Rober S.Kaplan và David Norton đã phát triển hệ thống bảng cân bằng điểm với mục tiêu giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
VŨ HẢI YẾN
NAM - CHI NHÁNH TÂY SÀI GÒN
TP H ồChí Minh – năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
VŨ HẢI YẾN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM - CHI NHÁNH TÂY SÀI GÒN
Chuyênngành: K ếtoán Mãs ố: 60340301
Ngườihướngdẫnkhoahọc: TS HUỲNH LỢI
TP H ồChí Minh – năm 2014
Trang 3Tôixin cam đoan luận văn Vận dụng
Trang 4M ỤC LỤC TRANG PH Ụ BÌA
L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH M ỤC BẢNG BIỂU
DANH M ỤC SƠ ĐỒ
PH ẦN MỞĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ÁP DỤNG TẠI ĐƠN VỊ KINH DOANH 7
1.1 L ịchsửhìnhthànhpháttriểncủaBảngđiểmcânbằngvàsựcầnthiếtphảiápdụngmô hìnhnàytrongcácđơnvịkinhdoanh 7
1.1.1 LịchsửhìnhthànhpháttriểncủaBảngđiểmcânbằng 7
1.1.2 SựcầnthiếtphảiápdụngBảngđiểmcânbằngtrongcácđơnvịkinhdoanh 8
1.2 T ổngquanvềBảngđiểmcânbằngápdụngtrongcácđơnvịkinhdoanh 9
1.2.1 KháiniệmvàvaitròcủamôhìnhBảngđiểmcânbằng 9
1.2.1.1 KháiniệmBảngđiểmcânbằng 9
1.2.1.2 VaitròcủaBảngđiểmcânbằng 9
1.2.2 Bảngđiểmcânbằng 11
1.2.2.1 Sứmệnh, tầmnhìnvàchiếnlược 11
1.2.2.2 Bảnđồchiếnlượcápdụngtrongcácđơnvịkinhdoanh 13
1.2.2.3 CácthướcđotrongBảngđiểmcânbằngcủacácđơnvịkinhdoanh 21
1.2.2.4 Mốiquanhệnhânquảgiữacácmụctiêuvàthướcđo 25
1.3 M ộtsốngânhàngvậndụngthànhcôngBảngđiểmcânbằngvàbàihọckinhnghiệm 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Trang 5NHÁNH TÂY SÀI GÒN (BIDV TSG) 31
2.1 Gi ớithiệukháiquátvề BIDV TSG 31
2.1.1 Kháiquátvềlịchsửhìnhthànhpháttriểncủa BIDV TSG 31
2.1.2 Cơcấutổchứccủa BIDV TSG 32
2.1.3 Đặcđiểmcủa BIDV TSG ảnhhưởngđếnviệcvậndụngBảngđiểmcânbằng 32
2.1.3.1 Đặcđiểmvềloạihìnhđơnvịkinhdoanh 32
2 1.3.2 Đặcđiểmvềhoạtđộngkinhdoanh 33
2.2.Th ựctrạngcôngtácđolườngđánhgiáthànhquảhoạtđộngtại BIDV TSG 35
2.2.1 Phươngdiệntàichính 36
2.2.1.1 Tìnhhìnhtàichínht ại BIDV TSG 36
2.2.1.2 Th ựctrạngđánhgiáthànhquảhoạtđộngvềphươngdiệntàichính 38
2.2.2 Phươngdiệnkháchhàng 43
2.2.2.1 Tìnhhìnhkháchhàngt ại BIDV TSG 43
2.2.2.2 Th ựctrạngđánhgiáthànhquảhoạtđộngvềphươngdiệnkháchhàng 43
2.2.2 Phươngdiệnquytrìnhhoạtđộngnộibộ 45
2.2.2.1 Tìnhhìnhcácquytrìnhho ạtđộngnộibộtại BIDV TSG 45
2.2.2.2 Th ựctrạngđánhgiáthànhquảhoạtđộngvềphươngdiệnquytrìnhhoạtđộngnộibộ46 2.2.2 Phươngdiệnhọchỏivàpháttriển 48
2.2.2.1 Tìnhhìnhnhâns ự, côngnghệthông tin vàmôitrườnglàmviệctại BIDV TSG… 48 2.2.2.2 Th ựctrạngđánhgiáthànhquảhoạtđộngvềphươngdiệnhọchỏivàpháttriển 49
2.3.Đánh giáthựctrạngcôngtácđolườngthànhquảhoạtđộngtại BIDV TSG 49
2.3.1 Ưuđiểm 49
2.3.2 Nhượcđiểm 51
2.3.3 Nguyênnhândẫnđếnnhữnghạnchế 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Trang 6TRI ỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH TÂY SÀI GÒN 56
3.1 QuanđiểmvậndụngBảngđiểmcânbằngtrongđánhgiáthànhquảhoạtđộng 56
3.2 M ụctiêuvàchiếnlượckinhdoanhcủa BIDV TSG 57
3.2.1 Mụctiêucủa BIDV TSG 57
3.2.2 Chiếnlượckinhdoanhcủa BIDV TSG 58
3.3 XácđịnhcácmụctiêucụthểtheotừngphươngdiệnvàhìnhthànhBảnđồchiếnlược 58
3.3.1 Phươngdiệntàichính 58
3.3.2 Phươngdiệnkháchhàng 59
3.3.3 Phươngdiệnquytrìnhhoạtđộngnộibộ 61
3.3.4 Phươngdiệnhọchỏivàpháttriển 62
3.4 Xácđịnhcácthướcđo, chỉtiêuvàhànhđộng 63
3.4.1 Phươngdiệntàichính 63
3.4.2 Phươngdiệnkháchhàng 65
3.4.3 Phươngdiệnquytrìnhhoạtđộngnộibộ 67
3.4.4 Phươngdiệnhọchỏivàpháttriển 68
3.5 Tri ểnkhaivậndụngmôhìnhBảngđiểmcânbằngtạiNgânhàng TMCP ĐầutưvàPháttriểnViệt Nam - Chi nhánhTâySàiGòn 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
K ẾT LUẬN 78 TÀI LI ỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIDV NgânhàngthươngmạicổphầnĐầutưvàPháttriểnViệt Nam
Trang 7BIDV TSG Ngânhàng TMCP ĐầutưvàPháttriển Chi nhánhTâySàiGòn TP.HCM ThànhphốHồChí Minh
Trang 8Bảng 1.2: Bảngphânbiệtcácthướcđokếtquảvàthướcđohiệusuất 22
Bảng 2.1: Tìnhhìnhhoạtđộngkinhdoanhcủa BIDV TSG từ 2011-2013 36
Bảng 2.2: Kếhoạchkinhdoanhđến Quý3/2014 39
Bảng 2.3 Chi tiếthoànthànhkếhoạchđốivớitừngchỉtiêu 40
Bảng 2.4: Báocáovềsốlượngkháchhàngcánhânquý 3/2014 44
Bảng 2.5: Cácchỉtiêuvềquytrìnhhoạtđộngnộibộ 47
Bảng 3.1: Lậpcácchỉtiêukếhoạchchonăm 2015 61
Bảng 3.2: Bảnđồchiếnlượccủa BIDV TSG 69
Bảng 3.3: Trọngsốtheotừngphươngdiện 73
Bảng 3.4: Tỷtrọngtheotừngmụctiêuchiếnlượctrên BSC chi nhánh 74
Bảng 3.5: Tầnsuấtđolườngcácmụctiêu 75
Trang 9Sơđồ 1.1: CấutrúccácphươngdiệncủaBảngcânbằngđiểm 10
Sơđồ 1.2: Bảnđồchiếnlượcđơngiản 13
Sơđồ 1.3: Mốiquanhệcácthướcđocủaphươngdiệnhọchỏivàpháttriển 24
Sơđồ 1.4: Mối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu và thước đo 26
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 S ự cần thiết khách quan của đề tài
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, ngân hàng thương mại đã ngày càng khẳng định được tầm quan trọng không thể thiếu của mình.Ngân hàng thương mại
là những định chế tài chính được ví như huyết mạch, dầu bôi trơn cho sự vận động của
nền kinh tế.Nó là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế, làm cho các chủ thể gắn
bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ hệ thống Bởi tính
chất quan trọng của Ngân hàng thương mại nên thành quả hoạt động của ngân hàng
phải được quan tâm, đo lường, đánh giá đúng đắn Thêm vào đó, trong những thập kỷ
gần đây, với bối cảnh về sự phát triển không ngừng của các sản phẩm tài chính, sự
khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ đã tạo ra nhiều hiệu ứng đến tình trạng tài chính trên toàn thế giới, ở Việt Nam và gần hơn là những vụ bê bối liên quan đến các
hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam mà nguyên nhân sâu xa chính là đo lường, đánh giá không đúng đắn dẫn đến sự kiểm soát, quản lý không hữu hiệu
Một trong những công cụ đánh giá thành quả hoạt động hiệu quả chính là hệ thống
Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) Rober S.Kaplan và David Norton đã phát triển hệ thống bảng cân bằng điểm với mục tiêu giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn
và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập hệ
thống bốn phương diện tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động nội bộ và học hỏi và phát triển để đo lường đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay, các ngân hàng rất dễ gặp các rủi
ro về tài chính Và một trong số đó là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tây Sài Gòn, là một trong những chi nhánh tái cơ cấu tương đối lớn trong hệ thống ngân hàng BIDV BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn đang trong giai đoạn tái cơ cấu đồng thời phải thực thi mục tiêu mở rộng bán lẻ từ tầm nhìn chiến lược của BIDV toàn hệ thống nên để đạt được mục tiêu Chi nhánh Tây Sài Gòn cần có công cụ
hỗ trợ hoạt động một cách tốt nhất Trong khi đó, hiện nay Chi nhánh Tây Sài Gòn
