Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh ghép với các nét sang phần vân tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ, song giáo viên vẫn thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ
Trang 1móc hai đầu có độ cao 2 li, độ rộng I li dừng bút ở đường kẻ ngang 2 Tương
tự như vậy với các chữ còn lại
- Nhóm 3: gom các chữ: o, ô, ơ,a, 4, 4, c, x, d, d, q, g, e, 6, s
Các lỗi hoc sinh hay mac: viét chit o chiéu ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không tron đều đầu to, đầu bé, chữ o méo Hầu hết các em viết chữ o xấu Cách khắc phục: để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này thì cần phải viết chữ o đúng và đẹp tròn theo quy định Giáo viên cho học sinh cham 4 điểm vuông góc đều nhau như điểm giữa 4 cạnh của hình chữ nhật và từ điểm
đặt bút của con chữ o viết một nét cong tròn đều di qua 4 cham thì sẽ được
chữ o tròn đều và đẹp Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh ghép với các nét
sang phần vân tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ, song giáo
viên vẫn thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái, những chữ
cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái trong một chữ ghi tiếng, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng (bằng một con chữ o)
Với học sinh trung bình, yếu giáo viên chỉ yêu cầu các em viết đúng cỡ chữ, thăng hàng, ngay ngắn, đều nét, liền mạch Đối với học sinh khá giỏi,
giáo viên yêu cầu ở mức độ cao hơn các em viết được chữ nét thanh, nét đậm Nét chữ có độ mịn, mượt, không sản sùi Chữ viết thăng đứng, các nét chữ song song với nhau, đều nét, liền mạch, ngay ngăn và sạch đẹp
Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ, giáo viên cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp các em nhớ lâu và viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng
các chữ cái.
Trang 22.3.3 Xây dựng bài tập rèn kĩ năng viet
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc để điển vào chỗ chấm trong các câu sau
- Cháu bé đang uống (sữa, sửa)
- Học sinh chào cô giáo (ngả, ngã)
- Đôi .này để rất .(giày, dày)
c Dạng bài tập phát hiện
* Tìm tự sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng
- Đàn đê cắm cúi ghặm cỏ bên sườn đôi
- Sau cơn mưa, cả nhà cá bơi đi bơi lại bận dộn
d Dạng bài tập điền khuyết
* Điễn vào chỗ chấm
“c” hay “k” : .ééo co, cổ ính, iên nhẫn, tổ .iến
6 g” 99 hay “gh” : .6 ghề, e thuyền, i nhớ, chán .ét
“ng” hay “ngh”: ngốc .ếch, ngạo .ễ, .iêng
e Dạng bài tập phân biệt
* Quan sát một số hình ảnh chỉ tên đồ vật, tên con vat bat dau bang adm ch
Trang 3Vi du:
- chéi, chao, chén, chiéu, chum,
- ché, chuén chuồn, châu chấu, chim sẻ, chim sâu,
* Tìm tên chỉ cây cối hoặc tên con vật đêu bắt đầu bang âm “s”
VD: - sả, sầu đâu, sầu riêng, sẵn, sứ, sỉ,
- SÒ, SÓC, SỨa, Sáo, SÓI, SƯ tử, sên,
2.3.4 Khắc sâu, chữa những lỗi học sinh thường gặp trong khi viết
Giáo viên cần nhẫn mạnh chỗ ghi dẫu thanh với vần, từng loại vần Cái khó với học sinh là không biết ghi dâu thanh ở vị trí nào nhất là những chữ có từ
2 đến 3 chữ cái trở lên Khi dạy mỗi vân mới, cuỗi cùng giáo viên cho học sinh nhận xét chốt lại những chữ ghi vần đó thì viết dấu thanh ở chữ cái ghi âm gì Đặc biệt ở bài ôn tập mỗi loại vân giáo viên đều khắc sâu vị trí ghi dấu thanh
* Quy tắc ghi dẫu thanh như sau
- Viết dẫu thanh ở âm chính của vẫn
Trang 4Với chữ có dấu phụ là đấu mũ như ô, ơ, ê, thi thanh sac, huyén, hoi phải ghi ở bên phải dẫu mũ còn thanh ngã thì ghi ở giữa, phía trên của dâu
mũ, các dấu thanh phải ngay ngăn, cân đối nằm đúng dòng li quy định và không được chạm vào chữ cái hay dẫu phụ
Trong quá trình nhận xét bai, giáo viên chữa những lỗi học sinh sai phô biến nhất, hướng dẫn kĩ lại cách viết của chữ đó để học sinh khắc sâu cách viết một lần nữa Cho cả lớp xem bài viết đẹp Kịp thời động viên, khích lệ
những học sinh có chữ viết tiễn bộ
