Họ tin tưởng và lạc quan vào tương lai do vậy đã tăng mạnh các khoản tiêu dùng, điều đó giúp cho ngân hàng có được một số lượng lớn khách hàng đối với sản phẩm cho vay tiêu dùng.. Chính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
LÝ CẨM HỒNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM – CHI NHÁNH CHỢ LỚN
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : TS NGUYỄN QUỐC KHANH
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là do chính bản thân tôi tổng hợp từ các báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại được công bố tại các báo cáo thường niên và các trang web Các số liệu hoàn toàn trung thực, chính xác
Người viết Luận văn
LÝ CẨM HỒNG
Học viên lớp Cao Học Ngân hàng Đêm 1 Khóa21 Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Trang 3Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các thuật ngữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Khái niệm 5
1.1.1 Khái niệm chung 5
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng 6
1.1.3 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 7
1.1.4 Vai trò của cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường 8
1.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng 9
1.2.1 Căn cứ vào mục đích vay 10
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả 10
1.2.3 Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay 14
1.2.4 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ 14
1.3 Chất lượng cho vay tiêu dùng và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tiêu dùng 15
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay tiêu dùng 15
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng 16
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay tiêu dùng 18
1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU – CHI NHÁNH CHỢ LỚN 27
Trang 42.1.2 Khái quát về thị trường cho vay tiêu dùng ở Việt Nam 29
2.1.3 Quy trình cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn 31
2.1.4 Các sản phẩm cho vay tiêu dùng áp dụng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn 35
2.1.5 Chất lượng về cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn 38
2.1.5.1 Về doanh số cho vay 39
2.1.5.2 Về dư nợ cho vay 40
2.1.6 Phân tích chất lượng cho vay tiêu dùng tại Eximbank Chợ Lớn 47
2.1.6.1 Các chỉ tiêu định lượng 47
2.1.6.2 Các chỉ tiêu định tính 52
2.2 Những kết quả và hạn chế 53
2.2.1 Kết quả đạt được 53
2.2.2 Những v n đề còn tồn tại 55
2.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU – CHI NHÁNH CHỢ LỚN 60
3.1 Định hướng nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn trong thời gian tới 60
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng 61
3.2.1 Hoàn thiện chính sách cho vay tiêu dùng 61
3.2.2 Cải tiến quy trình, quy chế, sản phẩm cho vay tiêu dùng 61
3.2.3 Nâng cao cơ sở vật chất k thuật công nghệ và các trang thiết bị 64
3.2.4 Đa dạng hoá các sản phẩm cho vay tiêu dùng 65
3.2.5 Mở rộng hoạt động Marketing 68
3.2.6 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 69
Trang 53.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 73
3.3.3 Kiến nghị với Eximbank 74
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6CBCNV Cán bộ cộng nhân viên
Eximbank Chợ Lớn Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Chi nhánh Chợ Lớn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn từ 2011 đến tháng 10 2013 39 Bảng 2.2: Tổng kết dư nợ cho vay tiêu dùng ở Eximbank Chợ Lớn từ năm 2011 đến tháng 10/2013 40 Bảng 2.3: Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo thời gian từ năm 2011 đến tháng 10 2013 42 Bảng 2.4: Cơ cấu cho vay tiêu dùng phân theo mục đích s dụng vốn từ năm 2011 đến tháng 10/2013 44 Bảng 2.5: Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo phương thức cho vay từ 2011 đến tháng
10/2013 46 Bảng 2.6: Doanh số thu nợ và hệ số thu nợ cho vay tiêu dùng từ 2011 đến tháng
10/2013 48 Bảng 2.7: Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng từ 2011 đến tháng 10 2013 50 Bảng 2.8: Phân loại nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay tiêu dùng từ năm
2011 đến tháng 10 2013 51
Trang 8Biểu đồ 2.1: Dư nợ cho vay tiêu dùng của Eximbank Chợ Lớn qua các năm 2011,
2012 và tháng 10/2013 41 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo thời gian của Eximbank Chợ Lớn qua các năm 2011, 2012 và tháng 10 2013 43 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu cho vay tiêu dùng phân theo mục đích s dụng vốn của Eximbank Chợ Lớn qua các năm 2011, 2012 và Tháng 10/2013 45 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo phương thức cho vay của Eximbank Chợ Lớn qua các năm 2011, 2012 và Tháng 10/2013 47 Biểu đồ 2.5: Doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng của Eximbank Chợ Lớn qua các năm
2011, 2012 và Tháng 10/2013 49
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Ở nhiều nước trên thế giới chỉ số tiêu dùng được coi là dấu hiệu chủ chốt của tăng trưởng kinh tế trong trung hạn Mức tiêu dùng phản ánh kỳ vọng về thu nhập tương lai của dân cư Nó là động lực, là cầu chi trả về hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất kinh doanh Ngay cả các nhu cầu tiêu dùng về ôtô, nhà ở, đồ gia dụng, thậm chí m phẩm cũng liên quan mật thiết với nhau không thể tách rời thu nhập kỳ vọng và đó là động lực của sản xuất
Vì vậy cho vay tiêu dùng từ lâu được coi là một phần quan trọng của ngân hàng bán lẻ (phần quan trọng nhất) Khảo sát của tập đoàn tư vấn BCG cũng cho thấy mặc
dù cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 30%-35% tổng dư nợ nhưng tạo ra trên 60% lợi nhuận của các ngân hàng thương mại hàng đầu châu Á
Đối với dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể đợi cho đến già mới tiết kiệm đủ tiền để mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái
Đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại, quy
mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế
Trước những lợi ích to lớn mà cho vay tiêu dùng mang lại cho hệ thống ngân hàng thương mại và nền kinh tế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng
đã trở thành một hướng đi tất yếu Và Ngân hàng TMCP Xuầt Nhập Khẩu Việt Nam Chi nhánh Chợ Lớn cũng nằm trong xu hướng chung đó Việc mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng cũng chính là mục tiêu trước mắt và lâu dài nhằm đẩy mạnh phát triển hệ thống ngân hàng bán lẻ phục vụ cho nhóm khách hàng cá nhân mà ngân hàng TMCP Xuầt Nhập Khẩu Việt Nam đã đặt ra Do đó, đề tài: “Nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuầt Nhập Khẩu –
Trang 10cao chất lượng sản phẩm này
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nội dung chính sau:
Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về sản phẩm cho vay tiêu dùng
Đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn trong những năm gần đây, tập trung phân tích để làm nổi bật lên những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế cần khắc phục, hoàn thiện
Đưa ra những định hướng cơ bản và đề xuất các giải pháp về điều kiện và cơ chế hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân
hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn áp dụng các phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin nhằm đưa ra những nhận định về tình hình cho vay tiêu dùng ở ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn Từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng này
Về dữ liệu, luận văn tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn như: các báo cáo tổng kết tình hình HĐKD của ngân hàng, các tài liệu từ sách báo, tạp chí và các văn bản pháp luật… để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn từ năm 2011 – tháng 10 năm 2013
V Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sẽ trình bày và phân tích thực trạng hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng tại Chi nhánh Chợ Lớn Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trong những năm gần đây: Kết quả đạt được, những mặt
Trang 11phẩm cho vay tiêu dùng trong thời gian tới
VI KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu trong
ba chương sau:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
XUẤT NHẬP KHẨU – CHI NHÁNH CHỢ LỚN
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CHO VAY
TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU – CHI NHÁNH CHỢ LỚN
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN PHẨM CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm:
1.1.1 Khái niệm chung:
Tiêu dùng là nhu cầu thiết yếu của con người Chi tiêu dùng là các khoản chi mua sắm sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường của các cá nhân, hộ gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu tất yếu trong cuộc sống Các khoản chi tiêu dùng như: mua sắm hàng gia dụng, mua xe,
du học, tổ chức đám cưới, mua nhà, sửa chữa nhà, khám chữa bệnh, v.v
Xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng là thiếu nguồn tài trợ cho nhu cầu tài chính của mình, đặc biệt cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu tiêu dùng của họ cũng nhiều hơn và ngày càng tăng lên theo thời gian Nắm bắt được tình hình đó, các NHTM đã cho ra đời sản phẩm cho vay tiêu dùng Vậy cho vay tiêu dùng là gì? Để có được khái niệm
về cho vay tiêu dùng, trước tiên ta hãy tìm hiểu về khái niệm hoạt động cho vay của các NHTM
Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi”
Cho vay tiêu dùng là một mảng trong hoạt động cho vay của ngân hàng Có nhiều khái niệm khác nhau về cho vay tiêu dùng từ cách tiếp cận đơn giản: “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình”; đến cách tiếp cận phức tạp hơn như : “Cho vay tiêu dùng là khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình Ngân hàng chuyển tiền trực tiếp cho khách hàng sử dụng theo mục đích tiêu dùng của mình khi đáp ứng đầy đủ các quy định của ngân hàng đề ra Các khoản vay đó là nguồn tài chính quan trọng giúp cho người tiêu dùng trang trải nhu cầu cuộc sống trước khi họ có khả năng tài chính để thụ hưởng”
Từ các khái niệm trên, ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất:
Trang 13“Cho vay tiêu dùng là hình thức mà theo đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.”
