1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Haruki Murakami

141 563 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, với đề tài Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Haruki Murakami, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số công trình khoa học thật sự nổi bật và có liên quan đến

Trang 1

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC HUYỀN ẢO

Thành phố Hồ Chí Minh – 5/2016

Trang 2

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC HUYỀN ẢO

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

THS NGUYỄN BÍCH NHÃ TRÚC

Thành phố Hồ Chí Minh – 5/2016

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Giảng viên hướng dẫn, Thạc sĩ Nguyễn Bích Nhã Trúc

Quý thầy cô công tác tại khoa Ngữ Văn, trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Gia đình và bạn bè

đã ủng hộ và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 5 năm 2016

Người viết luận văn

Châu Hồng Thảo

Trang 4

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

1 Lý do ch ọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

a V ề ấn phẩm 2

b V ề phương diện nghiên cứu 3

3 L ịch sử vấn đề 4

a Ở Việt Nam 4

b Ở trên thế giới 10

4 Phương pháp nghiên cứu 14

5 M ục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 16

6 C ấu trúc luận văn 16

CHƯƠNG 1: HARUKI MURAKAMI VÀ KHUYNH HƯỚNG HIỆN TH ỰC HUYỀN ẢO TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN 18

1.1 Haruki Murakami và hành trình sáng t ạo 18

1.2 Khái lược về cái huyền ảo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo 24

1.2.1 Cái huy ền ảo 24

1.2.2 Ch ủ nghĩa hiện thực huyền ảo 30

1.3 Khuynh hướng hiện thực huyền ảo Nhật Bản 36

1.3.1 Ti ền đề hình thành và phát triển văn học huyền ảo Nhật Bản 36

1.3.1.1 Y ếu tố truyền thống Nhật Bản 36

1.3.1.2 S ự tiếp biến văn học, khoa học thế giới 42

1.3.2 Khái lược văn học hiện thực huyền ảo Nhật Bản hiện đại 46

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TI ỂU THUY ẾT HIỆN THỰC HUYỀN ẢO CỦA HARUKI MURAKAMI 54

2.1 Khái quát v ề hình tượng nghệ thuật 54

Trang 5

2.2 Hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Haruki Murakami 56

2.2.1 Hình tượng nhân vật 56

2.2.1.1 Người dị biệt 57

2.2.1.2 Người thú 61

2.2.1.3 Th ần ma, linh hồn 65

2.2.2 Không gian ngh ệ thuật 71

2.2.2.1 Không gian th ực 72

2.2.2.2 Không gian ảo 75

2.2.3 Th ời gian nghệ thuật 88

2.2.3.1 Th ời gian thực 89

2.2.3.2 Th ời gian ảo 94

CHƯƠNG 3: BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HI ỆN THỰC HUYỀN ẢO CỦA HARUKI MURAKAMI 99

3.1 Khái quát v ề biểu tượng nghệ thuật 99

3.2 Bi ểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Haruki Murakami 104

3.2.1 Bi ểu tượng giếng 104

3.2.2 Bi ểu tượng bóng 109

3.2.3 Bi ểu tượng giấc mơ 115

K ẾT LUẬN 122

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 126

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

1.1 Những năm gần đây, Nhật Bản đã quan tâm, xúc tiến nhiều hoạt động giao lưu quốc tế nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh về đất nước và con người

Nhật Bản Điều này thúc đẩy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Nhật trên thế

giới, đặc biệt là đối với các nước nằm trong vùng văn hóa chữ Hán, trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh trên, việc tìm hiểu văn học Nhật Bản đương đại cũng

là điều cần thiết cho sự hội nhập văn hóa khu vực Đông Á nói riêng và thế giới nói chung

1.2 Murakami nổi lên như một hiện tượng văn học toàn cầu mặc dù văn chương của ông không dễ để lĩnh hội Có thể khẳng định rằng, Murakami là một trong những tác giả nổi tiếng và có ảnh hưởng đến văn học Nhật Bản và thế giới Tiểu thuyết gia người Mỹ, Richard Powers, cho biết rằng Murakami được xem là

một trong số hiếm hoi những nhà văn quốc tế có tầm ảnh hưởng quan trọng ở

Mỹ và nhiều nước khác: "Làm thế nào cùng một tác gia ấy mà lại vừa là tác gia

ăn khách vượt bực ở Ý và Hàn Quốc, vừa là hiện tượng văn hoá ở Thổ Nhĩ Kỳ,

Nhật Bản có tác phẩm được dịch gần như là đầy đủ và được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm, đánh giá cao Vì vậy, việc tìm hiểu về Murakami và tác phẩm của ông là điều cần thiết cho việc tiếp cận với thành tựu văn học Nhật Bản đương đại Từ đó có được cái nhìn chung về xã hội, văn hóa và con người Nhật Bản từ

hậu chiến đến thời điểm hiện tại

Trang 7

1.3 Bút pháp hiện thực huyền ảo cùng những trò chơi giải mã biểu tượng chính là yếu tố quan trọng thu hút độc giả Tuy nhiên, việc vận dụng bút pháp hiện thực huyền ảo hay yếu tố huyền ảo trong tiểu thuyết Murakami không chỉ thu hút độc giả bởi tính giải trí đơn thuần mà còn bởi những ý nghĩa khác nhau

về cuộc sống và con người Nhật Bản đương đại được chuyển tải trong mỗi tác

phẩm Vì vậy, việc tìm hiểu về đề tài này góp phần lý giải sức hút của tiểu thuyết Murakami cũng như làm rõ quan điểm nghệ thuật của tác giả

1.4 Chúng tôi nhận thấy rằng, tuy có nhiều ý kiến đề cập đến khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong sáng tác của Murakami nhưng hầu như chưa có

một công trình nghiên cứu nào chuyên biệt (trong nước) viết về đề tài này Trong khi đây được coi là khuynh hướng chủ đạo trong sáng tác tiểu thuyết và cả truyện ngắn của Murakami Vì vậy, thông qua bài viết này, chúng tôi muốn làm

rõ một số nét đặc trưng trong phong cách viết tiểu thuyết của nhà văn

Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài luận văn là

Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Haruki Murakami

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Haruki Murakami thành công ở cả thể loại truyện ngắn lẫn tiểu thuyết Song, nhiều độc giả trên thế giới cũng như Việt Nam lại biết đến ông chủ yếu qua tiểu thuyết Đó là những tác phẩm ẩn chứa nhiều tầng giá trị phía sau bức màn bí ẩn và huyền ảo Và với dung lượng của một tiểu thuyết, chúng tôi khả dĩ

có cái nhìn toàn diện hơn về khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong sáng tác

của Murakami Vì vậy, đối tượng được khảo sát trong luận văn sẽ là tiểu thuyết

Trang 8

của Murakami và trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ kết hợp tham

khảo thêm một số truyện ngắn mang khuynh hướng hiện thực huyền ảo của ông

Tính đến thời điểm hiện tại, Murakami có 14 tiểu thuyết Với tiêu chí khuynh hướng hiện thực huyền ảo, chúng tôi lọc ra được 8 tiểu thuyết phù hợp

và những tiểu thuyết này đều đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt Một số tiểu thuyết khác của Murakami có sử dụng yếu tố huyền ảo nhưng chưa rõ nét nên chúng tôi chỉ sử dụng để so sánh, đối chiếu như Tsukuru không màu và những

năm tháng hành hương; Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời 8 tiểu thuyết

chúng tôi tập trung để khảo sát trong luận văn bao gồm:

văn, năm 2008

Nhà văn, năm 2014

Người tình Sputnik: Ngân Xuyên dịch, Nxb Hội Nhà văn, năm 2008

2008

Chúng tôi tập trung vào bút pháp hiện thực huyền ảo thông qua việc xây

dựng hệ thống hình tượng, biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết của Murakami, đặt trong mối liên hệ với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và bối cảnh

Trang 9

sáng tác, cũng như quan niệm sáng tác của Murakami Vì vậy, chúng tôi thống

nhất tên đề tài là Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Haruki

Murakami

3 L ịch sử vấn đề

Vài thập niên gần đây, Haruki Murakami và tác phẩm của ông nổi lên như

một hiện tượng văn học, thu hút sự quan tâm, đánh giá từ đông đảo độc giả và

giới nghiên cứu, phê bình văn học với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học cũng như nhiều hội thảo lớn nhỏ diễn ra không chỉ trong phạm vi Nhật Bản

mà còn mở rộng trên toàn thế giới Các tờ báo trong nước và quốc tế đã dành không ít lời ca ngợi cho các sáng tác của Murakami Tuy nhiên, với đề tài

Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Haruki Murakami,

chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số công trình khoa học thật sự nổi bật và có liên quan đến đề tài của luận văn

Murakami là cái tên quen thuộc đối với độc giả, học giả có quan tâm đến văn học Nhật Bản ở Việt Nam trong khoảng mười năm trở lại đây Có thể nói, với sự hỗ trợ, xúc tiến từ Quỹ giao lưu văn hóa Nhật Bản (Japan Foundation) trong việc dịch, xuất bản, nghiên cứu về văn học Nhật Bản nói chung và tác

phẩm của Haruki Murakami nói riêng ở Việt Nam, nhiều tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt, nhiều cuộc thi nghiên cứu cũng như nhiều hội thảo văn học Nhật được tổ chức, đưa tác phẩm văn học Nhật đến gần hơn với bạn đọc Việt Nam Đáng chú ý nhất là hội thảo về tác phẩm của Haruki Murakami và Banana

