Việc phân tích các thông tin tài chính trong doanh nghiệp sản xuất đL giúp cho các nhà quản lý có những quyết định đúng đắn trong việc sắp xếp và sử dụng hợp lý cơ cấu tài sản, nguồn vốn
Trang 1ngành: quản trị kinh doanh
nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các
doanh nghiệp sản xuất
Vũ thị tiến
Hà nội 2006
Trang 2-
Luận văn thạc sỹ Khoa học
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các
doanh nghiệp sản xuất
Ngành: Quản trị kinh doanh M số:
Vũ thị tiến
Người hướng dẫn khoa học: TS Nghiêm Sỹ Thương
Hà nội 2006
Trang 3Khoa Kinh tế và Quản trị Doanh nghiệp Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, với sự
giúp đỡ của Trung tâm Bồi dưỡng sau đại học, được sự giúp đỡ và giảng dạy của các
Thầy Cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà nội, Các Thầy Cô Khoa Kinh tế và
Quản trị Doanh nghiệp và đặc biệt là với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thầy
giáo TS Nghiêm Sỹ Thương, Tôi đA hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh
doanh với đề tài: " Nghiên cứu và đề xuất công tác phân tích tài chính tại các doanh
nghiệp sản xuất"
Để hoàn thành bản luận văn, Đề tài đA khảo sát thực trạng một số lượng lớn
các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn cả nước Do vậy, đề tài đA nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ và khuyến khích của các doanh nghiệp, bạn bè đồng nghiệp và bạn
bè trong lớp cao học quản trị kinh doanh K4B-2004, đặc biệt sự giúp đỡ của Thầy
giáo TS Nghiêm Sỹ Thương
Mặt khác, Đề tài được nghiên cứu trong thời gian mà Bộ Tài chính đang hoàn
thiện các chuẩn mực kế toán, kiểm toán và chế độ kế toán mới cho phù hợp với các
chuẩn mực Quốc tế Do vậy, Đề tài cũng đA nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Cán
bộ trong Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán- Bộ Tài chính, Công ty Kiểm toán Việt
Nam và Hiệp hội Kế toán Việt Nam
Để tạo điều kiện cho Tôi có thời gian hoàn thành bản luận văn những người
thân trong gia đình đA giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi rất nhiều
Và để bày tỏ tấm lòng biết ơn của mình, tôi xin chân thành cảm ơn tới các
Thầy cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà nội, Thầy cô giáo trong khoa Kinh tế
và Quản trị doanh nghiệp, các Thầy cô giáo và Cán bộ tại Trung tâm Bồi dưỡng sau
Đại học, các bạn bè đồng nghiệp, cơ quan và bạn bè trong lớp cao học quản trị kinh
doanh K4B-2004, các doanh nghiệp tham gia điều tra, những người thân trong gia
đình tôi và Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới Thầy giáo
TS Nghiêm Sỹ Thương, Thầy giáo đA giúp tôi và lo lắng cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu của Đề tài
Trang 4Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận phân tích tài chính trong các
doanh nghiệp sản xuất 1
1.1 Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp sản xuất 1
1.1.1 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp 1
1.1.2 Hoạt động tài chính doanh nghiệp 2
1.2 ý nghĩa, mục đích và vai trò của phân tích tài chính trong doanh nghiệp sản xuất 3
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 6
1.3.2 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 8
1.3.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 8
1.3.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 11
1.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 13
1.3.3.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ tài sản 13
1.3.3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ nguồn vốn 14
1.3.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 15
1.3.4.1 Phân tích tình thanh toán 15
1.3.4.2 Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp 17
1.3.5 Phân tích hiệu quả kinh doanh 18
1.3.5.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh qua chỉ tiêu "Sức sản xuất" 19
Trang 51.3.6 Phân tích điểm hoà vốn 24
1.3.7 Phân tích giá trị doanh nghiệp 25
1.4 Tổ chức thực hiện công tác tài chính doanh nghiệp 26
1.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 26
1.5.1 Phương pháp so sánh 26
1.5.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích 27
1.5.3 Phương pháp loại trừ 27
1.5.4 Phương pháp liên hệ 28
1.5.5 Phương pháp xác định giá trị theo thời gian của dòng tiền 28
1.6 Thông tin, tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 28
1.6.1 Thông tin bên ngoài 29
1.6.2 Thông tin bên trong 29
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 31 1.7.1 Nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp 31
1.7.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 31
Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất hiện nay 33
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp sản xuất hiện nay 33
2.1.1 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất 33
2.1.2 Tình hình chung của các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta hiện nay 35
2.2 Dự án điều tra thực trạng công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất 36
2.2.1 Mục tiêu điều tra 36
2.2.2 Phương pháp điều tra 37
2.2.2.1 Thiết lập mẫu phiếu điều tra 37
Trang 62.2.4 Phản hồi từ doanh nghiệp về dự án điều tra 42
2.3 Phân tích kết quả điều tra về thực trạngcông tác phân tích tài chính trong doanh nghiệp sản xuất 44
2.3.1 Nhận thức về mục tiêu phân tích 44
2.3.2 Nhận thức về nội dung phân tích 47
2.3.3 Nhận thức về quy trình tổ chức công tác phân tích 51
2.3.4 Về phương pháp phân tích 56
2.3.5 Về tài liệu được sử dụng trong công tác phân tích 57
2.3.6 Về tổ chức và nhân sự sử dụng trong công tác phân tích tài chính 60
2.3.7 Thực trạng một số hiểu biết về thuật ngữ và chỉ tiêu tài chính 63
2.4 Kết luận về thực trạng công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất hiện nay 75
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất .77
3.1 Phương hướng hoàn thiện 77
3.2 Nội dung đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất 78
3.2.1 Hoàn thiện về mục tiêu phân tích tài chính 78
3.2.2 Hoàn thiện về nội dung và chỉ tiêu phân tích tài chính 79
3.2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính 80
3.2.2.2 Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 82
3.2.2.3 Phân tích hiệu quả tài chính 87
3.2.2.4 Phân tích rủi ro tài chính 92
3.2.2.5 Phân tích tổng hợp tài chính 95
3.2.3 Hoàn thiện về quy trình công tác phân tích tài chính 98
Trang 73.2.6 Đề xuất về tổ chức phân tích tài chính tại các doanh nghiệp SX 110 3.3 Giải pháp đào tạo lại các cán bộ được sử dụng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 111 3.4 Điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện được tính khả thi của
đề xuất 112 3.4.1 Về bản thân doanh nghiệp 112 3.4.2 Về phía nhà nước 113 Kết luận