Trang 12đánh giá thành quả hoạt động hoàn toàn dựa trên phương diện tài chính.Phương pháp đánh giá này không còn mang lại nhiều hiệu quả đối với các tổ chức hiện nay cũng như Chi nhánh Tây Sài Gòn.Vậy làm thế nào để BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn có thể thực
hiện được tốt vai trò cũng như nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện hóa tầm nhìn chiến lược của BIDV toàn hệ thống? BIDV Tây Sài Gòn cần chuyển từ những mục tiêu chiến lược (được cụ thể từ tầm nhìn chiến lược của ngân hàng BIDV) thành các mục tiêu và thước đo cụ thể, để từ đó việc đánh giá thành quả hoạt động được thực hiện tốt Xuất phát từ những nhu cầu cấp thiết đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Vận dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá thành quả hoạt động tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Tây Sài Gòn” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế
Giai đoạn đầu áp dụng công cụ BSC tại ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn Luận văn hy vọng những đề xuất sẽ đóng góp vào sự thành công trong quá trình vận dụng, phát triển hệ thống đo lường BSC để đánh giá thành quả hoạt động tại Chi nhánh được thực hiện một cách tốt nhất
2 Các công trình nghiên c ứu có liên quan
Bắt đầu từ năm 2007, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến
Thẻ cân bằng điểm BSC về cả mặt quản trị, tài chính và kế toán Trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan sau:
“Hoàn thi ện việc sử dụng bảng cân bằng điểm trong đánh giá thành quả hoạt động tại ngân hàng ACB” của Ngô Thanh Thảo, được thực hiện năm 2013.Tác giả
dùng phương pháp nghiên cứu định tính Tác giả đã giới thiệu về Bảng điểm cân bằng như là một hệ thống đo lường thành quả hoạt động của tổ chức Sau đó trên cơ sở thực
trạng đo lường thành quả hoạt động tại ngân hàng, tác giả đã đề xuất các mục tiêu, thước đo và chỉ tiêu cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống đo lường thành quả tại ngân hàng nhưng chưa chỉ ra được những hành động cần thực hiện ở mỗi phương diện Đề tài này cũng đã bước đầu xây dựng bản đồ chiến lược cho ngân hàng
Trang 13“V ận dụng bảng cân bằng điểm (Balance Scorecard-BSC) trong đánh giá thành qu ả hoạt động tại nhà in Ngân hàng Agribank” của Tống Thị Mai Anh, được
thực hiện năm 2013.Công trình nghiên cứu này đã giới thiệu về Bàng điểm cân bằng và
sự cần thiết phải áp dụng này Tác giả nghiên cứu thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại nhà in Ngân hàng theo 4 phương diện để làm tiền đề cho việc xây dựng bảng cân bằng điểm tại nhà in Và từ đó đưa ra cách thức triển khai BSC và các giải pháp hỗ
trợ Đây là một cách phân tích cho thấy rất rõ những ưu điểm và khuyết điểm rõ ràng trong hệ thống đánh giá Và từ đó đưa ra cách thức triển khai BSC và các giải pháp hỗ
trợ mà tác giả đã đề xuất
“ Ứng dụng hệ thống thẻ cân bằng điểm trong triển khai thực thi chiến lược tại ngân hàng TMCP Ngo ại thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Nai” của Phan Thị
Hoài Biên, được thực hiện năm 2014.Công trình nghiên cứu chi tiết hóa các lý thuyết
nền tảng cho việc xây dựng và thực thi chiến lược bằng BSC tại Ngân hàng.Đồng thời, xây dựng một bản đồ chiến lược, sau đó ứng dụng BSC để đánh giá việc thực thi chiến lược đó Tác giả cho thấy được góc nhìn tổng thể từ quản trị, hiểu được cách xây dựng
một bản đồ chiến lược nhằm đạt được mục tiêu, đề từ đó xây dựng những thang đo phù
hợp trong đánh giá thành quả hoạt động, sau đó ứng dụng BSC để đánh giá việc thực thi chiến lược đó
Trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều công trình đã và đang nghiên cứu về BSC
M ỗi công trình đều có những cái chung và riêng so với những công trình khác Tác giả
ch ỉ nêu ba công trình nghiên cứu tiêu biểu để rút ra những điểm kế thừa và xây dựng
nh ững điểm mới cho công trình nghiên cứu của mình
Qua nh ững công trình đã nghiên cứu về BSC mà tác giả đã tham khảo, mỗi công trình đều có một đặc trưng riêng phụ thuộc vào đặc điểm của tổ chức mà công trình nghiên c ứu.Bên cạnh những đóng góp của các công trình thì vẫn còn tồn tại những
Trang 14điểm khuyết để tác giả có thể đi sâu vào nghiên cứu lấp đầy những điểm khuyết đó Trong đó có những khuyết điểm nổi bật như:
- Các công trình nghiên c ứu chưa nêu bật được vai trò quan trọng của công cụ
B ản đồ chiến lược, là một trong những công cụ quan trọng mà Norton và Kaplan đã xây dựng được trong quá trình nghiên cứu của mình
- M ỗi đơn vị kinh doanh đều có những đặc trưng riêng khác biệt với những đơn vị khác, chính vì th ế mỗi công trình nghiên cứu dựa trên thực trạng hoạt động tại đơn vị cần phải tìm hiểu và đúc kết được những điểm nổi bật và đặc trưng của đơn vị mình để áp dụng mô hình bảng điểm cân bằng
Trong đề tài nghiên cứu của mình tác giả đã cố gắng đi vào nghiên cứu sâu để lấp đầy những khuyết điểm này.Tác giả đúc kết và kế thừa những điểm nổi bật từ các công trình ở trên như cách xây dựng bản đồ chiến lược nhằm xác định được các mục tiêu và cách th ức đạt được mục tiêu thông qua việc đo lường, đánh giá thành quả hoạt động; cách xây d ựng thang đo dành cho Ngân hàng (những tiêu chí đo lường đặc trưng dành riêng cho định chế tài chính), và cách phân tích thực trạng đánh giá thành quả hoạt động xét theo bốn phương diện nhằm làm tiền đề cho việc xậy dựng thước đo theo BSC
T ừ đây, tác giả kế thừa những điểm trong việc phân tích thực trạng tại ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn (BIDV TSG) được xét theo bốn phương diện, nhận thấy
rõ nh ững ưu nhược điểm để từ đó xây dựng thang đo thích hợp Bên cạnh đó, tác giả còn nh ận biết được những đặc trưng và điểm khác biệt cơ bản của BIDV TSG so với các ngân hàng khác và BIDV H ệ thống để xây dựng công cụ đánh giá thành quả hoạt động một cách hiệu quả
3 M ục tiêu nghiên cứu của luận văn
3.1 M ục tiêu tổng quát
Trang 15Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là tập trung nghiên cứu vận dụng thẻ cân điểm để đánh giá thành quả hoạt động của ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
Thứ ba, là đề xuất giải pháp vận dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá thành
quả hoạt động tại ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
Để nghiên cứu giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Các cơ sở lý luận nào của Bảng điểm cân bằng để vận dụng đánh giá thành quả hoạt động tại đơn vị kinh doanh;
(ii) Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn như thế nào?
(iii) Các đặc điểm nào của ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn ảnh hưởng đến việc vận dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá thành quả hoạt động? (iv) Các giải pháp nào cần có để vận dụng Bảng điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn?