Những nét chữ sai giáo viên nhận xét thật rõ và sau đó giáo viên viết mẫu cho các em sửa lại những chữ các em đã viết sai để về nhà các em tập viết theo mẫu đó cho đúng và đẹp
2.3.5 Tổ chức các trò chơi và phong trào thỉ đua “Giiữ vở sạch - Viết chữ đẹp”
2.3.3.1 Tro chơi học tập
Việc xây dựng trò chơi học tập trong giờ tập viết là một hình thức tô
chức lớp học, hoạt động dưới dạng: “Học mà chơi - chơi mà học” Trong trò
chơi học tập, giáo viên giúp các em củng cô lại những kiến thức rèn kĩ năng
thực hành, tạo được mối quan hệ đoàn kết trong học tập
Ví dụ: Giáo viên có thể dùng các nét rời, rồi cho học sinh thi ghép các
nét chữ với nhau để tạo thành những chữ cái đã học hoặc cho học sinh thi viết
lại những chữ cái trên bảng lớp
Đề ghép được chữ A (kiểu 1), giáo viên chuẩn bị các tắm bìa, mỗi bộ 3 tâm bìa theo 3 nét của chữ A: nét móc ngược trái, nét móc ngược phải và nét lượn ngang Sau đó, giáo viên gọi 4 em có chữ viết kém lên thi ghép chữ với nhau
Cách chơi: 4 em lên bảng đứng thành hàng ngang Giáo viên phát cho môi em một bộ các nét chữ A Giáo viên hô “băt đâu” thì môi em tự đính các
Trang 5nét chữ A rời rồi ghép lại với nhau để thành chữ A hoàn chỉnh Em nào ghép đúng và nhanh thì được cả lớp vỗ tay tuyên dương
Như vậy, khi vận dụng trò chơi, giáo viên cần lựa chọn những hình thức sao cho phù hợp với học sinh của lớp mình để đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học
2.3.3.2 Tổ chức phong trào thi đua: Giữ vở sạch, viết chữ đẹp
Để việc rèn kĩ năng viết phải có sự hướng dẫn tỉ mỉ, từng li, từng tí của giáo viên Mặt khác, giáo viên còn phải hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh Không nên cho các em ngồi viết liền trong một thời gian dài đễ gây mỏi tay và chán Giáo viên cần thường xuyên tổ chức tô chức giao lưu “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” trong từng tháng Động viên khen ngợi kịp thời những tổ hay cá nhân thực hiện tốt, đặc biệt những tổ hay cá nhân có tiến bộ tạo cho học sinh sự hứng khởi hăng hái thi đua rèn luyện
Trong các tiết sinh hoạt lớp cuối chúng tuần,giáo viên nên dành khoảng
10 phút để tổng kết đánh giá việc rèn chữ viết đẹp, giữ vở sạch của học sinh
và tuyên dương những em có tiến bộ Ngoài việc phát động phong trào thi
đua, giáo viên còn giới thiệu các bài viết đẹp, các trang viết đẹp của học sinh
trong buôi họp cha mẹ học sinh để cha mẹ các em cùng thi đua rèn luyện cho con em mình
2.3.6 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
* Phương pháp írực quan
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập Điều này giúp các em chủ động phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết Đây là điêu kiện đâu tiên đê các em việt đúng Có các hình thức chữ mâu: chữ mâu
Trang 6in sẵn, chữ phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu hắt, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng mẫu quy
định, rõ ràng và đẹp
Chữ mẫu phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ
bản, câu tạo chữ cái cần viết trong bài học
Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu câu viết liền mạch, viết nhanh
Ngoài ra, đề việc dạy chữ không đơn điệu, giáo viên cần coi trọng viéc
xử lý quan hệ giữa âm và chữ, tức là giữa đọc và viết Do đó trong tiến trình rèn viết chữ, nhất là những âm mà địa phương hay lẫn, giáo viên cần đọc
mẫu Việc viết đúng củng cô việc đọc đúng và đọc đúng đóng góp vai trò
quan trọng để đảm bảo viết đúng
* Phương pháp đàm thoại gợi mở
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học Giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống
câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cầu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến
việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích
Ví dụ: Khi dạy chữ A, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ A gồm có bao nhiêu nét? là những nét nào? chữ A cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?