Phụ lục 1: mẫu báo cáo tài chính
Phụ lục 2: Thông tin của dự án điều tra
tài liệu tham khảo
Trang 8Trong điều kiện hiện nay, những biến động của thị trường và điều kiện kinh tế chính trị trong nước và Quốc tế luôn mang lại những cơ hội và rủi ro cho doanh nghiệp Trong những điều kiện đó, các nhà quản lý doanh nghiệp phải đưa ra những quyết định phù hợp với mục tiêu phát triển và môi trường của doanh nghiệp Để có được những quyết định đúng đắn trong kinh doanh, các nhà quản lý đều quan tâm đến tài chính và hiểu biết thấu đáo những thông tin mà các báo cáo tài chính phản ánh bằng việc phân tích tài chính doanh nghiệp đúng mục đích, chính xác và đầy đủ Trên cơ sở phân tích tài chính các nhà quản lý biết được tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu, sự vận động của tài sản và nguồn vốn, công nợ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh cũng như an ninh tài chính của doanh nghiệp Đồng thời, qua các kết quả phân tích tài chính các nhà quản lý có thể
đưa ra các dự báo về kinh tế, các quyết định về tài chính trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và đưa ra các quyết định đầu tư Hơn thế nữa, công tác phân tích tài chính còn giúp doanh nghiệp nhận dạng và có những biện pháp phòng tránh rủi ro trong kinh doanh, làm tăng khả năng huy động, sử dụng các nguồn lực có hạn của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp sản xuất thì đặc
điểm sản phẩm, cơ cấu tổ chức, cơ cấu tài sản- nguồn vốn, cơ cấu giá vốn có khác với các doanh nghiệp dịch vụ Việc phân tích các thông tin tài chính trong doanh nghiệp sản xuất đL giúp cho các nhà quản lý có những quyết
định đúng đắn trong việc sắp xếp và sử dụng hợp lý cơ cấu tài sản, nguồn vốn của mình và có những quyết định đầu tư đúng đắn nhằm tối đa hiệu quả kinh doanh và tăng giá trị của doanh nghiệp Bên cạnh đó, trong điều kiện tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, thông tin về tài chính không còn
là mối quan tâm của các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn là các nhà đầu tư, ngân hàng, cổ đông, nhà cung cấp, người lao động Chính vì vậy công tác
Trang 9phân tích tài chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở nhận thức đó, với kiến thức đL học, kiến thức thực tế và với sự hướng dẫn tận tình của Thầy Giáo TS Nghiêm Sỹ Thương, tôi đL chọn và nghiên cứu đề tài:
" Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất "
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu nhận thức về phân tích tài chính của các nhà quản lý, các chuyên gia tài chính- kế toán và đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta hiện nay làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những nội dung cơ bản về công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát, phân tích, đánh giá về nhận thức và thực tế công tác phân tích tài chính tại hơn một trăm doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên phạm vi cả nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận: Luận văn sử dụng lý luận cơ bản của khoa học chuyên ngành kế toán - tài chính, những kiến thức về tài chính doanh nghiệp hiện đại, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp với nội dung quản lý nhà nước về tài chính trong nền kinh tế thị trường, dựa vào chuẩn mực kế toán đL ban hành, những chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, những cơ sở lý luận của kinh tế học và những kiến thức đL được học trong quá trình đào tạo
Trang 10đúng trong công tác tài chính của các doanh nghiệp Kết hợp với những kiến thức cơ bản của phân tích tài chính doanh nghiệp hiện đại, với tình hình thực
tế, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất phù hợp với thực tiễn hiện nay
5 Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp và công việc khảo sát, phân tích thực tế công tác phân tích tài chính tại một trăm doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn cả nước Tác giả đL
có những kết luận tương đối xác thực về những nhận thức, thực trạng của công tác phân tích tài chính của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay Việc đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất đL góp một phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới nhận thức quản lý kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
6 Kết cấu của luận văn
Trang 11Chương I
Cơ sở lý luận phân tích tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1 Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là thực hiện các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi và tăng giá trị của doanh nghiệp
Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định về tổ chức sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyết định đều phải gắn bó với môi trường xung quanh Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế- xE hội phức tạp và luôn biến động
Doanh nghiệp luôn luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của công nghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều
kỹ thuật mới dẫn đến thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của Nhà nước Sự thắt chặt hay nới lỏng hoạt động doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luật và các văn bản quy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng xảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách giải quyết kịp thời và đúng
đắn Doanh nghiệp, với sức ép của thị trường cạnh tranh, phải luôn luôn đổi mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Điều đó, buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất- kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao
Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức
Trang 12vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động
đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp
Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trong môi trường đó, quan hệ tài chính của doanh nghiệp được thể hiện phong phú
và đa dạng
1.1.2 Hoạt động tài chính doanh nghiệp
Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhất định của các chủ thể kinh tế - xE hội Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể ( Pháp nhân hay thể nhân) trong xE hội
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp, phục vụ các yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động này nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp: Tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng, phát triển
Vậy để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải quyết ba vấn đề quan trọng sau
đây:
(1) Nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư
Trang 13(2) Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đ= được hoạch định đó ?