4 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: vận dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá thành quả hoạt động tại BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
5 Ph ạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ dừng lại ở việc xây dựng Bảng điểm cân bằng như là một hệ thống đánh giá thành quả hoạt động tại BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn dựa trên chiến lược và tầm nhìn của BIDV đến năm 2020.Tác giả không
đi sâu vào phân tầng này cho các Phòng ban và từng nhân viên cụ thể
Trang 166 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Thông qua việc tổng hợp các lý thuyết về Bảng điểm cân bằng được áp dụng trong các đơn vị kinh doanh để làm nổi
bật nội dung này Tác giả cũng đã tiến hành khảo sát, quan sát và thu thập tài liệu liên quan về cách thức đo lường thành quả hoạt động của BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
Từ đó, tác giả phân tích thực trạng và đánh giá ưu, nhược điểm của cách thức này để làm cơ sở để xây dựng Bảng điểm cân bằng tại Chi nhánh ở chương 3 Cuối cùng, tác
giả so sánh thực tế và lý thuyết để xác định các mục tiêu cho Bản đồ chiến lược và các thước đo cho Bảng điểm cân bằng Bên cạnh đó, tác giả thu thập số liệu, khảo sát một
số đối tượng có liên quan để làm cơ sở đề xuất các chỉ tiêu và hành động các phương
diện của
7 Nh ững đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng Bản đồ chiến lược và xây dựng các thước đo trong từng phương diện của
Bảng điểm cân bằng để đánh giá thành quả hoạt động tại ngân hàng BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
- Đề xuất giải pháp hỗ trợ việc vận dụng Bảng điểm cân bằng đối với đặc thù hoạt động kinh doanh cảu BIDV Chi nhánh Tây Sài Gòn
8 K ết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung được thiết kế gồm 3 chương:
Ch ương1:Cơ sở lý luận về Bảng cân bằng điểm áp dụng tại đơn vị kinh doanh
Ch ương2:Thựctrạngđánhgiáthànhquảhoạtđộngtại ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát tri ển Việt Nam - Chi nhánh Tây Sài Gòn
Ch ương3:VậndụngBảngcânbằngđiểmđểđánhgiá thành quả hoạt động tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam -Chi nhánh Tây Sài Gòn
Chương 1
Trang 17CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ÁP DỤNG TẠI
ĐƠN VỊ KINH DOANH1.1 L ỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG
VÀ S Ự CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG NÀY TRONG CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH
1.1.1 L ịch sử hình thành phát triển của Bảng điểm cân bằng
BSC là hệ thống quản lý do Robert Kaplan – giáo sư chuyên ngành kế toán trường đại học Harvard và David Norton – chuyên gia tư vấn vùng Boston khởi xướng vào những năm đầu thập niên 1990 BSC đề cập đầu tiên trong nhan đề “The Balanced Scorecard - Measures That Drive Performance” (Bảng cân bằng điểm – Biện pháp điều khiển sự thực hiện) trong Harvard Business Review năm 1992 và sau đó là cuốn sách
“The Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action” (Bảng cân bằng điểm: Chuyển chiến lược thành hành động) xuất bản năm 1996 Hai giáo sư phát hiện vấn đề khá nghiêm trọng là nhiều công ty có khuynh hướng quản lý chỉ dựa đơn thuần vào chỉ
số tài chính Nhưng trong thế giới kinh doanh hiện nay đòi hỏi phải quản lý dựa trên
chỉ số đo tốt hơn và hoàn thiện hơn Hệ thống quản lý này áp dụng nhiều tổ chức và ngành nghề và đạt được thành công to lớn như IBM, General Electric…Một số phần
mềm quản trị áp dụng BSC đã ra đời nhằm thiết lập hệ thống kiểm soát và đánh giá
hoạt động kinh doanh (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Hoạt động kinh doanh chuyển dịch từ chỗ dựa trên sản xuất công nghiệp sang môi trường dựa trên thông tin Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi trọng tâm từ tài sản
hữu hình sang tài sản vô hình Phương pháp đánh giá truyền thống không đủ mạnh để đánh giá trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của từng phòng ban, từng bộ phận BSC ra đời nhằm mục tiêu thiết kế cái nhìn tổng quan và cân bằng về tất cả nguồn lực và nhân
tố để từ đó đưa ra công thức đánh giá phù hợp với mục tiêu và chiến lược tổ chức để có
hệ thống quản lý, giám sát hiệu quả hơn Các đánh giá này gồm đánh giá tài chính truyền thống của sự quản lý trong quá khứ, nhưng cũng cung cấp chiến lược đánh giá
Trang 18cho hoạt động trong tương lai.BSC đưa ra phương pháp đánh giá để chuyển chiến lược doanh nghiệp thành các chỉ tiêu đánh giá
Trước năm 1992, các công ty sử dụng hệ thống quản trị dựa trên chỉ tiêu tài chính, ngân sách trong kiểm soát để đo lường hiệu quả hoạt động Kết quả nghiên cứu
hạn chế trong hệ thống quản lý kiểm soát của Mỹ (đơn thuần tập trung vào chỉ số tài chính ngắn hạn) và sự thành công của công ty Nhật Bản do đầu tư nâng cao kiến thức
kỹ năng (tài sản vô hình) để nâng cao chất lượng sản phẩm, hài lòng khách hàng và kết
quả tài chính, Kaplan và Norton xây dựng nên BSC ngày nay
Ngay sau đó, BSC nhanh chóng được hàng ngàn doanh nghiệp, cơ quan chính
phủ, tổ chức phi lợi nhuận áp dụng Đến năm 2011, kết quả khảo sát toàn cầu về công
cụ quản lý do hãng tư vấn Bain công bố, BSC nằm trong top 10 các công cụ quản lý được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới (vị trí thứ 6)
1.1.2 S ự cần thiết phải áp dụng Bảng điểm cân bằng trong các đơn vị kinh doanh
Thời đại công nghệ thông tin cùng với nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã
hội tạo ra một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt cho tất cả các tổ chức trên toàn thế
giới.Để tồn tại và phát triển bền vững trong môi trường này, các tổ chức kinh tế cần
phải có một hệ thống quản lý và đo lường để truyền đạt và thực hiện các chiến lược của mình Những công ty trong thời đại công nghiệp sử dụng hệ thống đo lường cũ bằng các thước đo tài chính chỉ cho thấy kết quả của quá trình đã thực hiện, những sự kiện
đã qua và không xem xét đến khả năng, các mối quan hệ khách hàng lâu dài là những tài sản vô hình góp phần vào thành công của họ (Robert S Kaplan & David P Norton,
1996) Và hệ thống đo lường cũ sẽ không dẫn dắt và đánh giá hành trình mà các công
ty trong thời đại công nghệ thông tin cần phải thực hiện để tại ra giá trị tương lai thông qua việc đầu tư vào khách hàng, nhà cung cấp, nhân công, các quá trình, công nghệ và
đổi mới(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996) Trong khi đó, Bảng điểm cân
bằng bổ sung những thước đo tài chính về hiệu quả hoạt động trong quá khứ với những thước đo của những nhân tố dẫn dắt hiệu suất trong tương lai Hơn thế nữa, Bảng điểm
Trang 19cân bằng mở rộng tập hợp các mục tiêu của đơn vị kinh doanh ra bên ngoài các thước
đo tài chính tổng quát Những người lãnh đạo công ty giờ đây có thể đo lường việc các đơn vị kinh doanh của họ tạo ra giá trị cho khách hàng hiện tại và tương lai ra sao; họ
phải nâng cao khả năng nội tại và đầu tư vào con người, hệ thống và các thủ tục cần thiết để cải thiện hiệu quả hoạt động trong tương lai như thế nào Bảng điểm cân bằng
nắm bắt những hoạt động tạo ra giá trị quan trọng hàng đầu, được tạo ra bởi những người tham gia lành nghề và có động lực trong tổ chức Trong khi duy trì sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động ngắn hạn thông qua phương diện tài chính, Bảng điểm cân
bằng cũng cho thấy rõ những yếu tố thúc đẩy giá trị để đạt được kết quả cạnh tranh và tài chính tốt hơn trong dài hạn Đó là lý do vì sao Bảng điểm cân bằng cần được áp