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng:
So với các hình thức cho vay khác thì cho vay tiêu dùng ra đời muộn hơn, nó mới chỉ xuất hiện trong những năm cuối của thế kỷ 20 Lý giải cho điều này, đó là việc các khoản vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, chi phí cho khoản vay lại tương đối lớn và độ rủi ro lại tương đối cao làm cho các ngân hàng ngại cho vay Tuy nhiên các ngân hàng đã không thể đứng ngoài cuộc khi các tổ chức khác (các công ty tài chính, công ty thuê mua tài chính) đang ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ giành giật thị trường nhất là trên lĩnh vực dành cho khách hàng cá nhân
Nền kinh tế các nước trên thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đã có sự phát triển mạnh mẽ, người dân đã có có mức thu nhập khá cao và ổn định Họ tin tưởng và lạc quan vào tương lai do vậy đã tăng mạnh các khoản tiêu dùng, điều đó giúp cho ngân hàng có được một số lượng lớn khách hàng đối với sản phẩm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng trở thành loại hình tín dụng có mức tăng trưởng cao nhất
Ở Việt Nam, cho vay tiêu dùng phát triển mạnh sau khi Việt Nam hoàn thiện các bước cuối cùng để gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đầu năm 2010, nghiệp vụ cho vay tiêu dùng phát triển bùng nổ Nhưng nó đã bị gián đoạn vào cuối năm 2011, khi Ngân hàng Nhà nước siết chặt tín dụng phi sản xuất để kiểm soát lạm phát Việc này đã khiến dư
nợ tín dụng tiêu dùng từ mức 8,2 tỉ USD (tương đương 7-8% GDP) năm 2010 giảm đến gần một nửa vào tháng 6.2012
Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi từ đầu năm 2013 khi Ngân hàng Nhà nước nới lỏng dần các điều kiện kiểm soát tín dụng phi sản xuất nhằm bơm vốn ra nền kinh tế nhiều hơn Chính sách này kết hợp với việc một số kênh tín dụng bị trì trệ đã khiến nhiều ngân hàng, công ty tài chính gia tăng các hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm tìm kiếm lợi nhuận Một
Trang 14con sóng mới trong lĩnh vực này có lẽ đã bắt đầu xuất hiện khi quy mô tín dụng tiêu dùng dần được cải thiện và tăng đến mức 5-6% GDP như hiện nay
1.1.3 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng:
Với đối tượng khách hàng của cho vay tiêu dùng như nêu trên nên nghiệp vụ cho vay tiêu dùng có đặc điểm như sau:
+ Quy mô của từng khoản vay thường nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay nhiều do đó
số hồ sơ giao dịch thường lớn nhưng doanh số lại thấp Với số lượng khách hàng đông và phân tán rộng khắp nên để giao dịch thuận tiện và đẩy nhanh thời gian giải quyết hồ sơ ngân hàng cần thiết phải mở nhiều chi nhánh, văn phòng giao dịch và đầu tư công nghệ online + Cho vay tiêu dùng thường có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng cũng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực này Tuy nhiên rủi ro lại phân tán rộng, khi xảy ra rủi ro không ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đồng thời với chính sách quản lý rủi ro phù hợp ngân hàng có thể tạo lợi nhuận cao từ cả những nguồn vốn huy động giá cao
+ Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế Khi kinh
tế chung tăng trưởng ổn định thì nhu cầu tiêu dùng trước sẽ tăng nhanh, khi kinh tế có dấu hiệu suy thoái hay khủng hoảng thì hoạt động này sẽ giảm
+ Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất Đa số người đi vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu, ngoài ra do số tiền vay thường nhỏ nên mức chênh lệch lãi suất không làm cho số tiền lãi phải trả trong 1 tháng chênh lệch đáng kể Khách hàng vay thường chú ý đến việc được ngân hàng cho vay bao nhiêu trên số tài sản bảo đảm hay trên mức thu nhập của họ là chính
+ Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng
Trang 15+ Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng, kinh nghiệm đối với công việc của những người này cũng như mức độ ổn định của công việc
+ Tư cách của khách hàng vay là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định
sự hoàn trả của khoản vay
1.1.4 Vai trò của cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường:
° Đối với nền kinh tế:
Tín dụng tiêu dùng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng hỗ trợ cho tiêu dùng đã kích cầu cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh … làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Và có sự tác động trở lại là với năng suất, sản lượng tăng thì doanh nghiệp sẽ mở rộng lao động, nâng cao tiền công, tiền lương tăng thu nhập cho người lao động chính là những khách hàng vay tiêu dùng của ngân hàng Chính nhờ đó mà góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước, một xã hội phát triển mạnh, đời sống ổn định, ai cũng có công ăn việc làm … đó là tiền đề quan trọng
để ổn định trật tự xã hội.…
° Đối với ngân hàng:
Trong xu thế kinh tế thế giới hội nhập đã mở ra cho ngành ngân hàng nhiều cơ hội phát triển Ngân hàng trở thành một ngành đầy tiềm năng và thử thách, thu hút được nhiều lĩnh vực khác liên quan Sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng từ huy động vốn cho đến cách cấp tín dụng Việt Nam với dân số 84 triệu người là một thị trường đầy tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ cá nhân Mức sống người dân ngày càng cao là một thị trường hấp dẫn cho các ngân hàng thu hút vốn (dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm), thu phí dịch vụ thanh toán (chuyển tiền, phí kiểm đếm tiền, phí giữ hộ,…) và lợi nhuận từ cấp tín dụng Tín dụng và dịch vụ là hai nguồn
Trang 16thu chính của các ngân hàng thương mại Cho vay cá nhân là một kênh thuận lợi cho các ngân hàng tiếp cận khách hàng giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng khách hàng sử dụng các tiện ích của ngân hàng, như: tiền gửi, tiền thanh toán, các dịch
vụ chuyển tiền, chuyển khoản, kiểm đếm, giữ hộ,… từ đó tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nâng cao thu nhập đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro tín dụng
° Đối với khách hàng vay:
Với nền kinh tế phát triển, khoa học – kỹ thuật hiện đại ngày nay, sản xuất ra nhiều hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Tín dụng tiêu dùng
mở rộng sẽ hỗ trợ cho người dân trong việc chi tiêu (như: mua, xây sửa chữa nhà, mua xe, tiêu dùng, du lịch, du học,…) nhằm nâng cao mức sống, trình độ dân trí của họ Nhu cầu chi tiêu được đáp ứng sẽ giúp cho người lao động được thỏa mãn, tái tạo sức lao động, kích thích người dân lao động làm việc tích cực, sáng tạo, năng suất cao Mở rộng cho vay tiêu dùng qua các ngân hàng sẽ làm giảm đi các hiện tượng cho vay nặng lãi, giúp những người nghèo giảm bớt gánh nặng trong việc trả lãi tiền vay mượn Qua hoạt động cho vay tiêu dùng, người dân có thể tiết kiệm tích lũy để đầu tư, phát triển, như: mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà ở, du học, mua xe, giải trí,… đời sống người dân được nâng cao
Tóm lại, tín dụng ngân hàng nói chung cho vay tiêu dùng nói riêng không những là
hoạt động quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng mà còn có vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của cả kinh tế - xã hội
1.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng
Sự phát triển các hình thức tín dụng, nhất là tín dụng ngân hàng, cho đến nay đã có nhiều thay đổi và phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Tác động như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ; của sự toàn cầu hoá và khu vực hoá thông qua các tổ chức tiền tệ quốc tế và khu vực đã tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng phát triển ở trình độ cao, đặc biệt là việc áp dụng kỹ thuật điện toán, với sự phát triển chiến lược sản phẩm một cách
đa dạng song song với việc tiến hành các mặt hoạt động của marketing ngân hàng Mảng
Trang 17cho vay tiêu dùng ngày càng được chú trọng và xem là một trong những mục tiêu phát triển hàng đầu của các NHTM, trên cơ sở những đặc điểm riêng có của cho vay tiêu dùng và sự phối hợp những hình thức tín dụng ngân hàng nói chung ngày càng nhiều loại hình sản phẩm cho vay tiêu dùng ra đời với nhiều tên gọi khác nhau Tựu trung lại thì cho vay tiêu dùng có thể phân loại theo một số tiêu thức như sau:
1.2.1 Căn cứ vào mục đích vay : có thể phân loại tín dụng tiêu dùng thành 2 loại:
Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm,
xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình
Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi
phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch…
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả: có thể chia thành 3 loại:
Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng
chỉ một lần khi đến hạn Thường khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay giá trị nhỏ, thời hạn vay không dài (thường dưới 1 năm), đối tượng khách hàng thu nhập khá cao
Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức vay mà người đi vay trả nợ gốc hoặc nợ gốc