(3) Doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động đầu tư tài chính như thế nào? Đây là quyết định tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là ba vấn đề lớn và quan trọng nhất của doanh nghiệp Mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp là phải làm tăng giá trị doanh nghiệp trên thị trường Hoạt động tài chính là phải giải quyết tối đa ba vấn đề trên
Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp phải có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất, trao đổi Mọi quyết định đều phải gắn liền với hệ thống pháp luật và môi trường xung quanh Doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được những thay đổi đó để có được những quyết
định phù hợp Vì vậy bản chất của tài chính doanh nghiệp là các quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Quan hệ đó chứa đựng những nội dung kinh tế khác nhau nhưng chúng có những đặc trưng giống nhau, luôn luôn tồn tại và phát triển song song với sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Các quan hệ kinh tế đó là:
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước;
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường;
+ Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp
1.2 ý nghĩa, mục đích và vai trò của phân tích tài chính trong doanh nghiệp sản xuất
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ, chỉ tiêu tài chính hiện hành với chỉ tiêu tài chính mục tiêu, nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn Thông qua đó, người sử dụng thông tin có thể
đánh giá đúng thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp, nắm vững tiềm năng, xác định được hiệu quả kinh doanh, triển vọng của doanh nghiệp cũng
Trang 14như rủi ro trong tương lai và từ đó, có những biện pháp cải thiện tình hình tài chính và lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu trong điều kiện nguồn lực và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tài chính cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết giúp việc kiểm tra phân tích một cách tổng hợp, toàn diện và có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp Những nhà quản lý tài chính khi phân tích tài chính cần phải cân nhắc tính toán tới mức rủi ro và đánh giá rủi ro, phá sản tác động như thế nào tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lEi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các dự đoán kết quả kinh doanh và mức doanh lợi của doanh nghiệp trong tương lai Ngoài ra, phân tích tài chính còn cung cấp những thông tin, số liệu
để kiểm tra giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của xE hội thì việc phân tích tài chính ngày càng trở lên quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
Bởi vậy, việc phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng và đóng vai trò rất quan trọng đối với nhiều phía ( Chủ doanh nghiệp và các chủ thể khác trong nền kinh tế) Tuỳ theo từng mục đích khác nhau của người sử dụng mà phân tích tài chính sẽ có những vai trò khác nhau:
* Đối với người quản lý doanh nghiệp: Phân tích tài chính giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhận biết được tình hình công nợ, khả năng đầu tư, cân
đối thu chi, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, rủi ro về tài chính của doanh nghiệp, biết được giá trị của doanh nghiệp, định hướng đúng cho doanh nghiệp về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức Phân tích tài chính cho thấy tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ sở cho các nhà quản lý có những
Trang 15quyết định kinh doanh đúng đắn trong tương lai
* Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Người cho vay cũng qua tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lEi vay dài hạn
* Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không Họ cũng cần phải biết được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của khách hàng
* Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến các giá trị doanh nghiệp vì họ đầu tư vào doanh nghiệp
và có thể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị gia tăng thêm của đồng vốn đầu tư Thông qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp, họ biết được khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và sự phân tích những thông tin bên ngoài về giá cả, các nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đúng đắn của mình
* Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan nhà nước có liên quan: Qua các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp để phân tích, đánh giá, kiểm tra hoạt
động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính của doanh nghiệp có thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước không, có tuân theo pháp luật hay không
Đồng thời sự giám sát này giúp cho các cơ quan thẩm quyền có thể hoạch
định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả Giúp Nhà nước đưa ra những kế hoạch phát triển ở tầm vĩ mô sao cho mang lại lợi ích thiết thực nhất
* Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp: Người lao động quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển
Trang 16vọng của doanh nghiệp trong tương lai
Như vậy, ta có thể thấy rằng tất cả các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung họ
đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp chính là đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu, chung nhất về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nên nội dung phân tích này bao gồm những chỉ tiêu mang tính khái quát, phản ánh những mặt chủ yếu của hoạt động tài chính (tổ chức, huy động, phân phối , sử dụng và quản lý vốn):
* Hệ số tài trợ (Ratio of finance): là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự đảm bảo
về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp nguồn vốn chủ
sở hữu chiếm bao nhiêu phần Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Tài sản dài hạn
Trang 17* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số này được tính bằng cách so sánh tổng tài sản hiện có với tổng số nợ phải trả, phản ánh khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ Nếu trị số của chỉ tiêu này luôn ≥ 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán và ngược lại; trị số này càng < 1 thì doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số tài sản
Tổng số nợ phải trả
* Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (current ratio): Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hay còn gọi là hệ số thanh toán nợ hiện thời cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cao và ngược lại, nếu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng thấp
Tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ
* Hệ số khả năng thanh toán nhanh ( Quick ratio):
Tiền, các khoản tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh, là chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền, các khoản tương đương với tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Thực tế cho thấy, hệ số này > 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu
< 0,5 thì doanh nghiệp có khả năng gặp khó khăn trong thanh toán công nợ