rụng trong các đơn vị kinh doanh hiện nay.(Robert S Kaplan & David P Norton,
1996)
1.2 T ỔNG QUAN VỀBẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ÁP DỤNG TRONG CÁC ĐƠN
V Ị KINH DOANH
1.2.1 Khái ni ệm và vai trò của Bảng điểm cân bằng
1.2.1.1 Khái ni ệm Bảng điểm cân bằng
B ảng điểm cân bằng (tên tiếng anh Balance Scorecard – BSC) là một hệ
thống nhằm chuyển tầm nhìn chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo
cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống đo lường thành quả hoạt động trong một tổ
chức trên bốn phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình hoạt động nội bộ và học
hỏi phát triển, minh họa qua sơ đồ
Trang 20Sơ đồ 1.1: Cấu trúc các phương diện của Bảng cân bằng điểm
[Nguồn: Robert S,Kaplan, David P.Norton (1996), Thẻ cân bằng điểm, “Biến chiến lược thành hành động”, Sách dịch NXB Trẻ,pp.25]
1.2.1.2 Vai trò c ủa Bảng điểm cân bằng
Năm 1992, khi Bảng điểm cân bằng lần đầu tiên được giới thiệu, giáo sư Kaplan chỉ đề cập đến này như một hệ thống đo lường Sau đó, Kaplan và Norton đã phát hiện ra rằng các tổ chức còn sử dụng nó như là một hệ thống quản trị chiến lược
và truyền thông
Th ứ nhất, Bảng điểm cân bằng được sử dụng như một hệ thống đo lường Các
thước đo tài chính cung cấp một góc nhìn tuyệt vời về các sự kiện và kết quả trong quá
khứ của tổ chức nhưngcũng chứa đựng khá nhiều hạn chế như:(1) Không phù hợp với
thực tế ngày nay; (2) Không có giá trị dự báo cho tương lai; (3) Việc cải thiện các chỉ tiêu tài chính có thể dẫn đến hi sinh lợi ích trong dài hạn; (4) Các chỉ tiêu tài chính có thể
bị bóp méo bởi công tác kế toán (Paul R Niven , 2006) Ngoài các thước đo tài chính,
này còn bổ sung các thước đo phi tài chính được chọn lọc theo những mục tiêu nhất định
nhằm đánh giá toàn diện hoạt động của một tổ chức trên bốn phương diện:tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển
Trang 21Th ứ hai, Bảng điểm cân bằng được sử dụng như một hệ thống quản trị chiến lược Trong khi mục đích ban đầu của này là cân bằng các số liệu tài chính quá khứ
với những yếu tố định hướng giá trị tương lai của các tổ chức, ngày càng nhiều tổ chức
đã thử nghiệm này và nhận thấy nó là một công cụ quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động ngắn hạn bằng chiến lược Và chính được sử dụng theo cách này mà
Bảng cân bằng điểm đã hạn chế được nhiều vấn đề phát sinh trong việc thực thi chiến
lược(Paul R Niven , 2006)
Th ứ ba, Bảng điểm cân bằng được sử dụng như một công cụ truyền thông
nhằm chuyển tải chiến lược một cách ngắn gọn và rõ ràng tới tất cả các thành viên liên quan cả bên trong và bên ngoài tổ chức thông qua Bản đồ chiến lược Triển khai này trong tổ chức giúp cho nhân viên có cơ hội để thảo luận về chiến lược, học hỏi và rút ra
những kinh nghiệm từ những kết quả không mong muốn, trao đổi về những thay đổi
cần thiết trong tương lai
Sứ mệnh truyền tải những giá trị và niềm tin cơ bản tới tất cả mọi người trong
tổ chức.Tuyên ngôn về sứ mệnh nêu lên những niềm tin cốt lõi, nhận diện thị trường
mục tiêu cũng như sản phẩm cốt lõi.Các tuyên ngôn sứ mệnh phải thực sự truyền cảm
hứng.Chúng phải tạo ra nguồn nhiệt huyết và động lực cho tất cả mọi người trong tổ
chức.Nhưng những tuyên ngôn truyền được cảm hứng vẫn chưa đủ Cái thiếu ở đây chính là một quy tắc cho việc chuyển hóa tầm nhìn cá nhân thành một tầm nhìn chung
(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Trang 22hiệu quả là phải nhất quán với sứ mệnh, ngắn gọn súc tích, có thể xác minh được, khả thi
và tạo được cảm hứng(Paul R Niven,2006)
Tầm nhìn như một tấm bản đồ chỉ ra lộ trình một tổ chức dự định để phát triển và tăng cường các hoạt độngkinh doanh, tập trung làm rõ phương hướng hoạt động kinh doanh trong tương lai của tổ chức như những thay đổi về sản phẩm và dịch
vụ, khách hàng, thị trường, công nghệ của công ty…
Chi ến lược
Chiến lược là cách mà tổ chức với những nguồn lực nội tại của mình nắm bắt được những cơ hội của thị trường để đạt được những mục tiêu của tổ chức.Một tổ chức
nếu muốn phát triển Bảng điểm cân bằng dựa trên chiến lược thì trước hết họ phải hiểu
rõ chiến lược của mình là gì? (Robert S Kaplan & David P.Norton, 1996)
Trang 231.2.2.2 B ản đồ chiến lược áp dụng trong các đơn vị kinh doanh
Trong quá trình phát triển cấu
trúc mối quan hệ nhân quả, Kaplan &
Norton đã tạo ra một công cụ là Bản đồ
chiến lược Bản đồ chiến lược mô tả rõ
ràng chiến lược qua các mối quan hệ
nhân quả giữa các mục tiêu theo bốn
phương diện tài chính, khách hàng, quy
trình nội bộ, học hỏi và phát triển của
Bảng điểm cân bằng(Robert S Kaplan
& David P Norton, 1996).Một ví dụ về
Bản đồ chiến lược đơn giản của đơn vị
kinh doanh được thể hiện qua Sơ đồ
1.2
Bản đồ chiến lược đóng một vai
trò quan trọng trong việc xây dựng các
thước đo Vì Bản đồ chiến lược diễn
tả thành công theo mối quan hệ nhân Sơ đồ 1.2: Bản đồ chiến lược đơn giản
iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii (Ngu ồn:Robert S Kaplan & David P Norton,1996, trang 29)
quả giữa các mục tiêu, khi đó sự lựa chọn các thước đo trở nên đơn giản hơn Nếu các thước đo ban đầu sau này trở nên không hoàn hảo thì việc điều chỉnh laị các thước đo
trở nên dễ dàng ở các kỳ tiếp theo mà không cần xác định lại Bản đồ chiến lược
Chiến lược của một tổ chức thể hiện phương thức dự kiến tạo ra giá trị của
nó cho cổ đông, khách hàng và dân chúng (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996) Theo Kaplan, việc tiến hành thành công một chiến lược đòi hỏi 3 yếu tố:
{Kết quả vượt trội} = {Mô tả chiến lược} + {Đo lường chiến lược}
+ {Quản lý chiến lược}
Triết lý của ba yếu tố cấu thành này chỉ đơn giản là:
Chiến lược
Yếu tố tài chính
"Để thành công chúng ta phải trở nên như thế nào trong con mắt cổ đông?"
Yếu tố khách hàng
"Để đạt được tầm nhìn, chúng ta phải trở nên như thế nào trong con mắt khách hàng?"
Yếu tố nội bộ
"Để thỏa mãn khách hàng chúng ta phải xuất sắc trong quy trình nào?"
Yếu tố học tập và phát
triển
"Để đạt được tầm nhìn, chúng ta phải học tập và phát triển như thế nào?"
Trang 24• Bạn không thể quản lý (yếu tố thứ ba) những gì bạn không thể đo lường được (yếu tố thứ hai)
• Bạn không thể đo lường được những gì bạn không thể mô tả được (yếu
tố thứ nhất)
Đó chính là lí do vì sao các đơn vị kinh doanh cần xây dựng cho mình một
Bản đồ chiến lược để có thể xây dựng những thước đo nhằm đo lường được thành quả
hoạt động tại đơn vị mình
Bản đồ chiến lược theo Bảng cân bằng điểm mô tả lại cách chiến lược kết
hợp với tài sản vô hình với các quy trình tạo ra giá trị Bản đồ chiến lược sẽ thể hiện
mục tiêu theo bốn yếu tố: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển
(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Th ứ nhất, phát triển các mục tiêu cho phương diện tài chính
Bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào hoạt động cũng nhằm đem lại lợi ích lớn
nhất cho cổ đông Hiệu quả tài chính, một chỉ số đi sau (lag indicator), cung cấp định nghĩa mấu chốt về thành công của một tổ chức Chiến lược mô tả một tổ chức dự kiến làm thế nào để tạo ra sự tăng trưởng bền vững về giá trị cổ đông (Kaplan, 1996) Do
vậy mục tiêu tài chính trên Bản đồ chiến lược là làm thế nào để mang lại giá trị bền
vững cho cổ đông? Những mục tiêu tài chính có thể có những khác biệt qua mỗi giai đoạn của một chu trình kinh doanh Robert S Kaplan & David P Norton (1996) phân
