Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam – Pháp trong thời kỳ này được coi là một trong những vấn đề lịch sử quan trọng, góp phần làm sáng tỏ lịch sử triều Nguyễn nói ri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
5 Những đóng góp của luận văn 13
6 Cấu trúc của luận văn 14
B NỘI DUNG 16
Chương 1 QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883) 16
1.1 Vài nét về quan hệ Việt Nam và Trung Quốc từ thời Gia Long đến Thiệu Trị 16
1.2 Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1848 đến 1858 27
1.3 Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1858 đến 1883Error! Bookmark
not defined
1.3.1 Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.3.2 Triều đình Huế cầu viện Mãn Thanh chống thực dân PhápError! Bookmark
not defined
1.3.3 Triều Nguyễn yêu cầu Mãn Thanh giúp đỡ tiễu trừ giặc phỉ nước Thanh
Error! Bookmark not defined
Chương 2 QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ PHÁP DƯỚI THỜI
TỰ ĐỨC (1848 – 1883) Error! Bookmark not defined
2.1 Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ đầu thế kỷ XIX đến 1848 Error!
Bookmark not defined
2.2 Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ 1848 đến 1858Error! Bookmark not defined
2.3 Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ 1858 đến 1883Error! Bookmark not defined
Chương 3 VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN HỆ TRUNG - PHÁPError! Bookmark not defined
3.1 Thực dân Pháp từng bước hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt
Trang 43.2 Phản ứng của nhà Thanh trước cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
Error! Bookmark not defined 3.3 Trung – Pháp phân chia Việt Nam Error! Bookmark not defined
C KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
E PHẦN PHỤ LỤC
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Việt Nam, triều Nguyễn tồn tại tuy không dài (1802-1945) nhưng lại có vị trí hết sức đặc biệt Đây là triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, là triều đại gắn liền với thời kỳ có những chuyển biến lớn lao trong lịch sử dân tộc
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu triều Nguyễn đã thu hút đông đảo học giả trong và ngoài nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề chính trị, kinh tế- xã hội, tôn giáo- tín ngưỡng, các chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại dưới triều Nguyễn cũng như vai trò của triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt dưới thời vua Tự Đức trị vì (1848-1883)
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam – Pháp trong thời kỳ này được coi là một trong những vấn đề lịch sử quan trọng, góp phần làm sáng tỏ lịch sử triều Nguyễn nói riêng và lịch sử cận đại Việt Nam nói chung
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới triều Tự Đức (1848-1883)
là một trong những thời kỳ tiêu biểu nhất của lịch sử quan hệ Việt –Trung
Dưới triều Tự Đức, quan hệ Việt- Trung không chỉ thể hiện những nét đặc
trưng cơ bản nhất của mối quan hệ truyền thống giữa hai nhà nước phong kiến, mà còn chứng tỏ tính chất phức tạp của mối quan hệ truyền thống này trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, với tất cả sự biến chuyển của nó được thể hiện rõ nét trên các mặt chính trị, ngoại giao và quân sự
Từ sự phân tích những thay đổi trong mối quan hệ giữa Việt Nam và
Trung Quốc từ năm 1848 đến năm 1883, chúng ta cũng thấy rằng, việc thay
Trang 6đổi trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn và triều Thanh là xuất phát
từ chính tình hình nội trị phức tạp của hai bên trong bối cảnh lịch sử mới, và thực chất đó chính là một con đường để giải quyết những khó khăn của mỗi nước
