ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ HƯỜNG NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG
THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG
THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009
Trang 3lêi cam ®oan
Tôi xin cam đoan trong quá trình thực hiện đề tài đã không sao chép, coppy mà do quá trình nghiên cứu, và đề tài này của tôi đã được hội đồng giám khảo duyệt và công nhận
Người cam đoan
Trần Thị Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn chân thành Ban Chủ nhiệm và các thầy cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi tôi học tập tại Khoa Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, người thầy đáng kính đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tới các vị lãnh đạo nơi tôi đang công tác, bạn bè và gia đình đã luôn động viên, tiếp sức cho tôi
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô
và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
Trang PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Phương pháp miêu tả 8
4.1.1 Thủ pháp phân tích nghĩa tố 8
4.1.2 Thủ pháp thống kê 10
4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu 10
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG 11
Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan 13
1.1 Lí thuyết về trường nghĩa 13
1.2 Phân biệt trường nghĩa và trường từ vựng 19
Chương 2: Nghiên cứu nhóm từ biểu thị hoạt động thị
giác của con người trong tiếng Việt
22
2.1 Trường nghĩa biểu thị hoạt động thị giác của con
người trong tiếng Việt
22
2.1.1 Xác lập trường nghĩa miêu tả hoạt động thị giác của
con người trong tiếng Việt
22
2.1.2 Miêu tả trường nghĩa hoạt động thị giác của con
người trong tiếng Việt
25
a Phân tích cấu trúc nghĩa của các nghĩa tố trong trường nghĩa 25
Trang 6b Hiện tượng đồng nghĩa trong trường nghĩa 35 2.2 Trường từ vựng của trường nghĩa hoạt động thị giác
của con người trong tiếng Việt
38
2.2.1 Xác lập trường từ vựng 38 2.2.2 Phân tích các ý nghĩa của nhóm từ biểu thị hoạt
động thị giác của con người trong tiếng Việt
40
2.2.3 Miêu tả trường từ vựng của trường nghĩa 45
Chương 3: So sánh trường từ vựng - ngữ nghĩa biểu thị
hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt và
tiếng Pháp
48
3.1 Số lượng từ thuộc trường nghĩa 48 3.2 Sự tương ứng về từ trong trường nghĩa ở tiếng Việt và
tiếng Pháp
49
3.3 Các nghĩa tố trong trường nghĩa miêu tả các từ chỉ
hoạt động thị giác của con người trong tiếng Pháp
56
3.4 Trường từ vựng của trường nghĩa hoạt động thị giác
của con người trong tiếng Pháp
71
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7hệ này sang thế hệ khác”
Ngôn ngữ vốn tồn tại như một chỉnh thể thống nhất, có quy luật nội tại chặt chẽ, với các tầng bậc đơn vị khác nhau Các đơn vị ấy được tổ chức thống nhất theo một quy luật riêng, theo trình tự từ thấp đến cao Các quy luật nhận thức, tư duy của các dân tộc vốn có những nét tương đồng Tuy nhiên, những suy nghĩ giống nhau của những người nói các ngôn ngữ khác nhau lại được thể hiện dưới các hình thức khác nhau của ngôn từ, của chữ viết
Vốn từ của ngôn ngữ vô cùng lớn, phong phú và đa dạng Người ta không thể nào nghiên cứu một cách thấu đáo toàn bộ hệ thống từ vựng và ngữ nghĩa của nó cùng một lúc Bằng thực tế nghiên cứu, nhiều nhà ngôn ngữ học
đã chỉ ra rằng: cần thiết phải chia nhỏ hệ thống lớn ấy thành những hệ thống con để thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu Thực tế, mọi ngôn ngữ đều có thể phân thành những nhóm từ vựng “có quan hệ gần gũi về một ý nghĩa cụ thể, riêng biệt có ý nghĩa rất lớn, giúp chúng ta vạch ra được những cấu trúc nghĩa
