LỜI CAM ĐOAN Luận văn thạc sỹ Tâm lý học: “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.. Ngoài công việc tham vấn tâm lý tại
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Thị Minh Hằng, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh trường THPT Hàn Thuyên, trường THPT Tiên Du 1 đã tạo điều kiện và nhiệt tình đóng góp ý kiến cho đề tài
Cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài khoa Tâm lý học đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
Học viên Đào Lan Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ Tâm lý học: “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả số liệu được trích dẫn
trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Đào Lan Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Khách thể nghiên cứu 8
6 Giả thuyết nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 9
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 10
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại nước ngoài 10
1.1.2.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại Việt Nam 13
1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 16
1.2.1.Khái niệm “Nhu cầu” 16
1.2.1.1.Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu 16
1.2.1.2.Định nghĩa “Nhu cầu” 22
1.2.1.3.Đặc điểm của nhu cầu 24
1.2.1.4.Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức 26
1.2.2 Khái niệm “Tâm lý học đường” 26
1.2.3 Khái niệm “ Trợ giúp tâm lý học đường” 27
1.2.3.1 Định nghĩa “Trợ giúp tâm lý học đường” 27
1.2.3.2 Nội dung của hoạt dộng trợ giúp TLHĐ 27
1.2.3.3.Yêu cầu đối với nhà TLHĐ 29
1.2.4 Khái niệm “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường” 30
Trang 51.2.5.1 Khái niệm “học sinh THPT” 31
1.2.5.2 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT 31
1.2.5.3 Những khó khăn tâm lý học sinh THPT thường gặp phải 34
1.3 Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh THPT 36
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 38
2.1 Tổ chức nghiên cứu 38
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 38
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 40
2.1.3 Quá trình nghiên cứu và những khó khăn thuận lợi trong quá trình nghiên cứu 41
2.2.Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 42
2.2.2.Phương pháp quan sát 43
2.2.3.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44
2.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu 45
2.2.5.Phương pháp thống kê toán học 47
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 48
3.1.Thực trạng những KKTL mà học sinh THPT Bắc Ninh gặp phải trong cuộc sống 48
3.1.1.Thực trạng những KKTL của học sinh 48
3.1.1.1 Nhóm khó khăn trong học tập 50
3.1.1.2 Nhóm khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai 53
3.1.1.3 Nhóm khó khăn từ phía bản thân 57
3.1.1.4 Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ 60
3.1.2.Các phương thức giải quyết KKTL của học sinh 71
3.2.Nhận thức của học sinh Bắc Ninh về hoạt động trợ giúp TLHĐ 75 3.3.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh 82
Trang 63.3.1 Nhu cầu của khách thể đối với các hoạt động trợ giúp TLHĐ
nói chung 83
3.3.2.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh đã sử dụng dịch vụ 87
3.3.3.Xu hướng tìm đến sự trợ giúp TLHĐ trong tương lai 89
3.3.4.Nhu cầu của học sinh về nội dung trợ giúp TLHĐ 94
3.3.5.Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp TLHĐ 105
3.3.6.Nhu cầu của học sinh về thời gian địa điểm trợ giúp tâm lý 114
3.3.7.Mong đợi của học sinh đối với các chuyên gia tâm lý 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120
Danh mục tài liệu tham khảo 123
Phiếu điều tra 127
Câu hỏi phỏng vấn sâu 135
Phụ lục 137
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh biến đổi xã hội hơn hai thập kỷ qua cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay nhà trường và gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức Từ các vấn đề như rối nhiễu cảm xúc (lo âu, trầm cảm, tức giận…) đến rối nhiễu hành vi (chống đối
xã hội, bạo lực học đường…) cho đến lạm dụng game online, nghiện rượu,
ma tuý, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự tử… đều cần các giải pháp phòng ngừa về mặt lâu dài hoặc can thiệp giúp đỡ khẩn cấp Thực tế các nước trên thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy tâm lý học đường đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề nói trên Ngoài công việc tham vấn tâm lý tại các thành phố lớn ở Việt Nam
