- Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: thường gồm có: Hối phiếu Bill of Exchange; Lệnh phiếu Promissory Note; Séc Cheque; Thư chuyển tiền Mail Transfer; Điện chuyển tiền
Trang 1- Khái niệm về ngoại hối, thị trường ngoại hối
- Thành phần tham gia trên thị trường ngoại hối
- Vai trò của thị trường ngoại hối trong nền kinh tế
1.1 Sự ra đời và phát triển của thị trường ngoại hối
Ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị được dùng để tiến hành thanh toán giữa các quốc gia Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước, khái niệm ngoại hối có thể không giống nhau, nhưng nhìn chung
có thể bao gồm 5 loại sau:
- Ngoại tệ: (Foreign Currency) tức là tiền của nước khác lưu thông trong một nước Ngoại tệ bao gồm 2 loại: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng
- Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: thường gồm có: Hối phiếu (Bill of Exchange); Lệnh phiếu (Promissory Note); Séc (Cheque); Thư chuyển tiền (Mail Transfer); Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer); Thẻ tín dụng (Credit card); Thư tín dụng ngân hàng (Bank Letter of Credit)
- Các chứng khoán có giá ghi bằng ngoại tệ như: Cổ phiếu (Stock); Trái phiếu công ty (Debenture); Công trái quốc gia (Government Loan); Trái phiếu kho bạc (Treasury Bill)
- Vàng bạc, kim cương, ngọc trai, đá quý… được dùng làm tiền tệ
- Tiền của Việt Nam dưới các hình thức sau đây: Tiền của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam; Tiền Việt Nam là lợi nhuận của người đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; Tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác Tất cả các ngoại hối nêu trên được quản lý theo Luật quản lý ngoại hối của nước CHXHCN Việt Nam hiện hành Thị trường hối đoái là nơi thực hiện việc mua và bán, trao đổi ngoại hối, trong đó chủ yếu là trao đổi, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán quốc tế, mà giá cả ngoại tệ được hình thành trên cơ
sở cung cầu Hoặc có thể nói thị trường hối đoái là nơi chuyên môn hóa về trao đổi
Trang 2Trang 2
mua bán ngoại tệ, thông qua sự cọ sát giữa cung và cầu ngoại tệ để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể kinh tế đồng thời xác định các điều kiện giao dịch tức là giá
cả và số lượng ngoại tệ mua bán
Năm 1876 Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi, v.v ) Ý tưởng ở đây là để ổn định tiền tệ thế giới bằng cách neo giá vàng Đó là một ý tưởng tốt về mặt lý thuyết, nhưng trong thực tế, vào khoảng đầu của Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, nó phá sản hàng loạt là do các nước lớn của châu Âu không có đủ vàng để hỗ trợ tất cả các đồng tiền của họ đã được in để trả tiền cho các dự án quân sự lớn cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ chế độ bản vị vàng
Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này chống được sự bành trướng tín dụng và nợ nần Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giá tiền tệ Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng Thay vào đó, tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do
họ phát hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó Mặc dù bản vị vàng bị sụp đổ, nhưng các kim loại quý không bao giờ bị mất vị trí của nó như là hình thức của giá trị tiền tệ Ở một số định chế tài chính tư nhân, bản
vị vàng vẫn được áp dụng Thế giới sau đó quyết định có tỷ giá hối đoái cố định mà đồng đô la Mỹ là đồng tiền chính và nó sẽ là đồng tiền duy nhất được hỗ trợ bằng vàng, còn được gọi là 'Hệ thống Bretton Woods, và nó đã xảy ra vào năm 1944
Năm 1971 Mỹ tuyên bố không còn trao đổi vàng cho đô la Mỹ đó là điều làm phá vỡ hệ thống Bretton Woods cuối cùng đã dẫn đến việc toàn cầu chấp nhận tỷ giá hối đoái thả nổi nước ngoài năm 1976 Đây là mốc "khai sinh" của thị trường ngoại hối hiện tại, mặc dù khi đó chưa giao dịch rộng rãi cho đến khoảng giữa những năm
1990
Trang 3Trang 3
Mãi đến năm 1997 khi thị trường ngoại hối mới mở cho các nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch trực tuyến (giao dịch ký quỹ), cung cấp cho các trader trên toàn thế giới cơ hội tuyệt vời để kiếm lợi nhuận từ thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối hiện nay là thị trường tài chính lớn nhất trên thế giới, với khối lượng được giao dịch trung bình hàng ngày 3,98 nghìn tỷ USD (nhiều hơn tất cả các thị trường tài chính của
Mỹ hợp lại)
1.2 Đặc điểm
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, thị trường hối đoái là một phần của thị trường tài chính, hoạt động mang tính chất đa dạng phong phú với những đặc điểm sau đây: Thứ nhất , thị trường hối đoái mang tính quốc tế vì nó hoạt động không chỉ trong phạm vi một nước, mà trên phạm vi toàn thế giới Mối sự biến động của tỷ giá hối đoái trên một thị trường này đều có ảnh hưởng đến tỷ giá trên những thị trường khác
Thứ hai, thị trường hối đoái mang tính liên tục, các giao dịch diễn ra 24/24 trong các ng ày làm việc trong tuần
Thứ ba, thị trường hối đoái chỉ giao dịch một số ngoại tệ nhất định , trong đó đồng USD được coi là đồng tiền chuẩn Trên thị trường hối đoái hiện nay tập trung giao dịch 15 đồng tiền chủ yếu, được công bố qua Forex.com
Thứ tư, sản phẩm giao dịch trên thị trường ngoại hối đã gia tăng rất mạnh, đặc biệt là sự tăng trưởng rất cao của các nghiệp vụ phái sinh như forward, option…
Thứ năm, phương thức giao dịch trên thị trường hối đoái chủ yếu là không qua quầy OTC (over the counter) mà được thực hiện qua qua điện thoại, telex, fax, vi tính nối mạng
1.3 Các thành phần tham gia giao dịch
Tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia mà đối tượng tham gia vào th ị trường hối đoái có thể có những khác nhau Nhưng có thể có 4 đối tượng sâu đây: các ngân hàng thương mại, các nh à môi giới, ngân hàng trung ương, các công ty kinh doanh
Các ngân hàng thương mại
Đây là nhân vật chính của thị trường Các ngân hàng này mua bán ngoại tệ không chỉ để thực hiện các lệnh của khách hàng mà còn kinh doanh cho chính bản thân các ngân hàng Các ngân hàng lớn còn hình thành bộ phận kinh doanh ngoại t ệ quốc tế Bộ phận n ày có vai trò quan trọng trong việc điều phối vốn, kinh
Trang 4Trang 4
doanh tiền gửi, mua bán ngoại tệ Nó được trang bị nhiều phương tiện thông tin hiện đại như telex, fax, điện thoại, máy tính Bộ phận này thường bao gồm các tiểu
bộ phận sau đây:
- Tiểu bộ phận chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ
- Tiểu bộ phận gồm các nhà phân tích để dự đoán tỷ giá, tính toán tỷ giá
- Tiểu bộ phận quản trị, kiểm soát
Các nhà môi giới
Họ là trung tâm giữa ngân hàng và qua đó họ phân tích các hoạt động của thị trường bằn g cách làm cho cung và cầu tiếp cận nhau Họ cung cấp cho khách hàng những thông tin tức thời về thị tr ường, khả năng tìm thấy bạn hàng khi cần gọi, họ bảo đảm cho sự vận hành tốt của c ơ chế thị trường và qua liên lạc màn hình giữa người mua và người bán cho tới khi thỏa thuận được giao dịch Với những thuận lợi, công lao của họ dành cho khách hàng nên nhà môi giới được tả công cho từng giao dịch mua bán
Ví dụ: Tiền phí cho môi giới ở Singapore là 25 SGD/ 1 triệu USD mua bán
Ngân hàng trung ương
Họ tham gia thị trường với 2 danh nghĩa Một mặt như mọi ngân hàng khác
họ tham gia thị trường hối đoái là nhằm phục vụ khách hàng của mình; mặt khác