* Phương pháp luyện tập
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ Việc hướng dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu Lúc đầu là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ chữ,
Trang 7sau đó là viết đúng dòng và đúng tốc độ quy định Việc rèn luyện kĩ năng viết chữ phải được tiến hành đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân môn tập viết
cũng như ở các phân môn của bộ môn Tiếng Việt và các môn học khác
Khi học sinh luyện tập chữ viết, giáo viên cần luôn luôn uốn nắn cách
ngồi viết Cần lưu ý các hình thức luyện tập cơ bản sau:
- Tập viết chữ vào bảng con của học sinh
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết
và bức đầu đánh giá kĩ năng viết chữ của học sinh Hình thức này dùng để kiểm tra bài cũ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp Từ đó, giáo viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích cỡ, hình dáng, thứ tự các nét viết)
- Luyện viết trong vở:
+ Luyện viết trong vo tap viết: Muôn cho học sinh sử dụng có hiệu quả
vở tập viết, giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết
của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét ) giúp các em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phân bài viết
+ Luyện viết trong vở ở ô li: Giáo viên cần viết mẫu cho toàn bộ học
sinh trong vở cho đến khi học hết phần âm (chữ cái)
2.3.7 Giáo viên phối hợp với gia đình học sinh
Giáo viên sinh hoạt nội qui trường, lớp cho phụ huynh vào đầu năm học để phụ huynh kịp thời nhắc nhở, đôn đốc Giáo viên và phụ huynh phải
thống nhất các nội dung cần rèn luyện học sinh và cùng nhau thực hiện sẽ tạo
thói quen học bài và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp
- Trong quá trình dạy giáo viên phát hiện các em học còn khuyết chỗ nào sẽ báo ngay phụ huynh đề kịp thời cùng nhau chỉnh sửa cho các em
Trang 8Được sự quan tâm, giúp đỡ, hợp tác của phụ huynh thì các em sẽ
nhanh chóng xác định nhiệm vụ học tập của mình Tạo cho các em có tĩnh
thần cầu tiến, biết hoàn thành nhiệm vụ được giao, biết làm cho cha me, thầy
cô vui lòng Đặc biệt là các em sẽ đọc thông viết thạo, hình thành tính kĩ luật,
kĩ năng, kĩ xảo, thói quen viết đúng, viết đẹp khi các em đặt bút viết
2.4 Sử dụng phần mềm học tập để rèn các kĩ năng tiếng Việt qua phân
môn Học vần
2.4.1 Ích lợi của phần mêm Học vẫn tiếng Việt
- Giới thiệu 29 chữ cái tiếng Việt theo chuẩn của Bộ Giáo dục & Đào tạo và nhà nước Việt Nam
- Mô phỏng và hỗ trợ học cách viết chữ cho toàn bộ bảng chữ cái tiếng
Việt theo cả 2 kiểu: chữ viết hoa và chữ viết thường Mô phỏng chính xác
theo mẫu chữ viết mới của Bộ Giáo dục Đào tạo do Nhà xuất bản Giáo dục
chuân Hà Nội
- Hỗ trợ việc học nhận biết và phát âm các thanh dấu (huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) trong tiếng Việt chuẩn
- Bộ dữ liệu dâu bao gồm cách đọc 11 nguyên âm tiếng Việt với toàn
bộ 6 âm dấu tiếng Việt chính đã được thu âm kèm thêm một bộ dữ liệu từ khóa lớn (trên 1000 từ khóa kèm tranh) dùng đề hỗ trợ học dấu tiếng Việt.