và lãi cho ngân hàng với một số tiền bằng nhau nhất định trên mỗi phân kỳ trả nợ (hàng tháng, quý hoặc 6 tháng) Phương thức này thường áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các ngân hàng thương mại, loại hình vay này giúp cho khách hàng vay không bị áp lực trả nợ vào cuối kỳ cao Đối với loại cho vay tiêu dùng trả góp, cần chú ý tới một số vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau:
+ Điều khoản thanh toán: Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
° Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhập, trong mối quan hệ hài hòa với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng Đồng thời luôn đảm bảo trong suốt thời gian vay giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa
Trang 18được thu hồi Ngân hàng có thể áp dụng phương thức thu nợ gốc đều hoặc phương thức thu
nợ gốc theo hình rẻ quạt tháng sau trả cao hơn tháng trước sao cho số tiền gốc và lãi của mỗi tháng đều bằng nhau
Đối với phương thức trả nợ gốc đều thì số nợ gốc trả từng phân kỳ bằng tổng số nợ chia cho tổng phân kỳ trả nợ lãi suất cho vay nếu tính theo dư nợ giảm dần thì lãi suất phát sinh ở phân kỳ đầu tiên sẽ là cao nhất và giảm dần theo thời gian
Đối với phương thức thu nợ gốc theo hình rẻ quạt thì số tiền phải trả mọi phân kỳ đều bằng nhau và bao gồm cả nợ gốc phải trả cộng lãi phát sinh theo dư nợ giảm dần Số tiền phải trả trong một phân kỳ được tính theo công thức sau:
r: Lãi suất tính theo kỳ trả nợ n: Tổng số kỳ trả nợ
P1 : Phần tiền gốc phảio trả trong phân kỳ thứ 1
Pi : Phần tiền gốc phải trả trong phân kỳ thứ I (I = 1, 2, 3,…,n) Với phương thức trả nợ gốc theo hình rẻ quạt này sẽ tạo điều kiện cho khách hàng vay với cùng một mức thu nhập vay được số tiền lớn hơn so với trả nợ gốc đều do nghĩa vụ trả nợ trong những phân kỳ đầu nhỏ hơn nhiều, đồng thời ngân hàng sẽ thu được lãi nhiều hơn nếu khách hàng vay duy trì đúng lịch trả nợ suốt quá trình vay
Trang 19° Phân kỳ trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng Phân kỳ trả nợ thường theo tháng Vì lẽ, thông thường, nguồn trả nợ chính của nguời vay tiêu dùng là lương, được nhận hàng tháng
° Thời hạn tài trợ không nên quá dài Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi thời hạn hoạt động của tài sản tài trợ Thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh Hơn nữa, khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí trả nợ của người vay cũng như việc thu hồi
nợ thường gặp nhiều rắc rối
° Điều kiện trả nợ trước hạn: tùy theo tình hình nguồn vốn của NHTM có thể cho phép khách hàng trả trước hạn mà không mất một chi phí nào hoặc có tính phí trả nợ trước hạn hoặc tuyệt đối ngăn cấm trả nợ trước hạn, đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của sản phẩm về việc linh hoạt trong thanh toán nợ vay
+ Cách tính lãi: có nhiều cách tính lãi được áp dụng nhưng nói chung có hai cách tính cơ bản là tính lãi suất cố định cho toàn bộ dư nợ trên toàn thời hạn cho vay không tính đến tình trạng dư nợ và tính lãi trên dư nợ thực tế giảm dần
+ Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thường chú ý đến điều này, nên thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hoặc/và có giá trị lớn Vì rằng, với những tài sản như vậy, người tiêu dùng sẽ hưởng được những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài
+ Số tiền phải trả trước: Thông thường, ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm Số tiền này được gọi là số tiền trả trước (vốn tự có) Phần còn lại, ngân hàng sẽ cho vay Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để một mặt, làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sỡ hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng Một khi không cảm nhận được mình là chủ sỡ hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì người đi vay có thể sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ, trong nhiều trường hợp, ngân hàng đành phải phát mãi tài sản
Trang 20để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị, tức là giá trị thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước có một vai trò rất quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro Số tiền trả trước nhiều hay ít thường tùy thuộc vào các yếu tố sau:
° Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với tài sản có mức độ giảm giá chậm, thì số tiền trả trước ít
° Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi được sử dụng: Tài sản sau khi được sử dụng nếu vẫn có thể được tiếp tục mua bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu hướng thấp còn ngược lại nếu tài sản đã qua sử dụng mà rất khó tìm được thị trường tiêu thụ thì số tiền trả trước có
xu hướng cao hơn
° Môi trường kinh tế
° Năng lực tài chính của người đi vay
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là khoản vay mà ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một
hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có quyền vay và trả nhiều lần mà không vượt quá hạn mức tín dụng của mình
Loại vay tuần hoàn dễ áp dụng, thuận tiện cho khách hàng trong việc chủ động sử dụng nguồn tiền linh hoạt, thông thường đây là những khoản vay nhỏ, khách hàng có tiền ra - vô thường xuyên
Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng
Cho vay qua thẻ là một loại hình cho vay phổ biến của tín dụng tiêu dùng tuần hoàn, với một hạn mức được cấp khách hàng có thể rút vượt số dư trên tài khoản của mình Ngoài
ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam gần đây phát triển mạnh, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về học tập, du lịch trong và ngoài nước ngày càng nhiều, đó
là thị trường rất hấp dẫn để các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng qua thẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân trong và ngoài nước
Trang 21Như vậy, thị trường tiềm năng để các ngân hàng thương mại cho vay qua thẻ rất lớn và thuận lợi, các ngân hàng cần phải tận dụng triệt để mọi cơ hội, các điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ thẻ, đồng thời đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ
1.2.3 Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay:
Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng mà người vay không buộc phải sử dụng tới tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng
Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng mà người cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài
sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
1.2.4 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ: có thể phân loại tín dụng tiêu dùng thành 2
loại:
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ
phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng
Ưu điểm: Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng; cho phép
ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay; là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác; trong trường hợp có quan hệ với những công
ty bán lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp tốt hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp
Nhược điểm: Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã bán chịu;
thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa; kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao
Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà với cho vay tiêu dùng gián tiếp Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt động này thì đều có cơ chế kiểm soát tín dụng chặt chẽ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực
tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ tự người vay
Trang 22Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng Những người này thường được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ Ngoài ra trong hoạt động của nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của công ty bán lẻ chỉ chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng Bên cạnh đó tại các điểm bán hàng các quyết định tín dụng thường được cấp ra một cách không chính đáng Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh chóng công ty bán lẻ có thể
từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng thì điều này sẽ được hạn chế
Ưu điểm: Linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp Khi khách hàng có quan hệ trực
tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng
1.3 Chất lƣợng cho vay tiêu dùng và các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng cho vay tiêu dùng: 1.3.1 Khái niệm chất lƣợng cho vay tiêu dùng:
Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra khái niệm về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Chất lượng tín dụng của NHTM chính là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại phát triển của ngân hàng Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng:
Tính cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng có thể lượng hóa được (nợ quá hạn, nợ xấu, tốc độ tăng trưởng tín dụng….)