họ tham gia với tư cách là cơ quan giám sát thị trường nhằm điều khiển hoạt động của thị trường trong khuôn khổ các quy định của luật pháp Đồng thời qua đó Ngân hàng trung ương theo dõi biến động củ đồng bản tệ để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết nhằm duy trì ổn định đồng bản tệ
Các công ty kinh doanh
Các công ty này tham gia mua bán ngo ại tệ để thanh toán các khoản nợ thương mại Dịch vụ, đầu tư nước ngoài Thông thường đó là công ty xuất nhập khẩu, dịch vụ quốc tế kể cả khách du lịch quốc tế
1.4 Cấu trúc thị trường
Theo tính chất của thị trường thì thị trường hối đoái được chia làm hai loại:
Thị trường ngoại hối chính thức (thị trường ngoái hối có tổ chức): Đây là loại
thị trường có quy chế và hoạt động của thị trường, có quy định tiêu chuẩn thành viên,
có quy trình giao dịch thanh toán được quy định chặt chẽ an toàn Trong thị trường chính thức có thể thực hiện giao dịch trong giờ giao dịch, cũng có thể được thực hiện
Trang 5Trang 5
không qua quầy (Over the counter – OTC) mà giao dịch qua hệ thống vi tính nối mạng, fax một cách trực tiếp giữa người mua và người bán
Thị trường phi chính thức (thị trường tự do): Đây còn được gọi là thị trwonfg
chợ đen (Unorganized market), là nơi mua bán trực tiếp và bằng tiền mặt Đây là loại thị trường không được thừa nhận về mặt pháp lý Thị trường này giải quyết nhanh chóng các nhu cầu ngoại tệ tiền mặt cho các đối tượng, nhưng có độ rủi ro rất cao
1.5 Quy mô thị trường
Thị trường ngoại hối là thị trường tài chính lớn nhất và phổ biến nhất trên thế giới, giao dịch trên toàn cầu bởi một số lượng lớn của các cá nhân và tổ chức Trên thị trường ngoại hối, nhà giao dịch có thể quyết định họ giao dịch với ai phụ thuộc vào điều kiện giao dịch, tỷ giá hấp dẫn, và danh tiếng của đối tác giao dịch
Biểu đồ dưới đây cho thấy trong các loại tiền tệ giao dịch nhiều nhất Đồng USD là đồng tiền giao dịch nhiều nhất, chiếm 84,9% của tất cả các giao dịch Đồng Euro đứng thứ 2 với 39,1%, trong khi đồng Yên là thứ ba với 19,0%
Biểu đồ trên cho thấy mức độ thường xuyên của đồng đô la Mỹ được giao dịch trên thị trường giao dịch ngoại hối 84.9% của tất cả các báo cáo giao dịch lại là cùng nằm 1 bên đồng USD
1.6 Vị trí và vai trò của thị trường ngoại hối
Hiện nay quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phát triển từ đó làm n ảy sinh nhiều hợp đồng mua bán ngoại thương Vì vậy, vấn đề được đặt ra là tổ chức nhập
Trang 6Trang 6
khẩu cần mua ngoại tệ để thanh toán cho nước ngoài, tổ chức xuất khẩu cần bán ngoại
tệ để lấy đồng nội tệ trang trải các chi phí phát sinh trong Các tổ chức này sẽ mua, bán ngoại tệ ở đâu, với giá cả là bao nhiêu Để giải quyết được vấn đề này cần thiết phải tổ chức thị trường ngoại hối Bởi thị trường ngoại hối sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản sau đây:
- Giá cả hàng hóa ở thị trường ngoại hối, tức là tỷ giá hối đoái sẽ được hình thành một cách thích hợp trên cơ sở cọ xát giữa cung và cầu ngoại hối Đó chính là giá phải chăng, giá vừa lòng người mua, thuận lòng người bán
- Thị trường cũng cho ta biết ai là người bán, ai là người có ngoại tệ nhàn rỗi tạm thời
- Số lượng ngoại tệ mua, bán là bao nhiêu
- Thông qua thị trường ngoại hối giúp Nhà nước có thể tham gia kiểm soát ngoại hối và có thể can thiệp vào thị trường thông qua sự tác động vào cung hay cầu ngoại tệ nhằm thực hiện chính sách kinh tế quốc dân
- Thị trường hối đoái giúp người mua và người bán gặp nhau khi cần thiết, thay
vì phải điện thoại hỏi các đơn vị khác nhau, có khi mua phải giá cao, giá thấp, hoặc trậm trễ trong thanh toán Ở Việt Nam, ngày 20/9/1994 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số 203/QĐ-NH ban hành quy chế "Tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng"
1.7 Giới thiệu sơ lược về thị trường ngoại hối Việt Nam
Bắt đầu từ ngày 20/09/1994, thị trường ngoại tệ Việt Nam được chính thức thành lập theo quyết định số 203/QĐ-NH của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Quy chế "Tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng" Thị trường này do Ngân hàng Nhà nước tổ chức và điều hành nhằm hình thành th ị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ, làm cơ sở cho việc ra đời của thị trường hối đoái hoàn chỉnh
ở Việt Nam Thông qua thị trường ngoại tệ liên hàng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng Quỹ điều hòa ngoại tệ với tư cách là người mua, người bán cuối cùng để can thiệp vào thị trường một cách có hiệu quả, nhằm thực hiện chính sách tiền tệ,
tỷ giá của Nhà nước
Điều 3 của Quy chế quy định đối tượng tham gia th ị trường liên ngân hàng phải thỏa m ãn các điều kiện sau đây:
- Là ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ
Trang 7Trang 7
- Có hệ thống thông tin nội bộ nối mạng với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các thành viên tham gia thị trường ngoại tệ liên hàng được quy định trong điều 2 của Quy chế Cụ thể bao gồm các ngân hàng sau:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh
- Ngân hàng đầu tư phát triển
- Ngân hàng thương mại cổ phần
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
- Ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng Việt Nam với ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
- Ngân hàng Nhà nước trung ương
Phương thức giao dịch thị trường ngoại tệ liên hàng được quy định ở điều
11, cụ thể bao gồm các phương tiện như điện thoại, telex, fax hoặc qua mạng vi tính
Đồng tiền giao dịch được quy định ở điều 6, bao gồm USD, DEM, GBP, FRF, JYP, HKD, VND Hiện nay các đồng tiền DEM, FRF đựoc thay thế bằng đồng EUR
Các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ được quy định ở điều 9, cụ thể bao gồm hai loại:
- Nghiệp vụ giao ngay - SPOT
- Nghiệp vụ có kỳ hạn - FORWARD
Câu hỏi ôn tập
1 Thị trường ngoại hối là gì? Nó giao dịch những loại hàng hóa nào? Có đặc điểm gì khác với thị trường hàng hóa?
2 Phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa các thành phần tham gia giao dịch trên thị trường ngoại hối sau đây:
- Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại
- Nhà đầu cơ và nhà môi giới
3 Ngân hàng thương mại đóng vai trò gì trên thị trường ngoại hối?
a Nhà kinh doanh b Nhà môi giới
e Tất cả đều đúng f Tất cả đều sai
4 Phân biệt thị trường có tổ chức và thị trường tự do? Cho ví dụ minh họa
Trang 8- Làm quen với cách niêm yết tỷ giá của ngân hàng để có thể dễ dàng lựa chọn
tỷ giá thích hợp cho từng giao dịch
- Biết cách tính tỷ giá chéo của hai đồng tiền dự trên cơ sở tỷ giá của hai đồng tiền đó với đồng tiền thứ ba
2.1 Hối đoái và tỷ giá hối đoái
2.1.2 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái giữa 2 đồng tiền chính là giá cả của đồng tiền nước này tính bằng 1 số đơn vị đồng tiền nước khác xác định tại một thời gian và thời điểm nhất
Trang 9Trang 9
hàm lượng vàng và bạc Năm 1850, khi khám phá ra hai mỏ vàng mới ở Mỹ và Úc, lượng vàng khai thác được đổ dồn về các quốc gia Châu Âu Nếu trước đó chỉ có Anh tiến hành vàng hóa thanh toán (tức mọi giấy bạc của Anh đều đổi được ra vàng) thì năm 1851, Pháp và một số quốc gia khác cũng đi theo bước chân của Anh Đồng bạc
bị loại khỏi thanh toán và chế độ bản vị vàng bắt đầu