Trang 92.4.2 Học bảng chữ cái và phát âm chữ cải tiếng Việt theo cả hai kiểu
Bảng chữ cái tiếng Việt bao gồm 29 chữ cái Phần mềm cho phép quan sát và nghe cách đọc, phát âm của từng chữ cái tiếng Việt
Trong cửa số của chức năng học bảng chữ cái tiếng Việt này, nháy chuột vào một chữ cái sẽ nghe được cách phát âm chữ cái và quan sát một bức tranh có liên quan đên chữ cái này
Một điều thú vị mà chúng ta ít để ý đến, đó là có hai cách đọc và phát
âm bảng chữ cái tiếng Việt Cả hai cách đọc này đều được đưa vào day cho hoc sinh trong nha truong tiểu học của Việt Nam
Đó là cách đọc theo phiên âm chữ cái mà HS được học để đánh vẫn
các âm đơn tiếng Việt Ví dụ của cách đọc này là "a", "bờ", "cờ", "dờ”,
Cách đọc thứ hai là theo tên chữ cái đã được tiêu chuẩn hóa của ngôn
ngữ Việt Cách đọc này được chính thức ghi trong các giáo trình dạy tiếng
Việt chuẩn, dạy cho người nước ngoài Ví dụ của các đọc này là "a", "bé",
"xé", "dé",
Trong Học van tiếng Việt chúng tôi đã thu âm cả hai cách đọc này Người dùng được quyên chọn lựa cách phát âm bảng chữ cái theo phiên âm hay theo tên chữ cái
Trang 102.4.3 Mô phỏng việc học viễt chữ cải tiếng Việt hoàn toàn chuẩn và chính xác
Học viết chữ cái tiếng Việt là một trong các nhiệm vụ chính của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học
Bài học viết chữ của phần mềm Học vẫn tiếng Việt là một bài học
được thiết kế một cách công phu nhất Chúng tôi đề ra mục đích của bài học này là đầy đủ, chính xác, hiệu quả và phải hap dẫn đối với trẻ nhỏ
Trên màn hình là một bảng chữ cái tiếng Việt Nháy chuột vào các chữ cái này để nghe phát âm chữ cái và đuợc quan sát chỉ tiết, tỷ mỉ cách viết chữ
này Học sinh quan sát tự học hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Với mỗi chữ cái, phần mềm cho phép quan sát các mẫu chữ cái viết thường và viết hoa Các mẫu này được lấy hoàn toàn chuẩn và chính xác theo mẫu chữ viết chuẩn của Bộ Giáo dục & đào tạo ban hành hiện tại
Nếu nháy đúp vào ô chữ cái chúng ta sẽ thấy xuất hiện thêm một mẫu chữ chính xác với các đường kẻ chỉ ra thứ tự chính xác cách việt chữ cải này
Trang 112.4.4 Bộ âm vẫn tiếng Việt độ sộ và đây đủ nhất dành cho tất cả mọi người muốn làm quen và học đánh vẫn tiếng Việt
Mặc dù được kiến tạo từ một bảng chữ cái kiểu "la tính" nhưng ngôn ngữ Việt phức tạp nhất với các qui tắc ghép âm vân và các thanh dấu (huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) Các đặc thù này chỉ có duy nhất trong ngôn ngữ Việt và đây cũng là đặc điểm khó học nhất của tiếng Việt
Trong chương trình học cách ghép 4m van va dấu tiếng Việt cho học sinh lớp 1 tiểu học, mỗi ngày các cháu phải học liên tục 2 âm vân Việc học này kéo đài liên tục trong gần 100 buổi học Với tông số gần 200 âm vẫn chính, việc học như vậy đang là quá tải đối với đa số học sinh lớp 1 tiêu học
Chức năng học âm vần của phần mềm là bài học quan trọng nhất, trung tâm nhất của phần mềm Thậm chí chúng tôi dùng ngay bài học này đề đặt tên cho phần mềm Trong phần mềm chúng tôi đã thu âm đủ toàn bộ 173 4m van của chương trình tiếng Việt lớp 1, mỗi âm vần đi kèm 8 từ khóa với các bức tranh minh họa đây đủ
Trang 12Bài học luyện nghe, đọc và phát âm tiếng Việt được mô tả như hình dưới đây Người dùng (giáo viên, cha mẹ học sinh) có thể lựa chon 4m van bất kỳ trong danh sách âm vẫn tại cột phải màn hình
Các bài học này nên được học ngay trên lớp với sự hướng dẫn của giáo viên hoặc ở nhà do cha mẹ học sinh giúp đỡ
Bai Frọc âm văn: 'eo, Chế
- Các từ khóa bổ sung (không hình ảnh)
- Một câu, đoạn văn hoàn chính có liên quan
Người dùng có quyên thay đổi quyết định có cho phép các thông tin này xuất hiện trên màn hình hay không Nháy chuột vào các nút mũi tên bên
trái khung màn hình dé lam 4n / hiện dòng hiện thời Nháy chuột lên âm vần
để nghe cách đọc và phát âm.