mà các cá nhân và tổ chức đang làm, tâm lý học đường có thể tham gia công tác sàng lọc đánh giá chẩn đoán tâm lý học sinh gặp khó khăn, dự phòng và phát triển tâm lý học sinh, tham vấn tâm lý, can thiệp, trị liệu cho những học sinh gặp khó khăn về tâm lý, điều phối, phối hợp với các cơ quan tổ chức nhằm thiết kế các chương trình phòng ngừa và can thiệp ở cấp độ trường hoặc rộng hơn…Tất cả các hoạt động này đều trực tiếp đóng góp cho việc xây
dựng chương trình “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ giáo
dục đang phát động và giúp giáo viên, học sinh vượt qua những thách thức và khó khăn mà chúng ta đang phải đối mặt
Học sinh trung học phổ thông gồm đa số các em từ 16 đến 18 tuổi, độ tuổi vị thành niên Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của cuộc đời con người, là bước trung chuyển từ một con người “tí hon” trở thành người lớn trưởng thành, cũng là giai đoạn tuổi dậy thì với những biến đổi về tâm – sinh
lý, thể chất đến mức nhiều người coi đây là giai đoạn “khủng hoảng” đầu đời Giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các điều kiện văn hoá, giáo dục, kinh tế của gia đình, nhà trường và xã hội Bên cạnh đó, áp lực học hành thi
Trang 8cử, việc thích ứng với cuộc sống ngày càng biến động, tiếp thu nhiều nền văn hoá khác nhau khiến nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập, trong việc tìm và định hướng lý tưởng sống cho mình…
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười học chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường dẫn đến tình trạng học lực ngày càng kém Bên cạnh đó, các em học sinh có những lúng túng, khó khăn trong học tập, trong các quan hệ xã hội, khó khăn trong việc giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, vướng mắc trong quan hệ với cha mẹ và khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai…Những điều này có thể khiến các em bị stress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi lệch chuẩn
Chính vì vậy, các em rất cần được tư vấn, trợ giúp về tâm lý nếu không các em sẽ không đủ sức mạnh để vượt qua chính mình và mất phương hướng trong cuộc sống và trong công việc tương lai
Trong khi ở các nước đang phát triển, tại mỗi trường học đều có những phòng tư vấn tâm lý học đường thì ở nước ta, tâm lý học đường vẫn chưa thực
sự trở thành một chuyên ngành được đào tạo bài bản, các phòng tâm lý học đường đã có nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Ngay cả những hình thức trợ giúp này cũng mới chỉ ở hình thức tham vấn, giải đáp những vướng mắc khó khăn của các em thôi chứ chưa thực sự trở thành dịch vụ tâm lý học đường chuyên nghiệp và ngay cả việc thực hiện các phòng tư vấn tâm lý trong trường học cũng gặp rất nhiều khó khăn
Thực tế cho thấy, khi các trường phổ thông tổ chức những buổi về tham vấn, tư vấn tâm lý trực tiếp, những buổi nói chuyện chuyên đề về tâm lý đã thu hút rất nhiều các em học sinh tham gia, điều này chứng tỏ các em cũng rất quan tâm đến vấn đề này và có nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý Tuy nhiên để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh đến đâu nhằm đáp ứng nhu cầu này thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể
Trang 9Rõ ràng, việc thực hiện duy trì các phòng TLHĐ còn gặp rất nhiều khó khăn Và theo quan sát của chúng tôi, ở mỗi một địa phương mỗi vùng miền thì có cách thức tổ chức, trợ giúp khác nhau và nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh trung học phổ thông cũng rất khác nhau
Bắc Ninh là một tỉnh giáp ranh với thành phố Hà Nội Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh đến thủ đô Hà Nội chỉ vẻn vẹn 30km Được coi là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh đang có sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng với hàng loạt các khu công nghiệp bao quanh tỉnh cùng với sự đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn như Samsung, Canon…đã khiến cho bộ mặt kinh tế của Bắc Ninh có nhiều khởi sắc kéo theo đời sống nhân dân được cải thiện và phát triển Khi đời sống vật chất được nâng cao kéo theo những nhu cầu mới về mặt tinh thần cũng như áp lực cuộc sống ngày càng tăng Con người cũng cần có nhu cầu được chia sẻ được giúp đỡ khi có các áp lực về mặt tâm lý, đặc biệt là thế hệ trẻ Bắc Ninh những người đang hàng ngày, hàng giờ chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc sống và chịu ảnh hướng trực tiếp từ sự thay đổi ấy Câu hỏi được đặt ra là, ở một tỉnh nhỏ như Bắc Ninh các em học sinh đã được sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường chưa
và nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của các em như thế nào?