Yoshimoto được tổ chức ở Hà Nội vào ngày 17/3/2007, với đề tài Thế giới của

ội thảo này đã quy tụ nhiều dịch giả,

Trang 10

nhà nghiên cứu và chuyên gia văn học Nhật Bản có uy tín trong và ngoài nước Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi quan tâm đến một số bài viết như sau: bài viết Thực tại trong ma ảo của Nhật Chiêu, bài viết Cuộc tìm kiếm bản thể

Tường sau khi dịch tác phẩm Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami

Trong bài cảm nhận Thực tại trong ma ảo sau khi đọc Kafka bên bờ biển

của Haruki Murakami, Nhật Chiêu đánh giá cao sáng tác của Murakami bởi những yếu tố ma ảo (magic), giấc mơ và tưởng tượng, bởi nghệ thuật là “thế giới

của Murakami có nguồn gốc từ phương Đông, từ chính trong văn hóa, văn học

cổ điển Nhật Bản, cụ thể là “linh hồn sống” đã sớm xuất hiện trong Truyện Genji (Genji monogatari) Nhờ những giấc mơ và tưởng tượng đầy ma ảo ấy mà thế

giới trong tiểu thuyết Murakami lại rất chân thực “Giấc mơ là cái gì đó rất chân

Nguyễn Hoài Nam trong bài viết Cuộc tìm kiếm bản thể của con người

chứng minh nỗ lực của Murakami trong việc truy tầm “bản lai diện mục của con

người” [48, 30] Ở bài viết trên, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phần phân tích

không gian, thời gian trong tác phẩm của Nguyễn Hoài Nam Ông cho rằng, thời gian trong tác phẩm có sự xáo trộn, chồng chéo lên nhau Đó là sự liên thông giữa thời gian biên niên của Okada với thời gian dòng tự sự của trung úy Mamiya và Nhục Đậu Khấu Qua đó cho thấy được sự dấn thân theo thuyết hiện sinh của con người hiện đại, những việc xảy ra trong quá khứ đã gợi ý cho những

sự việc xảy ra ở hiện tại Nhận xét về yếu tố hiện thực và huyền ảo trong sáng tác

Trang 11

của Murakami, Nguyễn Hoài Nam cho rằng: “Murakami đã đan cài trong Biên

niên ký chim vặn dây cót những yếu tố thực tại và yếu tố phi thực tại, nhưng với

đứng bên kia thực tại mà anh đang ở một thực tại khác, thực tại bên kia Tức là

cả hai bên đều có giá trị xác thực ngang nhau Có thể nói, bài viết đã bao quát

được hầu hết các vấn đề cơ bản của tác phẩm Biên niên ký chim vặn dây cót của

Murakami, từ xây dựng kết cấu thời gian, thế giới nhân vật, đến yếu tố hiện thực

và huyễn tưởng trong tác phẩm Qua đó, người viết đã làm nổi bật thông điệp

của Murakami về vấn đề của con người thời hậu hiện đại Đó là ý nghĩa đích

thực của sự tồn tại

Dương Tường trong khi dịch Kafka bên bờ biển đã “ghi vụn” lại cảm

tưởng của mình về những cái tên, các tuyến truyện kể, việc đối chiếu các bản

dịch và đặc biệt là phần “lẩu thập cẩm và Schegerazade” [57, 50] Dương Tường

cho rằng, Murakami đã sử dụng ca từ “đầy chất trừu tượng – siêu thực”, “hàm

Hy Lạp, chất hài hước đen, ảo giác, chiêm bao, hiện thực của Nhật Bản trong thế chiến II, đến những triết luận về âm nhạc, phân tâm học, Kafka bên bờ biển được Dương Tường ví như món “Lẩu thập cẩm để lại nhiều dư vị hỗn hợp khó

phân tích cho thực khách” [57, 51] và với tài kể chuyện của Scheherazade,

Murakami đã tạo nên một tác phẩm hấp dẫn đến trang cuối cùng

Trong công trình nghiên cứu Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật

thuật Đặc biệt trên lĩnh vực sáng tác, Murakami được Nguyễn Tuấn Khanh đánh

Trang 12

giá là “tác gi ả nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất ở Nhật Bản cũng như ở nước

chặng: từ lúc đăng đàn đến năm 1985; từ lúc nhận giải thưởng Tanizaki Junichiro đến khi xảy ra trận động đất Hanshin năm 1995 và giai đoạn từ trận động đất năm 1995 đến nay Ở mỗi chặng, tác giả đã giới thiệu những tác phẩm chính cũng như trích dẫn một số ý kiến, nhận định của một số nhà nghiên cứu xoay quanh các vấn đề trong tác phẩm đó và đưa ra kết luận của mình Nguyễn Tuấn Khanh cho rằng, tác phẩm của Murakami “có cái gì đó rất gần với chủ

nghĩa siêu thực (realism) của nhà văn Kobo Abe” [46, 401] và ngay từ tác phẩm

đầu tay Nghe gió reo ca, Murakami đã xác định cho mình một “phong cách viết

dụ như một câu đố” [46, 410] Tóm lại, bài giới thiệu của Nguyễn Tuấn Khanh

về Murakami đã cho người đọc cái nhìn khái quát về hành trình sáng tạo của Murakami và cuộc đời của nhà văn từ lúc đăng đàn đến thời điểm trở thành một

hiện tượng toàn cầu như hiện tại, cũng như hệ thống lại những sáng tác của Murakami và đưa ra nhận xét chung về một số vấn đề chính trong mỗi tác phẩm

Nguyễn Anh Dân là một trong những học giả trẻ có nhiều bài viết, công trình khoa học về văn học Nhật Bản, đặc biệt là về Haruki Murakami và tác

phẩm của ông Có thể kể đến một số bài viết gần đây như Cấu trúc của cốt

nghệ thuật Murakami Haruki từ góc độ yếu tố huyền ảo (Tạp chí Khoa học các

trường đại học năm 2009, 2010); Cách tổ chức không – thời gian nghệ thuật

trong Biên niên kí chim văn dây cót của Murakami Haruki (Kỷ yếu Hội nghị

Khoa học trẻ 2010, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2010); Tìm kiếm bản thể đích

Trang 13

Murakami Haruki (Kỷ yếu Hội thảo Văn học Hậu hiện đại - Lý luận và Tiếp

nhận, Đại học Khoa học Huế, 2011); Tiếp nhận Murakami Haruki ở Việt Nam

(Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ Văn, NXB Đại học Huế, 2012), Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hai bài viết là Yếu tố huyền ảo

Trong bài tóm tắt luận văn Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Murakami

số truyện ngắn và tiểu thuyết của Murakami thành bốn nhóm cơ bản: giấc mơ –

vô thức huyễn hoặc; thế giới khác lạ; nhân vật kì ảo và chi tiết, sự vật, hiện tượng dị thường Nguyễn Anh Dân đặc biệt chú ý đến yếu tố giấc mơ trong sáng tác của Murakami Theo tác giả: “Giấc mơ – vô thức huyễn hoặc là một kênh

Murakami), Nguyễn Anh Dân đã khái quát bốn biểu hiện trên một cách có hệ thống với dẫn chứng đa dạng và thuyết phục

Trong bài viết Hệ thống biểu tượng trong Biên niên ký chim vặn dây cót,

Nguyễn Anh Dân đã giải mã một số biểu tượng quan trọng trong tiểu thuyết Biên

niên ký chim vặn dây cót của Murakami như con mèo Wataya Noburu, chiếc

giếng cạn ở sa mạc Ngoại Mông và trong căn nhà hoang, vết nám trên mặt Toru Okada, cây gậy bóng chày, chim vặn dây cót Nguyễn Anh Dân cho rằng, không

chỉ đồ vật, con vật, hiện tượng mang tính biểu tượng mà “mỗi nhân vật là một

biểu tượng - trước hết là biểu tượng cho chính mình Trong thế giới nhân vật ấy,

Trang 14

có nh ững con người biểu tượng cho quyền lực, cho nhục dục như Wataya Noburu, có những con người biểu tượng cho nỗi nhục quá khứ như Mamiya… Mỗi người trong số họ đều chứa những mâu thuẫn nhất định” [65] Đây là một

bài viết phân tích khá kỹ lưỡng, có tính chất gợi mở trong việc tìm hiểu sâu hơn

về hệ thống biểu tượng trong sáng tác của Murakami, vì một số biểu tượng trên (như con mèo, chiếc giếng) được nhắc đến rất nhiều trong các tiểu thuyết khác

của Murakami với ý nghĩa tương tự nhau

Trần Thị Tố Loan với bài viết Thực tại và con người trong sáng tác của

thấy được những vấn đề mang tính phổ quát mà Murakami đã đặt ra Tác giả bài

viết đã khẳng định rằng thực tại trong sáng tác của Murakami bao gồm thực tại

đa diện với không gian đời sống nước Nhật hiện đại, không gian kì ảo mà Trần Thị Tố Loan gọi là “thực tại kì ảo của giấc mơ và trí tưởng tượng” [41, 698] và không gian thứ ba là “thực tại phi thực” [41, 699] Ngoài ra, tác giả đã liệt kê

một số kiểu nhân vật trong thực tại đa diện đó và đặc biệt quan tâm đến kiểu nhân vật đa ngã với nhiều cái tôi tồn tại song hành ở các thực tại khác nhau Bên cạnh đó, bài viết còn đi vào giới thiệu về sự đổi mới về thực tại và con người trong văn học Việt Nam, chủ yếu là lớp nhà văn sau năm 1975