Tính trừu tượng thể hiện qua khả năng lôi cuốn, hấp dẫn khách hàng, uy tín của ngân hàng và mức độ tác động đối với nền kinh tế
Trang 23Chất lượng cho vay tiêu dùng là một khái niệm khá trừu tượng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và tuỳ theo những quan điểm khác nhau mà có những khái niệm khác nhau về chất lượng cho vay tiêu dùng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chất lượng cho vay tiêu dùng tại NHTM tạm hiểu là chất lượng của các khoản cho vay tiêu dùng của NHTM Các khoản cho vay tiêu dùng có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, thông qua đó ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn khách hàng
có thể trả được nợ, bù đắp chi phí và thoả mãn nhu cầu Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng cho vay tiêu dùng của ngân hàng:
Việc đánh giá chất lượng cho vay trong ngân hàng là yếu tố chủ quan, bởi vì chất lượng cho vay có thể tốt ở thời điểm phân tích nhưng sau lại có thể xấu đi
Chi tiêu định tính
Để xem xét được chất lượng cho vay tiêu dùng của một ngân hàng có tốt không ta
có thể căn cứ vào một số chỉ tiêu định tính như sau:
Số lượng khách hàng đến vay tại ngân hàng: Chất lượng cho vay của ngân hàng
có tốt thì mới có nhiều người đến với ngân hàng Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh và đầy đủ
Uy tín của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng, nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng Ngân hàng tồn tại được chính là nhờ vào sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng
Thủ tục tuân theo đúng quy định, quy chế cho vay tiêu dùng của ngân hàng được cán bộ tín dụng làm nhanh chóng chính xác, an toàn cũng góp phần làm tăng chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Chỉ tiêu định lƣợng
Chỉ tiêu vòng quay của vốn
Vòng quay vốn = Doanh số trả nợ trong kỳ / Dƣ nợ bình quân
Trang 24Đây là chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng, hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Vòng quay của vốn tín dụng càng cao càng chứng tỏ nguồn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, tham gia càng nhiều vào chu
kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá Hệ số này càng tăng thì càng cho thấy tình hình quản lý vốn tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao Bên cạnh đó, nó còn thể hiện khả năng thu nợ tốt, hiệu quả cho vay của ngân hàng Chính vì thế, một đồng vốn khi cho vay được nhiều lần sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn Tuy nhiên, cần xét đến một nhân tố quan trọng là dư nợ bình quân Khi dư nợ bình quân thấp sẽ làm cho vòng quay lớn nhưng lại không phản ánh chất lượng khoản cho vay là cao bởi nó thể hiện khả năng cho vay kém của ngân hàng
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dƣ nợ
Chỉ tiêu nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi = Nợ khó đòi / Nợ quá hạn
Cả hai chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay và đều càng nhỏ càng tốt Tuy nhiên sự khác biệt giữa hai tỷ lệ này là tỷ lệ nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị của khoản nợ quá hạn, trong khi đó tỷ lệ nợ khó đòi xem xét giá trị các khoản nợ khó đòi trong nợ quá hạn
Hai chỉ tiêu này đều chịu ảnh hưởng của chính sách xoá nợ của ngân hàng Một ngân hàng có chính sách tốt phải thiết lập được quỹ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định
kỳ về những món vay không có khả năng thu hồi quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu như ngân hàng thực hiện xoá nợ quá nhanh thì hai tỷ
lệ này dù ở mức rất thấp cũng không có ý nghĩa thực tiễn
Trang 25Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ CVTD / Doanh số CVTD
Trong đó doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản cho vay mà ngân hàng
đã phát ra cho vay trong một thời gian nào đó, không kể món vay đó đã thu hồi về hay chưa Phản ánh dung lượng hoạt động cho vay trong kỳ Doanh số cho vay tiêu dùng càng cao thì quy mô cho vay càng lớn
Tỷ lệ thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ thu lãi CVTD = Thu lãi CVTD / Tổng thu lãi
Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập mà CVTD đem lại cho ngân hàng so với các khoản cho vay khác Điều này cũng đánh giá được mức hấp dẫn của CVTD so với các loại vay khác Ngoài ra, tỷ lệ này còn giúp ngân hàng xây đựng định hướng phát triển hoạt động CVTD tại ngân hàng
Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích
Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích = Vốn sử dụng sai mục đích / Dư nợ CVTD
Có nhiều trường hợp khách hàng dùng số tiền vay tiêu dùng để sử dụng vào mục đích khác Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được khoản cho vay tiêu dùng mà ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng bị sử dụng sai mục đích chiếm tỷ lệ là bao nhiêu trong dư nợ cho vay tiêu dùng Từ đó, chúng ta thấy được khả năng quản lý của ngân hàng đối với khoản cho vay Tuy nhiên trong thực tế để kiểm soát và phát hiện ra những khoản cho vay tiêu dùng không đúng mục đích sử dụng không phải là điều dễ dàng vì số lượng khách hàng thì nhiều
mà số lượng cán bộ tín dụng lại có hạn
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay tiêu dùng
Nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
(1) Định hướng phát triển của ngân hàng, là điều kiện tiên quyết để phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng Nếu trong kế hoạch phát triển của mình các ngân hàng không quan tâm đến hoạt động này thì các khách hàng có nhu cầu về cho vay tiêu dùng cũng sẽ không được quan tâm Ngược lại, nếu ngân hàng muốn phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng thì
họ sẽ đưa ra những chiến lược cụ thể để thu hút những người có nhu cầu đến với mình Và
Trang 26khi đó cung cầu sẽ có điều kiện thuận lợi để gặp nhau cũng có nghĩa là cho vay tiêu dùng sẽ
có nhiều cơ hội phát triển
(2) Năng lực tài chính của ngân hàng, sẽ là một trong những yếu tố được các nhà
lãnh đạo ngân hàng xem xét khi đưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt động cho vay tiêu dùng Năng lực tài chính của ngân hàng được xác định dựa trên một số yếu tố như số lượng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận năm sau so với năm trước, tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ, số lượng tài sản thanh khoản Nếu ngân hàng có vốn chủ
sở hữu lớn, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận lớn, nợ quá hạn thấp và có số lượng tài sản thanh khoản lớn, khả năng huy động vốn lớn trong thời gian ngắn thì có thể coi là có sức mạnh về tài chính Khi ngân hàng có sức mạnh tài chính lớn thì ngân hàng có thể đầu tư vào các danh mục mà ngân hàng quan tâm hơn thì hoạt động cho vay tiêu dùng có cơ hội phát triển, nhưng ngược lại, nếu ngân hàng không có được số vốn cần thiết để tài trợ cho cho các hoạt động được ưu tiên hơn thì hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ ít có cơ hội để mở rộng