Trong khi đó quan hệ Việt – Pháp lại có những nét phức tạp riêng thể hiện đường lối đối ngoại “khép kín”, mang tính chất “bài trừ phương Tây” của triều Nguyễn Đây có thể nói là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc xâm lựơc của thực dân Pháp với Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX, và cũng là một trong những nguyên nhân khiến triều Nguyễn không giữ được chủ quyền dân tộc
Với tất cả ý nghĩa trên, việc tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Pháp dưới triều Tự Đức (1848-1883) là một việc làm cần thiết trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có thể nói chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như Việt Nam - Pháp trong thế kỷ XIX, đặc biệt là ở giai đoạn nửa cuối thế
kỷ
Trong một số sách lịch sử cận đại Việt Nam như: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (Nxb Tân Việt, 1951), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
(Từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX ) (Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương
Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Tập III, Nxb Giáo Dục, H, 1965), Việt Nam
thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh (Lửa thiêng, 1970), Việt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang (Tủ sách sử học, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn
hoá, 1971), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884) (Nguyễn Phan Quang, Nxb
Trang 7Thành phố Hồ Chí Minh, 1999)… quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, và Việt Nam - Pháp thế kỷ XIX nói chung và dưới triều Tự Đức nói riêng đều được đề cập đến, nhưng chủ yếu là trình bày một cách tóm lược, khái quát với ý nghĩa đó là một phần trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn Một số sách chuyên khảo về ngoại giao Việt – Trung từ trước tới nay
như Việt Hoa bang giao sử (Xuân Khôi, Huyền Quang, Chấn Hưng văn hoá xuất bản cục,1942), Việt Hoa thông sứ sử lược (Sông Bằng, Quốc học thư xã, 1943) và gần đây là Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước (Nguyễn Lương Bích, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2003) Bên cạnh đó là các bài
nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam của các tác giả: Bửu Cầm, Văn Tân, Văn Phong, Vũ Trường Giang, Đinh Xuân Lâm… Ngoài ra còn khá nhiều công trình, chuyên luận nghiên cứu riêng về triều Nguyễn Tất cả các tác giả đều đã
ít nhiều quan tâm đến vấn đề quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIX, song hầu như cũng chỉ dừng lại ở việc trình bày những biểu hiện cụ thể của mối bang giao truyền thống giữa triều Nguyễn và triều Thanh thông qua các việc đi sứ, tiếp sứ và chủ yếu cũng chỉ quan tâm đến mối quan hệ này ở nửa đầu thế kỷ
Trong số các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc,
và Việt Nam – Pháp, có một số công trình đáng chú ý sau
Một tác phẩm rất đáng chú ý của học giả người Nhật Yoshiharu Tsuboi
khi nghiên cứu về thời Tự Đức là cuốn Nước Đại Nam đối diện với Pháp và
Trung-Hoa (1847-1885) ( Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1993) Nội dung
chính của tác phẩm là trình bày và phân tích cụ thể diễn biến bên trong của xã hội Việt Nam khi phải “đối diện” với cuộc tấn công xâm lược của thực dân Pháp và sức ép của Mãn Thanh Một loạt vấn đề được đề cập tới theo lát cắt thời gian và không gian: Việt Nam trước khi Tự Đức lên ngôi với những mối
Trang 8nước trên tất cả các mặt, âm mưu xâm lược Việt Nam của Pháp với chiến lược “ngoại giao pháo hạm” được thực hiện qua các giáo sĩ thừa sai, các thương nhân, các nhà ngoại giao Pháp….Đặc biệt tác giả đã dành một phần đáng kể trình bày và phân tích về mối quan hệ giữa triều Nguyễn, mà chủ yếu