Trong bài viết Những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong

văn học Nhật Bản đương đại, Lê Ngọc Phương cho rằng: “Thủ pháp Hiện thực huyền ảo đã trở thành một kinh nghiệm thẩm mỹ” [52, 671] của văn học Nhật

Bản và các nhà văn sử dụng yếu tố hiện thực, huyền ảo như một thủ pháp làm

mới văn chương, chống lại cái khô cứng của đời sống Lê Ngọc Phương cũng như Nhật Chiêu đều thống nhất cho rằng chất huyền ảo đã sớm xuất hiện trong văn hóa, văn học cổ - trung đại Nhật Bản Đó là cái kì ảo trong kịch Nō, sân

Trang 15

khấu rối Bunraku, cảm thức thẩm mỹ của Nhật Bản: “Nhìn chung, văn chương

Nhật pha lẫn cái huyền ảo vào cảm thức đặc biệt của dân tộc mình:

của văn chương huyền ảo Nhật Bản từ Truyện Genji trong văn học cổ điển đến

những cây bút tài hoa thế kỷ XX, XXI như Akutagawa Ryunosuke, Kawabata Yasunari, Abe Kobo, Kenzaburo Oe, Yoshimoto Banana, Ikezawa Natsuki, Ogawa Yoko, Masatsugu Ono và đặc biệt là Haruki Murakami Chất huyền ảo

của ông gắn với những chấn thương tâm lý, với cuộc tìm kiếm bản ngã và sự

thực của con người đương đại Bài viết này đã cung cấp cho người đọc có một cái nhìn tương đối toàn diện về nhân tố hình thành cũng như một số biểu hiện của văn học huyền ảo Nhật Bản hiện đại

Haruki Murakami và tác phẩm của ông được rất nhiều báo chí trong nước cũng như quốc tế quan tâm và ca ngợi Nhận xét về chất huyền ảo trong các sáng tác của Murakami, tờ The New York Times so sánh ông với một nhà ảo thuật sở hữu một sức mạnh siêu nhiên: “Trong khi bất cứ ai cũng có thể kể một câu

hợp tinh tế giữa hiện thực và huyền ảo, bút pháp Murakami như luồng gió mới thổi vào nền văn học Nhật Bản hiện đại, khiến độc giả bị lôi cuốn mãnh liệt Theo Jay Rubin – dịch giả, nhà nghiên cứu Murakami có uy tín ở phương Tây:

“Sau nhi ều năm tập trung vào văn chương hiện thực lặng lẽ và xám ngắt của Nhật Bản, tôi không thể tin lại có một nhà văn Nhật mạnh bạo, có trí tưởng

Trang 16

tượng hoang dại đến như Murakami” [36, 41] John Updike trong một bài phê

bình năm 2005, trên tờ New Yorker cho rằng, lối kể chuyện của Murakami: “gần

Ở bài viết Thế giới thơ và tiểu thuyết Nhật Bản – Từ “Truyện Genji” đến

cứu hàng đầu về văn học Nhật Bản, cho rằng việc cân đối khi đan xen chất hiện thực và kỳ ảo trong tác phẩm là một vấn đề rất quan trọng, cần được cân nhắc kỹ

lưỡng Vì nếu “tính hiện thực quá nhiều sẽ nhàm chán, tính kỳ ảo quá nhiều sẽ

khẳng định sự thành công của Murakami ở là nhờ sự khéo léo trong việc “duy trì

cũng không quá xa rời hiện thực” [47, 24]

Trong bài viết Magical Realism and the Search for Identity in the Fiction

trong văn xuôi hư cấu của Murakami Haruki), Matthew Carl Stretcher cho rằng,

Murakami “gi ống như Rushdie hay Toni Morrison (ví dụ trong tiểu thuyết

‘Người yêu dấu’), sử dụng kỹ thuật hiện thực huyền ảo nhằm đề xuất những kế

“Murakami, like Rushdie or Toni Morrison (in, for instance, Beloved), uses

magical realist technique in order to advance his own agenda, political, cultural,

“bản thể cá nhân” (individual identity) của thế hệ thanh niên Nhật Bản được sinh

ra sau thế chiến thứ hai và các thế hệ tiếp sau đó Bài báo được viết năm 1999, nên phạm vi khảo sát là một số tiểu thuyết được xuất bản ở Mỹ trước năm 1999,

Trang 17

tập trung ở bảy tiểu thuyết: Kaze no uta o kike (Lắng nghe gió hát), 1973 – nen

no pinbōru (Pinball – 1973), Hitsuji o meguru bōken (Cuộc săn cừu hoang), Sekai no owari to hādoboirudo wandārando (Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận

cùng thế giới), Dansu dansu dansu (Nhảy nhảy nhảy), Kokkyō no minami, taiyō

niên ký chim vặn dây cót) Bên cạnh đó, Stretcher nhấn mạnh đến vấn đề ý thức (conscious) và vô thức (unconscious) của con người, một số biểu tượng (con mèo, con chó, con cừu, chim vặn dây cót, hộp đen, cái bóng ), chủ đề (tình yêu, tình dục, bạo lực, lịch sử, hệ thống xã hội), việc đặt tên nhân vật Thông qua

việc phân tích các dẫn chứng và trích dẫn nhiều quan điểm khác nhau của một số nhà phê bình văn học chuyên nghiên cứu về Murakami, Stretcher đã tranh luận

và chứng minh một cách thuyết phục về mối quan hệ giữa những vấn đề trên với vấn đề “bản chất cốt lõi” (core identity) của nhân vật Vì vậy, theo Stretcher, điều mà Murakami muốn bộc lộ sau khi kết thúc mỗi quyển tiểu thuyết là cách

thức “nhìn vào bản thể cốt lõi của cá nhân và nhận thức rõ điều gì dẫn nhân vật,

hoặc trở thành một phần của “hệ thống” xã hội Nhật Bản, hoặc theo một hướng

discerning what leads it either to become part of the “system” of Japanese

nói, tính đến thời điểm hiện tại, bài báo của Stretcher là một trong những công trình khoa học công phu nhất nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Murakami, cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn cảnh không chỉ

về mặt kỹ thuật mà còn về mặt nội dung, tư tưởng trong mỗi tác phẩm

Morten Oddvik đến từ đại học Waseda đã nghiên cứu về chủ nghĩa hiện

thực huyền ảo trong một vài truyện ngắn và tiểu thuyết của Murakami qua bài

Trang 18

viết Murakami Haruki & Magical Realism – A Look at the Psyche of Modern

thần Nhật Bản hiện đại) Cùng quan điểm với M.C.Stretcher, Morten Oddvik cho rằng: “Việc sử dụng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Murakami được liên kết

realism is closely linked to the quest for identity; it is a tool to seek an

trên, Morten Oddvik chủ yếu đi sâu vào phân tích biểu tượng, tình tiết và những

thực tại khác nhau trong tác phẩm Murakami Tuy nhiên, phạm vi khảo sát trong bài viết khá hẹp, chỉ giới hạn ở ba tiểu thuyết là Biên niên ký chim vặn dây cót,

Cuộc săn cừu hoang, Ngầm, cùng với hai truyện ngắn là Người Ti Vi và Con voi

viết chỉ giới thiệu về biểu tượng là chiếc giếng, mê lộ và tập trung vào phân tích

những thực tại khác nhau trong thế giới truyện kể của Murakami Cũng ở bài viết này, tác giả đã đi sâu vào vấn đề tinh thần của con người Nhật Bản hiện đại thông qua việc phân tích một số chi tiết, hình ảnh ẩn dụ như thảm họa kép được Murakami nhắc đến trong Ngầm (Underground), nhân vật ẩn dụ Wataya Noboru

và lý giải một số nguyên nhân dẫn con người đến khủng hoảng tinh thần Từ đó,

Morten Oddvik đi đến kết luận: “Thông qua kỹ thuật của chủ nghĩa hiện thực

để có thể tiếp tục sống và đương đầu với xã hội này” – “Through techniques of magical realism and symbolism, Murakami focuses on the flaws and ills of a

Trang 19

highly developed capitalist culture and shows how the individual ends up facing

an inevitable identity crisis, which the protagonist is forced to deal with in order

luận của Morten Oddvik đã phân tích được một số kỹ thuật xây dựng không gian

và biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của Murakami, đồng thời chỉ ra được ý nghĩa của nó trong việc khái quát các vấn đề về con người và xã hội Nhật bản hậu hiện đại Đó là vấn đề về sự trống rỗng trong lòng thịnh vượng, về áp lực của một cá nhân khi sống trong một xã hội phát triển thần tốc, phải chịu sức ép, sự thao túng của những ông chủ đứng phía sau