(3) Chính sách cho vay của ngân hàng, là hệ thống các chủ trương, định hướng quy
định chi phối hoạt động cho vay do hội đồng quản trị đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân Thông thường chính sách cho vay có các khoản mục sau: hạn mức cho vay, các loại hình cho vay mà ngân hàng thực hiện, quy định về tài sản đảm bảo, kỳ hạn của các khoản cho vay, hướng giải quyết phần cho vay vượt quá hạn mức cho vay, cách thức thanh toán nợ, … Chính sách cho vay vạch ra cho các cán bộ tín dụng hướng đi và khung tham chiếu rõ ràng về những căn cứ để xem xét các nhu cầu vay vốn Vì vậy, những yếu tố trong chính sách cho vay đều tác động một cách mạnh mẽ tới việc mở rộng cho vay nói chung và cho hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng Nếu như
có những hình thức cho vay tiêu dùng không nằm trong chính sách cho vay của ngân hàng thì chắc chắn các khách hàng chẳng thể mong đợi vay được những khoản tiền từ ngân hàng
để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình Chẳng hạn như một ngân hàng không thực hiện cho vay theo thẻ tín dụng thì khách hàng dù có đủ điều kiện cũng không được cấp tín dụng Mặt khác khi một ngân hàng đã sẵn có các hình thức cho vay tiêu dùng đa dạng với chất lượng
Trang 27tốt thì việc mở rộng cũng dễ dàng và thuận lợi hơn là các ngân hàng mới chỉ có các sản phẩm đơn giản Do tính chất cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt thì một chính sách cho vay đúng đắn hợp lý là yếu tố thu hút khách hàng hiệu quả Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và cách
xử lý đúng đắn các khoản nợ của khách hàng, có chính sách sản phẩm hấp dẫn thì càng thu hút được khách hàng đến với ngân hàng, từ đó thực hiện thành công việc mở rộng cho vay tiêu dùng
(4) Số lượng, trình độ cũng như đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng, cũng
ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay tiêu dùng có thực hiện được hay không là do người điều hành, đó chính là các cán bộ nhân viên của ngân hàng Bởi vậy, trước tiên muốn hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển thì cần phải quan tâm đến đời sống của các cán bộ nhân viên Nếu như đạo đức người vay được xếp vào vị trí hàng đầu trong các nhân tố khách quan thì đạo đức cán bộ tín dụng được xếp vào vị trí hàng đầu trong các nhân tố chủ quan Nếu các cán bộ tín dụng không có đạo đức nghề nghiệp thì dù giỏi đến mấy cũng vô giá trị vì lợi ích cá nhân họ sẵn sàng làm tổn hại đến lợi ích của tập thể ngân hàng Tuy nhiên, đạo đức không thôi chưa đủ, cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn cao, trình độ hiểu biết rộng thì mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vay vốn, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn Một cán bộ tín dụng có trình độ nghiệp vụ cao, khả năng giao tiếp, marketing tốt, trình độ ngoại ngữ, vi tính thành thạo, nhiệt tình trong công việc, có đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo được ấn tượng đẹp trong khách hàng về ngân hàng, bởi dưới con mắt của khách hàng thì cán bộ ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng Nếu khách hàng giao tiếp với cán bộ ngân hàng mà họ cảm thấy an tâm về trình độ nghiệp vụ, hài lòng với phong cách giao tiếp của cán bộ ngân hàng, an toàn trong quan hệ với ngân hàng thì họ chắc chắn sẽ còn tìm tới ngân hàng Hơn nữa, các cán bộ tín dụng có mối quan hệ rộng trong xã hội cũng có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn
Và một ngân hàng phải có số lượng cán bộ tín dụng hợp lý, phân công công việc cụ thể thì
Trang 28ngân hàng đó mới có thể phát triển không chỉ mình hoạt động cho vay tiêu dùng mà tất cả các hoạt động khác nữa
(5) Trình độ khoa học công nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng, cũng là một
trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đó Nếu một ngân hàng được trang bị các công nghệ hiện đại thì họ có thể tăng tiện ích cho khách hàng và các dịch vụ của họ sẽ được biết đến nhiều hơn Ví dụ, một ngân hàng có điều kiện đầu tư vào dịch vụ thẻ thanh toán, đặt các máy rút tiền, có thể giao dịch với khách hàng thông qua mạng internet … thì ngân hàng đó có thể mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của mình thông qua các tài khoản mà các khách hàng đã sử dụng dịch vụ trên của ngân hàng như cho vay thấu chi, thẻ tín dụng… Hơn nữa, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến các ngân hàng có thể quản lý danh sách khách hàng một cách dễ dàng hơn, họ có thể tiết kiệm được nhân công cũng như chi phí quản lý góp phần giảm giá thành dịch vụ Thêm vào đó, khi có các công nghệ hiện đại hỗ trợ thì việc giải quyết các thủ tục của ngân hàng được nhanh chóng, chính xác, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho khách hàng
Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng
(1) Năng lực vay vốn của khách hàng, được thể hiện thông qua các nhân tố như thu
nhập của khách hàng, trình độ văn hoá, thói quen, đạo đức… của khách hàng Thu nhập của khách hàng vay tiêu dùng quyết định đến nhu cầu vay tiêu dùng của họ và quyết định việc có cho vay hay không của ngân hàng Bởi vì, ngân hàng khi cho vay tiêu dùng sẽ căn cứ vào mức thu nhập trong tương lai của khách hàng, đó là nguồn thanh toán khoản nợ đó Do đó, thu nhập có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng, đến quy mô của khoản vay và đến việc phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng Khách hàng vay cần có thu nhập ổn định để đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng và đặc biệt là cần có thiện chí trả nợ đúng hạn và đầy đủ Nếu như khách hàng là người có đạo đức tốt, có ý thức trả nợ thì rủi ro cho vay tiêu dùng thấp, tạo điều kiện kích thích ngân hàng tiến hành mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng và các quy định cho vay sẽ không quá khắt khe Ngược lại nếu khách hàng trả nợ không đều, nợ quá hạn nhiều thì tất yếu sẽ kìm hãm hoạt động cho vay tiêu dùng
Trang 29(2) Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng, có nghĩa là khách hàng
liệu có đáp ứng được các điều kiện quy định của ngân hàng hay không Các điều kiện như là tài sản đảm bảo cũng như các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp tài sản
Ngược lại, khi kinh tế khủng hoảng hoặc điều kiện phát triển chậm chạp, hay kinh tế vĩ
mô bất ổn định một mặt sẽ tác động gây hạn chế cấp tín dụng tiêu dùng của các trung gian tài chính Các khoản cho vay chịu tác động của những biến động trên thị trường tài chính bất