cơ bản, từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu chung về ngữ nghĩa của ngôn ngữ”
Hiện nay, trường từ vựng - ngữ nghĩa đang là một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa như: trường về các bộ phận cơ thể người, các nhóm từ chỉ cảm xúc, chỉ màu sắc, chỉ quan hệ họ hàng, chỉ hiện tượng địa lý, những từ chỉ sự nói năng, suy nghĩ, vận động, những từ gắn
Trang 8liền với xúc giác, khứu giác và các giác tri giác nhờ các giác quan của con người
Một trong những vai trò của ngôn ngữ là dùng để mô tả những gì chúng ta nhận biết được từ thế giới bên ngoài thông qua các giác quan Trong các giác quan, có lẽ thị giác đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng thông tin của thế giới bên ngoài, được hấp thụ vào trong kho tàng kiến thức của mỗi cá nhân Những cơ quan giúp chúng ta tích luỹ thông tin có thể là mắt, mũi, tai, chân tay và dĩ nhiên là khi chúng ta tường thuật lại những thông tin chúng ta có được, những thông tin đó đã trải qua một quá trình lọc của nhận thức và điều đó mang theo tính chủ quan cảm nhận của từng chủ thể riêng biệt Những trải nghiệm mà chúng ta có được đều liên quan đến cơ thể về mặt sinh học Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể nói về những thứ chúng ta nhận thức được, hiểu được Và những thứ mà chúng ta nhận thức được xuất phát từ những trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày
Langacker cho rằng để hình thành nên giá trị khái niệm của nghĩa và ngữ pháp, chúng ta cần quan tâm đến vai trò của những trải nghiệm về không gian và thị giác trong việc hình thành nên những yếu tố khác nhận thức Ông nhấn mạnh vai trò của thị giác vừa mang tính chất bao phủ, nghĩa là sâu rộng,
ở đâu cũng tồn tại, vừa mang tính chất rất quan trọng Hiện tượng bày tỏ việc hiểu hoặc biết nghĩa của một câu hay một sự vật, hiện tượng thông qua thị giác là hiện tượng điển hình Chính điều này cho chúng ta thấy được cách thức mà ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ giữa những cảm nhận về mặt sinh học và quá trình ý niệm hoá tinh thần
Thị giác không chỉ đóng vai trò quan trọng giúp chúng ta định vị trong không gian mà còn giúp chúng ta xác lập những quan điểm cụ thể của từng cá nhân và từ đó đưa ra những nhận xét về sự vật, hiện tượng phản ánh quan điểm của mình Cùng một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, nhưng thông qua lăng kính tri nhận của người nói hoặc viết, chúng ta có thể đưa ra những phát biểu mô tả khác nhau về mặt ngôn ngữ Điều này chứng tỏ ngôn ngữ bị ảnh hưởng lớn bởi cảm nhận tri giác, đặc biệt là cơ quan thị giác của con người
Trang 9Nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con người là một khía cạnh khá thú vị Chúng ta đều biết, trong các giác quan của con người, đôi mắt thường biểu thị nhiều cảm xúc nhất Mọi niềm vui, nỗi buồn, sự tức giận hay lo âu đều thể hiện trong “cửa sổ tâm hồn” ấy Bằng những hiểu biết còn khá khiêm tốn của mình, tôi mong muốn bước đầu có thể khảo sát và nghiên cứu cấu trúc của nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong sự so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Pháp Qua đó nhằm phát hiện ra những điểm giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ trong quá trình biểu thị cảm xúc ở mỗi quốc gia trong cùng một trường nghĩa Điều này có ý nghĩa rất sâu sắc cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực dạy và học ngoại ngữ, dịch thuật Học một ngôn ngữ