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước bất kì thời kỳ bản vị vàng được quyết định dựa trên việc so sánh hàm lượng vàng của hai nước với nhau Giả sử hàm lượng vàng của đồng bảng Anh (GBP) là 1 ounce = 6 GBP trong khi hàm lượng vàng của franc Pháp (FRF) là 1 ounce = 12 FRF thì suy ra:
Dưới chế độ bản vị vàng, khi tiền giấy tự do đổi ra vàng và ngược lại, thì mọi biến động của tỷ giá hối đoái sẽ tự động được điều chỉnh về mức cân bằng Hãy lấy ví
dụ trên làm minh chứng Với hàm lượng vàng như trên giữa các đồng tiền GBP và FRF, giả sử GBP bị sụt giá trên thị trường ngoại hối tức 1GBP= 1,8FRF; một nhà nhập khẩu Anh cần 1000FRF để mua hàng hóa từ Pháp; nếu nhà nhập khẩu mua trực tiếp FRF bằng GBP, nhà nhập khẩu sẽ phải bỏ ra 555,56 GBP để có 1000FRF Tuy nhiên, nhà nhập khẩu này đã dùng 1000FRF để mua vàng tại Anh sau đó đổi từ vàng sang GBP Qui trình 1 khiến nhà nhập khẩu phải mua vàng để có 1000FRF với giá (1000/12)*6 = 500GBP; như vậy nhà nhập khẩu này đã lãi 55,56 GBP Các nhà nhập khẩu khác cũng sẽ làm tương tự như vậy dẫn đến cầu đồng bảng tăng cho đến khi tỷ giá quay trở lại vị trí cân bằng ban đầu 1GBP = 2FRF
Chế độ bản vị vàng với cơ chế ngang giá vàng đã đem lại nguồn lợi cho rất nhiều quốc gia đặc biệt là Anh Tuy nhiên đến cuối thế kỉ 19, các mỏ vàng đứng trước nguy cơ bị khai thác hết, lượng cung vàng khan hiếm dần, tình trạng giảm phát liên tiếp xảy ra, một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái mới xuất hiện: Cơ chế ngang giá sức mua
2.2.2 Ngang giá sức mua
Thời kì bản vị vàng qua đi, tiền giấy đảm nhận toàn bộ chức năng thanh toán, cùng với việc giấy bạc không được tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng ấn định, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái; thay vào đó, việc so
Trang 10Trang 10
sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của hai loại tiền tệ
Tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ chế ngang giá sức mua ra đời Và để nghiên cứu cơ chế này, chúng ta hay cùng nhau tìm hiểu thuyết ngang giá sức mua
Ý tưởng ngang giá sức mua xuất phát từ thế kỉ thứ 19 với sự góp mặt của nhà kinh tế học trường phái cổ điển David Ricardo, sau đó được mở rộng và hệ thống hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920 Ngang giá sức mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát diễn ra ở Đức, Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia này đột nhiên sụt giảm bất ngờ Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật một giá cho rằng:
Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức giá của hai quốc gia
đó Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem PD là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), PF là mức giá của giỏ hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :
Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = PD/ PF
Ví dụ tại Mỹ, một áo sơ mi bán với giá 4 USD trong khi tại Anh, cũng áo đó nhưng giá bán là 3 GBP thì trên thị trường Mỹ, tỷ giá sẽ là 1GBP = 4/3 = 1,3 USD
Cách áp dụng tính tỷ giá như trên gọi là PPP tuyệt đối, chỉ đúng trong trường hợp chi phí vận chuyển thấp, không có rào cản nào giữa hoạt động thương mại hai nước còn khi chi phí vận chuyển cao đi cùng với cạnh tranh không hoàn hảo, có sự can thiệp của nhà nước bằng các hàng rào thuế và phi thuế thì tỷ giá hối đoái chắc chắn sẽ không hoàn toàn được xác định như trên PPP tương đối được đưa ra để khắc phục nhược điểm này Đối với PPP tương đối thì tỷ giá được hình thành trên cơ sở xem xét chênh lệch lạm phát giữa hai nước
%∆S = %∆ PD - %∆PF Trong đó: %∆S: Tốc độ thay đổi của tỷ giá
%∆PD: Tỷ lệ lạm phát trong nước
%∆PF: Tỷ lệ lạm phát nước ngoài
Điều này có thể hiểu là nếu tỉ lệ lạm phát ở Việt Nam là 10%, ở Mỹ là 5% thì giá đồng đô la sẽ được nâng lên 5% so với đồng Việt Nam Tuy nhiên, PPP tương đối lại chỉ xem xét hàng hóa mậu dịch; đối với hàng hóa phi mậu dịch như dịch vụ cắt tóc thì PPP tương đối chưa giải thích được cơ chế hình thành tỷ giá, PPP tương đối không giải thích được tại sao cắt một kiểu đầu mới giá ở Mỹ là 20 USD trong khi ở Mêhicô chỉ có 7 USD Song dù thế nào đi nữa thì PPP cũng đã đưa ra được một cơ chế hình thành tỷ giá mới dựa trên cơ sở ngang giá sức mua, mặc dù tỷ giá được xem là chịu tác
Trang 11Trang 11
động của nhiểu yếu tố như lạm phát, lãi suất…song cái cốt lõi của việc hình thành tỷ
giá trong chế độ tiền giấy ngày nay vẫn chính là ngang giá sức mua
2.3 Phương pháp biểu thị tỷ giá
- Yết giá trực tiếp: là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị ngoại tệ qua 1 số
lượng nội tệ nhất định
VD: 1 USD = 20.800VND; 1 GBP = 32.049 VND (ở Việt Nam)
- Yết giá gián tiếp: là phương pháp biểu thị giá trị nội tệ thông qua một số lượng
ngoại tệ nhất định
VD: 1 GBP = 1,4521 USD (ở Anh)
1 USD = 103 JPY (ở Mỹ)
- Đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá
+ Đồng tiền yết giá là đồng tiền biểu thị giá trị của nó qua đồng tiền khác
+ Đồng tiền định giá là đồng tiền dùng để xác định giá trị đồng tiền khác
VD: EUR/VND = 23.459 hay 1 EUR = 23.459 VND
EUR biểu hiện giá trị của nó là 19.459 VND nên gọi là đồng tiền yết giá
VND dùng để xác định giá trị của EUR nên gọi là đồng tiền định giá
2.4 Tỷ giá chéo
Tỷ giá chéo là tỷ giá giữa 2 đồng tiền được tính toán thông qua một đồng tiền thứ 3 VD: Tại Paris, Ngân hàng Quốc gia Paris công bố tỷ giá:
USD/EUR = 0.8100 GBP/EUR = 1.4634 Xác định tỷ giá: USD/GBP chính là xác định tỷ giá chéo
2.4.1 Xác định tỷ giá chéo của hai đồng tiền định giá
Quy tắc 1 : Muốn xác định tỷ giá chéo của hai đồng tiền định giá, ta lấy tỷ giá có đồng tiền định giá mới chia cho tỷ giá có đồng tiền yết giá mới
Quy tắc 2 : Muốn xác định tỷ giá mua của hai đồng định giá ta vận dụng quy tắc 1 và bằng cách lấy tỷ giá mua chia cho tỷ giá bán
Quy tắc 3 : Muốn xác định tỷ giá bán của hai đồng định giá ta vận dụng quy tắc 1 và bằng cách lấy tỷ giá bán chia cho tỷ giá mua
VD: USD/JPY 119,04/06
USD/CHF 0,9951/53
Hãy xác định tỷ giá JPY/CHF?
Cách thực hiện:
Trang 12Trang 12
- Áp dụng quy tắc 1: JPY/CHF = USD/CHF chia cho USD/JPY
- Áp dụng quy tắc 2: Bid JPY/CHF = Bid USD/CHF chia cho Ask USD/JPY
- Áp dụng quy tắc 3: Ask JPY/CHF = Ask USD/CHF chia cho Bid USD/JPY
2.3.2 Xác định tỷ giá chéo của hai đồng tiền yết giá
Quy tắc 4: Muốn xác định tỷ giá chéo của hai đồng tiền yết giá ta lấy tỷ giá có đồng tiền yết giá mới chia cho tỷ giá có đồng tiền định giá mới
Quy tắc 5: Muốn xác định tỷ giá mua và tỷ giá bán của hai đồng tiền yết giá ta vận dụng quy tắc 4 và xử lý tương tự quy tắc 2 và quy tắc 3
VD: EUR/USD 1,0924/27
GBP/USD 1,4762/64
Hãy xác định tỷ giá EUR/GBP?
Cách thực hiện:
- Áp dụng quy tắc 4: EUR/GBP = EUR/USD chia cho GBP/USD
- Áp dụng quy tắc 5: Bid EUR/GBP = Bid EUR/USD chia cho Ask GBP/USD
- Áp dụng quy tắc 5: Ask EUR/GBP = Ask EUR/USD chia cho Bid GBP/USD
2.3.3 Xác định tỷ giá chéo của một đồng tiền yết giá, một đồng tiền định giá
Quy tắc 6: Muốn xác định tỷ giá chéo của một đồng tiền yết giá và một đồng tiền định giá (vị trí đó không thay đổi trong tỷ giá chéo) ta lấy tỷ giá đã công bố nhân lại với nhau
Quy tắc 7: Muốn xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của một đồng tiền yết giá và một đồng tiền định giá ta vận dụng quy tắc 6 và bằng cách lấy tỷ giá mua nhân tỷ giá mua
để có tỷ giá mua ; lấy tỷ giá bán nhân tỷ giá bán để có tỷ giá bán
VD: EUR/USD 1,0924/27
USD/VND 22.470/73
Hãy xác định tỷ giá EUR/VND?