là dưới thời Tự Đức với nhà Thanh trên các vấn đề như : quan hệ giữa hai
nhà nước với việc trình bày quan điểm của cả Việt Nam, Trung Quốc và các
quan hệ chính thức (bang giao sứ), rồi vấn đề về thương mại giữa hai nước,
và cuối cùng là vấn đề người Hoa sống ngoài vòng pháp luật với các loại hải
tặc, thổ phỉ người Thanh…Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, trong mối quan hệ Việt – Trung – Pháp Một trong những điểm nổi bật là tác giả đã có điều kiện khai thác rất nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đặc biệt là tư liệu trong các lưu trữ của Pháp, nhưng tác giả lại chưa sử dụng một cách hiệu quả triệt để các tư liệu gốc của Việt Nam và Trung Quốc, từ đó đưa ra một số kết luận đáng để cho chúng ta phải xem xét lại Song đây vẫn là một cuốn sách thực sự có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá
Một tác phẩm khác của nữ sử gia G.F.Murasheva (thuộc Liên Xô cũ) là
Quan hệ Việt –Trung thế kỷ XVII-XIX (Bản dịch tiếng Việt, tư liệu khoa Lịch
sử) Nội dung được tác giả kiến giải chủ yếu là trong mối quan hệ với Trung
Quốc, Việt Nam độc lập hay phụ thuộc? Từ chỗ phân tích bản chất của chế độ triều cống và phân ban được coi là quy tắc của quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ phong kiến, tác giả muốn chứng minh tính chất xen nhau giữa hai yếu
tố nửa độc lập, nửa phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc Tác giả đã dành ra chương cuối (chương 3) nói về mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc
trong nửa đầu thế kỷ XIX (trước khi thực dân Pháp xâm lược), “nó còn giữ
được những dấu hiệu lệ thuộc cổ truyền nhưng dấu hiệu đó có tính chất hình thức nhiều hơn các thời kỳ trước kia” [13;15]
Trang 9Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây dưới triều Nguyễn (1802 –1858) (Trần Nam Tiến, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) là
một trong những công trình phân tích khá toàn diện về mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây, trong đó có Pháp Song công trình chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây ở nửa đầu thế
kỷ XIX, hơn nữa quan hệ Việt Nam với Pháp chỉ là một khía cạnh nhỏ được
đề cập đến, vì vậy mối quan hệ Việt – Pháp dưới thời Tự Đức vẫn chưa được
tác giả làm sáng tỏ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn bước đầu đi vào tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc và Pháp dưới triều Nguyễn, đặc biệt là dưới triều Tự Đức (1848 – 1883) Thời kỳ trị vì của vua Tự Đức là thời kỳ đất nước ta có những biến động to lớn, trực tiếp đối mặt với nguy cơ ngoại xâm của các nước phương Tây Năm 1858, tiếng súng đại bác của thực dân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng là dấu hiệu mở ra một thời kỳ mới của Việt Nam, thời kỳ phải đương đầu với cuộc xâm lược của thực dân Pháp Trong bối cảnh lịch sử đó, mối quan hệ Việt – Trung – Pháp thể hiện những nét đặc thù riêng, mang dấu ấn lịch sử Chính vì vậy luận văn sẽ đi sâu phân tích, đánh giá mối quan hệ Việt – Trung, Việt – Pháp dưới thời Tự Đức
Qua việc thống kê, phân tích, đánh giá, tổng hợp…các nguồn tư liệu lịch
sử phong phú, luận văn cố gắng đưa ra cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc và Pháp Đặc biệt, qua việc đối chiếu, so sánh giữa các tư liệu lịch sử, luận văn sẽ xem xét lại một số đánh giá về chính sách ngoại giao dưới triều Nguyễn của một số học giả, từ
đó mong muốn đưa ra cái nhìn xác đáng hơn
Trang 10Do những hạn chế về mặt tư liệu, nên luận văn chỉ tập trung khai thác mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Trung Quốc và Việt Nam – Pháp ở cấp độ giữa các nhà nước chính quyền mà cụ thể ở đây là triều Nguyễn, triều Thanh và chính phủ Pháp, trên hai lĩnh vực chủ yếu là chính trị, quân sự