ra làm 3 giai đoạn: Tăng trưởng; Duy trì và Thu hoạch
Trong giai đoạn tăng trưởng các đơn vị kinh doanh có những sản phẩm/dịch
vụ (SP/DV) với tiềm năng phát triển nổi bật Họ sử dụng những nguồn lực để phát triển, nâng cao dịch vụ và sản phẩm mới, xây dựng và mở rộng sản xuất, đầu tư vào cơ
sở hạ tầng, mạng lưới phân phối, đồng thời chăm sóc các mối quan hệ khách hàng Dòng tiền mặt tại giai đoạn này có thể âm Vậy nên mục tiêu tài chính trong giai đoạn này là tỷ lệ tăng trưởng phần trăm về doanh thu, tỷ lệ tăng doanh số bán hàng ở từng
Trang 25khu vực, nhóm khách hàng và các thi trường mục tiêu (Robert S Kaplan & David P
Norton, 1996)
Có thể phần lớn các đơn vị kinh doanh trong một công ty sẽ phải bước sang giai đoạn duy trì Giai đoạn này vẫn thu hút được đầu tư và tái đầu tư, nhưng đòi hỏi
phải mang lại những khoản lợi nhuận trên vốn đầu tư Hướng đầu tư thường là mở
rộng khả năng sản xuất và tăng cường cải tiến liên tục Hầu hết các đơn vị kinh doanh trong giai đoạn này sẽ sử dụng một mục tiêu tài chính liên quan đến khả năng sinh lời
(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Một số đơn vị kinh doanh sẽ đạt đến giai đoạn chín muồi trong chu trình kinh doanh của mình Ở giai đoạn này, công ty muốn thu hoạch những khoản đầu tư trong hai giai đoạn trước đó Những đơn vị kinh doanh không được đầu tư lớn nữa, không
mở rộng hay tạo ra những khả năng mới Đây sẽ là thời kỳ hoàn vốn.Mục đích chính là
tối đa hóa dòng tiền trở lại cho tập đoàn Những mục tiêu tài chính cho các đơn vị kinh doanh ở giai đoạn thu hoạch sẽ là dòng tiền mặt hoạt động (trước khấu hao) và giảm thiểu những yêu cầu về vốn lưu động (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Kaplan và Norton (1996) cho rằng, đối với chiến lược trong ba giai đoạn tăng trường, duy trì và thu hoạch, thì có ba chủ đề tài chính thúc đẩy chiến lược kinh doanh,
cụ thể là:
• Tăng trưởng doanh thu và tập hợp sản phẩm
• Giảm chi phí/ Cải thiện năng suất
• Sử dụng tài sản/ Chiến lược đầu tư
Trong đó, tăng trưởng doanh thu và tập hợp sản phẩm đề cập tới việc mở
rộng cung cấp sản phẩm và dịch vụ, giành được khách hàng và thị trường mới, thay đổi tập hợp sản phẩm và dịch vụ hướng tới việc cung cấp giá trị gia tăng cao hơn
Mục tiêu tăng năng suất và giảm chi phí đề cập đến những nỗ lực nhằm hạ chi phí trực tiếp của sản phẩm/ dịch vụ, giảm thiểu chi phí gián tiếp Đối với sử dụng tài sản, các nhà quản lý nỗ lực giảm mức vốn lưu động để hỗ trợ một doanh số và tập
Trang 26hợp sản phẩm cụ thể của đơn vị kinh doanh.Họ sử dụng các nguồn lực một cách hiệu
quả hơn
Th ứ hai, phát triển các mục tiêu cho phương diện khách hàng
Sự thành công với các khách hàng mục tiêu sẽ cung cấp một thành phần trọng
yếu để cải thiện các chỉ tiêu tài chính Bên cạnh đó việc đo lường các chỉ số đi sau về thành công trong phục vụ khách hàng như sự hài lòng, sự trung thành, sự tăng trưởng, phương diện khách hàng xác định tập hợp giá trị cung cấp cho các phân khúc khách hàng mục tiêu Việc chọn lựa đúng tập hợp giá trị cung cấp cho khách hàng là yếu tố
trọng tâm của chiến lược.Phục vụ kịp thời, khả năng tiếp cận thông tin, chi phí thấp, tăng cường chức năng của sản phẩm và dịch vụ có thể là những gì mà khách hàng cần
hoặc mong đợi (Paul R Niven , 2008) Việc lựa chọn tuyên bố giá trị phù hợp cũng đặt
ra không ít thách thức đối với đa số tổ chức, nhiều tổ chức đã lựa chọn một trong ba nguyên tắc được Treacy &Weirsema giới thiệu trong cuốn “Nguyên tắc của các tổ
ch ức dẫn đầu thị trường” Bảng 1.2 trình bày ba nguyên tắc đó là dẫn đầu sản phẩm,
thân thiết với khách hàng và hoạt động xuất sắc
B ảng 1.1: Tuyên bố giá trị cho khách hàng
(Ngu ồn: Paul R Niven , 2008, trang 171)
Tuyên bố giá trị mà tổ chức chọn sẽ ảnh hưởng lớn đến các mục tiêu được lựa
chọn cho Bản đồ chiến lược (1) Các tổ chức dẫn đầu sản phẩm tập trung vào việc tạo ra
Trang 27các dòng sản phẩm mới, không ngừng mang lại các tính năng vượt trội mà đối thủ cạnh tranh không có Sau đây là một số các mục tiêu có thể lựa chọn: “Xây dựng thương
hiệu”, “Tăng số lượng sản phẩm, dịch vụ mới”, “Thiết lập đường dây điện thoại hỗ trợ tư
vấn sản phẩm”, “Tăng số lượng nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn” (2) Các tổ
chức hoạt động xuất sắc, có thể lựa chọn các mục tiêu: “Đảm bảo mức giá thấp”, “Đưa
ra mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh”, “Giảm thiểu sự than phiền của khách hàng”, “Giảm tỷ lệ sản xuất hàng lỗi”, “Loại bỏ các lỗi dịch vụ” hay “Mở rộng thị phần khách hàng mục tiêu” (3) Các tổ chức thân thiết với khách hàng nhận ra rằng họ có
những khách hàng với các nhu cầu vượt ra ngoài khuôn khổ mà sản phẩm của họ có thể đáp ứng được Các giải pháp mà họ đưa ra bao gồm một loạt các siêu dịch vụ độc đáo để khách hàng có được lợi ích lớn nhất từ những sản phẩm mà họ chào bán Sau đây là một
số mục tiêu có thể được sử dụng: “Tăng tổng số giải pháp được cung cấp trên từng khách hàng”, “Duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng”, “Tăng số phần thưởng nhận được
từ khách hàng”, “Tăng tỷ lệ phần trăm số nhân viên được truy cập vào thông tin khách hàng” (Paul R Niven , 2006)
Sau cùng, Paul R Niven (2008, trang 172) khuyên “Các t ổ chức không nên chỉ
t ập trung vào một tuyên bố giá trị để loại trừ hai cái còn lại Thay vào đó, ít nhất phải đạt được cả hai tuyên bố và tập trung nỗ lực để đạt được cả ba thì càng tốt”
Th ứ ba, phát triển các mục tiêu cho phương diện quy trình nội bộ
Khi phát triển các mục tiêu cho phương diện quy trình nội bộ, hãy tự hỏi:
“Nh ững quy trình nội bộ nào sẽ tạo ra và chuyển giao tập hợp các giá trị cung cấp cho khách hàng?” (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996).Mỗi tổ chức sẽ thu được giá trị từ sự kết hợp của các quy trình khác nhau Tuy nhiên, có một số vấn đề quan trọng
mà các tổ chức nên xem xét khi xây dựng mục tiêu cho phương diện này
M ột là hiểu về khách hàng của tổ chức Các tổ chức muốn phát triển sản phẩm,
dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu và những mong đợi của khách hàng thì trước hết họ phải
hiểu về khách hàng của mình (Paul R Niven , 2008) Kimberly Clart đã tuyên bố một
Trang 28cách đơn giản rằng “Tôi biết chúng ta sẽ chiến thắng trên thị trường nếu hiểu được
khách hàng c ủa mình tốt hơn bất cứ người nào khác” (Paul R Niven , 2006, trang 229)
Hai là thường xuyên đổi mới Tất cả các tổ chứcđều phải thường xuyên đổi
mới Chúng ta không những đổi mới về mẫu mã, tính năng, bao bì và các dịch vụ vận chuyển mà còn phải đổi mới cả về tư duy
Ba là xây d ựng thị trường và thương hiệu riêng Ngày nay, khái niệm tài sản thương hiệu nổi lên cho thấy các tổ chức đang cố gắng tận dụng TSVH này bằng việc tập
trung vào thương hiệu, thành quả hoạt động và giá trị gia tăng (Paul R Niven , 2008)
B ốn là cung cấp sản phẩm, dịch vụ chất lượng Cung cấp sản phẩm, dịch vụ
chất lượng là rất quan trọng nhưng nếu chỉ tập trung vào chất lượng mà quên đi sự hài lòng của khách hàng, sự đổi mới và kết quả tài chính thì không phải là tốt Sử dụng Bảng điểm cân bằng sẽ giúp các tổ chức giảm thiểu đáng kể rủi ro này bằng cách cân bằng
giữa mục tiêu nâng cao chất lượng và mục tiêu tăng giá trị cho khách hàng
Năm là làm việc hiệu quả Hầu hết các tổ chức mà Paul R Paul R Niven đã
tư vấn trong những năm qua – tổ chức công, tư nhân, phi lợi nhuận – đều có một quy trình làm việc hiệu quả hay mục tiêu cải tiến trên Bản đồ chiến lược Bởi lẽ không có