ổn có thể dẫn tới đổ vỡ Những thay đổi tích cực trong kinh tế vĩ mô diễn ra quá nhanh cũng gây ra những xáo trộn nhất định Chẳng hạn tỷ lệ lạm phát và lãi suất giảm quá nhanh cũng
có thể dẫn tới tình trạng võ nợ đối với các món vay với lãi suất dựa vào tỷ lệ lạm phát cao trước đó Tỷ giá hối đoái kém linh hoạt, không phản ánh được sự biến động của kinh tế vĩ
mô, làm méo mó những tín hiệu giá cả bên ngoài cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của khách hàng và tổ chức tín dụng Mặt khác, kinh tế vĩ mô phát triển chập chạm hay bất ổn cũng khiến thu nhập trong tương lai của người tiêu dùng trở nên bấp bênh, các chi phí biến động, khó kiểm soát, do đó người tiêu dùng phải giảm các khoản vay của họ
- Quan điểm thúc đẩy lĩnh vực tiêu dùng trong nước của Chính phủ sẽ tạo cơ hội mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng
Trang 30Quan điểm của Chính phủ về vai trò của tiêu dùng trong nước đối với phát triển và tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng Khi Chính phủ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo hướng coi trọng xuất khẩu (tiêu dùng của người nước ngoài) thì bộ phận tiêu dùng trong nước sẽ ít được quan tâm hơn Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn ở các nước cho thấy, chiến lược này cũng gặp phải vấn đề là tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc rất lớn vào môi trường bên ngoài Do đó nhiều nước đã chuyển sang chiến lược phát triển kinh tế ổn định và bền vững hơn là dựa vào tiêu dùng trong nước Với quan điểm đó, các chính sách tích cực của Chính phủ, hàng đầu là tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh chi tiêu tiêu dùng (như chính sách thuế, chính sách thu nhập, chính sách thương mại, du lịch, y tế, giáo dục ) là cơ hội quan trọng nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng
- Môi trường pháp luật
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là cơ sở bảo vệ sự phát triển thị trường tài chính an toàn, ổn định, thúc đẩy các định chế tài chính nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao cho dân cư, bảo vệ sự phát triển bền vững quan hệ hợp tác bình đẳng giữa ngân hàng và khách hàng vì lợi ích của hai phía
- Môi trường văn hoá- xã hội
Những yếu tố thuộc về văn hoá xã hội như thói quen sử dụng các sản phẩm ngân hàng,
tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, thị hiếu… ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa ra quyết định lựa chọn hình thức cho vay tiêu dùng Chẳng hạn như ở Mỹ, xã hội được cho là xã hội tiêu dùng với tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập chỉ khoảng 10% và thói quen mua sắm sẽ là một thị trường rất lớn để mở rộng cho vay tiêu dùng Các quan niệm về ngân hàng quen thuộc hay
xa lạ, an toàn hay không an toàn, thói quen thanh toán tiền mặt trong dân cư cũng là những yếu tố có tác động rất lớn đến các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng
1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng cho vay tiêu dùng:
Đối với nền kinh tế
Trang 31Ngày nay, cùng với sự phát triển như “vũ bão” của nền kinh tế thì tín dụng tiêu dùng càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển này Chính vì vậy mà chất lượng của nó cũng được quan tâm hơn Chất lượng cho vay tiêu dùng tốt nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, tạo ra một khoản lợi nhuận nhất định cho ngân hàng Các chính sách của chính phủ ngày càng được thực hiện đúng hướng như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các vùng miền trong cả nước… nhờ đó mức sống người dân được cải thiện Bên cạnh đó chất lượng tín dụng còn góp một phần kiềm chế lạm phát Lượng vốn được sử dụng hiệu quả và quay vòng nhanh hơn giúp tránh được hiện tượng ứ đọng Đây cũng chính là nguyên nhân gây lên tình trạng lạm phát
Đối với khách hàng
Trong cơ chế thị trường như hiện nay thì khách hàng được coi như “Thượng Đế” Các doanh nghiệp đều cố hết sức để có thể phục vụ một cách tốt nhất vị “Thượng Đế” này Vì theo quan niệm hiện nay khách hàng chính là người “nuôi” doanh nghiệp “sống” Thu hút càng nhiều khách hàng thì doanh nghiệp càng có khả năng tồn tại và phát triển trong tương lai Trong lĩnh vực ngân hàng, „Triết lý” này vẫn còn nguyên ý nghĩa của nó Cho nên khi chất lượng tín dụng được nâng cao nghĩa là nhu cầu của khách hàng được đáp ứng một cách đầy đủ và thuận tiện nhất Tuy nhiên không chỉ có nhu cầu của mình được đáp ứng mà khi
đó khách hàng còn được Ngân hàng quan tâm hơn như: tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc
sử dụng vốn… Từ đó giúp khách hàng phát hiện và sửa chữa những thiếu sót trong hoạt động tài chính của mình Mục đích cuối cùng là góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh và lành mạnh tài chính của khách hàng
Đối với ngân hàng thương mại
Đối tượng cuối cùng liên quan đến việc nâng cao chất lượng tín dụng tiêu dùng cũng chính là ngân hàng Chất lượng tín dụng tăng lên thì sẽ đồng nghĩa với việc lợi nhuận hợp lý tăng lên Cho thấy ngân hàng có nhiều khách hàng hoạt động hiệu quả Việc này sẽ nâng uy tín của ngân hàng lên một tầm cao mới dẫn đến số lượng khách hàng tăng lên nhanh chóng
Trang 32Cùng với đó là dư nợ ngày càng cao Và sự tồn tại và phát triển của ngân hàng trong tương lai được đảm bảo với lượng khách hàng trung thành của mình
Như vậy, chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của cho vay tiêu dùng và chất lượng của nó không chỉ đối với ngân hàng, các cá nhân nói riêng mà cả nền kinh tế nói chung Vì thế, vấn
đề đặt ra là phải làm sao phân tích đánh giá một cách chính xác thực trạng công tác tín dụng cũng như chất lượng cho vay tiêu dùng ở mỗi ngân hàng để có thể đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện nó, làm cho nó tốt hơn
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày những vấn đề chung về cho vay tiêu dùng: khái niệm, đặc điểm, vai trò quan trọng và một số hình thức của cho vay tiêu dùng Đồng thời, chương cũng nêu lên các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tiêu dùng, những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng với 3 khía cạnh chính đó là: khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế xã hội
Chương này cũng là cơ sở lý luận để đưa ra cách thức nghiên cứu thực trạng chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng và các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng sẽ được trình bày ở hai chương tiếp theo
Trong xu hướng kinh tế hội nhập với thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng mạnh, mức sống người dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng trở nên đa dạng