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
a Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của các ngành khoa học lịch sử:
Phương pháp lịch sử;
Phương pháp logic;
Phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, thống kê, tổng hợp…
Khi xem xét mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc và Pháp trong thế kỷ XIX, chúng ta cần đặt nó trong bối cảnh lịch sử cũng như trong mối quan hệ với những lĩnh vực khác như sự phát triển về kinh tế, xã hội, tư tưởng…của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn Từ việc phân tích, tổng hợp luận văn cố gắng đưa ra những đánh giá khách quan về bản chất của mối quan
hệ Việt – Trung, Việt – Pháp dưới triều Nguyễn Từ việc đối chiếu, so sánh các sự kiện lịch sử, luận văn sẽ làm sáng tỏ sự thay đổi trong mối quan hệ ngoại giao giữa triều Nguyễn, triều Thanh và thực dân Pháp qua mỗi giai đoạn, từ đó đưa ra những lý giải về sự thay đổi cũng như hệ quả của những thay đổi đó đã tác động như thế nào tới triều Nguyễn
b Nguồn tư liệu
Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu lịch sử phong phú Trước hết
và quan trọng nhất là bộ Đại Nam thực lục chính biên do Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn
Đại Nam thực lục gồm hai phần, phần Tiền biên và Chính biên Đại
Nam thực lục chính biên gồm 38 tập, ghi chép về toàn bộ lịch sử triều Nguyễn
Trang 11từ triều vua Gia Long đến triều vua Đồng Khánh Vì thế qua đây, chúng ta sẽ thấy được một bức tranh toàn cảnh về lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, quân sự, văn hoá…cho nên các khía cạnh trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam và Pháp thế kỷ XIX được phản ánh khá đầy đủ và chi tiết Tất nhiên, đây là một bộ sử chính thống nên các sự kiện được ghi chép đều là các sự kiện xoay quanh và có ảnh hưởng đến hoạt động của triều đình, vì thế nó cũng không thể tránh khỏi những hạn chế
Vào năm 1962, Đại Nam thực lục đã được nhóm dịch giả Đào Duy Anh
biên dịch trong vòng 16 năm Cho đến nay đây vẫn là lần dịch duy nhất đã được các học giả trong và ngoài nước đánh giá rất cao và đặc biệt tin dùng
Do giới hạn về mặt thời gian của đề tài nên chúng tôi sử dụng bộ Đại
Nam thực lục chính biên chủ yếu là các tập ghi chép từ triều Gia Long đến
triều Tự Đức trong đó đặc biệt là 8 tập (từ tập XXVII đến tập XXXV) biên soạn về triều Tự Đức
Bổ sung cho Đại Nam thực lục là bộ Khâm Định Đại Nam hội điển sử lệ
(Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993) có phần chính biên gồm 262 quyển do Nội Các triều Nguyễn khởi biên từ năm 1843 hoàn tất vào năm 1851 Đây là bộ sách ghi chép về các điển lệ, các quy chế của triều đình trên mọi phương diện trong khoảng thời gian từ đầu triều Gia Long đến đầu triều Tự Đức Toàn bộ các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại như nghi thức tiếp sứ, đi sứ,
triều cống, sắc phong…đều được phản ánh trong mục Bang giao ghi chép từ quyển 128 đến quyển 132 Đây là phần bổ sung trực tiếp cho Đại Nam thực
lục khi xem xét về mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc
dưới triều Nguyễn
Trang 12Đại Nam chính biên liệt truyện (Viện sử học, 4 tập, Nxb Thuận Hoá,
Huế 1997) cũng do Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX, ghi chép tương đối đầy đủ về sự tích, công trạng của các công thần, liệt nữ và gia phả nhà Nguyễn trước và sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi Nó sẽ góp phần để chúng
ta tìm hiểu về các quan triều Nguyễn đã từng là sứ thần sang Trung Quốc hay lập công lớn trong việc dẹp giặc
Châu bản triều Tự Đức (1848-1883) (Trung tâm nghiên cứu Quốc học,