Cách thực hiện:
- Áp dụng quy tắc 6: EUR/VND = EUR/USD nhân với USD/VND
- Áp dụng quy tắc 7: Bid EUR/VND = Bid EUR/USD nhân với Bid USD/VND
-Áp dụng quy tắc 7: Ask EUR/VND = Ask EUR/USD nhân với Ask USD/VND
Trang 13Trang 13
Quy tắc 9: Muốn xác định tỷ giá mua và tỷ giá bán đối ứng ta vận dụng quy tắc 8 và bằng cách nghịch đảo tỷ giá bán đã cho để có tỷ giá mua đối ứng và nghịch đảo tỷ giá mua đã cho để có tỷ giá bán đối ứng
2.5 Tỷ giá mua và tỷ giá bán
- Tỷ giá Ngân hàng Nhà nước: là tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố
hàng ngày Tỷ giá này thường dùng làm tỷ giá tham khảo cho các ngân hàng thương mại và làm tỷ giá tính toán trong công tác kế toán và kế hoach Tỷ giá này không áp dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ Trong giao dịch mua bán ngoại tệ người ta thường sử dụng tỷ giá của ngân hàng thương mại
- Tỷ giá của ngân hàng thương mại:
+ Tỷ giá bán là tỷ giá mà ngân hàng áp dụng khi ngân hàng mua vào đồng định
giá bán ra đồng yết giá
+ Tỷ giá mua là tỷ giá mà ngân hàng áp dụng khi mua vào đồng yết giá bán ra
đồng định giá
Nếu nói đầy đủ thì phải nói là tỷ giá mua và tỷ giá bán của ngân hàng, nhưng trên thực tế người ta ít khi nói đầy đủ mà thường nói ngắn gọn là tỷ giá mua và tỷ giá bán Là khách hàng chúng ta phải ngầm hiểu tỷ giá mua ở đây là tỷ giá ngân hàng mua, khách hàng bán và ngược lại
Giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua có chênh lệch (spread) nhằm đảm bảo cho ngân hàng có thu nhập để trang trải chi phí giao dịch và tìm kiếm lợi nhuận thỏa đáng Do vậy, khi yết giá ngân hàng thường yết cả giá mua và giá bán
VD: Một Ngân hàng thương mại có thể yết giá như sau:
USD/VND: 20.820 – 20.855 hoặc rút gọn là: USD/VND: 20.820 - 55
tỷ giá mua tỷ giá bán
+ Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá ngân hàng thương mại áp dụng để mua ngoại tệ tiền
mặt của khách hàng
+ Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá ngân hàng thương mại áp dụng để mua và bán
ngoại tệ chuyển khoản với khách hàng
+ Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá ở thời điểm cuối giờ giao dịch
+ Tỷ giá mở cửa là tỷ giá ở thời điểm đầu giờ giao dịch
Thông thường tỷ giá đóng cửa của ngày hôm trước bằng tỷ giá mở cửa của ngày hôm sau
Trang 14Trang 14
- Tỷ giá liên ngân hàng là tỷ giá áp dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ giữa
các ngân hàng với nhau trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Tỷ giá này chỉ áp dụng cho khách hàng là ngân hàng khác chứ không phải là khách hàng thông thường
Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày khái niệm ngoại hối, khái niệm tỷ giá hối đoái Cho ví dụ minh hoạ
2 Trình bày công thức tính chéo tỷ giá Cho ví dụ minh hoạ
Bài tập
Bài 1: Giả sử vào ngày 4/8/200x, trên thị trường ngoại hối quốc tế có bảng yết giá như
sau:
USD/VND: 22.447/49 USD/CHF: 1,2541/11 GBP/USD: 1,7651/91
EUR/USD: 1,2248/98 USD/JPY: 114,81/00 AUD/USD: 0,7681/27
Xác định tỷ giá và đối khoản tương ứng khi khách hàng muốn thực hiện các giao dịch sau:
g) Khách hàng G: Bán 12 triệu JPY lấy VND?
h) Khách hàng H: Mua 12 triệu JPY bằng VND?
i) Khách hàng I: bán 30.000 GBP lấy AUD?
j) Khách hàng J: mua 30.000 GBP bằng AUD?
Bài 2: Một công ty lữ hành A từ hoạt động kinh doanh nhận khách thu được 450.000
CNY Với số tiền này công ty A muốn dùng để thanh toán 500.000 JPY cho hoạt động gởi khách Số tiền còn lại công ty chuyển thành EUR Hãy xác định số EUR mà công
ty A sẽ có Biết rằng các tỷ giá được công bố như sau:
USD/CNY = 8,2745/80
USD/JPY = 118,20/119,60
EUR/USD = 1,3125/45
Bài 3: Một doanh nghiệp xuất khẩu thu được 5 triệu HKD, cần phải mua 1 triệu JPY
để thanh toán tiền nhập khẩu cho một Công ty của Nhật, số tiền còn lại chuyển thành EUR để đầu tư sang Pháp Hãy tính số EUR thu được? Biết rằng tỷ giá công bố như sau: USD/JPY 119,80/80
Trang 15Trang 15
USD/HKD 7,7460/90
USD/EUR 0,8110/20
Bài 4: Công ty Xuất nhập khẩu Thừa Thiên - Huế xuất khẩu thu được 40,000USD
muốn mua EUR để trả tiền nhập khẩu hàng hoá cho một công ty của Đức Hãy tính xem ngân hàng sẽ thanh toán cho công ty bao nhiêu EUR? Biết tỷ giá công bố như sau:
USD/VND = 22.470/22.480
EUR /VND = 24.226/24.236
Bài 5: Công ty xuất khẩu lâm đặc sản Quảng Bình cần bán 1 triệu JPY để mua GBP,
tỷ giá công bố như sau:
USD/JPY = 121,10/20
USD/GBP = 1,4740/43
a Ngân hàng sẽ áp tỷ giá bao nhiêu?
b Nếu ngược lại, công ty muốn mua 1 triệu JPY trả bằng GBP thì ngân hàng sẽ áp tỷ giá bao nhiêu?
Bài 6: Doanh nghiệp lữ hành Y nhận khách thu được 5.000 CHF Với số tiền này,
doanh nghiệp Y thanh toán 600.000 JPY cho hoạt động gởi khách Số tiền còn lại doanh nghiệp Y đổi thành USD Xác định số USD tương ứng?
Biết tỷ giá:
USD/JPY = 95,5284/96,853; USD/CHF = 1,1164/1,2352
Trang 16Trang 16
CHƯƠNG 3: CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI HỐI
Mục tiêu
Chương này sẽ giới thiệu các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối bao gồm nghiệp
vụ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau và quyền chọn Các nghiệp vụ này thường bao gồm khái niệm, phương pháp yết giá và kỹ thuật thực hiện Mục tiêu của chương này là nhằm trang bị cho sinh viên:
- Kiến thức chung về hoạt động của thị trường ngoại hối giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau và quyền chọn
- Kỹ năng thực hiện các giao dịch trên
3.1 Thị trường hối đoái giao ngay
3.1.1 Khái niệm
Nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong các
nghiệp vụ hối đoái Nghiệp vụ giao ngay là hoạt động mua bán ngoại tệ mà theo đó
việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc trong vòng hai ngày làm việc theo tỷ giá đã được thỏa thuận
3.1.2 Kỹ thuật thực hiện
Gọi N là ngày cam kết mua bán (ngày ký hợp đồng – date of contract) Thì N+2
sẽ là ngày giao nhận ngoại tệ và thanh toán được gọi là ngày giá trị (value date)
VD: - Giao dịch ngày thứ 2 thì ngày giá trị là ngày thứ 4
- Giao dịch ngày thứ 3 thì ngày giá trị là ngày thứ 5
- Giao dịch ngày thứ 4 thì ngày giá trị là ngày thứ 6
- Giao dịch ngày thứ 5 thì ngày giá trị là ngày thứ 2 tuần kế tiếp
- Giao dịch ngày thứ 6 thì ngày giá trị là ngày thứ 3 tuần kế tiếp
Mọi giao dịch giao ngay nếu không có thỏa thuận gì đặc biệt đều có giá trị sau hai ngày làm việc Tỷ gia mua bán trong giao dịch này được gọi là tỷ giá giao ngay
Ngày giá trị của giao dịch giao ngay chỉ có giá trị khi nó rơi vào ngày làm việc của hai nước có đồng tiền giao dịch Khi rơi vào ngày không làm việc (nghỉ lễ hoặc nghỉ cuối tuần) của một trong hai nước có đồng tiền giao dịch, ngày giá trị sẽ có hiệu lực vào ngày làm việc kế tiếp
3.1.2 Giao dịch ứng dụng nghiệp vụ giao ngay
Giao dịch ứng dụng nghiệp vụ giao ngay gọi là giao dịch ac-bit, đây là nghiệp
vụ hối đoái nhằm sử dụng mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường để thu lợi theo
Trang 17Giao dịch ac-bit có thể tiến hành giữa hai đồng tiền qua hai thị trường hoặc cũng có thể tiến hành giữa nhiều đồng tiền qua nhiều thị trường thông qua phương pháp tính tỷ giá nghịch đảo hoặc tính tỷ giá chéo
3.2 Thị trường hối đoái có kỳ hạn
3.2.1 Khái niệm
Giao dịch kỳ hạn là giao dịch là giao dịch mua bán một lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá xác định, việc giao nhận và thanh toán sẽ được thực hiện sau một thời hạn nhất định do hai bên thỏa thuận
3.2.2 Kỹ thuật thực hiện
Ngày giá trị giao dịch kỳ hạn = ngày thỏa thuận + kỳ hạn
VD: Ngày giao dịch là ngày 25/3 thì ngày giá trị kỳ hạn 1 tháng là ngày 25/4; ngày giá trị kỳ hạn 2 tháng là ngày 25/5
Nếu ngày giá trị rơi vào ngày nghỉ thì ngày giá trị có hiệu lực sẽ được tính sang ngày làm việc kế tiếp
Giao dịch kỳ hạn thường được thỏa thuận với các kỳ hạn bất kỳ tối đa là 12 tháng song phổ biến nhất là các kỳ hạn 1, 3 6, 9 tháng Đây là giao dịch phổ biến ở các thị trường ngoại hối hoàn chỉnh, ổn định và có uy tín