một tổ chức nào mà không hưởng lợi từ việc tăng năng suất hoạt động (Paul R Niven , 2008)
Sáu là h ợp tác để thành công Hiện nay, các công ty tư nhân bắt đầu nhận ra
rằng họ có thể xây dựng hình ảnh, tạo uy tín với khách hàng và thậm chí tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các cơ quan chức năng thông qua hoạt động từ thiện Các tổ chức công cũng nên nắm bắt cơ hội này để thu hút thêm tài trợ
B ảy là tăng quỹ một cách có hiệu suất và hiệu quả Thật là khó khăn, nếu không
muốn nói là không thể, để hiểu được khách hàng, cung cấp sản phẩm có chất lượng, thu hút đối tác tiềm năng và liên tục đổi mới mà không có nguồn thu nhập ổn định
Tám là giám sát danh ti ếng Các tổ chức công hoạt động dưới sự kiểm soát và
đánh giá của các cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông và của cả cộng đồng Do
vậy, danh tiếng được xem như là TSVH, góp phần quan trọng đối với sự thành công
của tổ chức này
Trang 29Chín là qu ản lý rủi ro Ngoài những thách thức hàng ngày, các tổ chức còn gặp
phải những đe dọa không lường trước được như khủng hoảng kinh tế, thiên tai lũ lụt, hỗn
loạn chính trị và thậm chí là khủng bố Điều quan trọng là các tổ chức phải dự đoán được
những rủi ro có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tổ chức
Mỗi đơn vị kinh doanh có một tập hợp riêng biệt các quá trình tạo ra giá trị cho khách hàng và các kết quả tài chính Tuy nhiên, các công ty đều có một chuỗi giá
trị chung, bao gồm ba quá trình chính: quy trình cải tiến SP/DV, hoạt động và dịch vụ sau bán hàng
• Quá trình cải tiến SP/DV: đơn vị kinh doanh nghiên cứu các nhu cầu mới hay nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng, sau đó tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sẽ đáp ứng
những nhu cầu này Đây là giai đoạn được xem như làn sóng tạo ra giá trị lâu dài, vì nó liên tục nhận diện và nuôi dưỡng các thị trường mới và khách hàng mới, cũng như nhu
cầu mới và tiềm ẩn của khách hàng hiện có.Mục tiêu của quy trình cải tiến SP/DV: Phát triển sản phẩm mới; Tăng sản phẩm độc quyền; Rút ngắn thời gian phát triển sản
phẩm mới; Tăng tính năng mới của sản phẩm và dịch vụ;Tăng số lượng sản phẩm và
dịch vụ mới giới thiệu cho khách hàng
• Quá trình hoạt động: là nơi các sản phẩm và dịch vụ hiện có được sản
xuất và phân phối đến khách hàng Tuy không phải là yếu tố quan trọng nhất trong toàn
bộ chuỗi giá trị nội bộ, nhưng vẫn là một mục tiêu quan trọng Quá trình này được xem
là làn sóng tạo giá trị ngắn.Mục tiêu của quy trình hoạt động:Tăng chất lượng SP/DV; Giao hàng kịp thời; Giảm tỷ lệ hóa đơn sai sót; Giảm chi phí sản xuất
• Quá trình dịch vụ sau khách hàng: Giai đoạn này cung cấp các giá dịch
vụ vượt trội sau khi bán hàng Những hoạt động này là gia tăng thêm giá trị cho khách hàng mục tiêu khi họ sử dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty
Vậy, trong mỗi quy trình trong chuỗi giá trị nội bộ, đơn vị kinh doanh cần
phải nghiên cứu, phân tích xem xét đơn vị mình đang ở trong giai đoạn nào, nên dành
sự tập trung vào quá trình nào mang tính thành công chiến lược lâu dài Để từ đó xây
Trang 30dựng nên những thước đo đo lường hiệu quả hoạt động phù hợp nhất cho phương diện kinh doanh nội bộ phù hợp với mục tiêu tài chính và khách hàng đã được lập
Th ứ tư, phát triển các mục tiêu cho phương diện học hỏi và phát triển
Các tổ chức phải xác định được yếu tố công việc nào (nguồn vốn nhân lực),
hệ thống nào (nguồn vốn thông tin), môi trường nào (nguồn vốn tổ chức) cần hỗ trợ cho các quy trình nội bộ tạo ra giá trị.Các tài sản vô hình này được gắn kết với các quy trình nội bộ chủ chốt.Tài sản vô hình này quyết định sựhình thành các giá trị bền vững
như thế nào?(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Theo Kaplan (1996), phương diện học hỏi và phát triển trong Bảng điểm cân
bằng đã khắc họa vai trò của việc gắn kết tài sản vô hình vào chiến lược của một tổ
chức Phương diện này gồm những mục tiêu về ba thành phần của tài sản vô hình cần thiết để thực hiện bất kỳ chiến lược nào:
• Nguồn vốn con người
• Nguồn vốn thông tin
• Nguồn vốn tổ chức
Tài sản vô hình được mô tả là “những kiến thức tồn tại trong tổ chức để tạo
ra nh ững lợi thế khác biệt” hoặc “khả năng của nhân viên công ty trong việc đáp ứng nhu c ầu khách hàng” Sau khi, Robert S Kaplan & David P Norton(1996, trang 147-
148)) đã xem xét phương diện học hỏi và phát triển của vài trăm Bản đồ chiến lược và
Bảng điểm cân bằng, nhận thấy có sáu mục tiêu sau thường xuất hiện:
Ngu ồn vốn con người:
- Nh ững kỹ năng chiến lược: sự sẵn có của tài năng, kỹ năng, bí quyết để
thực hiện những hoạt động theo yêu cầu của chiến lược (khoảng 80% Thẻ điểm bao
gồm mục tiêu này) Hay có thể hiểu, chính là năng lực của nhân viên đáp ứng được các yêu cầu mục tiêu của quy trình nội bộ
Ngu ồn vốn thông tin:
Trang 31- Ngu ồn thông tin chiến lược: sự sẵn có của các hệ thống thông tin và các
ứng dụng và cơ sở hạ tầng kiến thức cần thiết để phục vụ chiến lược (có trong 80% các
bảng điểm)
Ngu ồn vốn tổ chức:
- Văn hóa: nhận thức và khả năng nội bộ hóa tầm nhìn, sứ mệnh và các giá
trị chung cần thiết để thực hiện chiến lược (có trong 90% các bảng điểm)
- Tinh th ần lãnh đạo: sự sẵn có các nhà lãnh đạo giỏi ở mọi cấp độ để đưa
tổ chức đi đúng chiến lược (có trong 90% các bảng điểm)
- S ự gắn kết: gắn kết các mục tiêu và các chế độ khen thưởng với chiến lược
ở mọi cấp độ của tổ chức (có trong 70% các bảng điểm)
- Tinh th ần tập thể: sự chia sẻ các tài sản kiến thức và nhân lực với tiềm
năng chiến lược (có trong 60% các bảng điểm)
Vậy có thể tóm lại các mục tiêu quan trọng thường xuất hiện trong phương
diện học hỏi và phát triển gồm những mục tiêu sau: nâng cao năng lực nhân viên, cải
tiến hệ thống thông tin, cải thiện môi trường làm việc và gắn mục tiêu cá nhân của nhân viên với mục tiêu của tổ chức.Tổ chức cần đầu tư vào tài sản vô hình nhằm tạo ra giá trị kinh tế trong tương lai và giá trị gia tăng cho các cổ đông.Như tái đào tạo nhân viên, tăng cường công nghệ thông tin và hệ thống, kết nối các công việc thường nhật vào các quy trình tổ chức
1.2.2.3 Các thước đo trong Bảng điểm cân bằng của các đơn vị kinh doanh
Bản đồ chiến lược bao gồm các mục tiêu, những điều mà tổ chức phải làm tốt trong từng phương diện để thực thi chiến lược Nhưng làm sao biết được chúng ta có đạt được mục tiêu đã đề ra trong Bản đồ chiến lược hay không? Các thước đo sẽ cung cấp câu trả lời bằng cách đánh giá tiến trình hoạt động của tổ chức.Các thước đo được lựa
chọn phải diễn giải trực tiếp từ các mục tiêu trên Bản đồ chiến lược
Trước khi trình bày về các thước đo có thể được lựa chọn cho Bảng điểm cân
bằng, chúng ta tìm hiểu về các loại thước đo thường được sử dụng
Trang 32Các thước đo có thể được coi là tiêu chuẩn dùng để đánh giá và truyền đạt thành
quả đạt được so với kết quả mong đợi Do vậy, các thước đo là thành phần quan trọng
của Bảng điểm cân bằng nhưng việc tạo ra được các thước đo phù hợp là cả một quá trình nghiên cứu
Các thước đo được sử dụng trong Bảng điểm cân bằng được phân ra thành hai
loại đó là: thước đo kết quả và thước đo hiệu suất.Robert S Kaplan & David P Norton (1996, trang 150) cho rằng “MộtBảng điểm cân bằng tốt phải có sự kết hợp hợp lý giữa
k ết quả (thước đo kết quả) và các nhân tố thúc đẩy (thước đo hiệu suất) đã được lựa
ch ọn phù hợp với tổ chức”.Bởi lẽ, nếu không có thước đo hiệu suất, các thước đo kết