Nxb Văn học, H, 2001) và Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (3 tập,
Nxb Khoa học xã hội, H, 1993) tuy là những công trình chọn lọc và lược dịch
về các tấu sớ, chiếu dụ… của vua Tự Đức hay chỉ là giới thiệu về các tập nhật
ký, các bài thơ đi sứ…nhưng nó cũng thật sự cần thiết để chúng ta đối chiếu
với các bộ chính sử của triều Nguyễn Bổ sung cho phần này là tập Tự Đức
ngự chế văn tam tập (2 tập, Uỷ ban dịch thuật, Phủ quốc vụ khanh đặc trách
văn hoá xuất bản, 1971) do Tây Hồ Bùi Tấn Niên biên dịch và chú thích đầy
đủ cả phần chữ Hán và dịch nghĩa các bài dụ, văn tế, cáo phó, biểu, phú, chiếu, sớ…dưới thời Tự Đức cho thấy khá rõ tư tưởng ngoại giao của Tự Đức đối với Trung Hoa và với nước Pháp
Có thể nói, các nguồn sử liệu của Việt Nam rất đa dạng, phong phú không chỉ phản ánh được khá đầy đủ các khía cạnh của mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc dưới triều Nguyễn, mà còn bổ sung cho nhau nhằm so sánh, đối chiếu các sự kiện, để từ đó có thể tìm ra các sự kiện gần với sự thực lịch sử nhất
Tuy không phong phú bằng nguồn sử liệu Việt Nam, nhưng nguồn sử liệu Trung Quốc mà chúng tôi được tiếp cận cũng hết sức quý giá Các nguồn
sử liệu này, không chỉ soi sáng mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ
“phía bên kia” là các quan điểm, chính sách, hoạt động của nhà Thanh mà đây
Trang 13cũng chính là một nguồn tư liệu để chúng ta kiểm tra lại những thông tin trong chính sử triều Nguyễn trên cùng một trục thời gian
Đại Thanh thực lục (Thanh sử) là bộ chính sử ghi chép theo lối biên niên
về toàn bộ lịch sử triều Thanh Trong đó, một phần quan trọng là Những việc
bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thế kỷ XIX, ghi chép từ năm
1802 Gia Khánh thứ 7- triều Thanh (tương đương với Gia Long thứ 1- triều Nguyễn) đến năm 1902 Quang Tự thứ 28- triều Thanh (Thành Thái thứ 14-triều Nguyễn) đã được tổ phiên dịch của Khoa Lịch sử (Trường ĐHKHXH&NV- Hà Nội) biên dịch và chú thích Tư liệu này hiện đang lưu giữ tại phòng tư liệu khoa, gồm có 4 quyển:
-Quyển 1: (Q.1, Ký hiệu LS-TL/ 00031)
-Quyển 2A: (Q.2A, Ký hiệu LS-TL/01492)
-Quyển 2B: (Q.2B, Ký hiệu LS-TL/01493)
-Quyển 3: (Q.3, Ký hiệu LS-TL/003300)
Một bộ tư liệu khác rất quan trọng là tác phẩm Trung- Pháp chiến tranh
(Nguyễn Trọng Hân dịch, Tập IX-XI, Tư liệu Viện thông tin khoa học xã hội), đã cung cấp cho chúng ta những thông tin khá thú vị về một số hoạt động của nhà Thanh đối với Pháp trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam mà
trong Đại Thanh có đề cập tới nhưng không chi tiết
Như vậy, với những nguồn tư liệu trên, trong đó Đại Nam thực lục được
coi là nguồn tư liệu chính, chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ Việt –Trung thế kỷ XIX đặc biệt là dưới triều Tự Đức trên nhiều khía cạnh, từ cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc
Bên cạnh các nguồn sử liệu đó, chúng tôi còn tham khảo nhiều công trình, chuyên luận của các nhà nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này
Trang 14Có thể nói, triều Nguyễn nói riêng và lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX nói chung đã trở thành một trong những vấn đề lịch sử cận đại cuốn hút nhất đối với các nhà sử học trong và ngoài nước Trong đó chính sách ngoại giao của triều Nguyễn là vấn đề hết sức quan trọng Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ cố gắng bước đầu tìm hiểu tới quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Trung Quốc và Việt Nam – Pháp dưới triều Tự Đức từ năm 1848 đến năm 1883, từ đó góp phần để chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về lịch
sử Việt Nam giai đoạn này