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng, vấn đề khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Murakami được nghiên cứu một cách tương đối khái quát và hệ thống hơn bởi các học giả phương Tây Trong khi đó, các công trình trong nước thường tập trung nghiên cứu khuynh hướng hiện thực huyền ảo ở

phạm vi một hoặc một nhóm tác phẩm cụ thể Nhưng nhìn chung, với hai hướng

tiếp cận trên, các học giả đi trước đã ít nhiều làm rõ được một số phương diện trong bút pháp hiện thực huyền ảo của Murakami ở thể loại tiểu thuyết như hình tượng nhân vật, hình tượng không gian – thời gian huyền ảo cũng như biểu tượng nghệ thuật, Những công trình này chính là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết, gợi mở nhiều vấn đề giúp chúng tôi thực hiện đề tài của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tổng hợp các phương pháp sau:

phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp văn hóa – văn học, phương pháp

Trang 20

Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng trong luận văn nhằm so sánh các khái niệm huyền ảo (magic) với huyền thoại (myth), kì ảo (fantasy) và

so sánh các loại hình nhân vật, không – thời gian trong tiểu thuyết Murakami Từ

đó thấy được nét tương đồng và dị biệt cũng như hướng vận động của các đối tượng này Chúng tôi còn vận dụng phương pháp này trong việc so sánh khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Murakami với các nhà văn trước và sau ông và mở rộng hơn là so với một số nhà văn mà ông ít nhiều chịu ảnh hưởng

Murakami thuộc thế hệ thanh niên thời đại Heisei với nhiều biến chuyển trong xã hội Nhật Bản Nhiều hiện tượng văn hóa mới xuất hiện, nhất là văn hóa đại chúng với các loại hình như manga, anime, Thêm vào đó, Murakami là tác giả chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phương Tây Vì vậy, việc ý thức được những tác nhân về văn hóa, văn học tác động đến văn chương Murakami là một điều cần thiết Tóm lại, trong trường hợp nghiên cứu về Murakami và sáng tác của ông, chúng tôi đặc biệt chú ý tới phương pháp văn hóa – văn học này để làm rõ cảm hứng sáng tạo cũng như yếu tố ảnh hưởng đến tư duy nghệ thuật của tác giả

Phương pháp lịch sử - xã hội là phương pháp nghiên cứu chúng tôi đặc biệt quan tâm khi nghiên cứu về sáng tác của Murakami Những vấn đề về lịch

sử, chính trị, xã hội Nhật Bản vào giai đoạn những năm 60 – 70 của thế kỷ XX

trở về sau đã được Murakami khéo léo đưa vào các sáng tác của mình thông qua các ẩn dụ Vì vậy, trong việc nghiên cứu tác phẩm của Murakami, việc khơi gợi được nguồn mạch lịch sử, xã hội sẽ thu được nhiều kết quả khả quan

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng hướng nghiên cứu

Trang 21

những vấn đề liên quan đến tính dục, giấc mơ của nhân vật Trong luận văn này,

hướng nghiên cứu thi pháp học được chúng tôi xác định là hướng nghiên cứu

chính Với hướng nghiên cứu trên, chúng tôi sẽ làm rõ bút pháp hiện thực huyền

ảo trong tiểu thuyết Murakami thông qua hình tượng nhân vật, không – thời gian

và các biểu tượng Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng kết hợp với một số thao tác

như: phân tích, tổng hợp, miêu tả, thống kê, phân loại,

5 M ục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn

Với đề tài Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Haruki

thuật trong tiểu thuyết của Murakami Từ đó chỉ ra được nét chung và riêng biệt trong các sáng tác hiện thực huyền ảo của Murakami đối với một số nhà văn khác

Chúng tôi hy vọng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên thuộc khối, ngành Khoa học Xã hội và những học giả có hứng thú với văn

học Nhật Bản nói chung và tiểu thuyết của Murakami nói riêng

6 C ấu trúc luận văn

Luận văn được chia làm ba phần: mở đầu, ba chương nội dung và kết luận Trong phần mở đầu, chúng tôi giới thiệu những vấn đề như lý do chọn đề

tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, lịch sử vấn đề, phương pháp nghiên cứu,

tập trung vào phần quan trọng là lịch sử vấn đề Trong giới hạn luận văn, chúng tôi cố gắng bao quát các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để

Trang 22

tổng kết các điểm chính mà học giả trước đã nghiên cứu cũng như gợi mở hướng

để chúng tôi tiếp tục đi sâu vào triển khai bài luận này

Phần nội dung chính gồm có ba chương: Haruki Murakami và khuynh

hướng hiện thực huyền ảo trong văn học Nhật Bản (chương 1), Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của Haruki Murakami

(chương 2) và Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của

Ở chương 1, luận văn luận giải khái niệm quan trọng là khuynh hướng hiện thực huyền ảo và hạt nhân của nó – cái huyền ảo Từ đó, khái quát về văn

học huyền ảo Nhật Bản cũng như lý giải tiền đề của sự hình thành và phát triển khuynh hướng văn học này ở Nhật Bản Ngoài ra, luận văn cũng giới thiệu về cuộc đời và hành trình sáng tạo của tác giả Haruki Murakami

Ở chương 2 và 3, luận văn tiến hành khảo sát khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Murakami thông qua hình tượng, biểu tượng nghệ thuật Từ đó, làm rõ được điểm chung và điểm độc đáo trong sáng tác của Murakami trong việc vận dụng khuynh hướng hiện thực trong sáng tác tiểu thuyết so với các nhà văn Nhật Bản khác cũng như so với các nhà văn Mỹ Latin

Phần kết luận khái quát lại những nội dung chính của luận văn cũng như

đề xuất hướng nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn có mục tài liệu tham khảo

nhằm trích dẫn nguồn tài liệu luận văn tham khảo trong và ngoài nước

Trang 23

CHƯƠNG 1: HARUKI MURAKAMI VÀ KHUYNH HƯỚNG HIỆN

THỰC HUYỀN ẢO TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN

1.1 Haruki Murakami và hành trình sáng t ạo

Murakami Haruki sinh năm 1949 tại Kyoto, trong một gia đình có truyền

thống văn chương, có cha mẹ là giáo viên dạy văn học Nhật Bản Thuở nhỏ, Murakami đã đọc nhiều tác phẩm nổi danh của văn học cổ điển Nhật Bản

nhưnng “không một lần nào tôi thấy xúc động sâu xa vì một cuốn tiểu thuyết

phương Tây như một hình thức chống đối lại sự áp đặt của văn hóa truyền thống

từ người cha: “Bởi cha tôi là một giáo viên văn học Nhật nên tôi muốn làm thứ

gì đó khác” và “tôi nghĩ, việc tôi tìm đến những loại hình văn hóa này là một

[76] Murakami sinh ra và trưởng thành trong thời kỳ hậu chiến, khi quân đội Mỹ

vẫn còn chiếm đóng Nhật Bản Đây là thời kỳ đặc biệt, đánh dấu sự giao lưu văn hóa sôi nổi, khốc liệt và phức tạp Cùng với việc trải qua thời thơ ấu và niên thiếu ở vùng ngoại ô Kobe, nơi bến cảng nhộn nhịp với nhiều ngôn ngữ, đã góp phần đưa Murakami bước vào thế giới của văn hóa Âu Mỹ mà chủ yếu là văn hóa pop của Mỹ những năm 50, 60 Có thể nói, âm nhạc và văn học Âu Mỹ là

hai món ăn tinh thần đã nuôi dưỡng tâm hồn một tài năng lớn như Murakami: “Ở

định dừng đọc văn học Nhật Bản và chỉ đọc các tên tuổi lớn như Kafka, Balzac, Stendhal, Tolstoy, Dostoievsky và sau bốn năm học tiếng Anh ở trường phổ thông, ông bắt đầu đọc văn học Mỹ tại các hiệu sách cũ Có thể nói, Murakami

Trang 24

đã trưởng thành cùng với việc nghiền ngẫm những tác phẩm của các tác giả Âu

Mỹ nổi tiếng vào thế kỷ XX như Raymond Chandler, F Scott Fitzegarld, Truman Capote, Kurt Vonnegut… Phải chăng chính điều đó đã góp phần tạo nên một sự giao thoa văn hóa, văn học kỳ lạ trong con người cũng như sáng tác của Murakami?