* Tỷ suất đầu tư: Tỷ suất đầu tư là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm trong tổng số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Trị số này phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Tổng tài sản dài hạn
Trang 18Tỷ suất đầu tư có thể tính chung cho toàn bộ tài sản dài hạn hay tính riêng cho từng bộ phận của tài sản dài hạn Trong đó, tỷ suất đầu tư tài sản cố
định được sử dụng phổ biến, phản ánh giá trị còn lại của tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản là bao nhiêu Trị số này phụ thuộc vào từng ngành nghề
cụ thể
*Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ( Return on equity- ROE): Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho thấy một đơn vị vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
Lợi nhuận sau thuế Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân 1.3.2 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản
và nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản
và nguồn vốn chính là việc phân tích cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Việc xem xét biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ( hay nguồn vốn) chiếm trong tổng số tài sản ( hay nguồn vốn) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc cho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân
bổ ( sử dụng) vốn và tình hình huy động vốn nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn Do vậy, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến
động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tương đối và số tuyệt đối theo từng loại tài sản và từng loại nguồn vốn Khi phân tích, nhà phân tích cần liên hệ với số bình quân của ngành cũng như số liệu của các doanh nghiệp sản xuất
Trang 19kinh doanh khác cùng ngành có hiệu quả sản xuất cao hơn để đưa ra nhận xét xác đáng về tình hình sử dụng vốn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản của mình
* Phân tích cơ cấu tài sản:
Qua việc phân tích cơ cấu tài sản và sự biến động cơ cấu tài sản trong nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản lý sẽ có quyết định đầu tư vào loại tài sản nào, thời điểm nào là thích hợp, xác định việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho, cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho
có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
và nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà không làm tăng chi phí tồn kho, có chính sách thích hợp về thanh toán vừa khuyến khích được khách hàng, vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài sản Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn ( nguồn vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu, nguồn kinh phí và quỹ khác) cuối kỳ so với đầu năm, các nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý và mức
độ an toàn trong việc huy động vốn Việc đánh giá cơ cấu nguồn vốn phải dựa trên chính sách huy động vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ gắn với
điều kiện kinh doanh cụ thể Toàn bộ nguồn vốn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp được chia thành nguồn nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu; trong đó, doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm thanh toán số nợ phải trả, còn vốn chủ sở hữu không phải cam kết thanh toán Vậy nếu vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng
tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ và ngược lại
Qua phân tích cơ cấu nguồn vốn các nhà phân tích sẽ nắm được trị số
Trang 20và sự biến động của các chỉ tiêu nh−:
động vốn và chính sách đầu t− của doanh nghiệp cũng nh− chỉ số trung bình ngành để có những kết luận và quyết định đúng đắn nhất trong kinh doanh
* Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn:
Các chỉ tiêu đ−ợc dùng để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn nh− sau:
+ Hệ số nợ so với tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ Hệ số nợ so với tài sản càng cao càng chứng
tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập
về mặt tài chính càng thấp Do vậy, doanh nghiệp càng có ít cơ hội và khả năng vay vốn
Nợ phải trả
Tài sản
Hay: Tài sản-Vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ so với tài
1- Hệ số tài trợ + Hệ số khả năng thanh toán tổng quát : đE trình bày ở phần 1.3.1 " Phân tích khái quát tình hình tài chính"
+ Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu t− tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này nếu càng
>1, chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của doanh càng thấp vì tài sản của doanh nghiệp đ−ợc tài trợ chỉ một phần bàng vốn chủ sở hữu
Tài sản
Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu Hay:
Trang 21Vốn chủ sở hữu +Nợ phải trả Nợ phải trả
Hệ số tài sản so
Như vậy, để giảm hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu, các nhà quản lý phải tìm mọi biện pháp để giảm tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu Có như vậy mới tăng cường được tính tự chủ về tài chính
1.3.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải
có tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu về tài sản ( nhu cầu về vốn) là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả
Như vậy, thực chất phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh chính là việc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp hay chính là việc phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, khi không đủ nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung vốn kinh doanh Loại trừ các khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn chưa đến hạn trả, dùng cho mục đích kinh doanh, đều được coi là nguồn vốn hợp pháp Trên góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời; Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, bao gồm: Vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay - nợ dài hạn,trung hạn ( trừ vay - nợ quá hạn); Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt
động kinh doanh trong khoảng thời gian ngắn, bao gồm các khoản vay - nợ ngắn hạn, các khoản vay - nợ quá hạn ( kể cả vay - nợ dài hạn quá hạn), các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua, của người lao
động Ngoài các chỉ tiêu phân tích về cân bằng tài chính, khi phân tích tình
Trang 22hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, để có những nhận xét chính xác hơn, các nhà phân tích còn phải xét đến các chỉ tiêu sau: + Hệ số tài trợ thường xuyên: Chỉ tiêu này cho biết so với tổng số nguồn vốn, thì nguồn tài trợ thường xuyên chiếm mấy phần Trị số này càng lớn thì tính
ổn định và cân bằng tài chính càng cao và ngược lại:
Nguồn tài trợ thường xuyên
Hệ số tài trợ thường xuyên =
Tổng nguồn vốn + Hệ số tài trợ tạm thời: Chỉ tiêu này cho biết, so với tổng nguồn vốn thì nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số này càng nhỏ, thì tính ổn định
và cân bằng tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại:
Nguồn tài trợ tạm thời
Tổng nguồn vốn + Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên: Chỉ tiêu này cho biết, trong số tổng nguồn tài trợ thường xuyên, số vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần trị số này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại:
Vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn vốn
+ Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết, mức độ tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn vốn thường xuyên, trị số này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại:
Nguồn tài trợ thường xuyên
Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so
+ Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết mức
độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, tính ổn định và bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại:
Tài sản ngắn hạn
Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ
Trang 231.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn Đó là sự tiết kiệm nhất số vốn cần sử dụng và tối đa kết quả thu được trong điều kiện giới hạn về nguồn lực, phù hợp với hiệu quả kinh tế nói chung
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiệu quả sử
dụng vốn = Vốn sản xuất bình quân dùng vào sản xuất KD trong kỳ Như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần phải tăng giá trị sản lượng tiêu thụ hoặc doanh thu bán hàng, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm vốn sản xuất kinh doanh
1.3.3.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ tài sản
* Phân tích hiệu quả sử dụng tổng tài sản:
+ Chỉ tiêu sức sản xuất của tổng tài sản: Chỉ tiêu phản ánh, cứ một đồng tài sản bình quân đem lại mấy đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Doanh thu thuần Sức sản xuất của tổng tài
+ Chỉ tiêu sức sinh lời của tổng tài sản: Chỉ tiêu cho biết cứ một đồng tài sản bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ đưa lại mấy đồng lợi nhuận sau khi đE nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu càng lớn thì hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng cao và ngược lại
Lợi nhuận sau thuế TNDN Sức sinh lời của tổng tài
* Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
+ Sức sản xuất của tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nguyên giá bình quân của TSCĐ đem lại mấy đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Doanh thu thuần Sức sản xuất của
+ Sức sinh lời của tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nguyên
Trang 24giá bình quân của tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao
Một chu kỳ vận động của vốn ngắn hạn được xác định kể từ lúc bắt đầu
bỏ tiền ra mua các yếu tố đầu vào cho đến khi toàn bộ số vốn đó được thu hồi bằng tiền do bán sản phẩm đầu ra Do đó, phân tích tốc độ luân chuyển của vốn ngắn hạn là cần phân tích những chỉ tiêu sau:
+ Hệ số luân chuyển vốn ngắn hạn ( số vòng quay của vốn ngắn hạn):
Tổng số luân chuyển thuần
+
Tổng số doanh thu thuần HĐ
tài chính
+
Tổng số doanh thu thuần hoạt
động khác Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích vốn ngắn hạn của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng Số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại
* Thời gian của một vòng luân chuyển:
Thời gian của kỳ phân tích Thời gian của một vòng luân
chuyển
= Số vòng quay của vốn ngắn hạn trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết, mỗi vòng quay vốn ngắn hạn trong kỳ phân tích cần bao nhiêu ngày Chỉ tiêu này càng thấp, tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn càng cao và ngược lại
1.3.3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ nguồn vốn:
Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn một cách đúng đắn thì ngoài so sánh
số tuyệt đối của các chỉ tiêu tài chính trên báo cáo kết quả kinh doanh, nhà
Trang 25phân tích còn quan tâm đến chỉ tiêu sau:
* Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh:
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng vốn kinh doanh bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu đ−ợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn so với các kỳ khác thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ng−ợc lại
* Hệ số doanh lợi doanh thu thuần:
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Hệ số doanh lợi doanh thu thuần =
Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết, số tiền lEi sau thuế thu đ−ợc trên một đồng doanh thu thuần trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn
* Hệ số doanh lợi trên tổng số luân chuyển thuần:
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Hệ số doanh lợi trên tổng số luân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tổng số luân chuyển thuần đem lại mấy
đồng lợi nhuận Hệ số này càng lớn thì khả năng sinh lời của vốn càng cao và ng−ợc lại
1.3.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
1.3.4.1 Phân tích tình hình thanh toán:
Là việc xem xét tình hình thanh toán các khoản phải thu, các khoản phải trả của doanh nghiệp Qua quá trình phân tích tình hình thanh toán, các nhà phân tích có thể đánh giá đ−ợc chất l−ợng hoạt động tài chính cũng nh−
kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp
* Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả (%):
Nợ phải thu
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với
Trang 26các khoản đi chiếm dụng Tỷ lệ này lớn hơn hoặc nhỏ hơn 100% nhiều quá thì
sẽ phản ánh tình hình tài chính không lành mạnh
* Phân tích các khoản phải thu
+ Số vòng quay các khoản phải thu: là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải thu quay đ−ợc mấy vòng:
Tổng số tiền hàng bán chịu
Số vòng quay của các khoản
+ Hệ số giữa nợ phải thu so với tổng tiền hàng bán chịu:
Nợ còn phải thu cuối năm
Hệ số giữa nợ phải thu so với tổng số tiền
Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng tiền hàng bán chịu trong kỳ thì cuối
kỳ còn phải thu bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ nợ phải thu cuối kỳ tính trên tổng số tiền hàng bán chịu càng cao, do vậy doanh nghiệp càng bị chiếm dụng tiền hàng
+ Thời gian kỳ thu nợ ( Thời gian quay vòng các khoản phải thu):
Thời gian của kỳ phân tích Thời gian của kỳ thu nợ = Số vòng quay các khoản phải thu
Thời gian kỳ thu nợ càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn và ng−ợc lại
* Phân tích các khoản phải trả:
+ Số vòng quay các khoản phải trả: là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải trả quay đ−ợc mấy vòng:
Trang 27Tổng số tiền hàng mua chịu
Số vòng quay các khoản phải trả = Số dư bình quân các khoản phải trả Trong đó :
Tổng số nợ phải trả đầu kỳ và cuối kỳ
Số dư bình quân các khoản phải
Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải trả và hiệu quả của việc thanh toán nợ Số vòng quay của các khoản phải trả lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít chiếm dụng vốn Tuy nhiên số vòng quay quá cao gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do phải huy động vốn
* Hệ số giữa nợ phải trả so với tổng tiền hàng mua chịu:
Nợ còn phải trả cuối năm
Hệ số giữa nợ phải trả so với tổng số
Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng tiền hàng mua chịu trong kỳ thì cuối
kỳ còn phải trả bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ nợ phải trả cuối kỳ tính trên tổng số tiền hàng mua chịu càng cao, do vậy doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng càng nhiều