là học cả nền văn hoá của dân tộc ấy Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với những biểu hiện văn hoá là vô cùng cần thiết Đề tài nghiên cứu của tôi rất mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cấu trúc nghĩa của nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt Chúng ta có thể thấy từ trong tiếng Việt vốn dĩ đã mang tính khái quát cao, đồng thời vẫn mang tính mềm dẻo, uyển chuyển trong vận dụng
Trên cơ sở tiếng Việt, tiến hành đối chiếu với cấu trúc nghĩa của các từ trong tiếng Pháp; từ đó rút ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm
từ này trong tiếng Pháp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Ở đây, tôi chỉ dừng lại khảo sát và nghiên cứu đặc điểm của các từ chỉ hoạt động của thị giác trong tiếng Việt và tiếng Pháp Các từ tiếng Việt được khảo sát, nghiên cứu và phân tích dựa trên
“Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê Các từ tiếng Pháp được xác định dựa trên cơ sở các từ tiếng Việt dịch chuyển sang và khảo sát, phân tích dựa trên
Từ điển Việt - Pháp (Dictionnaire Vietnamien - franỗais), Từ điển Pháp - Việt (Dictionnaire Franỗais - vietnamien), của Nhà xuất bản Khoa học Hà
Nội, Từ điển Pháp - Pháp - Việt của Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2005,
Trang 10Từ điển Le Petit Larousse, Imprimerie Carteman - Tournai, 1992 Qua việc
nghiên cứu này, chúng ta sẽ một phần nào được sáng tỏ thêm đặc điểm cấu trúc của nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong hai ngôn ngữ
3 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Đề tài “Nghiên cứu nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con
người trong tiếng Việt và tiếng Pháp” nhằm mục đích sau:
Khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị hoạt động của mắt trong tiếng Việt và tiếng Pháp
Rút ra những điểm giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ
Thấy được những đặc trưng về văn hoá của hai dân tộc thông qua việc nghiên cứu nhóm từ vựng - ngữ nghĩa này
Ngoài ra, đề tài còn có một ý nghĩa nhất định cả về mặt lí luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: khảo sát, nghiên cứu và đối chiếu cấu trúc nghĩa của
một nhóm từ trong tiếng Việt và tiếng Pháp, góp phần bổ sung những lí thuyết nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa; đồng thời đem đến một bức tranh ngữ nghĩa với những điểm tương đồng và dị biệt ở hai ngôn ngữ trong cùng một trường nghĩa Việc khảo sát và nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Pháp là tương đối khó khăn vì hai ngôn ngữ hoàn toàn không có quan hệ họ hàng với nhau, thuộc loại hình ngôn ngữ khác nhau; hai nước, hai dân tộc nói hai thứ tiếng này lại ở hai khu vực rất khác nhau, có những đặc điểm văn hoá, lịch sử, phong tục khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ bé trong việc làm sáng tỏ những khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá giữa tiếng Việt và tiếng Pháp, đồng thời bổ sung thêm lí thuyết so sánh đối chiếu các ngôn ngữ
Về mặt thực tiễn: Việc khảo sát cấu trúc nghĩa của nhóm từ biểu thị
hoạt động của mắt trong hai ngôn ngữ giúp cho làm sáng tỏ những đặc trưng
về trường từ vựng - ngữ nghĩa này ở hai dân tộc khác nhau; đồng thời làm sáng tỏ cấu trúc trường nghĩa trong hai ngôn ngữ, từ đó giúp cho việc biên
Trang 11dịch đạt hiệu quả hơn Thực tế, việc dạy và học ngoại ngữ cũng như dịch thuật ở nước ta còn gặp nhiều thiếu sót Sở dĩ là do vốn tri thức từ vựng - ngữ nghĩa về ngoại ngữ hay ngôn ngữ cần chuyển dịch là chưa thực sự đầy đủ, nhiều khi quá trình dịch thuật còn diễn ra một cách khiên cưỡng, chưa phản ánh đúng đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy Vì vậy, việc tìm ra cấu trúc nghĩa của một nhóm từ trong hai ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nghĩa của các từ, sử dụng chúng một cách chính xác hơn, đồng thời giúp cho việc dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia trong cùng một trường nghĩa thuận lợi hơn