Murakami theo học ngành kịch nói và điện ảnh tại đại học Waseda ở Tokyo và chịu ảnh hưởng từ những cuộc nổi dậy của sinh viên năm 1968, điều này thể hiện rõ ở nhiều nhân vật trong sáng tác của ông Tuy nhiên, cũng như hầu hết nhân vật chính của mình, Murakami không tham gia vào các hoạt động sôi nổi ấy mà lựa chọn một cuộc sống khép kín, một mình nghe nhạc, đọc sách

và dịch những tác phẩm yêu thích Đó là lý do mà Murakami rất thành công trong việc miêu tả nỗi cô đơn của thế hệ trẻ thời đại hậu công nghiệp mà theo

ông, nó như là “một thứ axit tràn ra khỏi lọ, có thể vô tình ăn dần ăn mòn trái

Murakami cùng vợ mở một quán rượu chơi nhạc jazz có tên là Peter Cat tại Kokubunji, Tokyo Ông đam mê âm nhạc Âu Mỹ với Elvis, The Beatles, Beach Boy, và đặc biệt là nhạc jazz Có nhiều năm Murakami nghe nhạc jazz đến mười tiếng một ngày nên khả dĩ ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhịp điệu, sự

ngẫu hứng đến phong cách của nó Sau này, chính những điều đó tạo nên lối sáng tác và phong cách rất độc đáo ở Murakami: “Tôi không có thầy giáo trong

mơ thì tỉnh giấc” [46, 406]

Trang 25

Murakami bắt đầu sáng tác khá muộn, khoảng năm ba mươi tuổi ông mới

viết xong tác phẩm đầu tay Ý tưởng sáng tác đến với Murakami khi ông đang xem trận đấu bóng chày trên sân vận động Meiji – Jingu ở Tokyo vào một ngày tháng tư năm 1978 Tối hôm đó, Murakami bắt đầu viết quyển tiểu thuyết đầu tiên của mình là Lắng nghe gió hát Tác phẩm này được Murakami viết liên tiếp

trong vòng nửa năm và đạt được giải thưởng “Nhà văn mới Gunzo lần thứ 22” vào năm 1979 Murakami bắt đầu đăng đàn từ đó Một năm sau, ông cho ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ hai là Pinball 1973 Với những thành công ban đầu, năm

1981, Murakami quyết định bán quán rượu và chuyên tâm vào sáng tác Ngay

những sáng tác đầu tiên, Murakami đã cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa, văn

học Âu Mỹ trong sáng tác của mình Motoyuki Shibata, giáo sư văn học Mỹ tại

đại học Tokyo nhận xét rằng: “Tác phẩm của ông không dính dáng tới văn hóa

cách đó, ông có thể sáng tạo nên thứ văn chương giá trị” [46, 406]

Năm 1985, Murakami đánh dấu bước chuyển biến trên hành trình sáng tạo bằng “Giải thưởng Tanizaki Junichiro lần thứ 21” với tiểu thuyết Xứ sở diệu kỳ

Nhật Bản, Murakami dần trở thành hiện tượng nổi tiếng toàn cầu, được gọi là

thuyết Rừng Nauy vào năm 1987 Rừng Nauy nhanh chóng trở thành

“best-seller” (cuốn sách bán chạy nhất) với hàng triệu bản được bán ra và đưa tên tuổi Murakami lên hàng “siêu sao” Năm 1986, Murakami đi du lịch châu Âu và sau

đó định cư ở Boston, Hoa Kỳ Thời gian này, ông vừa làm giảng viên văn ở đại

học Princeton và đại học Tufts vừa hoàn thành hai tác phẩm là Nhảy, nhảy, nhảy (1988) và Phía nam biên gi ới, phía tây mặt trời (1992) Năm 1994, Murakami

Trang 26

xuất bản cuốn Biên niên ký chim vặn dây cót Đây là một trong những quyển tiểu

thuyết đồ sộ nhất của ông, chứa đựng nhiều sự kiện, nhiều vấn đề lớn, trong đó

có vấn đề nhạy cảm về tội ác chiến tranh ở Mông Cổ và Mãn Châu

Có thể nói, những năm tháng tha hương trên đất Mỹ đã ít nhiều tác động

đến thế giới quan của Murakami: “Khi còn viết sách ở Nhật, tôi chỉ muốn trốn

trò một nhà văn? Tôi viết bằng tiếng Nhật, có nghĩa tôi là nhà văn Nhật, vậy

không ngừng truy vấn về nguồn cội của mình Càng về giai đoạn sau của cuộc

đời, sự thôi thúc quay trở lại Nhật Bản của Murakami càng khôn nguôi: “Trước

đây, tôi muốn làm một nhà văn ngoài lề Nhật Bản Nhưng tôi vẫn là một nhà văn

động đất lớn Hanshin xảy ra vào tháng giêng năm 1995 và vụ tấn công bằng chất độc sarin ở Nhà ga xe điện ngầm Tokyo của tổ chức Aum Shinrikyo vào tháng

ba cùng năm, Murakami quyết định quay về Nhật Bản Năm 1997, sau hàng loạt tác phẩm huyền ảo, Murakami xuất bản Ngầm – cuốn sách non - fiction (văn xuôi phi hư cấu) đầu tiên Sau đó, ông xuất bản hai tập truyện phi hư cấu khác là

Sau cơn động đất (After the Quake) và Miền đất hứa (The Place That Was

Promised) Theo Murakami: “C ặp tai họa song sinh này sẽ còn nằm lưu cữu ở trong tâm linh chúng ta như hai tấm bia mộ trong đời sống của chúng ta với tư

Năm 1999, Murakami cho ra mắt tác phẩm khai thác về đề tài đồng tính

nữ, có tên là Người tình Sputnik Lối viết sử dụng nhiều ấn dụ, đầy ma ảo đã

Trang 27

được Murakami tiếp tục phát huy trong tác phẩm Kafka bên bờ biển và gây tiếng

vang khắp châu Á, châu Âu và nước Mỹ vào năm 2002 Tiểu thuyết Kafka bên

bờ biển đã đưa Murakami trở thành nhà văn thứ 6 được nhận giải thưởng danh

giá “Franz Kafka” tại Praha của Cộng hòa Séc vào năm 2006 Cùng năm đó, tập truyện chứa đựng những giấc mơ siêu thực, huyền bí - Cây liễu mù và Người đàn

thưởng truyện ngắn quốc tế Frank OConnor” Năm 2004, ông xuất bản tiểu thuyết Sau nửa đêm viết đề những điều huyền bí và tội ác đáng ghê tởm khi khám phá một đêm không ngủ của Tokyo Việc ý thức và dũng cảm chĩa ngòi bút vào cái ác của Murakami trong loạt tác phẩm Cuộc săn cừu hoang (1982),

cót (1995), Kafka bên bờ biển (2002), Sau nửa đêm (2004) và gần đây nhất là

cuốn 1Q84 (2009) đã cho thấy được cái nhìn đầy trách nhiệm của một công dân Nhật Bản ở ông khi đối diện với những vấn đề lịch sử và xã hội Trong đó, 1Q84

là bộ tiểu thuyết đồ sộ nhất của Murakami tính đến thời điểm hiện tại và chứa đựng nhiều yếu tố bạo lực, tính dục, hiện thực, huyền ảo, trinh thám và cả sự lãng mạn của một tình yêu đẹp

Murakami là nhà văn được đông đảo giới trẻ thế giới ái mộ, được giới truyền thông và nhiều nhà nghiên cứu văn học nước ngoài quan tâm Ông xuất

hiện trên văn đàn thế giới không chỉ với tư cách là một nhà văn Nhật Bản, là người đại diện cho nền văn hóa Nhật đương đại mà theo Jay Rubin (giáo sư

trường đại học Harvard) Murakami còn là đại diện cho “tiếng nói của thời đại

bình thủ cựu Nhật Bản như Kenzaburo Oe và Masao Miyoshi, Trong Hội nghị

Quốc tế tại San Francisco vào năm 2009, Kenzaburo Oe đã lên tiếng phê phán:

Trang 28

“Murakami, m ột nhà văn tuổi 40, và vì thế thuộc thế hệ đi trước Yoshimoto, chúng ta thấy tác phẩm của ông thể hiện rõ những thói quen văn hóa hiện đại phô trương quá đáng Murakami cũng là một người bạn đọc chu đáo, hệt như

seller” đã khiến Oe đặt ra câu hỏi lớn: “Liệu nền văn chương Nhật Bản có ruỗng

nát?” [70] Trước những ý kiến trái chiều, Murakami đã bộc lộ quan điểm của mình về tình trạng của nước Nhật hiện đại:

ai đọc Sau chiến tranh, được sống trong hoà bình, mọi việc trở nên tốt đẹp hơn,

nào” [76]

Trước sự xuống cấp của văn hóa Nhật Bản bởi nền kinh tế thị trường và

thực tế suy đồi của văn học Nhật Bản bấy giờ, Murakami đã cho thấy sự đổi mới tích cực của mình Sự đổi mới ấy thể hiện rõ nhất là ở việc Murakami đã toàn cầu hóa ngôn ngữ văn chương trong sáng tác Ông khước từ lối diễn đạt uyển chuyển khiến câu văn mập mờ mà người Nhật một thời từng rất tự hào Thay vào

đó, Murakami sử dụng thứ ngôn ngữ rõ ràng, sống động, gần gũi với tiếng nói chân thật mà mỗi người Nhật vẫn dùng hàng ngày Có thể nói, dẫu Murakami có

sử dụng nhiều yếu tố của văn hóa, văn học phương Tây trong sáng tác thì tác

phẩm của ông vẫn không thể xóa đi cái “căn cước” Nhật Bản từ việc sử dụng thứ ngôn ngữ Nhật Bản hiện đại, gần gũi đến những vấn đề của hiện thực xã hội