quả chỉ cho biết kết quả đạt được mà không biết cách thức để đạt được kết quả đó Ngược lại, nếu chỉ theo dõi thước đo hiệu suất thì chúng ta chỉ biết cách thức thực hiện
mà không biết được những việc làm của chúng ta có hướng tới việc thực hiện sứ mệnh
của tổ chức không? Bảng 1.3 vạch ra một số điểm khác biệt giữa thước đo kết quả và thước đo hiệu suất
B ảng 1.2: Bảng phân biệt các thước đo kết quả và thước đo hiệu suất
Trang 33(Ngu ồn: Paul R Niven , 2008, trang 215)
Các thước đo trên mỗi phương diện không phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên hay theo một khuôn mẫu nào mà các thước đo ấy phải phù hợp với các mục tiêu
đã được xác định trên Bản đồ chiến lược Do vậy, khi phát triển các thước đo, các tổ
chức nên tự hỏi: “Làm thế nào chúng ta biết được chúng ta có thành công trong việc
đạt được các mục tiêu này không?” (Paul R Niven , 2008, trang 215)
Dưới đây, tác giả sẽ tập hợp các thước đo được sử dụng trên mỗi phương
diệncủa Bảng điểm cân bằng phù hợp với các mục tiêu đã được trình bày trên Bản đồ chiến lược trong phần trước
Th ứ nhất, phát triển các thước đo cho phương diện tài chính
Trong phần trước ta đã đi vào mục tiêu của phương diện tài chính Ứng với
mỗi mục tiêu là các thước đo được sử dụng để đo lường(xem phụ lục 2)
Th ứ hai, phát triển các thước đo cho phương diện khách hàng
Khi phát triển các mục tiêu cho phương diện khách hàng của Bản đồ chiến lược chúng ta đã tìm hiểu về ba tuyên bố giá trị cho khách hàng Bây giờ, một lần nữa, chúng ta sử dụng ba tuyên bố giá trị này để phát triển các thước đo cho phương diện khách hàng của Bảng điểm cân bằng
M ột là dẫn đầu về sản phẩm: Các thước đo có thể sử dụng như: “Nhận biết
thương hiệu”, “Hình ảnh thương hiệu”, “Số lượng sản phẩm, dịch vụ mới”, “Doanh thu
từ các sản phẩm, dịch vụ mới”, “Thời gian để phát triển một sản phẩm, dịch vụ mới”,
“Số lượng các cuộc gọi điện thoại trợ giúp trên từng sản phẩm”, “Số lượng tính năng
mới được đưa ra” hay “Số nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn”
Hai là ho ạt động xuất sắc: Các thước đo như: “Giá trung bình so với đối thủ
cạnh tranh”, “Tổng chi phí sở hữu”, “Số lần than phiền của khách hàng”, “Tỷ lệ sản
phẩm hỏng” hay “Số cuộc điện thoại được giải quyết trong lần gọi đầu tiên”
Ba là s ự thân thiết với khách hàng: Một số thước đo có thể sử dụng như: “Tổng
số giải pháp cung cấp”, “Chỉ số danh tiếng”, “Số phần thưởng nhận được từ khách
Trang 34hàng hay đối tác”, “Tỷ lệ duy trì khách hàng” hay “Khả năng truy cập vào thông tin khách hàng chủ chốt”
Riêng thước đo “Mức độ hài lòng của khách hàng” luôn xuất hiện trong hầu hết
Bảng điểm cân bằng của các tổ chức bất kể mục tiêu của họ là gì Nói về tầm quan
trọng của việc khảo sát khách hàng, một nhân viên của Hiệp hội quản lý nguồn nhân
lực phát biểu như sau: “Chúng ta phân tích càng nhiều thông tin về khách hàng thì
càng t ốt vì đó là cách giúp chúng ta hiểu hơn về những nhu cầu của họ để từ đó phục
v ụ cho họ được tốt hơn” (Paul R Niven , 2008, trang 218)
Th ứ hai, phát triển các thước đo cho quy trình nội bộ
Trong phần trước, tác giả đã phát thảo các mục tiêu cho quy trình nội bộ, tương ứng với mỗi mục tiêu sẽ là các thước đo cụ thể (Phụ lục 3)
Th ứ ba, phát triển các thước đo cho phương diện học hỏi và phát triển
Sau khi phát thảo về mục tiêu của phương diện học hỏi và phát triển, ta có thể
nhận thấy rằng: nhân viên đóng vai trò trọng tâm trong việc góp phần quan trọng làm nên thành công của các quy trình nội bộ Để đo lường được các mục tiêu này, Robert S Kaplan & David P Norton (1996, trang 181) đã đưa ra những tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra hay thước đo cơ bản để đánh giá nhân viên: (1) Sự hài lòng của nhân viên; (2)
Khả năng giữ chân nhân viên; (3) Năng suất của nhân viên Các yếu tố khác như: năng
lực của nhân viên, cơ sở hạ tầng về công nghệ, môi trường làm việc là các yếu tố tạo
điều kiện cho sự hài lòng của nhân viên.(Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Sơđồ 1.3: Mối quan hệ các thước đo của phương diện học hỏi và phát triển
Trang 35[Nguồn: Robert S,Kaplan, David P.Norton (1996), Thẻ cân bằng điểm, “Biến chiến lược thành hành động”, Sách dịch NXB Trẻ, pp 181]
1.2.2.4 M ối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu và thước đo
Mối quan hệ nhân quả là rất quan trọng trong Bảng điểm cân bằng bởi nó phân
biệt mô hình này với các mô hìnhquản lý khác Một Bản đồ chiến lược cũng như Bảng điểm cân bằng được thiết kế tốt nên mô tả chiến lược của tổ chức thông qua một loạt các các mục tiêu (trong Bản đồ chiến lược) và các thước đo (trong Bảng điểm cân
bằng) đan xen với nhau trên bốn phương diện
Bốn phương diện trên Bản đồ chiến lược và Bảng điểm cân bằng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên lý nhân quả Chúng ta đều biết sứ mệnh của các tổ
chức công chỉ có thể đạt được khi khách hàng hài lòng về các sản phẩm và dịch vụ mà các tổ chức đó cung cấp Tiếp theo, để có thể đạt được mục tiêu về khách hàng thì các quy trình nội bộ quan trọng cần phải được tập trung đẩy mạnh Sau đó, phương diện
học hỏi và phát triển sẽ là nền tảng vững chắc để giúp công ty có những hành động
nhằm đẩy mạnh các quy trình nội bộ và làm hài lòng khách hàng Cuối cùng, như chúng ta biết, không có tổ chức nào có thể hoạt động thành công và đáp ứng yêu cầu
của khách hàng mà không có nguồn lực tài chính Nếu tổ chức có nguồn lực tài chính
vững mạnh sẽ đầu tư để đào tạo nâng cao các kỹ năng cho nhân viên, đẩy mạnh các quy trình nội bộ thì sẽ đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng và cuối cùng là đạt được sứ mệnh của tổ chức
Kết quả
Năng suất nhân viên
Giữ lại nhân viên
Sự hài lòng nhân viên
Khả năng nhân viên Hạ tầng kỹ thuật Môi trường hoạt động
Trang 36Tương ứng với các mục tiêu là các thước đo cụ thểtrên từng phương diện Tuy nhiên, các thước đo này không phải hoàn toàn độc lập mà chúng cũng phải có mối quan hệ nhân quả với nhau Sự liên kết giữa các thước đo trong Bảng điểm cân bằng được xây
dựng bằng một loạt các mệnh đề “nếu – thì”: “Nếu chúng tôi tăng doanh thu thì chúng tôi
s ẽ có các nguồn lực để thu hút và đào tạo nhân tài Nếu chúng tôi có được nhân tài thì chúng tôi s ẽ có thể phát triển và thúc đẩy các dịch vụ đa dạng Nếu chúng tôi phát triển và thúc đẩy các dịch vụ đa dạng hơn thì chúng tôi sẽ làm hài lòng được nhiều khách hàng
Và cu ối cùng, nếu chúng ta làm hài lòng khách hàng thì chúng ta mới có thể đạt được sứ
m ệnh của mình” (Paul R Niven , 2008, trang 38)
Sơ đồ 1.4 thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu và thước đo của Bản
đồ chiến lược vàBảng điểm cân bằng
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu và thước đo
Tóm lại, Bản đồ chiến lược với
các mục tiêu và Bảng điểm cân bằng
với các thước đo được sử dụng để kể
câu chuyện chiến lược của tổ chức bằng
cách tận dụng khái niệm nhân quả
nhằm minh họa mối quan hệ giữa các
mục tiêu và thước đo trong cả bốn
phương diện Việc thiết lập nhân quả
phức tạp không phải là điều kiện tiên
quyết để đạt được nhiều lợi ích mà này
mang lại (Paul R Niven, 2006)
1.3 M ột số ngân hàng vận dụng thành công Bảng điểm cân bằng và bài học kinh nghi ệm
Robert S Kaplan & David P Norton (1996) đã nghiên cứu nhiều tổ chức ứng
dụng Bàng điểm cân bằng trong đó có không ít các ngân hàng Một trong những ngân hàng được Robert S Kaplan & David P Norton nghiên cứu là Metro Bank Metro