và phong phú Thị trường cho vay tiêu dùng là một thị trường đầy tiềm năng mà các ngân hàng thương mại phải tập trung mở rộng
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
XUẤT NHẬP KHẨU – CHI NHÁNH CHỢ LỚN 2.1 Thực trạng chất lượng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Chi nhánh Chợ Lớn :
2.1.1 Khái quát chung về ngân hàng TMCP Xuầt Nhập Khẩu Việt Nam :
Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng tương đương 12,5 triệu đô với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 12.335 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu đạt 13.317 tỷ đồng Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngânhàng TMCP tại Việt Nam Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP Hồ Chí Minh và 207 chi nhánh
và phòng giao dịch trên toàn quốc và đã thiết lập quan hệ đại lý với 869 Ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới
Những thành tựu đạt được trong những năm gần đây:
Tháng 2/2008, Eximbank vinh dự nhận được danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất
năm 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức bình chọn lấy ý kiến của hàng nghìn người tiêu dùng trên cả nước
Tháng 2/2008, Eximbank được Wachovia Bank N.A New York trao tặng bằng khen
về Thanh toán Quốc Tế Xuất Sắc Đây là giải thưởng nhằm ghi nhận và đánh giá cao quá
Trang 35trình xử lý nghiệp vụ thanh toán tự động nhanh chóng, chuẩn xác và chuyên nghiệp trong
dịch vụ điện thanh toán quốc tế
Tháng 4/2008, Eximbank đạt danh hiệu “Thương Hiệu Mạnh 2007” do báo Kinh Tế
Việt Nam và Bộ Thương Mại Trong 4 năm liên tiếp Eximbank đã được người tiêu dùng trên cả nước bình chọn
Tháng 03/2009, Eximbank nhận Giải Thưởng Thanh Toán Xuyên Suốt (STP Award) năm 2009 do ngân hàng Bank of New York Mellon trao tặng
Tháng 6/ 2010, Eximbank đoạt giải thương thương hiệu chứng khoán uy tín năm 2010 Tháng 7/2010, Eximbank đạt giải thưởng "Báo cáo thường Niên Xuất sắc nhất năm
2010” do Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM và báo Đầu tư Chứng khoán trao tặng
Tháng 03/2011, Eximbank vinh dự nhận giải "Thanh toán quốc tế xuất sắc” năm
2010 do ngân hàng HSBC trao tặng Đây là năm thứ 10 liên tiếp ngân hàng HSBC trao tặng danh hiệu này cho Eximbank
Tháng 6/2011, Eximbank được tạp chí The Banker chọn vào Top1.000 ngân hàng
hàng đầu thế giới và Top 25 ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tài sản nhanh nhất 2010
Tháng 3/2012 Eximbank đạt Giải Báo cáo thường niên Xuất Sắc 2011 do Sở giao dịch
chứng khoán TP.HCM trao tặng
Tháng 4/2012 Giải “Thương hiệu mạnh Việt Nam” được Thời Báo kinh tế Việt Nam
bình chọn liên tiếp trong nhiều năm Trong năm 2012, Eximbank ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới
Ngày 19/05/2012 ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Eximbank vinh dự được
bình chọn trong Top “50 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam” Đây là chương trình khảo sát chuyên sâu và xếp hạng doanh nghiệp thường niên do Tạp chí Nhịp Cầu Đầu
Tư tổ chức nhằm tìm kiếm 50 doanh nghiệp kinh doanh tốt nhất thị trường chứng khoán Việt Nam
Tháng 7/2012, Eximbank vinh dự được tạp chí The Banker – tạp chí uy tín trong lĩnh
vực tài chính quốc tế chọn vào Bảng xếp hạng 1000 ngân hàng hàng đầu thế giới
Trang 36Tháng 8/2012 Eximbank tiếp tục được tạp chí AsiaMoney – một tạp chí tiếng Anh uy
tín tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương trao giải thưởng “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam năm 2012” Đây là một động lực lớn để Eximbank tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế là
một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam
2.1.2 hái quát về thị trường cho vay tiêu d ng ở Việt Nam:
Đối với nhiều nước, tín dụng tiêu dùng là một phân khúc kinh doanh quan trọng, góp phần tạo nên mô hình ngân hàng bán lẻ hiện đại
Nó tác động tích cực đến nền kinh tế khi hỗ trợ tầng lớp dân cư thu nhập trung bình khá, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chi tiêu và đầu tư, kích thích sức mua Đối với Việt Nam, có lẽ lúc này tín dụng tiêu dùng còn quan trọng hơn nữa khi các ngân hàng, công ty tài chính đang bế tắc trong mảng cho vay khu vực doanh nghiệp và cho vay bất động sản, chứng khoán
Thực ra, tín dụng tiêu dùng đã có thể phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa vì thị trường Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn Nhưng nó đã bị gián đoạn vào cuối năm 2011, khi Ngân hàng Nhà nước siết chặt tín dụng phi sản xuất để kiểm soát lạm phát Việc này đã khiến dư nợ tín dụng tiêu dùng từ mức 8,2 tỉ USD (tương đương 7-8% GDP) năm 2010 giảm đến gần một nửa vào tháng 6.2012, theo StoxPlus
Nhưng mọi thứ đã thay đổi từ đầu năm nay khi Ngân hàng Nhà nước nới lỏng dần các điều kiện kiểm soát tín dụng phi sản xuất nhằm bơm vốn ra nền kinh tế nhiều hơn Chính sách này kết hợp với việc một số kênh tín dụng bị trì trệ đã khiến nhiều ngân hàng, công ty tài chính gia tăng các hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm tìm kiếm lợi nhuận Một con sóng mới trong lĩnh vực này có lẽ đã bắt đầu xuất hiện khi quy mô tín dụng tiêu dùng dần được cải thiện và tăng đến mức 5-6% GDP như hiện nay, theo số liệu của PPF Vietnam Finance Tiềm năng tăng trưởng vẫn còn nhiều vì quy mô tín dụng tiêu dùng của Việt Nam còn khá khiêm tốn so với quy mô tương đương 10% GDP của Indonesia, 42,5% GDP của Malaysia, hay 18% GDP của Thái Lan
Trang 37Theo dự đoán của PPF Vietnam Finance, trong 5 năm kế tiếp, quy mô tín dụng tiêu dùng có thể sẽ tăng lên đến đến 10% GDP, gấp đôi mức hiện nay
Dĩ nhiên, giành được một phần của chiếc bánh này không phải là chuyện dễ Thị trường tín dụng tiêu dùng không chỉ có các công ty tài chính nước ngoài tham gia, như Societe Generale Viet Finance (SGVF), PPF Vietnam Finance, Prudential Vietnam Finance, các ngân hàng nhỏ và vừa như VPBank, MDB, KienLongBank, Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB) mà còn cả các ngân hàng lớn như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Từ năm 2006-2010, tốc độ tăng trưởng trung bình của tín dụng bán lẻ, trong đó gồm cả tín dụng tiêu dùng, của BIDV đã lên đến 30,5%/năm
Nhìn chung, cho vay tiêu dùng có thể là lối thoát cho nhiều ngân hàng lúc này Và cạnh tranh giữa các tổ chức sẽ có thể mang lại nhiều sản phẩm đa dạng hơn và người dân có nhiều cơ hội chi tiêu hơn với những khoản vay có lãi suất thấp hơn Điều này cũng có thể giúp vực dậy phần nào sức cầu yếu ớt của nền kinh tế, cải thiện tốc độ tăng trưởng
Thực tiễn phát triển ngân hàng trên thế giới, tỷ trọng thu nhập từ tín dụng ngày càng giảm, thu nhập từ dịch vụ khác như thanh toán quốc tế, thẻ, chuyển tiền ,v.v ngày càng chiếm tỷ trọng cao