Nhật Bản không ngừng được chất vấn trong mỗi tác phẩm Và đặc biệt, khuynh

Trang 29

hướng hiện thực huyền ảo của Murakami chính là sự kế thừa và phát huy từ chính những yếu tố huyễn ảo trong văn hóa, văn chương Nhật Bản

1.2 Khái lược về cái huyền ảo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

Trong chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García

sáng tác xuyên suốt tiến trình lịch sử văn học nhân loại, để chỉ chung những tác phẩm có đặc trưng nghệ thuật là sự đan cài của hai yếu tố thực và ảo Vì vậy, có thể nói tuổi thọ của văn học huyễn ảo cũng chính là tuổi thọ của văn học mà khởi đầu chính là những sáng tác thần thoại Bên cạnh đó, một vấn đề rắc rối về khái

niệm là văn học huyễn ảo có phải là một thể loại hay không? Dựa trên cấu trúc phân chia về loại hình và thể loại từ giới nghiên cứu kể từ thời Aristotle, Lê Huy Bắc đã khái quát như sau [3, 17]:

Theo đó, văn học huyễn ảo, cũng như văn học kì ảo và hiện thực huyền ảo không thể là một thể loại mà nên được hiểu như là một phương pháp, trào lưu,

Trang 30

hạt nhân là “cái huyền ảo” Vì vậy, để xác định được bản chất của văn học huyền

ảo, trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm “cái huyền ảo” cũng như phân biệt được

nó với những khái niệm có liên quan

Lịch sử của “văn học huyễn ảo” có thể được chia thành ba giai đoạn, tương ứng với cách thức sáng tạo và tiếp nhận văn học như sau [3, 20]:

1

Cổ đại -

thế kỷ XIII

Cái huyễn tưởng (the mythical)

Thần thoại,

Cái kỳ ảo (the fantastic)

Văn học kỳ

ảo

Shakespeare, Hoffmann, Poe, Balzac

Ma quỷ, siêu nhiên, thần bí, không

Cái huyền

ảo (the magical)

Văn học huyền

ảo

Kafka, Borges, Márquez

Ma quỷ, thần bí,

vừa là ta vừa không phải

là ta

Vừa sợ vừa không

sợ

Bảng tổng hợp trên đã trình bày về sự chuyển biến qua các giai đoạn của

Văn học huyễn ảo Theo đó, đỉnh cao của văn học huyễn ảo giai đoạn đầu tập

trung ở thần thoại; giai đoạn tiếp theo tập trung ở văn học kỳ ảo; giai đoạn thứ ba

tập trung ở văn học hiện thực huyền ảo tương ứng với đặc tính thẩm mỹ qua từng giai đoạn là đi từ tin tưởng tuyệt đối, không sợ hãi đến bối rối, sợ hãi rồi vừa

Trang 31

nhại Và để hiểu rõ “cái huyền ảo” (magic) trong văn học hậu hiện đại, chúng tôi đặt khái niệm trong tương quan so sánh với “cái huyễn tưởng” (myth) trong văn

học cổ đại và đặc biệt là “cái kỳ ảo” (fantasy) trong văn học tiền - hiện đại Tuy

có cùng mẫu số là yếu tố siêu nhiên, thần bí nhưng nội hàm các khái niệm này không hoàn toàn giống nhau và chúng là hạt nhân của một khuynh hướng văn

học, một kiểu tư duy khác nhau

Thuật ngữ “Myth” hay “Mythical” có nguồn gốc từ “mythos” (có nghĩa là

“lời nói”) trong tiếng Hy Lạp Theo nghĩa hẹp, “cái huyễn tưởng” (myth) dùng

để xác định một thể loại văn học dân gian dùng để cắt nghĩa những sự kiện tự nhiên, hiện tượng vũ trụ mà con người cổ đại chưa thể lý giải được, gọi chung là huyền thoại Nhưng chúng tôi chú ý đến nghĩa rộng hơn, khi nhìn nhận huyền thoại như những tác phẩm được sáng tạo với tư duy huyền thoại, tức là kiểu tư duy tiền logic, thần bí, mang tính biểu trưng, cảm tính Con người cổ đại với sự

hạn chế về nhận thức đã không hề hoài nghi về những cái siêu nhiên, kì quái, hoang đường Họ sẵn sàng chấp nhận sự tồn tại của chúng như một điều tất yếu

của hiện thực đời sống và tin tưởng rằng thần thánh cũng tồn tại không khác gì đời sống con người Vì vậy, trước sự xuất hiện của các hiện tượng siêu nhiên, con người không hề cảm thấy sợ hãi

Thuật ngữ “Fantastic” (tiếng Pháp: fantastique, tiếng Latin: phantasticus),

có nghĩa là “tạo ra những hình ảnh thuộc về tinh thần” [43, 42] Những sáng tác

kỳ ảo tạo ra sự khoái cảm về nỗi sợ hãi, làm thỏa mãn trí tưởng tượng của độc giả và gợi nhớ lại những câu chuyện ma đã được nghe từ thuở ấu thơ Đại đa số các nhà nghiên cứu trên đề cập tới bản chất của kỳ ảo là sự phân vân, do dự, hoang mang, và nỗi sợ hãi Đặc biệt, cái kì ảo phải diễn ra trong môi trường có

Trang 32

tính hiện thực, khi con người thoát khỏi tư duy huyền thoại, có ý thức về hiện

thực và đối lập hiện thực đó với những cái không thể xảy ra [43]

“Magical” hay “Magic” vốn là tính từ, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là

magikē (technē) có nghĩa là (nghệ thuật của) phù thủy Đó là “một sức mạnh bí

ẩn có khả năng làm những điều không thực thành có thực (thường gắn với nét nghĩa tiêu cực – black magic – phép thuật ma quỷ)” [58, 19] Giống với cái kì ảo

ở những thế kỷ trước, “cái huyền ảo” (magic) trong văn học hậu hiện đại diễn tả một sự thật mơ hồ, nước đôi, khiến người đọc hồi hộp và lưỡng lự Cả hai cùng viết về những điều kì dị, ma quái, về hiện tượng siêu nhiên nhưng khác biệt nằm

ở chỗ, cái huyền ảo không đặt người đọc vào trạng thái hoang mang, ghê sợ được lan truyền từ nhân vật như khi đọc tác phẩm kì ảo của Hoffmann, Poe, Balzac hay Gogol Bước sang thế kỷ XX, Kafka đã đặt dấu chấm hết cho cái kỳ

ảo ở thế kỷ XIX trở về trước bằng việc biến những điều hết sức bình thường trong đời sống hàng ngày bỗng chốc trở thành những cái lạ thường, quái đản và ngược lại, những điều dị thường ấy bị lờ đi và nhân vật đón nhận nó như một điều bình thường Đó là việc vào một buổi sáng, Samsa đột nhiên biến thành bọ

trong Hóa thân của Kafka Lẽ ra đó phải là một chuyện khủng khiếp ở thế giới

hiện thực nhưng Samsa lại rất thản nhiên, điều đầu tiên anh lo lắng là làm thế nào để có thể dậy đi làm cho kịp chuyến tàu (vì anh đang nằm ngửa trong bộ

dạng của một con bọ) Điều bất thường đó được xem là hiển nhiên, thậm chí được nhìn như điều thú vị và bị giễu nhại như trong sáng tác của Kafka, Borges hay Marquez, Cái siêu nhiên, bí ẩn, quái dị từng xuất hiện trong văn học kì ảo

đã được phát triển lên một bước mới

Bài viết Cái kỳ ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo trong văn

Trang 33

và “cái huyền ảo”, đồng thời cũng là phân biệt giữa văn học kì ảo với văn học huyền ảo thông qua tám tiêu chí: giọng điệu, không gian thực - ảo; nền tảng

Cái kì ảo trong văn học

Thế giới song hành, đối lập, tách rời nhau

Thế giới thực tại (có tính siêu thực), thực - ảo tồn tại hài hòa

dụng ngôi kể thứ nhất)

Thường là ngôi thứ ba mang bản chất

tự sự của ngôi thứ nhất (trường nhìn

hữu hạn, không toàn tri)

Thường mang tính siêu nhiên, ma quỷ Mang tính hiện thực

Nhân v ật chính

Thường điên loạn, có hành

vi kinh dị, mang ẩn ức

tính dục

Nhân vật bình thường nhưng có đặc tính huyền ảo; hình tượng thuần túy huyền ảo (hồn ma, quái vật, mê lộ, ) nhưng vẫn có nét hiện thực, ngang hàng với hình tượng của hiện thực, không áp chế, không gây

khiếp nhược

→ Hình tượng kép

Trang 34

Tóm lại, lịch sử văn học huyễn ảo có thể được chia làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn tương ứng với cách thức sáng tạo và tiếp nhận văn học khác nhau