Giao dịch kỳ hạn chiếm vị trí rất quan trọng trên thị trường ngoại hối vì ngoài mục đích kiếm lời, đây là giao dịch được sử dụng rộng rãi để bảo hiểm vốn trong kinh doanh và tài chính Tham gia giao dịch kỳ hạn chủ yếu là các ngân hàng thương mại các công ty đa quốc gia và các nhà đầu tư tài chính mà hoạt động của họ thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của tỷ giá
Đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, việc tiến hành các giao dịch kỳ hạn với ngân hàng giúp họ tính toán trước được hiệu quả của thương vụ, hơn nữa đảm bảo tránh được rủi ro do biến động tỷ giá Điều này thể hiện ở chỗ những khoản tiền mà trong tương lai người ta mới cần đến hoặc mới có không phải được tính toán theo tỷ giá giao ngay vào thời điểm tương lai đó mà theo tỷ giá đã được xác định trước lúc thỏa thuận giao dịch kỳ hạn Tỷ giá sử dụng trong giao dịch kỳ hạn gọi là tỷ giá kỳ
Trang 18Trang 18
hạn Hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn là loại hợp đồng không thể hủy ngang Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng, các ngân hàng thương mại thường yêu cầu khách hàng ký quỹ hay đặt cọc với một mức tiền nhất định và có thể trả lãi cho số tiền
đó
3.2.3 Cách xác định tỷ giá kỳ hạn
Xuất phát từ lập luận rằng giao dịch kỳ hạn chính là giao dịch giao ngay kết hợp với giao dịch tiền gửi và đi vay trên thị trường tiền tệ, người ta thấy rằng tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền giao dịch chính là những căn cứ xác định
tỷ giá kỳ hạn
Gọi lãi suất kỳ hạn k ngày của đồng tiền yết giá là Ly (%/năm) và lãi suất cùng
kỳ hạn của đồng tiền định giá là Ld Tỷ giá giao ngay là S Tỷ giá kỳ hạn k ngày là F
Ta có:
( )
Thực chất tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá giao ngay được điều chỉnh bởi lãi suất của hai đồng tiền giao dịch: tỷ giá kỳ hạn bằng tỷ giá giao ngay cộng với một khoản chênh lệch nhất định liên quan đến chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền giao dịch và số ngày
kỳ hạn
- Nếu lãi suất của đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất của đồng tiền yết giá khoản chênh lệch này sẽ là số dương, khi đó tỷ giá kỳ hạn lớn hơn tỷ giá giao và được gọi là có điểm gia tăng
- Nếu lãi suất của đồng tiền định giá nhỏ hơn lãi suất của đồng tiền yết giá, khoản chênh lệch sẽ là số âm, khi đó tỷ giá kỳ hạn nhỏ hơn tỷ giá giao ngay, gọi là có điểm khấu trừ
3.2.4 Yết tỷ giá kỳ hạn
Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá kỳ hạn được yết theo hai cách:
1 Yết giá đầy đủ: outright quotation yết tỷ giá của hai đồng tiền theo những kỳ
Trang 193.3.2 Nghiệp vụ hoán đổi giao ngay/ kỳ hạn
- Nghiệp vụ mua (bán) giao ngay kết hợp với bán (mua) kỳ hạn cùng một lượng ngoại tệ nhất định
VD: Bán 100.000 USD giao ngay đồng thời mua 100.000 USD kỳ hạn 3 tháng
- Nghiệp vụ hoán đổi kỳ hạn/kỳ hạn: Nghiệp vụ kết hợp mua và bán cùng một lượng ngoại tệ với những kỳ hạn khác nhau
VD: Mua 500.000 USD kỳ hạn 2 tháng đồng thời bán 500.000 USD kỳ hạn 6 tháng Nghiệp vụ hoán đổi có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng thương mại, nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư trong việc phòng chống rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái
3.4 Thị trường tiền tệ giao sau
3.4.1 Khái niệm
Giao sau là nghiệp vụ mua bán một lượng ngoại tệ với tỷ giá xác định, việc giao nhận và thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời hạn được ấn định tại Sở giao dịch hối đoái
Giao dịch giao sau chỉ được thực hiện ở các Sở giao dịch hối đoái Hoạt động giao sau đầu tiên diễn ra vào ngày 16/5/1972 trên Thị trường Tiền tệ Quốc tế - một bộ phận của Sở giao dịch Chicago CME Sau đó hoạt động nãy đã được tiến hành phổ biến ở nhiều thị trường khác nhau như Sydney, NewYork, Singapore Ở Châu Âu, London là thành phố đầu tiên có thị trường giao sau với tên gọi LIFFE – London International Futures Exchange (1982) Sau đó xuất hiện thêm nhiều thị trường giao sau ở các nước khác như Pháp, Nhật Nghiệp vụ giao sau giống nghiệp vụ kỳ hạn ở
Trang 20Trang 20
chỗ là việc giao nhận và thanh toán sẽ được tiến hành ở một thời điểm trong tương lai theo một tỷ giá đã được xác định trước Song khác với nghiệp vụ kỳ hạn, các hợp đồng giao sau đều được chuẩn hóa về loại ngoại tệ, trị giá và thời hạn giao nhận
TIÊU CHUẨN HÓA HỢP ĐỒNG GIAO SAU TIỀN TỆ Ở CHICAGO
MERCANTILE EXCHANGE – CME
Trị giá HĐ 100.000 62,500 100.000 125.000 125.000.000 125.000 Mức ký quỹ L1 (USD) 1215 4,050 1080 2700 1890 4050 Mức ký quỹ duy trì
(USD) 900 3,000 800 2000 1400 4050 Biến động giá tối thiểu 1% 2% 1% 1% 1% 1%
Ngày giá trị (value date): Thứ 4 tuần thứ 3 của các tháng 3, tháng 6, tháng 9 và tháng 12
Giờ giao dịch thường xuyên: 7:20a.m – 2:00 p.m
3.4.2 Kỹ thuật thực hiện
Người mua hay người bán giao sau không trực tiếp giao dịch với ngân hàng mà qua phòng thanh toán bù trừ Các bên tham gia giao dịch giao sau bắt buộc phải đóng một khoản tiền ký quỹ nhằm mục đích đảm bảo vật chất cho việc thực hiện hợp đồng Tiền kỹ quỹ biến động hàng ngày theo sự biến động của tỷ giá giao dịch Nếu số tiền
kỹ quỹ giảm xuống dưới mức quy định thì người tham gia hợp đồng phải nộp thêm tiền vào Trái lại nếu tiền ký quỹ tăng lên, người tham gia hợp đồng có thể rút ra bằng tiền mặt để sử dụng cho các mục đích khác Cuối mỗi ngày, các hợp đồng giao sau đều được đánh giá lại Tùy theo sự biến động của tỷ giá mà nhà kinh doanh phải nộp thêm hay hưởng lợi tiền Phần lớn các giao dịch giao sau đều kết thúc trước khi đến hạn bằng nghiệp vụ giao dịch đảo nghịch với việc hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm kết thúc đó
VD: Công ty G cần 1 triệu CAD để thanh toán cho khách hàng vào tháng 3/2015 Ngày 10/1/2015 công ty G quyết định dùng USD mua 10 hợp đồng CAD, mỗi hợp đồng trị giá 100.000 CAD với tỷ giá 1 CAD = 0,5970 USD Số tiền ký quỹ là 1080 USD x 10 = 10.800 USD Mức ký quỹ duy trì giao dịch này là 800 USD x 10 = 8000 USD
- Cuối ngày 10/1 giá HĐ CAD tăng 15 điểm, công ty G được lời 0,0015 x 100.000 x 10 = 1.500 USD Số tiền này được bổ sung vào tài khoản ký quỹ hoặc rút ra
- Cuối ngày 11/1 giá HĐ CAD giảm 5 điểm, công ty G lỗ 0,0005 x 100.000 x 10
= 500 USD Số tiền này được trừ vào tài khoản ký quỹ (12.300 – 500 = 11.800 USD)
Trang 213.5 Thị trường quyền chọn ngoại hối
3.5.1 Khái niệm
Nghiệp vụ quyền chọn mua: Người mua quyền chọn mua có được quyền, nhưng không bắt buộc, mua một lượng ngoại tệ nhất định, theo một tỷ giá định trước vào một ngày đã được xác định trong tương lai hoặc trước ngày đó Người bán quyền chọn mua ngoại tệ có trách nhiệm phải bán một số ngoại tệ nhất định, theo một giá định trước tại một ngày xác định hoặc trước ngày đó khi người mua muốn thực hiện quyền chọn mua của mình
Nghiệp vụ quyền chọn bán: Người mua quyền chọn bán có quyền, nhưng không bắt buộc, bán một lượng ngoại tệ nhất định, theo một tỷ giá định trước vào một ngày
đã xác định trong tương lai hoặc trước ngày đó Người bán quyền chọn bán có trách nhiệm phải mua một số ngoại tệ nhất định, theo một giá định trước tại một ngày xác định hoặc trước ngày đó khi người mua quyền chọn bán muốn thực hiện quyền của mình
3.5.2 Phân loại quyền chọn
Tùy thời điểm thực hiện quyền chọn, hiện nay trên thị trường thế giới người ta chia hai kiểu quyền chọn:
- Quyền chọn kiểu Mỹ: Người mua quyền chọn có thể thực hiện quyền chọn của mình vào bất kỳ lúc nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng Thời điểm chấm dứt hợp đồng là thời điểm người mua quyền thực hiện quyền chọn của mình hoặc khi hợp đồng hết hạn
- Quyền chọn kiểu Âu: Người mua quyền chọn có thể thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn của hợp đồng Thời điểm chấm dứt hợp đồng là khi hợp đồng hết hạn.Mức phí giao dịch quyền chọn được thực hiện theo những căn cứ sau:
- Thời hạn hiệu lực quyền chọn
- Tỷ gia sgiao ngày hay tỷ giá kỳ hạn tại thời điểm ký kết hợp đồng
- Tỷ giá thực hiện
Trang 22- Giả sử tỷ giá vào thời điểm đến hạn hợp đồng giảm xuống 0.8110 Hỏi công ty
A có thực hiện quyền chọn mua của mình không? Tại sao?