5 Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Pháp trong từng giai đoạn từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1883, đặc biệt từ năm
1848 đến 1883, từ đó xác định những biến đổi trong mối quan hệ Việt – Trung, Việt – Pháp qua mỗi thời kỳ
- Phân tích, đánh giá tác động của mối quan hệ Trung – Pháp đối với Việt Nam
- Góp phần làm sáng tỏ chính sách ngoại giao của triều Nguyễn và nguyên nhân triều Nguyễn để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp nửa cuối thế
Trang 156 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương Cấu trúc cụ thể của luận văn như sau:
A PHẦN MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG (gồm 3 chương)
Chương 1: Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời
Tự Đức (1848 – 1883)
Trước hết, luận văn phác họa một vài nét về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc từ thời vua Gia Long đến Thiệu Trị, sau đó tìm hiểu sâu mối quan hệ này dưới thời Tự Đức Luận văn cố gắng thể hiện lại mối quan hệ truyền thống với những thi thức bang giao Thiên triều – Thuộc quốc giữa triều Nguyễn – triều Thanh qua từng thời kỳ Đặc biệt luận văn đi vào phân tích những biến đổi của mối quan hệ truyền thống đó dưới triều Tự Đức, nhất là sau năm 1858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước
ta Kỳ vọng cũng như sai lầm của triều vua Tự Đức trong mối quan hệ ngoại giao với nhà Thanh là gì, mối quan hệ đó tác động như thế nào đến cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của triều đình… sẽ được luận văn làm rõ
Chương 2: Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)
Trong chương này, luận văn sẽ điểm qua một vài nét nổi bật về quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ thời vua Gia Long đến Thiệu Trị Đường lối ngoại giao với Pháp được đặt nền móng từ thời Gia Long, được vua Minh Mạng và Thiệu Trị kế thừa, củng cố sẽ phát triển như thế nào dưới thời Tự Đức Khi
âm mưu thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam trở thành nguy cơ thực sự, triều Nguyễn đã có những chính sách ngoại giao như thế nào với Pháp? Khi thực
Trang 16dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều Nguyễn đã lần lượt ký với Pháp các hiệp ước đầu hàng trong khi cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta vẫn diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi Chính sách ngoại giao thỏa hiệp của triều đình Huế đã phần nào đẩy nhanh quá trình đánh chiếm nước ta của thực dân Pháp
Từ việc phân tích chính sách ngoại giao của triều Nguyễn với Pháp, luận văn góp phần đánh giá về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp
Chương 3: Việt Nam trong mối quan hệ Trung - Pháp
Chương này luận văn sẽ làm rõ mối quan hệ Trung – Pháp đã ảnh hưởng tới Việt Nam như thế nào, những cố gắng của Pháp trong việc hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam, và những phản ứng của nhà Thanh trước cuộc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp Trung Quốc và Pháp đều ra sức tranh quyền ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam Và khi cuộc tranh giành đó bất phân thắng bại thì hai bên đã phân chia Việt Nam mà không cần biết tới phản ứng của Việt Nam là gì Điều này cũng chính là hệ quả tất yếu từ đường lối ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc và Pháp
C KẾT LUẬN
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
E PHỤ LỤC
Trang 17trung phân tích ý nghĩa của việc sắc phong và triều cống giữa triều Nguyễn
và triều Thanh để tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa hai nhà nước phong kiến Việt Nam và Trung Quốc
Chúng ta không phủ nhận rằng ở nửa đầu thế kỷ XIX, trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì một trong những nét quan trọng nhất là