Giai đoạn đầu tiên gắn với “cái huyễn tưởng” hay “cái huyền thoại” khi con người cổ xưa với tư duy huyền thoại, thơ ngây, đầy cảm tính, luôn tin tưởng tuyệt đối vào tính hiện thực của những hiện tượng siêu nhiên, vào sự tồn tại của

thần linh Họ xem đó như một “hiện thực tất yếu” của đời sống [3, 18] Vì vậy,

việc thần linh, tiên bụt xuất hiện cứu giúp ai đó là một điều thường tình, chẳng

có gì đáng sợ hãi hay nghi ngờ Nhưng sang giai đoạn tiếp theo, vào thời kỳ cận – hiện đại (từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX), đặc biệt vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa duy lý (rationalism) vươn lên thống trị, và các tiến bộ khoa học kỹ thuật khiến con người thoát khỏi tư duy sử thi, thôi tin vào những điều huyền diệu, hoang đường Các nhà văn bắt đầu có ý thức đối lập giữa cái siêu nhiên và cái hiện thực trong nghệ thuật Vì vậy, thế giới thực - ảo ở đây xuất hiện song hành nhưng luôn đặt trong sự đối lập, tách rời nhau Và con người khi chuyển dịch từ thế giới thực sang thế giới ảo sẽ dễ mang tâm lý sợ hãi

Để tăng cảm giác sợ hãi, tác giả cho cái kỳ ảo lộ diện dần dần và thường dùng ngôi thứ nhất để tạo sự “đồng hiện tâm lý” Văn học kì ảo vận hành theo nguyên tắc là người kể cố gắng thuyết phục, chứng minh với người đọc rằng câu chuyện mình kể là hoàn toàn có thật bằng những lập luận duy lý, thậm chí là trích dẫn

những nghiên cứu khoa học Bước qua giai đoạn thứ ba, cái kì ảo được thay thế bằng cái huyền ảo khi con người thời hậu hiện đại bắt đầu hoài nghi lý trí về sự tồn tại của ma quỷ lẫn thánh thần Ở giai đoạn này, thế giới nửa tin nửa ngờ, đầy

u ám, khiếp đảm được tạo ra từ cái kì ảo bị phá sản Các nhân vật, sự kiện hoang đường trong văn học huyền ảo được đặt vào tác phẩm mà không cần phải chứng minh là nó có thực hay không

Trang 35

Có thể nhận thấy, yếu tố huyền ảo đóng vai trò hạt nhân, “xác lập khuynh

hướng cho trào lưu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” [58, 27] Vì vậy, chúng tôi sẽ

dựa vào một số đặc điểm của cái huyền ảo đã phân tích trên đây để tiếp tục làm

rõ đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực ở phần tiếp theo

Thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” được đề xuất vào năm 1925,

bởi nhiếp ảnh gia, nhà phê bình nghệ thuật người Đức, Franz Roh, trong cuốn

đương thời Ban đầu, Franz Roh đặt tên cho phong cách này là “Chủ nghĩa Hậu

biểu hiện” (Post Expressionism) để mô tả sự trở lại hoàn toàn mới mẻ và khác lạ

của “Chủ nghĩa Hiện thực” (Realism) của một nhóm họa sĩ Châu Âu sau thế chiến thứ nhất Sau đó, Roh nhận ra rằng cái tên này không mang một nội dung độc lập mà chỉ thể hiện mối liên hệ về nguồn gốc và thứ tự thời gian nên đổi thành “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” (Magic Realism) – “The word “Post-

Expressionism” only indicates ancestry and chronological relationship” [88, 15

- 31] Roh dùng thuật ngữ “huyền ảo” (magic) mà không phải là “thần bí” (mystic) vì ông cho rằng: “Cái thần bí không có khả năng bao quát thế giới được

descend to the represented world, but rather hides and palpates behind it" [88,

16] Trong khi đó, cái huyền ảo (the “magic”) tồn tại ngay trong chính thế giới thực tại, khi những điều thường ngày có thể xuất hiện một cách lạ lẫm, kì ảo và

từ đó lộ ra những ý nghĩa sâu sắc về những vấn đề thực tế Vì vậy, ngay từ ban đầu, Roh đã xác định chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là những tác phẩm làm cho

những điều bình thường trở nên phi thường [3, 30] Năm 1927, khái niệm chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Roh đã ảnh hưởng đến các nhà văn Tây Ban Nha

Trang 36

Mỹ khi cuốn sách trên được dịch sang tiếng Tây Ban Nha và cho xuất bản rộng rãi Tuy vẫn còn nhiều bất đồng xoay quanh vấn đề nguồn gốc của trào lưu văn học này, thế nhưng một điều không thể phủ nhận là sức lan tỏa và ảnh hưởng của

nó trên văn đàn thế giới, đặc biệt là vào những năm 1980 Những nhà văn huyền

ảo không còn giới hạn ở phạm vi Mỹ Latin với những tên tuổi lớn như Alejo Carpentier, G.Marquez, Jorge Luis Borge, mà bắt đầu xuất hiện ở nền văn học

của các nước với một số đại diện như Italo Calvino (Italia), John Flowles (Hoa Kỳ), Gunter Grass (Đức), Salman Rushdie (Anh), Haruki Murakami (Nhật Bản),

Một quan niệm khá phổ biến khi xác định một nhà văn theo khuynh hướng

hiện thực huyền ảo thường dựa trên tiêu chí xuất hiện yếu tố hoang đường, kỳ

ảo Quan điểm trên đúng nhưng chưa đủ Franz Kafka và Miguel Angle Asturias vẫn được xem là nhà văn hiện thực huyền ảo mặc dù trong Vụ án và Ngài tổng

nhiên, ) mà thay vào đó, cả hai nhà văn đã sử dụng biện pháp ảo hóa hiện thực Trong chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García Marquez,

Lê Huy Bắc đã xác lập nội hàm của khái niệm “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” như sau:

tố siêu nhiên, huyễn ảo, hoang đường, làm cho hiện thực khác lạ, hấp dẫn người đọc, song đằng sau vẻ li kỳ đó, tác phẩm vẫn đảm bảo một thực trạng cơ

cô đơn, thói tự mãn tách li, tính tò mò, niềm đam mê tiền bạc và danh lợi quá

Trang 37

h ọ đề cập trực tiếp mà thông qua các hình tượng ẩn dụ siêu phàm tới mức đôi

Vì vậy, lối văn của khuynh hướng này thiên về gợi mở, người đọc có vai trò đồng sáng tạo, họ có thể cắt nghĩa các hình tượng ẩn dụ theo những cách hoàn toàn khác nhau Các nhà hiện thực huyền ảo tuy vẫn tôn trọng hiện thực nhưng thường có xu hướng phóng đại, biểu trưng, ngụ ý, mê hoặc người đọc

bằng các hình tượng từ trong văn học cổ, trong tín ngưỡng dân gian, thay đổi đôi chút cho gần với thực tế, chẳng hạn như trường hợp đôi cánh của vị thần như cánh của loài gà trong Cụ già có đôi cánh khổng lồ của C.G.Marquez, người biến thành bọ trong Hóa thân của Franz Kafka, người bị mất bóng trong Xứ sở diệu

thẩm mỹ của văn học hiện thực huyền ảo, những điều không thực được đối xử như điều có thực, và ngược lại Thực và ảo trộn lẫn vào nhau theo cách khó có

thể phân định đâu là thực và đâu là điều không thực

Dựa trên đặc điểm về cái huyền ảo và khái niệm “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” của một số nhà nghiên cứu, chúng tôi khái quát đặc điểm chính về

khuynh hướng văn học này ở một số phương diện quan trọng sau đây: người kể

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thường sử dụng kiểu “người kể chuyện xa

lạ” (chữ của Lê Huy Bắc) với giọng điệu thản nhiên, thường ở ngôi thứ ba nhằm đem đến cái nhìn khách quan, có tầm bao quát cao, nhưng không vì thế mà người

kể chuyện “biết tuốt” mọi chuyện như ở ngôi thứ ba truyền thống Họ bị giới hạn trong trường nhìn của một nhân vật nào đó, và ít khi trực tiếp diễn giải nội tâm nhân vật Phan Tuấn Anh cho rằng đây thực chất là ngôi thứ ba mang bản chất tự

Trang 38

sự của ngôi thứ nhất [62] Tuy nhiên, khá nhiều cây bút hiện thực huyền ảo vẫn

lựa chọn ngôi kể thứ nhất như Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez, Murakami Haruki, Theo Todorov, ngôi kể thứ nhất là “ngôi dễ dàng nhất trong

lợi không chỉ trong việc khơi gợi sự đồng cảm, mà còn làm tăng tính xác thực cho câu chuyện, tạo sự tin cậy ở người đọc trước những thực tại kì lạ trong tác phẩm

Hệ thống đề tài của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo không còn hướng đến

những vấn đề kì dị, thần bí, siêu nhiên thường xuất hiện trong văn học kì ảo giai đoạn trước mà thay vào đó, hướng đến những vấn đề mang tính hiện thực đậm nét Đó là các đề tài về lịch sử vùng đất, dân tộc, về nỗi cô đơn, về sự tự do, về hành trình truy tầm bản ngã Ở đây, cái thực - ảo không có sự phân cực, đối lập nhau rõ ràng, và cái ảo cũng không còn bị tách ra, đóng vai trò trung tâm như trong văn chương gothic, truyện kinh dị, mà hai yếu tố này khi xét trong văn học huyền ảo Mỹ Latin, theo Rogers, đã thực sự bình đẳng hóa với nhau