Nhìn chung, có thể thấy rằng, động từ trong tiếng Việt quả thật là một loại từ gói ghém trong nó và kéo theo nó khá nhiều vấn đề có liên quan tới cả mặt lí luận lẫn thực tiễn của ngôn ngữ học nói chung, của Việt ngữ học nói riêng Theo tác giả Nguyễn Kim Thản, có lẽ rằng từ “khoảng trời” động từ tiếng Việt, có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng của cả “bầu trời” tiếng Việt không phải là điều quá đáng và nếu nói rằng từ những đặc điểm của tiếng Việt có thể nhìn thấy nhiều đặc điểm của những ngôn ngữ cùng loại hình thì không xa sự thật là bao nhiêu Vì vậy, việc nghiên cứu động từ tiếng Việt vẫn còn là những vấn đề khá phức tạp, cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu Từ đó, chúng ta có thể so sánh đối chiếu với động từ trong các ngôn ngữ khác
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tôi tập trung đi sâu nghiên cứu động từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt
và tiếng Pháp Với hiểu biết còn hạn còn hạn chế của mình, tôi hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu vấn đề này
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp miêu tả
4.1.1 Thủ pháp phân tích nghĩa tố
Thủ pháp pháp phân tích nghĩa tố có vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc nghĩa của trường nghĩa Thủ pháp này giúp chúng ta phân chia nội dung nghĩa của từ thành các nghĩa tố khác nhau Mỗi từ được cấu thành từ một số nghĩa tố nhất định theo những quan hệ xác định nào đó
Trang 12Thủ pháp phân tích nghĩa tố còn cho phép chúng ta có thể miêu tả một số lượng lớn các từ của ngôn ngữ tự nhiên bằng một số lượng hữu hạn các nghĩa tố Bởi vì từ vựng là sự kết hợp của các thành tố ngữ nghĩa, mọi nghĩa đều có thể chia ra thành những yếu tố nghĩa nhỏ nhất không thể chia nhỏ được hơn nữa Người ta cho rằng, có thể miêu tả tất cả các từ của ngôn ngữ bằng một số hữu hạn các nghĩa tố như vậy Những tư tưởng này có cả ở
Mĩ, Pháp, Nga và các nước khác Đối với ngữ vị học của Hjemslev, tất cả cái hiểu biện và cái được biểu hiện của tín hiệu có thể phân tích thành các đơn vị
có tính chất yếu tố tạo thành của chúng Những đơn vị như vậy L.Hjemslev gọi là các cấu hình (figure) Phân tích thành tố ở Mĩ xuất phát từ nhân học ngôn ngữ (linguistic anthropology) Theo cách phân tích này, các đơn vị được phân tích ra thành một chuỗi các đặc trưng ngữ nghĩa (semantic features), hay các thành tố nghĩa (components) Đây chính là một quá trình phân tích nghĩa của từ thành các nét khu biệt tối thiểu, tức là phân tích thành những yếu tố đối
lập với những yếu tố khác GS.TS Nguyễn Thiện Giáp (Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nhà in ĐHQGHN, 2009) đã cho chúng ta thấy được
những quan niệm khác nhau về đặc điểm của nghĩa tố như sau:
i) Nghĩa tố là yếu tố nhỏ nhất của khái niệm, nó có tính chất liên ngữ
ii) Nghĩa tố là yếu tố thu được bằng kinh nghiệm trong khi nghiên cứu một ngôn ngữ riêng biệt Các đơn vị từ vựng chỉ được phân tích đến bước
có thể phân biệt nghĩa vị này với nghĩa vị khác nhờ tối thiểu một yếu tố Nhờ những yếu tố thu được trong thủ thuật phân tích đó mà một đơn vị ngữ nghĩa
cụ thể có thể được miêu tả rõ ràng khác với đơn vị ngữ nghĩa khác Quan niệm này hàm ý rằng, các yếu tố như thế cũng có thể là một tổ hợp các yếu tố
iii) Nghĩa tố là cấu hình ngữ nghĩa có được một cách tiên nghiệm
Nó có giá trị như cái bẩm sinh phổ quát
“Nghĩa tố là bộ phận nhỏ nhất trong thông báo một đơn vị ngôn ngữ”
(GS.TS Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2003)