- Giả sử tỷ giá tăng lên 0.8135 thì công ty có thực hiện quyền chọn mua của mình không? Tại sao?
Trên thực tế, các nhà xuất khẩu thường mua quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua vì họ muốn có sự đảm bảo chắc chắn về số ngoại tệ mà họ thu được từ số hàng đã bán Ngược lại, các nhà nhập khẩu thì lại thường bán quyền chọn bán hoặc mua quyền chọn mua Các nhà đầu tư cũng thường mua quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua v ì họ muốn có sự đảm bảo về tỷ giá đối với cam kết bằng ngoại tệ của họ Ngoài ra, tham gia vào các nghiệp vụ này còn có các nhà đầu cơ ngoại tệ nhằm mong kiếm lời
Câu hỏi và bài tập ôn tập
1 Thế nào là nghiệp vụ hối đoái giao ngay? Ngày thứ bảy 9/1/2015 khách hàng A thỏa thuận bán ngoại tệ cho ngân hàng theo hợp đồng giao ngay Như vậy hai bên sẽ chuyển giao ngoại tệ cho nhau chậm nhất ngày nào?
2 Thế nào là nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn? Tỷ giá kỳ hạn được xác định như thế nào?
3 Thế nào là một hợp đồng hoán đổi? Ưu nhược điểm của hợp đồng này như thế nào?
4 Phân biệt hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ và kiểu Âu?
5 Công ty A nhập khẩu lô hàng trị giá 450.000 AUD điều kiện trả chậm 5 tháng Để phòng ngừa rủi ro, ngày 01/01/2014 công ty đến ngân hàng X ký hợp đồng kỳ hạn Trong ngân quỹ hiện giờ không có AUD, ngân hàng X đã mua giao ngay số AUD nói trên từ ngân hàng Y Trong thời hạn hợp đồng kỳ hạn với công ty A chưa đến hạn ngân hàng X cho một khách hàng khác vay thời hạn 5 tháng Tính lợi nhuận của ngân hàng X? Biết rằng tỷ giá AUD/USD = 0,7293 – 97 và lãi suất tiền gửi – cho vay AUD: 4%/năm – 4,5%/năm; Lãi suất tiền gửi – cho vay USD: 3,45%/năm – 4,55%/năm
Trang 23Trang 23
6 Công ty GE xuất khẩu lô hàng may mặc trị giá 1000.000 GBP và nhập khẩu lô hàng nguyên vật liệu trị giá 758.000 EUR theo điều kiện trả ngay Đồng thời số dư trên tài khoản có 500.000 AUD và 5000.000.000 VND Hỏi số VND còn lại sau khi công ty thanh toán xong lô hàng nhập khẩu là bao nhiêu?
Biết rằng: GBP/USD = 1,5135 – 45; EUR/USD = 1,1582 – 80; AUD/USD = 0,8217 – 10; USD/VND = 21.310 – 21.330
7 Giả sử không có chi phí giao dịch, xét xem nhà đầu tư có thể thực hiện kinh doanh chênh lệch tỷ giá dựa vào bảng yết giá dưới đây không?
USD/CHF = 0,8630 – 35 ở Thụy Sĩ
GBP/USD = 1,5145 – 15 ở Mỹ
GBP/CHF = 1,3091 – 90 ở Anh
Mô tả cụ thể giao dịch trong 2 trường hợp:
a Nhà đầu tư kinh doanh với 1 triệu GBP?
b Nhà đầu tư kinh doanh với 1 triệu CHF?
8 Giả sử không có chi phí giao dịch, xét xem nhà đầu tư có thể thực hiện kinh doanh chênh lệch tỷ giá dựa vào bảng yết giá dưới đây không?
USD/CHF = 0,8630 – 35 ở Thụy Sĩ
USD/CHF = 0,8632 – 37 ở Mỹ
USD/CHF = 0,8648 – 68 ở Anh
USD/CHF = 0,8650 – 59 ở Singapore
Mô tả cụ thể giao dịch trong 2 trường hợp:
a Nhà đầu tư kinh doanh với 1 triệu USD?
b Nhà đầu tư kinh doanh với 1 triệu CHF?
9 Cô Mơ mua một quyền chọn mua của ACB có các điều khoản giao dịch được ghi trong hợp đồng như sau:
- Người bán quyền: ACB
- Loại quyền: mua
- Kiểu quyền: Mỹ
- Số lượng ngoại tệ: 100.000 EUR
- Tỷ giá thực hiện: 1,2302
- Thời hạn: 90 ngày
- Phí mua quyền: 0,01 USD cho mỗi EUR
Cậu Tượng mua của ACB một quyền chọn bán có các điều khoản giao dịch như sau:
- Người bán quyền: ACB
Trang 24- Phí mua quyền: 0,01 USD cho mỗi EUR
Tỷ giá giao ngày trên thị trường là EUR/USD = 1,2228 và hợp đồng quyền chọn vẫn còn hạn hiệu lực Vì cô Mơ và cậu Tượng chưa am hiểu lắm về hợp đồng quyền chọn nên nhờ bạn tư vấn giúp Theo bạn:
a Hiện tại cô Mơ và cậu Tượng nên thực hiện giao dịch quyền chọn không?
b Cô Mơ và cậu Tượng mong đợi gì ở tỷ giá thị trường giao ngay?
c Cho 1 ví dụ về mức giá trên thị trường giao ngay mà cô Mơ và cậu Tượng có thể thực hiện quyền chọn và xác định mức lãi mà họ sẽ có
10 Một doanh nghiệp nhập khẩu nhập lô hàng có trị giá USD120,000 Thời hạn thanh toán của lô hàng là 30 ngày kể từ ngày giao hàng Doanh nghiệp đang cân nhắc lựa chọn một trong những phương án sau để có được ngoại tệ thanh toán: Không sử dụng hợp đồng bảo hiểm rủi ro nào và sẽ mua USD thanh toán vào thời điểm đáo hạn; Sử dụng hợp đồng kỳ hạn; Sử dụng hợp đồng quyền chọn mua
Nếu lựa chọn quyền chọn mua, doanh nghiệp sẽ có quyền mua USD ở mức giá thực hiện là 20.860VND/USD và chịu mức phí là 150VND/USD Vào ngày giao hàng, thông tin về tỷ giá và lãi suất trên thị trường như sau: USD/VND = 20560 – 20660; Lãi suất USD là 3% - 7% (năm); Lãi suất VND là 14% - 20% (năm)
Nếu biến động tỷ giá vào ngày đến hạn thanh toán như bảng dưới đây, Anh/Chị hãy tính chi phí VND mà doanh nghiệp phải chi trả để mua USD120.000 theo từng phương án:
Tỷ giá Không phòng rủi ro HĐ kỳ hạn HĐ quyền chọn 20.750
Trang 254.1 Điều kiện về tiền tệ và điều kiện thanh toán
4.1.1 Điều kiện trong thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước có liên quan
Trong quan hệ thanh toán quốc tế, những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa
vụ của mỗi bên đều được quy tụ thành những điều kiện được gọi là điều kiện thanh toán quốc tế Những điều kiện trong thanh toán quốc tế: điều kiện về tiền tệ, địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán và phương thức thanh toán
4.1.2 Điều kiện về tiền tệ
Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng cho nước mình Vì vậy, khi thanh toán quốc
tế các bên xuất nhập khẩu phải đi đến thống nhất là dùng đồng tiền nước nào làm đồng tiền tính toán, đồng tiền thanh toán Đồng thời, quy định phương thức xử lý khi có sự biến động về giá trị của đồng tiền đó xảy ra Đồng thời, quy định phương thức xử lý khi có sự biến động về giá trị của đồng tiền đó xảy ra Có hai nội dung chính trong điều kiện này:
- Phân loại tiền sử dụng trong hợp đồng
- Điều kiện đảm bảo hối đoái
Khi thỏa thuận về điều kiện tiền tệ trong hợp đồng ngoại thương, cần phân biệt
rõ các thuật ngữ được sử dụng trong phân loại tiền tệ sau:
Căn cứ vào hình thái tồn tại của tiền tệ có thể phân thành 2 dạng:
+ Tiền mặt: bao gồm tiền giấy và tiền kim loại của từng quốc gia riêng biệt
+ Tiền ghi sổ hoặc tiền chuyển khoản: dạng tiền tệ này tồn tại dưới dạng con số trong tài khoản, sổ sách kế toán tại các ngân hàng
Căn cứ phạm vi sử dụng tiền tệ có thể phân biệt 3 loại sau:
Trang 26Trang 26
+ Tiền thế giới: thuật ngữ này để chỉ vai trò của vàng tiền tệ
+ Tiền quốc tế: là các đơn vị tiền tệ được hình thành thông qua các Hiệp định của các tổ chức tài chính quốc tế (SDR), EURO
+ Tiền tệ quốc gia: là đồng tiền của mỗi quốc gia riêng biệt như Đô la Singapore,
Đô la Mỹ
4.2 Đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán
Căn cứ mục đích sử dụng trong thanh toán tiền tệ được chia làm hai loại:
+ Tiền tệ tính toán: là đồng tiền thể hiện giá cả và tính toán giá trị hàng hóa, dịch
vụ giữa hai nước, do người mua và người bán thỏa thuận với nhau lựa chọn
+ Tiền tệ thanh toán: là đồng tiền được dùng để thanh toán công nợ, quyết toán gía trị hợp đồng xuất nhập khẩu khi đến hạn
Nhân tố tác động đến việc lựa chọn đồng tiền để ghi hợp đồng:
- Tương quan đối bên về kinh tế và chính trị: thường chọn đồng tiền của nước mạnh về tiềm lực kinh tế Nếu hai bên tương đương thì chọn đồng tiền của nước thứ ba
- Phụ thuộc vào tập quán và thông lệ quốc tế về sử dụng đồng tiền trong thanh toán quốc tế
- Vai trò, vị trí và uy tín của đồng tiền thanh toán trên thế giới
4.3 Điều kiện đảm bảo hối đoái