Một tác phẩm hiện thực huyền ảo, đặc biệt ở tiểu thuyết, thường đan lồng nhiều cốt truyện nhỏ, tạo nên sự hỗn độn các chi tiết, sự kiện, dẫn đến một kiểu

cốt truyện đặc trưng, gọi là cốt truyện mê lộ, đả phá cốt truyện tuyến tính truyền

thống Ngoài ra, đặc tính liên văn bản trong văn học hậu hiện đại cũng thường được xuất hiện trong các tác phẩm huyền ảo, như trong trong sáng tác của J.L.Borges, Murakami Haruki,

Theo nhà lý luận B.Holland Rogers, thế giới trong các tác phẩm hiện thực huyền ảo thường song trùng thực ảo với nhau, hoặc xuất hiện thực tại thứ ba,

Trang 39

trung gian giữa hai không gian trên, mà Trần Tố Loan gọi là “thực tại phi thực”

[41, 699] Tuy nhiên, theo Phan Tuấn Anh, chỉ có một thực tại duy nhất, đó là thực tại (có tính siêu thực) “không có thế giới của thiên đàng, của địa phủ, của

chỉ tồn tại một thực tại duy nhất, đó là làng Moncodo thì trong tiểu thuyết của Murakami, thường xuất hiện nhiều thực tại khác nhau như không gian đô thị của Nhật Bản thời hậu chiến, không gian trong giấc mơ, không gian dưới lòng đất, Tất cả những thực tại này không tồn tại độc lập, tách biệt mà luôn đan bện vào nhau Vì vậy, chúng tôi cho rằng, vẫn có thể tồn tại nhiều thực tại khác nhau trong một tác phẩm và đó cũng là một trong những sự khác biệt giữa tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của Murakami với tiểu thuyết của một số nhà văn khác

Thời gian trong các tác phẩm hiện thực huyền ảo thường gợi nhớ về lịch

sử, nhưng đó là “kiểu lịch sử nửa có nửa không, như thể là sản phẩm của trí

tưởng tượng” [3, 34] mà vẫn mang dấu ấn của hiện thực Chúng tôi sẽ tiếp tục

làm rõ nội dung này ở chương hai, phần thời gian nghệ thuật

Tiếp đến, nhân vật trong các sáng tác hiện thực huyền ảo là những con người bình thường nhưng có đặc tính huyền ảo như khả năng tiên tri, bay lên

trời, có ngoại hình kì lạ, Tuy nhiên, những đặc tính này chỉ biểu lộ trong một giai đoạn, một hoàn cảnh nhất định Lê Huy Bắc gọi các “hình tượng kép” trên là

sự “pha trộn người thật với thần ma, quỷ quái” [3, 34], mà ngay trong chính bản thân một nhân vật cũng khó có thể phân định được Trước đó, Todorov đã sớm

nhận ra bước ngoặt chuyển từ cái kì ảo sang huyền ảo ở trường hợp của Kafka, ông cho rằng không cần đến sự xuất hiện của phép màu (như trong văn học kì

ảo), bản thân sự tồn tại của con người bình thường đã biến thành “sinh thể huyền

Trang 40

ảo” [62] Ngoài ra, trong tác phẩm còn xuất hiện các nhân vật thuần túy huyễn

ảo như linh hồn, quái vật, thần linh, Tuy nhiên, những hình tượng này vẫn mang dấu ấn của hiện thực, và đứng ngang hàng với các hình tượng của hiện thực, không tạo ra sự sợ hãi, áp chế như trong văn học kì ảo giai đoạn trước Mà ngược lại, nó còn trở thành đối tượng bị động, bị tra tấn Edwin Williamson từng cho rằng: “Cái mốt nhân loại học (antropofagia) đang thịnh hành này của thập

nói tiếng cười hài hước chính là điểm khác biệt giữa chủ nghĩa hiện thực huyền

ảo Mỹ Latin và Nhật Bản Vì nhìn chung, văn học huyện thực huyền ảo Nhật

Bản thường mang tính triết lý và bi cảm như là một đặc trưng thẩm mỹ của văn học xứ sở hoa anh đào

Trong quá trình tham khảo các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi nhận thấy luận văn Nghệ thuật tự sự trong tiểu tiểu thuyết Murakami Haruki

của Nguyễn Bích Nhã Trúc đã khảo sát và phân tích rất kĩ lưỡng về đề tài và cốt truyện Vì vậy, chúng tôi chỉ tham khảo mà không tiếp tục triển khai nội dung này Ngoài ra, với đề tài đang nghiên cứu, chúng tôi đề xuất khảo sát và phân tích biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của Murakami

Vì khi vận dụng các biểu tượng, cổ mẫu trong sáng tác của mình, Murakami không chỉ đưa người đọc bước vào thế giới huyền ảo thông qua sự tái sinh của văn hóa và huyền thoại cổ xưa trong cuộc sống hiện đại mà còn thể hiện cái nhìn của nhà văn về những vấn đề con người và đời sống xã hội

Tóm lại, dựa trên những đặc điểm lý luận về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

đã phân tích ở trên đây, chúng tôi sẽ khảo sát và phân tích biểu hiện của khuynh

Ngày đăng: 07/04/2017, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Akutagawa Ryunosuke (1999), Tuy ển tập truyện ngắn, Phong Vũ (dịch), Nxb H ội nhà văn, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Akutagawa Ryunosuke
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
2. Alain Gheerbrant, Jean Chevalier (1997), T ừ điển biểu tượng văn hoá thế gi ới , Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Đình, Nguyễn Văn Vỹ (dịch), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới
Tác giả: Alain Gheerbrant, Jean Chevalier
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
3. Lê Huy B ắ c (2009), Ch ủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García Marquez, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García Marquez
Tác giả: Lê Huy B ắ c
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Lê Huy B ắ c (2012), Văn học Hậu Hiện đại - Lý thuyết và tiếp nhận , Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Hậu Hiện đại - Lý thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy B ắ c
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
5. Nhật Chiêu (2007), “Thực tại trong ma ảo”, K ỷ yếu hội thảo Thế giới của Haruki Murakami và Yoshimoto Banana Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tại trong ma ảo”
Tác giả: Nhật Chiêu
Năm: 2007
6. Nh ậ t Chiêu (2003), Nh ật Bản trong chiếc gương soi , Nxb Giáo d ụ c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiếc gương soi
Tác giả: Nh ậ t Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Nhật Chiêu (1997), Câu chuy ện văn chương phương Đông , Nxb Giáo dục, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện văn chương phương Đông
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
8. Đào Ngọc Chương (2008), Phê bình huy ền thoại, Nxb Đạ i h ọ c Qu ố c Gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình huyền thoại
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
10. Kim Định (1967), Ch ữ thời , Nxb Thanh Bình, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ thời
Tác giả: Kim Định
Nhà XB: Nxb Thanh Bình
Năm: 1967
11. Eliade, Mircea, “C ấ u trúc c ủ a các bi ểu tượ ng”, Tri ều Đông (dị ch), Văn h ọc nước ngoài (3/2007), H ội Nhà văn Việ t Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của các biểu tượng”, Triều Đông (dịch), "Văn học nước ngoài
12. Freud, Sigmund (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Freud, Sigmund
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
13. Freud, Sigmund (2005), Các bài vi ết về giấc mơ và giải thích giấc mơ , Ng ụ y H ữ u Tâm (d ị ch), Nxb. Th ế gi ớ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ
Tác giả: Freud, Sigmund
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2005
14. Freud, Sigmund (2006), Ba ti ểu luận về thuyết tính dục , Nguy ễ n H ạc Đạ m Thư (dịch), Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba tiểu luận về thuyết tính dục
Tác giả: Freud, Sigmund
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2006
15. Lê Bá Hán (1998), T ừ điển thuật ngữ văn học , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Haruki Murakami (2008), Biên niên ký chim v ặn dây cót , Tr ầ n Ti ễ n Cao Đăng (dị ch), Nxb H ội Nhà văn, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên ký chim vặn dây cót
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008
17. Haruki Murakami (2008), Người tình Sputnik, Ngân Xuyên (dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tình Sputnik
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008
18. Haruki Murakami (2008), Ng ầm , Trần Đĩnh (dịch), Nxb Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngầm
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2008
19. Haruki Murakami (2008), R ừng Na-uy , Tr ị nh L ữ (d ị ch), Nxb H ộ i Nhà văn, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng Na-uy
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008
20. Haruki Murakami (2008), Sau n ửa đêm , Huỳnh Thanh Xuân (dịch), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sau nửa đêm
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
21. Haruki Murakami (2008), Tôi nói gì khi nói v ề chạy bộ , Thiên Nga (d ị ch), Nxb H ội Nhà văn, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi nói gì khi nói về chạy bộ
Tác giả: Haruki Murakami
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w