khó khăn do mối liên kết giữa các chủ thể còn mang tính lỏng lẻo, mẫu thuẫn về lợi ích kinh tế: (i) Nhà nước chưa làm tốt vai trò chủ đạo, chưa tạo ra được một hành lang pháp lý phù hợp; (ii) Nhà khoa học thiếu mạnh dạn, lúng túng trong việc xây dựng vai trò liên kết; (iii) Nhà doanh nghiệp thì sợ rủi ro, nhất là khi gặp rủi ro do thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng khác; (iv) Nông dân không tuân thủ hợp đồng thường xuyên diễn ra
18 Nguyễn Tiến Dũng (2012), Mối liên kết 4 nhà: Thành công từ mô hình sản xuất lúa tại An Giang, Truy cập ngày
20/11/2012 tại địa chỉ:
http://www.ven.vn/moi-lien-ket-4-nha-thanh-cong-tu-mo-hinh-san-xuat-lua-tai-an-giang_t77c562n32546tn.aspx
Trang 402.3 Kinh nghiệm liên kết theo mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trong sản xuất lúa gạo ở
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
“Cánh đồng mẫu lớn” là khái niệm ở Việt Nam ban đầu được hiểu là làm mẫu những cánh đồng lớn Đó là những cánh đồng có thể một hoặc nhiều chủ, nhưng có cùng qui trình sản xuất, cùng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định.19 Mô hình cánh đồng mẫu lớn là bước phát triển mới của mô hình liên kết bốn nhà, cụ thể hóa chủ trương xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng tại Quyết định 80/2002/QĐ-TTg và Chỉ thị 24/2003/CT-TTg về xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chế biến tiêu thụ
Những năm gần đây, mô hình “cách đồng mẫu lớn” đã được người dân biết đến như một thành công đột phá của ngành sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với việc áp dụng tất cả các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến nhất trong sản xuất nhằm tăng sản lượng, năng suất, giảm chi phí và tăng thu nhập, mô hình này đã đem lại hiệu quả tích cực
và mang lại niềm vui cho những người tham gia, bao gồm người nông dân, nhà khoa học, doanh nghiệp và cả chính quyền địa phương, cán bộ quản lý nông nghiệp
Mô hình này được khởi xướng tại tỉnh An Giang, nơi có lợi thế về sản xuất lúa với sản lượng hàng năm lên đến hơn 3,6 triệu tấn, xuất khẩu từ 500.000 đến 600.000 tấn gạo Trong đó nổi bật là mô hình cánh đồng mẫu lớn của Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang Vụ Đông Xuân 2010 – 2011, 1200 ha của hơn 400 hộ nông dân ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã trở thành vùng sản xuất lúa nguyên liệu cho nhà máy chế biến của Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang Theo mô hình này, các hộ nông dân trồng lúa hưởng ứng chương trình “Cùng nông dân ra đồng” do tỉnh khởi xướng, liên kết lại với nhau, hình thành một cánh đồng rộng lớn theo nguyên tắc: cùng xuống giống một ngày, chăm sóc theo cùng quy trình “sạch”… Nông dân tham gia sẽ được Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang đầu tư ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… không tính lãi và
cử cán bộ kỹ thuật xuống trực tiếp cùng bám ruộng với nông dân Khi thu hoạch nông dân được hỗ trợ chi phí vận chuyển, lưu kho và được công ty thu mua với giá bằng hoặc cao hơn giá thị trường Nhờ được tư vấn kỹ thuật trồng lúa, thu hoạch, phơi phóng, đặc biệt là ghi chép quy trình sản xuất và chi phí vào sổ theo tiêu chuẩn VietGap, lần đầu tiên nhà nông đã tính toán được giá thành mỗi vụ Tất cả các chi phí cho nguyên vật liệu sản xuất đầu vào, nông dân đều được mua với giá gốc, ngoài ra họ còn được mượn kho trữ gạo trong vòng một tháng mà không trả phí và thanh toán không tính lãi sau khi bán lúa Cách làm này đã tránh được tình trạng người nông dân không kiếm được tiền để tái sản xuất vì
19 Vũ Trọng Bình, Đặng Đức Chiến (2012), Cánh đồng mẫu lớn: lí luận và tiếp cận thực tiễn trên thế giới và Việt Nam, Tài liệu Hội nghị “Cánh đồng mẫu lớn”, Hà Nội, 7/2012.