Chính vì những lý do nêu trên mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ
thông Bắc Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh trung học phổ thông Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu đó của học sinh THPT ở Bắc Ninh trong điều kiện hiện nay
3 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
Trang 104 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau:
4.1 Nghiên cứu lý luận:
- Tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ
đó xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của đề tài: Nhu cầu, trợ giúp tâm lý học đường, nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
- Xác định những quan điểm lý luận và phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu thực tế
4.2 Nghiên cứu thực tiễn:
Đánh giá thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông hiện nay ở một số trường học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4.3 Đề xuất kiến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính thiết thực của các phòng tâm lý học đường trong các trường THPT
5 Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu là 366 học sinh lớp 10 và lớp 11 tại hai trường THPT Hàn Thuyên, Thành phố Bắc Ninh và THPT Tiên Du I, huyện Tiên Du, Bắc Ninh
Trong đó:
- 168 em trường THPT Hàn Thuyên
- 198 em trường THPT Tiên Du I
6 Giả thuyết khoa học
- Sự phát triển tâm lý, cùng với những khó khăn, áp lực trong học tập cũng như trong cuộc sống dẫn đến các em học sinh lúng túng, lo lắng, căng thẳng, do đó phần lớn các em đều có nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
Trang 11- Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường
- Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh là khác nhau ở mỗi lứa tuổi, giới tính và địa bàn sinh sống
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.4 Phương pháp quan sát
7.5 Phương pháp thống kê toán học
Trang 12NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài:
Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX
Linghtner Witmer, cha đẻ của ngành Tâm lý học lâm sàng đã mở phòng khám tâm lý đầu tiên vào năm 1896 tại trường đại học Pennsylvania Phòng khám của Witmer đã cung cấp các dịch vụ bao gồm giáo giục và can thiệp lâm sàng Nhân viên phòng khám đã điều trị cho các trẻ em có khó khăn tâm
lý trong học tập bằng cách điều trị trực tiếp cho những đứa trẻ tại phòng khám
và tư vấn cho các nhà giáo dục tại trường Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp của ngành tâm lý học đường phát triển mạnh ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 từ khi có sự
ra đời của đạo luật phổ cập giáo dục cho trẻ em Những đạo luật này đã dẫn tới hàng loạt trẻ em có các vấn đề về thể chất và tinh thần trong trường học Cùng thời gian đó, những sinh viên cá biệt được giáo dục trong các cơ sở riêng dẫn đến nhu cầu cần các chuyên gia để hỗ trợ cho việc giáo dục này Cũng trong thời gian này, những bài kiểm tra đo lường trong giáo dục được xây dựng mà tiêu biểu là test IQ của Simon – Binet được thử nghiệm ở Pháp Chính Binet được giới tâm lý học tôn vinh là cha để của tâm lý học học đường Test của Binet đã được mang đến Mỹ vào những năm 1900 và được chuẩn hoá vào năm 1916 bởi Lewis Terman của trường đại học Standford, ngày nay đó là thang đo trí thông minh Standford-Binet Vai trò chính của các nhà tâm lý học đường thời đó là thực hiện và dịch chuẩn hoá các trắc nghiệm, tham vấn với giáo viên và phụ huynh học sinh về khó khăn trong học tập, động cơ, hành vi là những vai trò thứ yếu trong nghề nghiệp của họ (Wikipedia, 2009)
Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng dẫn
Trang 13(Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học (Lê Thị Lan Phương,2003)
Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn
nghề Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của
“Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này
Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp
có hệ thống trong trường học Ông cũng thấy được tầm quan trọng của công tác tham vấn cá nhân Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham vấn Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề được thể hiện trong 3 quá trình:
(1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúc đẩy bạn chọn nghề
(2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn khác nhau của công việc
(3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp cần rộng hơn với tham vấn trong trường học Những người này cho rằng những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về ngành nghề mà còn nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về