vấn đề sắc phong và triều cống- đặc trưng căn bản của quan hệ ngoại giao
Việt –Trung trong lịch sử phong kiến Đề cập đến đặc trưng căn bản này, các
nhà nghiên cứu đều tập trung vào một số điểm:
- Lý giải nguyên nhân vì sao các triều đại phong kiến Việt Nam thường xuyên phải xin cầu phong và chịu triều cống đối với Trung Hoa Việt Nam là một nước nhỏ, ở cạnh Trung Quốc lớn hơn nhiều lần và là một đế chế luôn nuôi ý đồ thôn tính Việt Nam Để tồn tại độc lập và sống hoà mục, các triều đại Việt Nam đều phải chịu “thần phục” Trung Hoa Điều này, Phan Huy Chú cũng đã từng viết ở thế kỷ XIX: “Nước Việt ta cõi đất ở phương Nam mà
Trang 18thông hiếu với Trung Quốc, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng
ở trong thì xưng đế mà đối ngoại thì xưng vương vẫn chịu phong hiệu, xét lý thực phải như thế”[7; 135] Mặt khác, các triều đại phong kiến Việt Nam đặc biệt là từ triều Lê trở đi, hầu hết đều chịu ảnh hưởng sâu sắc học thuyết Khổng Mạnh, với hệ tư tưởng cốt lõi là Thiên mệnh, trong đó Thiên tử thay trời trị dân, thống trị các nước chư hầu và thuộc quốc, cho nên các triều đại Việt Nam đều coi Trung Quốc là Thiên triều
- Xin phong vương và triều cống Trung Hoa là một dạng quan hệ đặc biệt giữa nước nhỏ với nước lớn Việc được Trung Quốc sắc phong có ý nghĩa khẳng định tính chính thống của một ông vua, hay một triều đại mới được thiết lập Đồng thời nó còn khẳng định sự hợp pháp của triều đại đó đối với Thiên triều, Thiên triều có nghĩa vụ bảo vệ an ninh, toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia được phong vương, không thể vô cớ tự đem quân sang xâm chiếm
- Nhận Trung Quốc là Thiên triều và chịu sự thần phục, nhưng điều đó chỉ trên danh nghĩa, còn thực tế, các triều đại Việt Nam đều giữ vững quyền
tự trị độc lập của mình
- Đây là sự thể hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo,“lấy nhu thắng cương”của Việt Nam mà triều đại phong kiến nào cũng áp dụng trong ứng xử với Trung Quốc
Đến đầu thế kỷ XIX, trong mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, có thể nói những biểu hiện trên vẫn còn nguyên giá trị của nó
Trong Hội điển của triều Nguyễn đã quy định rất chặt chẽ, cụ thể những
nghi thức trong quan hệ bang giao với nhà Thanh Cho đến trước năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua Nguyễn đều thực hiện rất đầy đủ các nghi thức trong việc xin phong và triều cống các triều đình phong kiến Trung Hoa
Trang 19Dưới triều Nguyễn, mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc vẫn được thực hiện chủ yếu thông qua các đoàn sứ bộ Ghi chép trong chính sử triều Nguyễn cho biết các đoàn sứ bộ dưới ba triều vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị diễn ra như sau:
Bảng 1: Các đoàn Sứ bộ được cử sang Trung Hoa từ năm 1802 đến 1847
Năm Sứ bộ Mục đích đi sứ
Nhâm Tuất
(1802)
Chánh sứ: Trịnh Hoài Đức Phó sứ: Ngô Nhâm Tĩnh Huỳnh Ngọc Uẩn
Mang dấu ấn vàng và sắc phong
mà nhà Thanh phong cho triều Tây Sơn sang trả Báo tin Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn lập triều đại mới
Giao nộp cho nhà Thanh 3 tên cướp biển người Tàu [48; 495]
Chánh sứ: Lê Quang Định Phó sứ: Lê Chánh Lộ Nguyễn Gia Cát
Xin phong vương cho vua Gia Long và xin đổi tên nước ta thành Nam Việt Vua nhà Thanh chuẩn cho tên nước là Việt Nam
[78; 306]
Giáp Tý
(1804)
Chánh sứ: Lê Bán Khâm Phó sứ: Trần Minh Nghĩa Nguyễn Đăng Đệ
Tạ ơn việc nhà Thanh cử Tề Bố Sâm sang phong vương cho vua Gia Long [78; 306]
Kỷ Tỵ
(1809)
Chánh sứ: Nguyễn HữuThiện Phó sứ: Ngô Vị
Lê Đắc Tần
Tuế cống theo lệ[48; 748]
Chánh sứ: Vũ Trịnh Phó sứ: Nguyễn Đình Chất Nguyễn Văn Thinh
Mừng lễ ngũ Tuần Đại khánh của vua Gia Khánh [78; 307]