Trong các hiệp định hay hợp đồng mua bán ngoại thương thường quy định các điều kiện bảo lưu nhằm đảm bảo giá trị thực tế của các khoản thu nhập khi tiền tệ lên xuống thất thường, hạn chế tối đa những tổn thất gây ra bởi sự biến động thường xuyên của tỷ giá hối đoái trên thị trường gọi là điều kiện đảm bảo hối đoái
Đảm bảo hối đoái theo một đơn vị tiền tệ
- Trong hợp đồng thương mại đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán là một
Mặt khác, chọn đồng tiền của nước thứ ba có sức mua ổn định hơn để làm đồng tiền đảm bảo và xác định tính tỷ giá giữa đồng tiền thanh toán và đồng tiền chọn Đến ngày thanh toán điều chỉnh tăng hay giảm giá trị hợp đồng một cách tương ứng với sự thay đổi của tỷ giá
- Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán và thanh toán là hai đơn vị tiền tệ khác nhau Khi thanh toán tiền, căn cứ vào tỷ giá giữa đồng tiền tính toán và thanh
toán để xác định số tiền cần phải trả
Đảm bảo hối đoái theo “rổ” tiền tệ
Trang 274.4 Điều kiện địa điểm thanh toán
Địa điểm thanh toán là nơi người bán nhận được tiền còn người mua trả tiền Trong thanh toán ngoại thương, địa điểm thanh toán có thể ở nước người nhập khẩu hoặc ở nước người xuất khẩu hoặc ở nước thứ ba
Bên nào cũng thích thanh toán tại nước mình Đối với người xuất khẩu nếu địa
điểm thanh toán ở ngay nước mình thì việc thu tiền sẽ nhanh hơn, có điều kiện sử dụng
và quay vòng vốn có hiệu quả hơn, tránh được trở ngại về quy định quản lý ngoại hối khắt khe Đối với người nhập khẩu thì tránh được sự ứ đọng vốn, tiết kiệm chi phí hơn
4.5 Điều kiện thời gian thanh toán
4.5.1 Trả tiền ngay (pay down)
Trả tiền ngay là điều kiện để xác định việc giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ và
việc trả tiền của người nhận, là hai việc phải được tiến hành đồng thời Người mua trả
tiền cho người bán ngay khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
4.5.2 Trả tiền trước (before payment)
Nghĩa là bên mua trả tiền một phần hay toàn bộ cho bên bán trước khi giao nhận hàng hóa Mục đích trả trước là để người mua cung cấp tín dụng thương mại cho người
bán, hoặc để ràng buộc người mua phải thực hiện hợp đồng
4.5.3 Trả tiền sau (after payment)
Trả tiền sau là hình thức bán chịu hàng hóa cho người mua, đây cũng chính là tín dụng thương mại mà người bán (người xuất khẩu) cung cấp cho người mua (người nhập khẩu)
Người mua trả tiền cho người bán sau khi giao hàng một thời hạn nhất định (1
tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm,…) Các cách trả sau: Trả sau 1 lần khi đáo hạn và trả
sau nhiều lần
4.6 Điều kiện về phương thức thanh toán
Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay là:
+Phương thức chuyển tiền
+Phương thức nhờ thu
Trang 28Trang 28
+Phương thức tín dụng chứng từ
Mỗi phương thức thanh toán đều có một quy trình riêng, có ưu nhược điểm khác nhau Tùy trường hợp cụ thể mà lựa chọn phương thức thích hợp và khi đã thống nhất thì phương thức thanh toán phải được khẳng định trong hợp đồng kinh tế
Câu hỏi ôn tập
1 Thế nào là điều kiện đảm bảo hối đoái theo rổ tiền tệ?
2 Điều kiện về thời gian thanh toán bao gồm những điều kiện nào? Ảnh hưởng của các bên nhập khẩu và xuất khẩu theo các điều kiện này
3 Có bao nhiêu phương thức trong thanh toán quốc tế? Phương thức thanh toán nào thường được sử dụng hiện nay?
Trang 295.1 Giới thiệu chung về các loại thanh toán quốc tế
Việc lựa chọn phương tiện thanh toán này hay phương tiện thanh toán khác phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Trước hết, cần xem xét mức độ thường xuyên hay không thường xuyên của các mối quan hệ thương mại Thứ hai, cần lưu ý đến khối lượng thanh toán hay quy mô giao dịch lớn hay nhỏ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn phương tiện thanh toán nào để đảm bảo an toàn nhất Thứ ba, cần xem xét mức độ tín nhiệm giữa các bên tham gia cao hay thấp Thứ tư, cần tìm hiểu tập quán kinh doanh của mỗi nước để có sự lựa chọn phương tiện thanh toán phù hợp
Các phương tiện thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng Nó có vai trò hết sức quan trọng trong thanh toán quốc tế
Hoàn toàn khác với tiền kim loại đầy đủ giá trị, các phương tiện lưu thông tín dụng không có giá trị nội tại của nó mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ mà thôi Tiền giấy là ký hiệu của tiền thật do Nhà nước phát hành, còn phương tiện lưu thông tín dụng phần lớn là do kết quả của hợp đồng mua bán hàng hóa và các nghiệp vụ của ngân hàng tạo ra Nó thực hiện một số chức năng của tiền như là phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán, tức là nó có th ể được chuyển nhượng, mua bán từ tay người này sang tay người khác bằng cách chuyển nhượng cho người thụ hưởng hoặc chuyển giao không cần ký chuyển nhượng
Trong chương này chúng ta chỉ nghiên cứu 3 loại phương tiện thanh toán quốc
tế thông dụng trong ngoại thương, đó là hối phiếu, lệnh phiếu, séc
5.2 Hối phiếu (Bill of Exchange hoặc Draft)
5.2.1 Khái niệm về hối phiếu
Trang 30Trang 30
Ở chương này, khái niệm Hối phiếu được hiểu là Hối phiếu đòi nợ Hối phiếu là một lệnh viết đòi tiền vô điều kiện của người ký phát hối phiếu cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc một ngày
có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu
Qua định nghĩa này, chúng ta thấy hối phiếu có 3 đặc điểm quan trọng sau: Thứ nhất, tính trừu tượng của hối phiếu thể hiện rằng trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân sinh ra việc lập hối phiếu mà chỉ cần ghi số tiền phải trả và những nội dung có liên quan đến việc trả tiền Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng buộc do nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu Một khi được tách khỏi hợp đồng và nằm trong tay người thứ ba thì hối phiếu trở thành một trái vụ độc lập, chứ không phải là trái vụ sinh ra từ hợp đồng Nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng
Thứ hai, tính bắt buộc trả tiền c ủa hối phiếu thể hiện ng ười trả tiền hối phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên phiếu và không được viện những lý do riêng của mình đối với người phát phiếu, người ký hậu để từ chối việc trả tiền, trừ tr ường hợp hối phiếu được lập trái với đạo luật chi phối nó Ví dụ: một người đặt hàng mua máy móc, sau khi ký hợp đồng đã chấp nhận trả tiền vào tờ phiếu do người cung cấp hàng gửi đến, hối phiếu đó đã được chuyển đến tay người thứ ba thì người đặt hàng bắt buộc phải trả tiền cho ng ười cầm phiếu này ngay cả trong trường hợp người cung cấp hàng
vi phạm hợp đồng không giao hàng cho người mua
Thứ ba, tính lưu thông của hối phiếu thể hiện hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó, bởi vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của một người này với người khác, hối phiếu có một trị giá tiền nhất định, có một thời hạn nhất định, thời hạn này thường là ngắn và được người trả tiền chấp nhận Như vậy nhờ vào tính trừu tượng và tính bắt buộc nghĩa vụ trả tiền mà hối phiếu có tính lưu thông
5.2.2.Việc thành lập hối phiếu và lưu thông hối phiếu
Vì hối phiếu phải lưu hành nên nó ph ải có một hình thức nhất định để ng ười ta
có thể dễ dàng phân biệt hối phiếu với các phương tiện thanh toán khác Hối phiếu thương mại là một văn bản xác nhận một trái vụ trả tiền có tính chất th ương mại, cho nên hối phiếu phải có một nội dung nhất định phù hợp với luật lệ chi phối nó
Hối phiếu phải làm thành văn bản Hối phiếu nói, điện tín, điện thoại v.v đều không có giá trị pháp lý
Trang 31dễ phai như mực đỏ đều trở thành vô giá trị