* Thời gian kỳ trả nợ ( Thời gian quay vòng các khoản phải trả):
Thời gian của kỳ phân tích Thời gian kỳ trả
Thời gian kỳ trả nợ càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp chiếm dụng vốn ít và ngược lại Tuy nhiên khi nhận xét ta luôn kết hợp với chính sách bán hàng của người cung cấp mà doanh nghiệp được hưởng
1.3.4.2 Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ, nó cho biết mức độ các khoản nợ ngắn hạn và nợ đến hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương
Trang 28đương với thời hạn của các khoản nợ đó Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng nhất được nhiều đối tượng quan tâm Tình hình tài chính lành mạnh, đồng nghĩa với doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ đến hạn và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tốt Để phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhà phân tích quan tâm đến các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số thanh toán tổng quát;
+ Hệ số thanh toán hiện hành;
+ Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn;
+ Hệ số thanh toán nhanh;
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Toàn bộ các chỉ tiêu phân tích trên ta xem ở phần 1.3.1-" Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp" Ngoài ra, khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn được thể hiện qua các chỉ tiêu:
+ Hệ số khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán
Hệ số này được tính cho cả thời kỳ hoặc từng giai đoạn Trị số này > 1, chứng tỏ doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán Nếu trị số này càng lớn hơn 1 thì an ninh tài chính doanh nghiệp rất cao và ngược lại
1.3.5 Phân tích hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, bất kỳ một xE hội nào Đó cũng là vấn đề bao trùm, xuyên suốt mọi hoạt động kinh doanh, thể hiện chất lượng của toàn bộ công tác quản lý kinh tế và là sự sống còn của doanh nghiệp và nhất là trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập hiện nay
Về mặt tổng quát, để đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Trang 291.3.5.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh qua chỉ tiêu "Sức sản xuất":
Là chỉ tiêu phản ánh một yếu tố đầu vào đem lại mấy đơn vị kết quả
đầu ra Trị số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào càng cao và vì thế hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại
Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất
Tuỳ thuộc vào mục đích phân tích, tử số của chỉ tiêu "Sức sản xuất" có thể sử dụng một trong các chỉ tiêu sau đây: Tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần bán hàng, tổng số luân chuyển thuần , còn yếu tố đầu vào bao gồm lao
động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay
Ngoài việc tính ra và so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất nói trên, phân tích hiệu quả kinh doanh qua sức sản xuất còn được các nhà phân tích thực hiện đối với một số chỉ tiêu quan trọng, phản ánh khái quát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như chỉ tiêu:
* Số vòng quay của tổng tài sản ( Total asset turnover): bằng cách nhân và chia tử số và mẫu số cho chỉ tiêu này với số vốn chủ sở hữu, ta có:
Từ công thức trên: ta thấy để tăng số vòng quay của tổng tài sản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tìm cách thích hợp để tăng hệ số tài trợ và số vòng quay của vốn chủ sở hữu Bằng phương pháp loại trừ, các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đế sự thay đổi của số vòng quay tài sản trong kỳ
* Số vòng quay của vốn chủ sở hữu ( Total equity turnover): bằng cách nhân
và chia tử số và mẫu số của chỉ tiêu này với tổng số tài sản, ta có:
Số vòng quay của
vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân x Tổng tài sản bình quân
Trang 30Hay:
Số vòng quay của
Hệ số tài sản trên
Từ đây, ta thấy: Số vòng quay của vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu và số vòng quay của tài sản Để tăng số vòng quay của vốn chủ sở hữu, nhằm tăng hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu và tăng số vòng quay của tài sản Bằng phương pháp loại trừ các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay đổi của số vòng quay vốn chủ sở hữu trong kỳ
1.3.5.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh qua chỉ tiêu "Sức sinh lời":
Sức sinh lời là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào hay một đơn
vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trị số này tính ra càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời càng cao và ngược lại
Đầu ra phản ánh lợi nhuận Sức sinh lời = Yếu tố đầu vào hay đầu ra phản ánh kết quả Tuỳ thuộc vào mục đích phân tích , tử số của công thức "Sức sinh lời "
có thể là lợi nhuận gộp về bán hàng, lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế Còn yếu tố
đầu vào hay đầu ra phản ánh kết quả sản xuất giống như phần chỉ tiêu "Sức sản xuất" Ngoài ra khi phân tích sức sinh lời, các nhà phân tích còn đi sâu xem xét tình hình biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu quan trọng, phản ánh khái quát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
* Suất sinh lời của tổng tài sản ( ROA): bằng cách nhân và chia tử số và mẫu
số của chỉ tiêu này với doanh thu thuần, ta được:
Suất sinh lời
của tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân x Doanh thu thuần Hay:
Súât sinh lời của
Số vòng quay của tổng tài sản x
Suất sinh lời của doanh thu
Từ đây, ta thấy: để tăng suất sinh lời của tổng tài sản, nhằm góp phần
Trang 31nâng cao hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp thích hợp
để tăng số vòng quay của tổng tài sản và suất sinh lời của doanh thu
* Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ( ROE): bằng cách nhân và chia tử số và mẫu số của chỉ tiêu này với tổng số tài sản và tổng số doanh thu thuần ta có:
Suất sinh lời của
sở hữu và tăng suất sinh lời của tài sản Bằng phương pháp loại trừ các nhà phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đến thay đổi của suất sinh lời của vốn chủ sở hữu trong kỳ
* Suất sinh lời của doanh thu ( ROS): Bằng cách nhân và chia cả tử và mẫu
số cho chỉ tiêu này với tổng số tài sản ta có:
Suất sinh lời
Hay:
Suất sinh lời
của doanh thu =
Hệ số tài sản trên doanh thu thuần x
Suất sinh lời của tài sản Vậy để tăng suất sinh lời của doanh thu, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để tăng hệ số tài sản trên doanh thu và tăng suất sinh lời của tài sản
* Hệ số lợi nhuận trước thuế và lVi vay so với tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản bình quân đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế và lEi vay
* Hệ số lợi nhuận trước thuế và lVi vay so với lVi vay: Chỉ tiêu này cho biết khả năng chi trả lEi vay của doanh nghiệp: Trị số này nếu < 1, chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ, lợi nhuận thu được không đủ để trả lEi vay; nếu = 1, chứng tỏ lợi nhuận thu được vừa đủ để trang trải lEi vay; còn nếu > 1, chứng tỏ doanh nghiệp có thừa khả năng bù đắp lEi vay, trả thuế và tích luỹ Vận dụng phương pháp phân tích Dupont bằng cách nhân và chia mẫu số của chỉ tiêu này với chi phí kinh doanh, ta có:
Trang 32Chi phí kinh doanh Lợi nhuận trước thuế và l=i vay
Suất sinh lời kinh tế của
chi phí Trong đó: Chi phí kinh doanh là tổng các chỉ tiêu: giá vốn bán hàng, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý kinh doanh Ngoài ra tuỳ thuộc vào mục đích phân tích, khi phân tích hiệu quả kinh doanh, nhà phân tích còn chú trọng thêm một vài chỉ tiêu sau:
* Suất sinh lời của vốn cổ phần thường ( ROCE):
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ phần ưu đ=i Suất sinh lời của
* Lợi nhuận cho mỗi cổ phần thường:
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ phần ưu đ=i Lợi nhuận cho
1.3.5.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh qua chỉ tiêu " Suất hao phí":
Chỉ tiêu cho biết để có một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay
đầu ra phản ánh lợi nhuận, doanh nghiệp phải hao phí bao nhiêu đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào Trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại
Yếu tố đầu vào Suất hao phí = Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay lợi nhuận Các chỉ tiêu đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay lợi nhuận là kết quả của cả kỳ kinh doanh; còn các chỉ tiêu phản ánh yếu tố đầu vào được xác định theo số bình quân của kỳ phân tích
1.3.5.4 Đòn bảy tài chính và phân tích mối quan hệ giữa đòn bảy tài chính và hiệu quả kinh doanh:
Đòn bảy tài chính ( Financial leverage) là khái niệm dùng để phản ánh cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào mục đích phân tích, đòn bảy tài chính có thể xác định theo cách khác nhau như:
Trang 33* Theo quan hệ giữa tổng tài sản ( hay tổng nguồn vốn) với vốn chủ sở hữu:
Tổng số tài sản ( Tổng nguồn vốn)
* Theo quan hệ giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu:
Nợ phải trả
* Theo quan hệ giữa nợ phải trả với tổng số nguồn vốn:
Nợ phải trả
Cả ba cách xác định đòn bảy tài chính trên đều cho thấy: khi số nợ phải trả của doanh nghiệp tăng lên sẽ làm cho đòn bảy tài chính tăng theo Vì thế,
đòn bảy tài chính còn được gọi là đòn bảy nợ Phân tích đòn bảy tài chính và mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh sẽ giúp các nhà quản lý có quyết định
đúng đắn trong việc xác định cấu trúc tài chính phù hợp với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và bảo đảm an toàn tài chính cho doanh nghiệp
* Khi nghiên cứu suất sinh lời của tổng tài sản ( ROA): bằng cách nhân và chia cả tử và mẫu số của ROA với vốn chủ sở hữu ta có:
Suất sinh lời
Hay:
Suất sinh lời của
Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Công thức trên cho ta thấy để tăng suất sinh lời của tổng tài sản, bên cạnh tăng suất sinh lời của vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng đòn bảy tài chính Tuy nhiên, chỉ tăng đến mức phù hợp để tránh rủi
ro vì lợi nhuận cao đồng nghĩa với rủi ro lớn
* Khi nghiên cứu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ( ROE): bằng cách biến
đổi tương tự ta cũng có:
Trang 34Qua mối quan hệ giữa ROE với đòn bảy tài chính và ROA, các nhà quản lý có quyết định phù hợp về cấu trúc nguồn vốn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
* Nghiên cứu mối quan hệ giữa độ nhạy của việc thay đổi đòn bảy tài chính với việc thay đổi lợi nhuận:
% thay đổi của lợi nhuận sau thuế
Độ nhạy của đòn
bẩy tài chính = % thay đổi của lợi nhuận trước thuế và l=i vay
Độ nhạy của đòn bảy tài chính cho biết mức độ thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lEi vay so với mức độ thay đổi của lợi nhuận sau thuế
1.3.6 Phân tích điểm hoà vốn
Mục đích của phân tích điểm hoà vốn là để xác định lợi nhuận hoạt
động sẽ thay đổi như thế nào so với mức sản xuất và để tìm mức sản xuất mà tại đó sản xuất từ thua lỗ chuyển sang có lợi nhuận, chúng ta có các quan hệ sau:
EBIT = Doanh số bán hàng ( ký hiệu là S) - Tổng chi phí ( Ký hiệu là: TC) EBIT = PQ- (QV+F)
Trong phương trình trên P-V là số dư đảm phí, là phần tăng thêm trong EBIT
do việc bán thêm một đơn vị sản phẩm, Q(P-V) là lợi nhuận hoạt động biến
đổi Điểm hoà vốn tạo ra thu nhập bằng 0
EBIT = QB (P-V) + F = 0 => QB=
V - P F
Phân tích điểm hoà vốn có một số ứng dụng sau:
+ Đánh giá rủi ro doanh nghiệp hay rủi ro dự án: Bằng cách cho thấy sự ảnh hưởng đối với EBIT và điểm hoà vốn khi các điều kiện kinh doanh thay đổi;
Trang 35+ Lựa chọn phương án kinh doanh: Việc thay đổi phương pháp sản xuất cũng
có thể gây ra sự thay đổi về kết cấu của các thành phần chi phí và giá bán Vì vậy có thể sử dụng phân tích hoà vốn để phân tích những khả năng có thể lựa chọn và dự báo những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh;
+ Đánh giá lợi nhuận của việc đưa ra thị trường một sản phẩm mới: Doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin về kỹ thuật, marketing để dự báo chính xác doanh số tiềm năng nhằm cung cấp cho việc phân tích hoà vốn của sản phẩm
1.3.7 Phân tích giá trị doanh nghiệp
Phân tích giá trị doanh nghiệp là việc xem xét, phân tích giá trị doanh nghiệp cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Phân tích giá trị doanh nghiệp tiến hành theo các cách sau:
* Phân tích giá trị doanh nghiệp trên cơ sở bảng cân đối kế toán:
Giá trị doanh nghiệp được xác định trên bảng cân đối kế toán:
Giá trị doanh nghiệp = Tổng giá trị tài sản - Tổng số nợ phải trả Khi phân tích giá trị doanh nghiệp trên cơ sở bảng cân đối kế toán, nhà phân tích thường tính ra và so sánh giá trị doanh nghiệp tại các mốc thời gian khác nhau Qua đó nắm được xu hướng biến động của giá trị doanh nghiệp cũng như nhân tố ảnh hưởng Phương pháp này có nhược điểm là độ chính xác không cao vì nó phụ thuộc vào cách hạch toán của đơn vị
* Phân tích giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản: Phương pháp này là xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp Căn cứ vào biên bản xác định giá trị doanh nghiệp, các nhà phân tích sẽ tiến hành xem xét tình hình biến động giá trị doanh nghiệp bằng cách so sánh giá trị doanh nghiệp thực tế với giá trị sổ sách trên tổng số cũng như từng bộ phận giá trị doanh nghiệp
Trang 361.4 Tổ chức thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một trong những cơ sở quan trọng nhất của công tác quản lý và là nền tảng của việc ra các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, tổ chức thực hiện phân tích phải chu đáo và phải theo đúng quy trình phân tích:
1.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp để tiếp cận , nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Có rất nhiều phương pháp phân tích được dùng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Sau đây là một số phương pháp thông dụng nhất:
1.5.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được dùng phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chi tiêu phân tích Trong phân tích tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang và so sánh dọc So sánh ngang báo cáo tài chính là việc so sánh,
đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của báo cáo tài chính Còn so sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất, các hệ