Trang 37Bank là một bộ phận ngân hàng bán lẻ của một ngân hàng lớn với 8.000 nhân viên, họ
có 30% thị phần của tài khoản tiền gửi chủ yếu trong khu vực và tổng số thu nhập vào khoảng 1 tỷ đô la Tổng giám đốc đã thực thi Bảng điểm cân bằng từ năm 1993 để truyền đạt và củng cố một chiến lược mới đôi với ngân hàng bán lẻ vừa được sáp nhập Chiến lược này chuyển đổi trọng tâm và sức mạnh hiện thời của ngân hàng, từ các dịch
vụ định hướng giao dịch sang cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính toàn diện cho các phân khúc khách hàng mục tiêu (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996,
trang 72)
Khi Metro Bank đối mặt với hai vấn đề: (1) sự phụ thuộc quá mức vào một sản
phẩm (các hình thức tiền gửi) và (2) một cơ cấu chi phí khiến ngân hàng này không thu được lợi nhuận khi phục vụ 80% khách hàng của mình ở các tỷ lệ lãi suất phổ biến Metro bank đã thực hiện một chiến lược gồm hai hướng để giải quyết vấn đề này:
- Chiến lược tăng doanh thu: Giảm mức độ biến động về doanh thu bằng cách
mở rộng nguồn thu với các sản phẩm bổ sung giành cho các khách hàng hiện tại
- Chiến lược năng suất: cải thiện hiệu quả hoạt động bằng cách chuyển các đối tượng khách hàng không mang lại lợi nhuận sang kênh phân phối ít tốn kém hơn (chẳng hạn như ngân hàng điện tử)
Quá trình phát triển Bảng cân bằng điểm tại Metro Bank đã chuyển tải hai chiến lược trở thành các mục tiêu và thước đo trong bốn khía cạnh (Phụ lục 4) Về mặt chiến lược, Metro tập trung vào khối khách hàng sẵn có, nhận diện những khách hàng có khả năng sử dụng gói dịch vụ rộng hơn, sau đó bán một tập hợp mở rộng các sản phẩm và
dịch vụ tài chính cho nhóm khách hàng mục tiêu Tuy nhiên, khách hàng chỉ nhìn ngân hàng như nơi giao dịch và gửi tiền.Vì vậy Metro hướng họ đến cách nhìn ngân hàng
như một nhà tư vấn tài chính Sau khi xác định mục tiêu tài chính là mở rộng tập hợp
các ngu ồn doanh thu, và xác định tập giá trị khách hàng, mục tiêu khách hàng được
thiết lập là tăng cường củng cố niềm tin của khách hàng đối với tư vấn tài chính, sau
đó quy trình nội bộ cần phải được thực hiện thành công đó là (1) hiểu rõ khách hàng; (2) phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, và (3) bán chéo các loại hình sản phẩm và
Trang 38dịch vụ đa dạng Các nhân viên bán hàng đảm trách nhiều hơn vai trò của nhà tư vấn tài chính
Hai thước đo của quy trình này được đưa vào Bảng cân bằng điểm đó là: Tỷ lệ bán chéo – số lượng sản phẩm trung bình bán ra được cho một hộ gia đình- cho phép đánh giá hiệu quả bán hàng Thước đo thứ hai, số giờ dành cho khách hàng, được đưa vào để nhắc nhở các nhân sự bán hàng về văn hóa làm việc mới mà chiến lược yêu
cầu.Số giờ dành cho khách hàng là một chỉ số dẫn đầu cho thành công của chiến lược này
Các mục tiêu nội bộ cuối cùng cũng dẫn đến một tập hợp các yếu tố liên quan đến cải thiện hiệu quả làm việc của nhân viên Phương diện học hỏi và phát triển chỉ ra các điểm cần thiết sau: (1) các nhân viên bán hàng phải có được một tập hợp kỹ năng
rộng hơn (để trở thành nhà tư vấn tài chính hiểu biết rộng hơn về dòng sản phẩm), (2)
cải thiện khả năng tiếp cận thông tin (các file thông tin tổng hợp về khách hàng), và (3) tái cấu trúc lại hệ thống khen thưởng để động viên phong cách làm việc mới Các chỉ
số theo sau bao gồm: thước đo về năng suất, doanh số bán bình quân trên đầu nhân viên bán hàng, thái độ làm việc của đội ngũ nhân viên như thu được từ một cuộc thăm
dò mức độ hài lòng nhân viên Các chỉ số dẫn đầu tập trung vào những thay đổi chủ
yếu cần được thực hiện trong đội ngũ lao động: (1) nâng cấp mặt bằng kỹ năng và đánh giá sát hạch nhân sự - tỷ lệ hoàn thành công việc chiến lược, (2) khả năng tiếp cận các công cụ công nghệ thông tin và dữ liệu – tỷ lệ cung cấp thông tin chiến lược, và (3) tái liên kết các mục tiêu các nhân với hình thức khen thưởng để phản ánh được các ưu tiên
mới – sự liên kết với mục tiêu cá nhân
Thước đo hiệu quả nhất mà Kaplan và Norton đã tìm ra để dành cho các năng
lực chiến lược được bắt nguồn từ ba câu hỏi sau: (1) Những năng lực cần phải có là gì? (2) Những gì hiện đã có sẵn? và (3) Có những khoảng trống nào, những khoảng trống này lớn tới đâu? Thước đo tỷ lệ hoàn thành công việc chiến lược chỉ ra những thiếu hụt chiến lược Trên thực tế có rất ít tổ chức có thể đưa ra câu trả lời cho ba câu hỏi được
Trang 39đặt ra ở trên Định nghĩa này khiến các công ty phải thiết kế lại cấu trúc cơ sở của quy trình phát triển đội ngũ nhân viên của họ
Mối quan hệ nhân quả (Phụ lục 5) giữa các thước đo của Bảng điểm cân bằng
với các sáng kiến chiến lược được xúc tiến để xóa bỏ khoảng trống về khả năng hoàn thành công việc chiến lược Nếu không nhờ xây dựng Bảng điểm cân bằng và các hệ
thống hợp lý do nó tạo ra, thì những tổ chức này chắc hẳn đã không giải quyết vấn đề
yếu kém của đội ngũ nhân viên một cách khẩn trương và với ý thức khẩn cấp như vậy
Bảng tóm tắt các mục tiêu và thước đo dành cho Bảng điểm cân bằng của Metro Bank (Phụ lục 6) cho thấy sự kết hợp giữa các chỉ số theo sau và chỉ số dẫn đầu Các thước đo tài chính và khách hàng chứa đựng rất ít các chỉ số dẫn đầu; phần lớn chỉ số
dẫn đầu hay chỉ số về nhân tố thúc đẩy đều xuất hiện trong các thước đo dành cho quy trình kinh doanh nội bộ và học hỏi phát triển Tất cả các mối quan hệ nhân quả, tích
hợp chỉ số theo sau và chỉ số dẫn đầu đều hướng tới việc cải thiên hiệu quả hoạt động
tài chính trong tương lai (Robert S Kaplan & David P Norton, 1996)
Thông qua thực tế áp dụng Bảng điểm cân bằng vào thực hiện chiến lược của Metro bank, tác giả nhận thấy những thành công nhất định của Metro bank như sau:
- S ự cam kết và hiểu biết Bảng điểm cân bằng (BSC) của lãnh đạo, chiến lược
của Metro bank buộc các nhân viên của mình phải thực hiện theo đúng yêu cầu Người
quản lý của Metro bank hiểu rõ được tầm quan trọng của việc vận dụng BSC nhằm đạt được chiến lược Hiểu rõ BSC người quản lý mới có thể thúc đẩy dự án đi đến được kết
quả cuối cùng
- B ắt đầu từ chiến lược kinh doanh: Việc lựa chọn các mục tiêu và thước đo
cho từng phương diện được gắn kết với chiến lược kinh doanh Các mục tiêu trong các phương diện gắn kết trong mối quan hệ nhân quả
- T ập trung: Metro sử dụng ít các mục tiêu và chỉ tiêu đo lường, tuy nhiên lại
mang đến hiệu quả trong việc đo lường đánh giá thành quả hoạt động Metro xây dựng
mục tiêu tập trung vào giải quyết vấn đề nhằm thực hiện chiến lược
Trang 40- Xác định được năng lực chiến lược (năng lực cốt lõi) tạo nên thành công của chi ến lược: Metro bank đã xác định được năng lực cốt lõi tạo nên thành công của chiến
lược mình để từ đó đạt được mục tiêu chiến lược Metro cũng đã xác định và trả lời được 3 câu hỏi để đạt được năng lực cốt lõi đó và đạt được chiến lược đã đề ra
Đây là những điểm mà theo tác giả ngân hàng tại Việt Nam nên áp dụng khi triển khai Bảng điểm cân bằng trong việc đạt được chiến lược đã đề ra
Sau đó tác giả giới thiệu tổng quan về khái niệm và vai trò của Bảng điểm cân
bằng trong việc đánh giá thành quả hoạt động tại các đơn vị kinh doanh Trong mô hình Bảng điểm cân bằng tác giả đi nghiên cứu khái niệm về sứ mệnh, tầm nhìn chiến lược để xây dựng được bản đồ chiến lược áp dụng tại các đơn vị kinh doanh Và từ Bản
đồ chiến lược tác giả xây dựng các thước đo trong mô hình Bảng điểm cân bằng tại các đơn vị kinh doanh
Cuối cùng, là một vài kinh nghiệm từ việc vận dụng Bảng điểm cân bằng để đo lường thành quả hoạt động tại ngân hàng trên thế giới