Trang 13
Man hinh nay 1a bai hoc dau trong tiéng Việt Học sinh sẽ được học
cách phát âm các dấu đi kèm các nguyên âm chính của tiếng Việt (có 11 nguyên âm như vậy)
2.4.5 Tương tác với từng con chữ, từng con dấu tiếng Việt, một phương
pháp học tiếng Việt hoàn toàn mới lạ và hấp dẫn đối với trề nhỏ
Trong phần mềm Học vần tiếng Việt, ngoài 4 bài học chính bao gồm
Học bảng chữ cải, học viết chữ, học âm vân và học dẫu tiếng Việt, phân mềm còn có một loạt các bài học, trò chơi, tiện ích khác cho học sinh ôn luyện và
giáo viên hỗ trợ giảng dạy học vần tiếng Việt Một trong những điểm rất mới của phân mềm này là trong rất nhiều bài học như vậy học sinh sẽ được chơi
và thao các trực tiếp trên màn hình với từng con chữ, từng dấu tiếng Việt
Việc học sinh học xếp chữ, xếp dấu bằng hiện vật đã có nhiều trong các
đồ dùng học tập và trò chơi Nhưng thao tác trực tiếp với con chữ và dẫu tiếng Việt trên máy tính thì Học vần tiếng Việt là phần mềm đầu tiên.
Trang 14
Trong bài học này, học sinh được nghe một từ hoàn chỉnh và sau đó cần tạo ta từ này trên màn hình băng cách "gắp thả" các con chữ và dấu từ bảng phía đưới Nếu làm nhằm, học sinh có thể "bỏ" vào thùng rác bên cạnh
Làm quen với các con chữ, con dấu tiếng Việt thông qua chuột máy tính sẽ gây sự hứng thú vô tận của trẻ nhỏ Khác với đồ chơi bằng gỗ, các
thao tác trên máy tính sẽ hấp dẫn hơn, ngộ nghĩnh hơn và trẻ sẽ ham học và ham "choi" các trò chơi như vậy, vừa chơi vừa học, thật bô ích
coi định
8 CEPED
Trang 15Trong bài học này trên màn hình xuất hiện một từ không có dẫu Hoc
sinh nghe từ này hoàn chỉnh và điền dẫu bằng cách kéo thả các dẫu lên vị trí chính xác của từ Nếu nhằm có thê kéo thả vào thùng rác Cách làm và thao tác tương tự như phân trên đã nêu
2.5 Xây dựng quy trình dạy bài Học vần để rèn các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh lớp 1
DẠY PHẢN LÀM QUEN VỚI ÂM
VÀ CHỮ KÉT HỢP LUẬT CHÍNH TẢ E ,Ê, I
1 Kiểm tra bài cũ
* Đọc âm, thanh và viết được chữ ghi âm, dấu ghi thanh của bài kế
trước
* Yêu cầu mở rộng: HS nhận biết và tìm được các tiếng, từ có âm,
thanh của bài kế trước
* Giáo viên nhận xét, đánh giá
2 Bài mới
a Giới thiệu bài - ghi đầu bài: GV dựa vào tranh ở SGK hoặc chuẩn bị tranh, ảnh, vật mẫu để giới thiệu chữ hoặc dẫu ghi thanh mới
b Dạy chữ ghỉ âm hoặc dấu ghi thanh mới: GV tiễn hành dạy chữ ghi
âm, dấu ghi thanh mới theo nội dung bài học được trình bày trong SGK theo
các bước sau:
- Hướng dẫn HS nhận dạng (phân tích) chữ ghi âm, dẫu ghi thanh mới
- Hướng dẫn HS tập phát âm âm mới
- Tìm thêm các tiếng có chứa âm đó
- Đọc trơn và phân tích các tiếng đó, đưa ra quy luật chính ta e, 6, i:
- Gv viết mẫu và hướng dẫn HS quy trình viết HS tập viết chữ ghi âm
và dâu ghi thanh mới vào bảng con
Trang 16c Luyện tập
GV cho HS luyện cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết theo nội dung bài
học ghi trong SGK như sau:
- Luyện đọc âm mới: Luyện đọc theo nhiều hình thức: cá nhân, nhóm,
cả lớp
- Luyện viết chữ ghi âm, ghi dấu thanh mới: Gv cần dành thời gian hướng dẫn HS tư thế ngồi, cách giữ vở, cầm bút đưa theo nét chữ in sẵn