Trang 37số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận
1.5.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Mọi kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều có thể chi tiết theo những tiêu thức khác nhau:
* Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: giúp cho việc đánh giá chính xác và cụ thể, từ đó xác định được nguyên nhân và trọng điểm trong công tác quản lý
* Chi tiết theo thời gian: sẽ giúp cho việc đánh giá kết quả hoạt động tài chính một cách chính xác theo những khoảng thời gian khác nhau
* Chi tiết theo địa điểm: nhằm phát hiện nơi hình thành của chúng, có như vậy mới xác định được trọng điểm trong công tác quản lý tài chính
1.5.3 Phương pháp loại trừ:
Để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích, để nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố nào
đó, nhà phân tích phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại Phương pháp loại trừ được thể hiện dưới hai dạng sau:
* Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu bằng cách thay thế lần lượt các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu nghiên cứu khi trị số của nhân tố thay đổi Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu nghiên cứu trước khi thay thế nhân tố Mức chênh lệch về trị số của chỉ tiêu nghiên cứu sau và trước khi thay thế nhân tố chính là ảnh hưởng của nhân tố thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu
* Phương pháp số chênh lệch: Điều kiện và trình tự vận dụng phương pháp
số chênh lệch cũng tương tự như phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác ở chỗ là để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số
Trang 38chênh lệch về giá trị phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó để xác định 1.5.4 Phương pháp liên hệ:
Các chỉ tiêu tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy trong phân tích có thể kết hợp các chỉ tiêu khác nhau để đưa ra một chỉ tiêu tổng hợp khác có các mối quan hệ phổ biến như:
* Liên hệ cân đối: Dựa vào sự cân bằng về lượng giữa nguồn thu, huy động
và tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn, giữa tổng số vốn và tổng nguồn vốn, giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, giữa thu với chi và kết quả kinh doanh Người phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích
* Liên hệ trực tuyến: là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích
* Liên hệ phi tuyến: là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ liên hệ không được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên hệ luôn biến đổi
1.5.5 Phương pháp xác định giá trị theo thời gian của dòng tiền:
Như chúng ta đE biết đồng tiền có giá trị theo thời gian, một đồng hôm nay chắc chắn có giá trị hơn nhiều so với một đồng thu được trong tương lai
Do vậy để đánh giá chính xác hiệu quả vốn đầu tư, nhất thiết phải đổi tiền về một thời điểm nhất định Phương pháp này thường được sử dụng để phân tích các dự án đầu tư
Trong quá trình phân tích, người sử dụng có thể phải kết hợp một số phương pháp phân tích với nhau nhằm đem lại kết quả chính xác nhất
1.6 Thông tin- tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Sự phát triển của doanh nghiệp dựa vào rất nhiều yếu tố:
* Các yếu tố bên ngoài: Sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế v.v
* Các yếu tố bên trong: Cơ cấu và trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp, tính chất của sản phẩm, quy trình công nghệ, khả năng tài trợ cho tăng
Trang 39trưởng
Các thông tin dùng để lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp đều được sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này sẽ được sử dụng để phân tích, cân nhắc, suy xét, phán đoán và cuối cùng cho ta những nhận xét, kết luận và quyết định đúng
đắn ở đây ta phân loại theo hai loại sau:
1.6.1 Thông tin bên ngoài
Là những thông tin gắn với các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới các hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty như: Những thông tin về phát triển hoặc suy thoái của nền kinh tế, những thông tin về biến động thị trường trong nước và quốc tế, thông tin về thương mại quốc tế, thông tin về hội nhập và toàn cầu, những thông tin về Pháp luật, thông tin về văn hoá, xE hội, những thông tin về sự biến động của nguồn lực, những thông tin về phát triển khoa học hay công nghệ, Các chính sách vĩ mô của nhà nước như chính sách tiền tệ, chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách xuất nhập khẩu và tỷ giá hối đoái, Các thông tin kinh tế của ngành, khu vực, quốc tế v.v
Những thông tin này đều là cơ sở trong quá trình phân tích tài chính và xây dựng những kế hoạch kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của công ty nhằm
đạt một kết quả tối ưu nhất
1.6.2 Thông tin bên trong
Là tất cả các thông tin trong nội bộ doanh nghiệp như:
Thông tin kế toán - tài chính, cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty, thông tin
về hoạt động marketing của công ty, thông tin về nhân sự, thông tin về ứng dụng công nghệ, khoa học, thông tin về chính sách thương mại, tài chính, tuyển dụng
Trong đó những thông tin kế toán - tài chính là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết, mang tính bắt buộc Thông tin kế toán - tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm, Kết quả
Trang 40hoạt động kinh doanh, kết quả thu nhập, tình hình sử dụng vốn trong một thời
kỳ nhất định ( thường là một niên độ kế toán) Thông tin kế toán - tài chính cũng giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính được Nhà nước quy định có tính chất bắt buộc về biểu mẫu, phương pháp lập, đối tượng và phạm vi áp dụng, thời gian nộp báo cáo Để tiến dần hội nhập kế toán quốc tế, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế , hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam được sửa đổi tại các thông tư số 89/2002- BTC ngày 09/10/2002 "Hướng dẫn kế toán thực hiện bốn (04) chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ( đợt 1) Thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 " Hướng dẫn kế toán thực hiện sáu (06) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính" (đợt 2) Thông tư số 23/2005/TT-BTC ngày 30/03/2005 " Hướng dẫn Kế toán thực hiện sáu (06) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC " ( đợt 3) Quyết định số 12/2005/QĐ -BTC ngày 12/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về việc Ban hành và Công bố sáu (06) chuẩn mực kế toán (đợt 4) Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ Tài chính về việc Ban hành và Công bố bốn (04) chuẩn mực kế toán (đợt 5)
* Hệ thống báo cáo tài chính bắt buộc bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán ( mẫu số B 01 - DN)
Kết cấu của bảng trình bày ở bảng M01- Phụ lục số 1
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ( mẫu số B 02 - DN)
Kết cấu của bảng trình bày ở bảng M02- Phụ lục số 1
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( mẫu B 03 - DN)
Kết cấu của báo cáo trình bày ở bảng M03- Phụ lục số 1
- Thuyết minh báo cáo tài chính ( mẫu B 09 - DN)