Nguyên nhân: Đối với các tổ chức kinh tế thì nhu cầu vay vốn để bổ sung vốn lưu động hay đầu tư TSCĐ ngày càng giảm đi do:
+ Về huy động vốn lưu động được thay thế bằng cách thức huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán (do đến một tầm phát triển nào đó đa số các công ty đều cổ phần hoá và niêm yết trên thị trường chứng khoán, lúc này thông qua kênh chứng khoán các tổ chức kinh
tế sẽ huy động trực tiếp nguồn vốn trong dân không cần thông qua NH nữa)
+ Về đầu tư TSCĐ sẽ được thực hiện thông qua các các công ty thuê mua tài chính, sử dụng hình thức Leasing, Factoring v.v sẽ ưu việt hơn là vay vốn trung dài hạn của NH để đầu tư
Cho nên, sẽ đến lúc nhu cầu tín dụng ngân hàng sẽ chỉ còn:
Trang 38+ Các dự án đầu tư lớn cần huy động lượng vốn khổng lồ thì mới cần đến ngân hàng nhưng các dự án này thì đã có sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ
+ Nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân (tín dụng bán lẻ)
Như vậy thị phần tín dụng cần quan tâm lúc này chính là nhu cầu tín dụng bán lẻ Việt nam hiện nay cũng đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, chủ trương của Đảng và nhà nước cho chuyển đổi cổ phần hoá hầu hết các DNNN là một bộ phận rất lớn của nền kinh tế, xây dựng một thị trường chứng khoán hoàn chỉnh vận hành trơn tru, phát huy hết khả năng
Cho nên các NHTM cần phải triển khai mô hình ngân hàng bán lẻ là cần thiết, và là một xu hướng hợp thời đại Bên cạnh đó việc cho vay bán lẻ cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro qua đó giảm thiểu rủi ro trong cho vay của NH
Việt nam là một đất nước đang phát triển có hơn 90 triệu dân, cơ cấu dân số thành thị chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng nhanh
Thêm vào đó tốc độ tăng trưởng chi tiêu của cư dân thành thị cũng liên tục tăng trưởng, tạo ra một thị trường cho vay tiêu dùng cực kỳ rộng lớn và đầy tiềm năng
2.1.3 Quy trình cho vay tiêu d ng tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập hẩu – Chi nhánh Chợ Lớn
Tại Eximbank Chợ Lớn, Nhân viên Phòng tín dụng sẽ chia làm hai bộ phận là: nhân viên Quan hệ khách hàng ( cũng chính là nhân viên thẩm định tín dụng) và nhân viên kế toán tín dụng, cụ thể:
Nhân viên quan hệ khách hàng:là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tư vấn, tiếp nhận hồ sơ vay, thẩm định, phân tích, đề xuất lãnh đạo cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng, liên lạc với khách hàng, phối hợp cùng bộ phận kế toán tín dụng theo dõi khoản vay, đôn đốc thu nợ đúng hạn, có trách nhiệm thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu,…
Nhân viên kế toán tín dụng: có nhiệm vụ kiểm tra đảm bảo tính đầy đủ hợp lệ của bộ
hồ sơ giải ngân, khai báo thông tin hồ sơ vay vốn vào mạng dữ liệu chuyển cho phòng kế
Trang 39toán thực hiện hạch toán phát tiền vay, lưu giữ hồ sơ, theo dõi khoản vay nhắc bộ phận quan
hệ khách hàng thực hiện kiểm tra sử dụng vốn theo đúng đề xuất đã được phê duyệt, thông báo thu nợ gốc và lãi khi đến hạn
Quy trình cho vay tiêu dùng tại Eximbank chia thành 6 bước, cụ thể như sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ
Ở giai đoạn này, nhân viên quan hệ khách hàng kiểm tra mục đích vay, loại vay và tình hình tài chính của khách hàng phù hợp hay không với chính sách tín dụng của ngân hàng Trong giai đoạn này, nếu nhu cầu vay của khách hàng không phù hợp với quy định cho vay của ngân hàng thì nhân viên quan hệ khách hàng từ chối khoản vay, không tiếp nhận hồ
sơ, nếu nhận thấy phù hợp với điều kiện của ngân hàng thì chuyển sang giai đoạn kế tiếp
Bước 2: Xác minh hồ sơ vay
Trong giai đoạn này, nhân viên quan hệ khách hàng xác minh tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu, thông tin mà khách hàng đã cung cấp, bao gồm các bước sau:
- Phỏng vấn, thảo luận trực tiếp khách hàng vay
- Hướng dẫn khách hàng kê khai thông tin trên giấy đề nghị vay vốn
- Xác minh nguồn thu nhập để trả nợ của khách hàng: các chứng từ chứng minh nguồn thu nhập của khách hàng, như: hợp đồng lao động, bảng lương (hoặc sao kê tài khoản,…); nếu kinh doanh thì có giấy phép kinh doanh, biên lai nộp thuế (3 tháng gần nhất,…)
- Các giấy tờ sở hữu của tài sản đảm bảo
- Khai thác thông tin tín dụng từ Trung tâm thông tin tín dụng (viết tắt là CIC – Credit Information Centre), thông tin từ các ngân hàng khác
- Thông tin về khả năng tài chính và các mối quan hệ gia đình của khách hàng
- Các chứng từ khác có liên quan.v.v
Sau khi thu thập và xác minh tính đúng đắn của dữ liệu, thông tin khách hàng, nhân viên quan hệ khách hàng chuyển sang giai đoạn thẩm định, phân tích để lập báo cáo đề xuất cấp tín dụng trình cho Lãnh đạo xem xét phê duyệt
Bước 3: Thẩm định, phân tích hồ sơ vay
Trang 40Từ những thông tin thu thập được của khách hàng và các nguồn hỗ trợ, nhân viên quan
hệ khách hàng tiến hành thẩm định, lập tờ trình và trình lãnh đạo xét duyệt Trong giai đoạn này, nhân viên quan hệ khách hàng cần phân tích các điểm sau:
Mục đích vay: loại vay có phù hợp với quy định của Eximbank hay không
Số tiền vay : phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng và tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo của Eximbank
Khả năng trả nợ: nhằm đảm bảo thu nhập ổn định, trả nợ đúng hạn, tránh nợ quá hạn, khó đòi Cần tìm hiểu về đặc điểm công việc của khách hàng: chức vụ, mức lương, thời gian công tác, kinh nghiệm, uy tín,… và các mối quan hệ của họ trong gia đình, xã hội
Nhân viên QHKH thu thập thông tin từ khách hàng càng nhiều thì càng có lợi cho việc phân tích nguồn trả nợ khoản vay, giảm thiểu mức độ rủi ro mất khả năng trả nợ khách hàng Tài sản đảm bảo: kiểm tra tính pháp lý và định giá tài sản đảm bảo (như: nhà ở, đất ở, giấy tờ có giá, phương tiện lưu thông,…) để xác định mức vay phù hợp với tỷ lệ cho vay của Eximbank
Phân tích rủi ro khoản vay: phân tích các trường hợp rủi ro của khoản vay có thể xảy ra, gây tổn thất cho Eximbank, như: rủi ro về nguồn thu nhập trả nợ không ổn định, rủi ro về tính khả mại của tài sản đảm bảo, khách hàng tuổi cao,… Từ đó, nhân viên QHKH cùng lãnh đạo trong mức thẩm quyền phán quyết chủ động đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, như: giảm mức vay hay thời hạn vay, đề nghị khách hàng mua bảo hiểm hỏa hoạn tài sản thế chấp, trường hợp khách hàng vay tuổi cao thì đề nghị họ mua bảo hiểm (giá trị bảo hiểm được thực hiện khi người mua bảo hiểm gặp tử vong) trong đó bên thụ hưởng là Eximbank,.v.v
Phân tích các thông tin có liên quan đến khách hàng cũng như khoản vay,…
Kết thúc giai đoạn thẩm định: nhân viên QHKH sẽ trình hồ sơ vay lên các cấp Lãnh đạo để xem xét phê duyệt
Bước 4: ra quyết định cho vay