- Luyện nghe - nói: Giai đoạn đầu, phân luyện nói theo tranh tương đối
tự do, theo chủ đề của tranh, không gò bó trong các âm và thanh vừa học GV gợi ý theo định hướng, bằng các câu hỏi hướng dẫn HS nói qua những câu trả lời đơn giản, nội dung gần gũi với trẻ em Giúp HS làm quen với không khí
học tập mới, không rụt rè, nhút nhát, dám mạnh dạn nói cho các bạn nghe và nghe các bạn nói theo hướng dẫn của GV trong môi trường giao tiếp mới
3 Củng có - dặn dò
- GV chỉ bảng hoặc SGK cho HS theo dõi và đọc theo
- Hướng dẫn HS tìm tiếng có âm mới học
- Củng cô và nhớ luật chính tả
Trang 17Kết luận chương 2
1 Việc rèn các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh lớp 1 cần xác
định nội dung rèn luyện dựa trên mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng dành cho
học sinh lớp 1 Rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh phải được xem xét trên các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Trên cơ sở đó hình thành
kĩ năng sử dụng từ, diễn đạt câu Chính những kĩ năng này được vận dụng
một cách linh hoạt trong các hoạt động của học sinh nhằm nâng cao năng lực
sử dụng ngôn ngữ của học sinh ngay từ năm học đầu tiên các em tới trường
2 Bên cạnh việc xác định nội dung rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, chúng ta cần quan tâm tới quá trình tổ chức luyện tập Quá trình đó cần được
cụ thê hóa thành quy trình việc làm lôgic, tường minh thông qua các hành động ngôn ngữ, hành động lời nói Học sinh đễ nắm bắt, dễ thực hiện, giáo viên dêc tổ chức và kiểm soát sản phẩm đầu ra
3 Đề rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết có hiệu quả, chúng ta không chỉ
xem xét các kĩ năng đó trong mỗi quan hệ với hệ thông các kĩ năng khác bởi các kĩ năng này có mối quan hệ hỗ trợ và bô sung lẫn nhau mà chúng ta còn phải kết hợp với những hình thức tổ chức và biện pháp dạy học phù hợp với từng nội dung rèn kĩ năng, với tâm lí nhận thức lứa tuôi
Trang 18Chương 3 THỤC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm
Mục đích của thực nghiệm là kiểm chứng tính khả thi cũng như tính
hiệu quả của các biện pháp rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và quy trình dạy
bai hoc van để rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết mà tác giả đã đề xuất Từ đó,
khăng định được tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã nêu trong luận
văn, cụ thê:
a) Tinh kha thi: La kha nang sử dụng trong thực tế của từng biện pháp
và sự vận dụng quy trình dạy học trong quá trình giảng dạy Tính khả thi ở
đây được đánh giá dựa theo mức ở sự phù hợp với trình độ học sinh ở các dia
bàn khác nhau
b) Tính hiệu quả: Là sản phầm giáo dục trên học sinh mà các biện pháp
và quy trình dạy học vần để rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đem lại Thực
nghiệm phải chứng minh một giả thuyết khoa học rằng quy trình dạy học vần
để rèn bốn kĩ năng đó có thể giúp học sinh nghe, nói, đọc, viết tốt hơn
Do điều kiện thời Ølan, VIỆC tô chức thực nghiệm mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, với ý nghĩa như một thử nghiệm sư phạm Mỗi nội dung thực nghiệm được làm ổi làm lại nên số liệu thu được có thể tin cậy