Hối phiếu có thể lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số thứ tự, các bản đều có giá trị như nhau Khi thanh toán, ngân hàng thường gửi hối phiếu cho người trả tiền làm hai lần kế tiếp nhau đề phòng thất lạc, bản nào đến trước thì sẽ được thanh toán trước, bản nào đến sau sẽ trở thành vô giá trị Vì vậy trên hối phiếu thường ghi câu “Sau khi nhìn thấy bản thứ nhất của hối phiếu này (bản thứ hai có cùng nội dung và ngày tháng không trả tiền ” ở bản số một của hối phiếu Bản số hai lại ghi
“Sau khi nhìn th ấy bản thứ hai của hối phiếu n ày (bản thứ nhất có cùng nội dung và ngày tháng không trả tiền) ” Hối phiếu không có bản phụ
5.2.3 Nội dung của hối phiếu
Để nắm được những nội dung của hối phiếu, trước hết hãy nghiên cứu mẫu hối phiếu sau:
Theo quy định của Luật Thống nhất về Hối phiếu (ULB), hối phiếu có giá trị pháp lý
là hối phiếu được lập ra với đầy đủ các nội dung:
To:……… (name and address of Drawer) ……… .signature)…
Trang 32Trang 32
(1) Tiêu đề hối phiếu: phải ghi chữ “Hối phiếu” (Bill of Exchange, có khi được viết tắt là Exchange hoặc là Draft) Tiêu đề viết bằng tiếng Anh thì toàn bộ nội dung trong
hối phiếu phải viết bằng tiếng Anh
(2) Số tiền và loại tiền: Số tiền nhất định này được ghi một cách rõ ràng, đơn giản,
đúng tập quán quốc tế, được ghi cả bằng số và bằng chữ Chú ý: Số tiền trên hối phiếu không được vượt quá số tiền ghi trên hóa đơn và số tiền ghi trong thư tín dụng (L/C)
(3) Người trả tiền hối phiếu:
Họ tên và địa chỉ người trả tiền của hối phiếu phải được ghi rõ chi tiết, được ghi
vào góc dưới bên trái của hối phiếu, tức là ghi vào chỗ chữ “To……… ”
Trong phương thức thanh toán nhờ thu: người trả tiền hối phiếu là người nhập khẩu Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ: người trả tiền hối phiếu là ngân hàng
mở L/C
(4) Kỳ hạn trả tiền của hối phiếu: có 2 dạng:
+ Trả tiền ngay: thì trên hối phiếu sẽ ghi là “trả ngay khi nhìn thấy bản thứ nhất (hai) của hối phiếu này” (at …… Sight of this FIRST (SECOND) Bill of Exchange) + Trả tiền sau: có nhiều cách thỏa thuận:
* Thanh toán tại 1 ngày nhất định sau khi nhìn thấy hối phiếu
(At X.days….after sight of this……….)
* Thanh toán tại 1 ngày nhất định sau ngày ký phát hối phiếu
(At ….X days…after signed of this…… )
* Thanh toán tại 1 ngày nhất định sau ngày ký vận đơn
(At… X days….after bill of lading date of this… )
* Thanh toán tại 1 ngày nhất định sau ngày giao hàng
(At… X days… after shipment date of this…….)
* Thanh toán tại 1 ngày cụ thể trong tương lai
(On……(date)… of this…… )
(5) Địa điểm trả tiền của hối phiếu:
Nếu không có quy định khác, thì địa chỉ của người bị ký phát (người trả tiền) được xem là địa điểm thanh toán hối phiếu Tuy nhiên, nếu trên hối phiếu quy định
Trang 33Trang 33
một địa điểm thanh toán khác, thì địa điểm này được xem là địa điểm thanh toán hối phiếu
(6) Người được hưởng lợi hối phiếu: Người hưởng lợi có thể là: Bản thân người ký
phát hối phiếu, hoặc một người khác được người ký phát chỉ định, hoặc bất cứ ai được người hưởng lợi chuyển nhượng hối phiếu bằng thủ tục ký hậu hay trao tay
Trong ngoại thương, các hối phiếu thường được ký phát cho người hưởng là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu
(7) Nơi và ngày lập hối phiếu:
- Nơi lập hối phiếu: ở nước người phát hành hối phiếu (người xuất khẩu)
- Ngày lập hối phiếu: không được sớm hơn ngày lập hóa đơn, không sớm hơn ngày
mở L/C và nằm trong thời gian hiệu lực của L/C
(8) Người ký phát hối phiếu:
Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát là yếu tố bắt buộc phải thể hiện trên hối phiếu
Chữ ký của người ký phát muốn có hiệu lực phải là chữ ký của người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý Chữ ký phải được ghi ở góc dưới bên phải của tờ hối phiếu và người ký phát hối phiếu phải ký tên bằng chữ ký thông dụng trong giao dịch Các chữ ký dưới dạng in, photocopy và đóng dấu…mà không phải viết tay đều không
có giá trị pháp lý
5.2.4 Các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu
Chấp nhận hối phiếu: (Acceptance)
Hối phiếu sau khi được ký phát ph ải được xuất trình cho người trả tiền để người này ký chấp nhận trả tiền, nhất là đối với hối phiếu có kỳ hạn Một hối phiếu đã được ký chấp nhận mới có sự tin cậy trong thanh toán Thời hạn chấp nhận có thể đ ược giải thích theo hai trường hợp sau đây:
Thứ nhất, nếu hai bên không có quy định gì khác thì theo luật quy định thời hạn chấp nhận là 12 tháng kể từ ngày ký phát hối phiếu
Thứ hai, nếu hai bên quy định rõ với nhau trong hợp đồng mua bán hoặc trong thư tín dụng thời hạn cụ thể phải xuất trình hối phiếu để chấp nhận, thì hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn đó Ví dụ, thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là 45 ngày, hay là hết hạn 20 ngày kể từ sau ngày giao hàng thì thời hạn chấp
Trang 34Trang 34
nhận hối phiếu chỉ trong vòng 20 ngày đó, nếu quá, tức là L/C đã hết hiệu lực, ngân hàng mở L/C sẽ từ chối thanh toán tờ hối phiếu gửi đến, nếu là trả tiền ngay, hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu, nếu là trả tiền sau
Sự chấp nhận hối phiếu được ghi vào mặt trước, góc dưới bên trái của tờ hối phiếu và được ghi bằng chữ “chấp nhận” viết kế bên chữ ký của ng ười trả tiền Ngoài công thức chấp nhận trên, ULB còn cho phép người trả tiền dùng những chữ khác tương tự thể hiện sự chấp nhận của mình như “xác nhận”, “đồng ý”, “đồng ý trả tiền” Những
sự chấp nhận của người trả tiền được thực hiện trên tờ hối phiếu bằng những chữ mơ
hồ, tối nghĩa khiến cho hối phiếu mất tính chất luật định của nó sẽ trở thành vô giá trị Cũng có thể người trả tiền ký chấp nhận vào mặt sau của tờ hối phiếu Trong trường hợp này để phân biệt với ký hậu chuyển nhượng, người trả tiền bắt buộc phải tôn trọng đúng theo công thức ký chấp nhận nêu trên
Trong thanh toán quốc tế, người ta loại trừ sự chấp nhận bằng một văn thư riêng hoặc chấp nhận gộp nhiều hối phiếu bằng một văn thư chung Điều này luật coi là vô hiệu
Ngày tháng ký chấp nhận không phải là một yêu c ầu bắt buộc Nh ưng trên thực tế sử dụng hối phiếu, người ta thấy có loại hối phiếu đòi hỏi ký chấp nhận có ghi ngày tháng, có loại không cần ghi ngày tháng
Đối với hối phiếu có kỳ hạn được xác định trong tương lai “X ngày kể từ ngày nhìn thấy bản thứ của hối phiếu này .” thì ngày tháng ký chấp nhận là ngày nhìn thấy hối phiếu Đó là mốc thời gian để tính ra kỳ hạn của hối phiếu
Ký hậu hối phiếu: (Endorsement)
Ký hậu hối phiếu là hình thức để chuyển nhượng hối phiếu Người hưởng lợi muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác thì phải ký vào mặt sau của tờ hối phiếu rồi chuyển hối phiếu cho người đó
Hành vi ký hậu có hai ý nghĩa pháp lý: (1) nó thừa nhận sự chuyển quyền lợi hối phiếu cho người khác theo quy định trong mặt sau của hối phiếu Sự ký hậu này mang tính trừu tượng, có nghĩa là người ký hậu không cần nêu lý do của sự chuyển nhượng và cũng không cần phải thông báo cho người trả tiền biết về sự chuyển nhượng đó mà người được chuyển nhượng nghiễm nhiên trở th ành người hưởng lợi của hối phiếu đó; (2) việc ký hậu hối phiếu xác định trách nhiệm của ng ười ký hậu về việc trả tiền hối phiếu với những ng ười cầm phiếu sau đó Trong chuyển nhượng trái quyền dân luật, người chuyển nhượng chỉ đảm bảo rằng con nợ có thiếu số tiền đ ược chuyển nhượng mà không đ ảm bảo rằng con nợ sẽ thanh toán số nợ đó Trong luật hối