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm
- Về học sinh: Đề tài chọn các lớp 1 triển khai thực nghiệm để phù hợp với nội dung trọng tâm nghiên cứu
Khi lựa chọn đối tượng thực nghiệm, chúng tôi đã chú ý chọn học sinh
ở các địa bàn có trình độ phát triển kinh tế - văn hoá, xã hội khác nhau: thành phố, nông thôn Ở mỗi địa bàn, chúng tôi chọn những lớp, những đối tượng có
Trang 19su da dang về trình độ, về học lực Các lớp đôi chứng cũng có điều kiện cơ bản tương đồng với các lớp thực nghiệm (về điều kiện dạy học, năng lực của
giáo viên và học sinhh ) Chúng tôi tin rằng những số liệu, những kết luận được rút ra từ sự so sánh, đối chiếu hai loại lớp thực nghiệm và đối chứng về
hiệu quả dạy học sẽ chính xác Đối tượng thực nghiệm mà chúng tôi lựa chọn
là ngẫu nhiên, mang đây đủ những đặc điểm về đặc trưng vốn có của học sinh
tiểu học hiện nay
- Về giáo viên tiễn hành dạy học thực nghiệm, chúng tôi lựa chọn những giáo viên tiểu học được đào tạo cơ bản (Cao đắng Sư phạm hoặc Đại
học Sư phạm), có năng lực chuyên môn vững vàng Tất cả các giáo viên này đều nắm vững mục đích, yêu cầu thực nghiệm, để có thể lĩnh hội được tư tưởng, nội dung và phương pháp mà đề tài đề xuất một cách nhanh nhất, có khả năng phối hợp một cách hiệu quả với người nghiên cứu
- Trường Tiểu học Thành Công B: (GV 1A: Nguyễn Thị Mai Hương;
GV 1B: Pham Thị Phương Linh)
Trang 203) Tinh Hai Duong:
- Trường Tiểu học Thất Hùng (GV 1A: Hoang Thu Huong, 1B: Nguyễn Kim Tuyến)
+ Lớp thực nghiệm: 1A (34 HS)
+ Lớp đối chứng: 1B: (35 HS)
3.3 Cách thức tiễn hành thực nghiệm
Cách thức tiễn hành: người nghiên cứu soạn một số giáo án, hoặc hướng
dẫn giáo viên thực nghiệm soạn giáo án, trong giáo án có sử dụng các nghe,
nói, đọc, viết kết hợp với các cách thức dạy học hiệu quả mà luận văn đưa ra
Sau đó, giáo viên tô chức dạy theo các giáo án này ở lớp thực nghiệm Cuối đợt thực nghiệm, người nghiên cứu phối hợp với giáo viên dạy thực nghiệm tô chức cho học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng làm bài kiểm tra Việc
đánh giá kết quả thực nghiệm được tiễn hành trên cơ sở đối chiếu, so sánh hiệu
quả các tiết rèn kĩ năng thông qua các tiết đạy minh họa thực tế theo nội dung, hình thức và quy trình thực hiện các tiết dạy mà luận văn đã trình bày
3.4 Nội dung thực nghiệm
Như đã trình bày, nội dung chủ yếu của thực nghiệm đối chứng là tiến
hành dạy học theo hai loại giáo án khác nhau: giáo án thực nghiệm (có sử dụng
quy trình dạy học vân và các biện pháp đề xuất) và giáo án đối chứng (dạy theo giáo án bình thường) Trên thực tế, điều này cũng có nghĩa là: Một bộ phận
giáo viên và học sinh tiễn hành dạy học thực nghiệm, còn lại vẫn hoạt động dạy
học bình thường Tuy nhiên, với giáo án bình thường, chúng tôi cũng giúp đỡ giáo viên thiết kế bài giảng kĩ lưỡng hơn thường nhật theo tinh thần của sách giáo khoa và sách giáo viên của từng lớp triển khai thực nghiệm
Trong khuôn khổ có hạn, luận văn không trình bày tất cả các bài soạn thực nghiệm mà chỉ giới thiệu 2 thiết kế để minh họa cho quy trình thực
nghiệm và làm rõ ý tưởng của người thiết kế (Phụ lục 3.1 và phụ lục 3.2).
Trang 21-Bài20:k kh
-Bài25:ng ngh
Sau mỗi bài học thực nghiệm, học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng làm bài kiểm tra trong cùng một điều kiện để đánh giá kết quả dạy học
Đề đảm bảo độ tin cậy, chúng tôi đã xây dựng phiếu khảo sát nhằm kiểm tra bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh Việc xây dựng các phiếu bài tập khảo sát này dựa trên nội dung và biện pháp mà đề tài đã đưa ra nhằm kiểm định trong thực tiễn Mục đích kiểm tra bằng phiếu bài tập tông hợp nhắm
đánh giá một cách cụ thê kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh Việc đánh
giá kết quả của học sinh làm phiếu bài tập được thê hiện bằng hình thức cho điểm theo thang điểm 10
Sự đối chiếu kết quả thực nghiệm dạy học giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sẽ cho kết luận về tính khả thi của quy trình dạy bài học vần và các biện pháp rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết được trình bày trong luận văn Nếu kết quả làm bài kiểm tra ở lớp thực nghiệm tốt hơn ở lớp đối chứng thì quy trình được đề xuất trong luận văn có thể được triển khai trong quá trình rèn kĩ năng tiếng Việt ở trường tiều học
3.5 Kết quả thực nghiệm
Tổng số HS tham gia thực nghiệm dạy học (tham gia làm bài kiểm tra)
là: 218 HS, trong đó có 110 HS thực nghiệm và 108 HS đối chứng, ở 3 trường
tiêu học, thuộc thủ đô Hà Nội và 2 tỉnh: Hà Nam và Hải Dương
Kết quả thực nghiệm được thể hiện cụ thể trong các bảng và biểu đồ sau:
Trang 22Bảng 3.1: Kết quả điểm kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng
Trang 23Bảng 3.2: Kết quả điểm kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứngvề
rèn kĩ năng nghe- nói
Điêm/xếp loại
Si Chua Hoan Hoan thanh
HS | thành (<5) (7-8) (9-10)
SL % SL % SL % SL %
Hà Nội DC 38 0 0.0 14 36.8 11 | 28.9 13 | 34.3 (Thành phó) ™N 40 0 0.0 11 27.5 15 | 37.5 14 | 35.0
DC 35 7 | 20.0 | 12 34.3 14 | 40.0 2 5.7
Hà Nam
TN 36 3 8.3 12 33.4 18 | 50.0 3 8.3
DC 35 5 14.3 | 13 37.1 15 | 42.9 2 5.7 Hai Duong
TN 34 3 8.8 13 38.2 16 | 47.1 2 5.9
; DC | 108 | 12 | 11.1 | 39 36.1 40 | 37.0 17 | 15.8 Tông hợp
Biểu đô 3.2: So sánh kết qua kiểm tra của lớp thực nghiệm và đối chứng
về rèn kĩ năng nghe - nói
Trang 24Bang 3.3: Kết quả điểm kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng về
Hoan Hoan thanh | Hoan thanh
HS thanh (<5)
(5-6) (7-8) (9-10)
SL % SL % SL % SL %
Hà Nội ĐC 38 0 0.0 10 | 26.3 12 31.6 16 | 42.1 (Thành phố) TN 40 0 0.0 5 12.5 16 40.0 19 | 47.5
@ TN 20.0%
Trang 25* Nhận xét kết quả thực nghiệm dạy học:
Căn cứ vào kết quả làm bài của học sinh các lớp thực nghiệm và đối chứng có thể rút ra một số nhận xét dưới đây:
1 Trong quá trình dạy thực nghiệm, do đã được bồi dưỡng một số vẫn
đề cơ bản nhất về bài dạy (mục đích, yêu cầu, cách tổ chức, cách đánh giá, .)
giáo viên dạy thực nghiệm đã tô chức tốt các tiết dạy thực nghiệm, các g1ờ dạy nhìn chung đều có tác động tích cực đến học sinh và giáo viên thực
âm đầu dễ lẫn như ml, s/x, tr/ch Vì thế, tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành giảm một cách bất ngờ (từ 9.3 % xuống chỉ còn 2.7 %) Còn học sinh ở Hải Dương
đã tháo gỡ được khó khăn trong trường hợp phát âm một số vần đi liền với cặp phụ âm cuối và đặc biệt giải quyết được khá triệt để tình trạng nhằm lẫn
khi phân biệt dẫu thanh Như vậy đã cho thấy sự thay đổi khác biệt: khả năng phát âm của các em có sự thay đổi rõ rệt Các em biết phân biệt nguyên âm và phụ âm qua cách phát âm, phát âm rõ các vân khó Đặc biệt, các em phân biệt được các phụ âm đầu dễ lẫn, các tiếng chứa vần khó
- Về kĩ năng nghe - nói từ, quan sát bảng 3.2 ta thấy: