Sự phát triển nhanh chóng của đội tàu trong nước và dịch vụ xuất khẩu lao động thuyền viên đang đặt ra cho các trường Hàng hải nước ta cơ hội đào tạo đội ngũ thuyền viên.. Tuy vậy, bước
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
TRỊNH THỊ BẠCH TUYẾT
VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN LỰC THUYỀN VIÊN
NGÀNH HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
TRỊNH THỊ BẠCH TUYẾT
VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN LỰC THUYỀN VIÊN
NGÀNH HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN LỰC
HÀ NỘI - 200
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS Lê Văn Lực
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có bờ biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, thềm lục địa rộng gần 1 triệu km2
, gấp 3 lần diện tích đất liền, có nhiều giá trị
và tiềm năng to lớn Hơn nữa, với vị trí gần đường Hàng hải quốc tế, thuận lợi cho các dịch vụ Hàng hải và giao lưu với thị trường thế giới, ngành vận tải biển được nước ta coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã đề ra
“Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó có chiến lược phát
triển vận tải biển, cảng biển, dịch vụ Hàng hải và nguồn nhân lực biển Đây là định hướng có tính quyết định đối với khai thác nguồn lực từ biển, đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước
Trong xu thế đi lên của đất nước và việc gia nhập WTO, ngành Hàng hải Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế Sự phát triển nhanh chóng của đội tàu trong nước và dịch vụ xuất khẩu lao động thuyền viên đang đặt ra cho các trường Hàng hải nước ta cơ hội đào tạo đội ngũ thuyền viên Việc cải tiến chương trình, phát triển đào tạo và huấn luyện thuyền viên được coi là vấn đề cấp thiết, đó cũng là vấn đề tiên quyết góp phần tích cực trong việc phát triển ngành Hàng hải
Tuy vậy, bước đầu hội nhập và thực tiễn mấy năm qua cho thấy: đội ngũ sĩ quan, thuyền viên có tăng lên đủ số lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường nhưng đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết về mặt chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng thực hành, ngoại ngữ khi làm việc trên những con tàu hiện đại hoặc tàu đa quốc tịch…
Sự hạn chế của đội ngũ thuyền viên do nhiều yếu tố, một trong những yếu tố cơ bản là do chất lượng đào tạo thuyền viên còn những khiếm khuyết chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn
Trang 5Do vậy, để nâng cao chất lượng thuyền viên Việt Nam phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế biển, việc nghiên cứu tình hình đào tạo đội ngũ thuyền viên hiện nay để điều chỉnh, bổ sung và nâng cao chất lượng đào tạo các trường Hàng hải nói chung và đào tạo thuyền viên nói riêng là việc hết sức quan trọng và cấp thiết Đặc biệt việc đào tạo để thuyền viên không chỉ kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ chuyên ngành mà còn chú ý giáo dục cho thuyền viên ý thức làm việc, tinh thần trách nhiệm, tác phong công nghiệp, lối sống chan hoà và lòng yêu nghề, coi đi biển là sự nghiệp lâu dài của mình là công việc thường xuyên và mang tính thời sự
Nhận thức từ yêu cầu trên, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề đào tạo nguồn lực thuyền viên ngành Hàng hải ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Triết học đồng thời mong góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Để nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong ngành Hàng hải nói chung, đội ngũ thuyền viên nói riêng, gần đây có nhiều người tập trung nghiên cứu:
- Luận văn thạc sĩ khoa học kỹ thuật “Nghiên cứu đổi mới chương trình
đào tạo trung học Hàng hải Việt Nam” do kỹ sư Phan Văn Tại thực hiện đã
phân tích và đánh giá thực trạng chương trình đào tạo các ngành trung cấp Điều khiển tàu biển, trung cấp Vận hành máy tàu biển; so sánh với yêu cầu tiêu chuẩn của STCW 95 và luật pháp Việt Nam về giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng chương trình đào tạo mới phù hợp với yêu cầu và nhu cầu hiện tại
- Luận văn thạc sĩ khoa học kỹ thuật “Giải pháp nâng cao hiệu quả và
khả năng cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam tới năm 2003” do kĩ sư Phạm Viết Cường thực hiện đã phân tích, thống kê, tổng hợp
và đánh giá thực trạng chất lượng thuyền viên Việt Nam, kinh nghiệm huấn luyện, quản lý, xuất khẩu thuyền viên của các cường quốc về Hàng hải Đồng
Trang 6thời luận văn đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng thuyền viên, xu hướng của thị trường thuyền viên trong những năm tiếp theo
- Luận văn thạc sĩ khoa học triết học “Xu hướng và giải pháp phát triển
nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do
Nguyễn Thị Hồng Vân thực hiện nhằm phân tích những xu hướng và đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH
- Trong những năm trở lại đây đã có một số bài nghiên cứu, trao đổi xung quanh việc đổi mới và phát triển nguồn lực lao động Hàng hải đăng trên các tạp chí Hàng hải, Tạp chí biển Việt Nam, Giao thông vận tải…
+ Tác giả ThS Mai Văn Khang “Phát huy nguồn lực lao động thuyền
viên của ngành Hàng hải Việt Nam” đã nghiên cứu, phân tích yếu tố con
người từ đã tóm tắt một số yêu cầu quan trọng đối với nguồn nhân lực
+ Tác giả ThS Văn Khang “Chiến lược đào tạo thuyền viên cho ngành
Hàng hải Việt Nam” đã đưa ra những đề xuất chung nhằm phát huy nguồn lực
lao động thuyền viên và chiến lược đào tạo, quy hoạch nguồn nhân lực thuyền viên đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế
Các công trình trên đã phân tích nhiều vấn đề sâu sắc trong một số lĩnh vực khác nhau để áp dụng vào thực tiễn Tuy nhiên đề tài này của chúng tôi tập trung nghiên cứu lĩnh vực đào tạo thuyền viên đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế cũng như phát triển kinh tế biển Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Làm rõ vai trò của đào tạo và thực trạng vấn đề đào tạo nguồn lực
thuyền viên ngành Hàng hải ở Việt Nam trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực thuyền viên Việt
Nam trong thời gian tới
Trang 7- Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực thuyền
viên đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Công tác đào tạo nguồn lực thuyền viên - nguồn lực lao động chủ yếu nhất trong ngành Hàng hải Việt Nam
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về việc đào tạo nguồn lực con người
* Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa trên những báo cáo tổng kết thực tiễn và tình hình đào tạo thuyền viên ở các trường, trung tâm đào tạo thuyền viên ở Việt Nam trong thời gian gần đây và tham khảo kinh nghiệm đào tạo thuyền viên của một số nước trên thế giới
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu đã được xác định, luận văn vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật mà chủ yếu là các phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, thống nhất lí luận với thực tiễn…
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ vai trò của việc đào tạo nguồn lực thuyền viên đạt chuẩn quốc tế
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập, hoạch định chiến lược phát triển nguồn lực thuyền viên Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1 Vai trò của việc đào tạo nguồn lực thuyền viên ngành Hàng
hải Việt Nam hiện nay
Chương 2 Thực trạng đào tạo nguồn lực thuyền viên ngành Hàng hải ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn lực thuyền viên ngành Hàng hải ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 1 VAI TRÒ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN LỰC THUYỀN VIÊN
NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Đội ngũ thuyền viên và vai tro ̀ của đội ngũ thuy ền viên đối với ngành Hàng hải Việt Nam
Nguồn lực lao động quan trọng nhất của ngành Hàng hải Việt Nam hiện nay là đội ngũ thuyền viên làm việc trên các tàu biển Đây là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được, nó là động lực chủ yếu tác động trực tiếp nhất đến hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp vận tải biển nói riêng và toàn ngành Hàng hải nói chung
1.1.1 Thuyền viên và quy định hệ thống chức danh thuyền viên
Thuyền bộ là những thuyền viên thuộc định biên của tàu biển, bao gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và các chức danh khác được bố trí làm việc trên tàu biển
Thuyền viên là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đảm nhiệm chức danh trên tàu biển Việt Nam
Thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài được phép làm việc trên tàu biển Việt Nam
- Có đủ tiêu chuẩn sức khỏe, độ tuổi lao động, khả năng chuyên môn và
chứng chỉ chuyên môn theo quy định
- Được bố trí đảm nhận chức danh trên tàu biển
- Có sổ thuyền viên
- Có hộ chiếu thuyền viên để xuất cảnh hoặc nhập cảnh, nếu thuyền viên đã được bố trí làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế [37]
Trang 10Quy định hệ thống chức danh thuyền viên
Căn cứ mức độ trách nhiệm phải thực hiện các chức năng được quy định trong Bộ luật STCW 95 nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của con tàu, sự
an toàn của người và bảo vệ môi trường biển, các chức danh của thuyền viên trên tàu biển Việt Nam được phân thành các nhóm như sau:
- Mức trách nhiệm quản lý: bao gồm các thuyền viên đảm nhiệm các
chức danh thuyền trưởng, đại phó, máy trưởng, máy hai với trách nhiệm như sau
+ Thuyền trưởng là người chỉ huy cao nhất trên tàu
+ Đại phó là một sĩ quan boong có cấp bậc kề sát thuyền trưởng, được quyền thay thế thuyền trưởng chỉ huy con tàu trong các trường hợp thuyền trưởng không còn khả năng đảm nhiệm chức danh của mình
+ Máy trưởng là một sĩ quan máy cao nhất chịu trách nhiệm về sức đẩy
cơ học của con tàu và về vận hành cũng như bảo quản các thiết bị cơ khí và điện của tàu
+ Sĩ quan máy hai là một sĩ quan máy có cấp bậc kề sát máy trưởng, chịu trách nhiệm về sức đẩy cơ học của tàu, về khai thác, bảo dưỡng máy và trang thiết bị điện của con tàu trong trường hợp máy trưởng mất khả năng đảm nhiệm chức danh của mình
- Mức trách nhiệm vận hành bao gồm các thuyền viên đảm nhiệm các
chức danh sĩ quan boong, sĩ quan máy và sĩ quan vô tuyến điện với trách nhiệm như sau:
+ Sĩ quan boong là một sĩ quan có trình độ chuyên môn theo quy định tại các điều khoản của Chương II - Công ước STCW 78/95
+ Sĩ quan là một sĩ quan có trình độ chuyên môn theo quy định tại các điều khoản của Chương III - Công ước STCW 78/95
Trang 11+ Sĩ quan vô tuyến điện là một sĩ quan đã được cấp “giấy chứng nhận khả năng chuyên môn” thích hợp theo các quy tắc vô tuyến của cơ quan có thẩm quyền quy định và các điều khoản của Chương IV - Công ước SCTW 78/95
- Mức trách nhiệm trợ giúp bao gồm các thuyền viên đảm nhiệm
chức danh thủy thủ, thợ máy trực ca
1.1.2 Vai trò của ngành Hàng hải đối với nền kinh tế quốc dân nước ta
Ngành Hàng hải (Vận tải biển) là ngành vận tải rất quan trọng trong hệ thống vận tải của Việt Nam Mục tiêu chủ yếu của vận tải biển là đáp ứng yêu cầu trao đổi hàng hoá bằng đường biển giữa các khu vực trong nước, vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu đồng thời tham gia vào thị trường thuê tàu thế giới
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngành Hàng hải Việt Nam có một vị trí, vai trò hết sức to lớn, thể hiện tầm quan trọng đó trong những khía cạnh sau:
Thứ nhất: Ngành Hàng hải giữ vai trò quan trọng trong giao lưu kinh
tế giữa các vùng trong nước và giữa Việt Nam với nước ngoài Trong giai đoạn vừa qua, gần như toàn bộ hàng hoá xuất nhập khẩu và một phần đáng kể hàng hoá trao đổi giữa các vùng trong nước đã được vận chuyển bằng đường biển
Thứ hai: Ngành Hàng hải đóng góp to lớn vào việc bảo đảm hoạt động
xuất nhập khẩu của Việt Nam Trong điều kiện quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng, hầu hết khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển, thì vai trò của ngành Hàng hải đối với các hoạt động ngoại thương càng được thể hiện một cách rõ rệt
Thứ ba: Ngành Hàng hải góp phần không nhỏ trong cán cân thanh toán
của đất nước thông qua các hoạt động có thu nhập bằng ngoại tệ; đồng thời thông qua số lượng và giá trị hàng hoá vận chuyển, ngành này còn tác động đến cán cân thương mại - bộ phận quan trọng nhất trong cán cân thanh toán
Trang 12của đất nước Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta còn trong tình trạng thiếu vốn đầu tư, thiếu nguồn vật tư, thiết bị và phải nhập khẩu với số lượng lớn
Thứ tư: Ngành Hàng hải còn có vai trò đặc biệt trong an ninh quốc
phòng, bảo đảm an toàn, tìm kiếm cứu nạn, góp phần bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ và
an toàn lãnh hải, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước
1.1.3 Nguồn lực thuyền viên quyết định năng lực hoạt động của ngành Hàng hải Việt Nam
Dưới dạng tổng quát, khái niệm “nguồn lực” được hiểu là toàn bộ các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ có khả năng tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc Nghĩa là, khái niệm nguồn lực có phạm
vi bao quát rộng, nó hàm chứa không chỉ những yếu tố đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cả những yếu tố mới ở dạng sức mạnh tiềm năng; nó không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, phát sinh hoặc nơi có thể cung cấp sức mạnh; nó phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố, đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó
Việc phân loại nguồn lực tuỳ thuộc vào cách xác định các tiêu chí và ở việc xem xét chúng trong các quan hệ xác định Chẳng hạn, theo tiêu chí khái quát, nguồn lực được phân thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; theo quan hệ bên trong - ngoài, và mỗi quốc gia với tư cách là một sự vật, thì
có nguồn lực bên trong (con người, vốn trong nước, cơ sở vật chấ t- kỹ thuật,
tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý ) và nguồn lực bên ngoài (sự trợ giúp của nước ngoài, của các tổ chức quốc tế như vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý ), theo chủ thể - khách thể, thì có nguồn lực chủ quan (con người) và các nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn trong nước và nước ngoài ), theo quan hệ rộng - hẹp, thì những yếu tố tạo
nên một nguồn lực nào đã lại trở thành những nguồn lực của chính nguồn lực
Trang 13đó, thí dụ giáo dục cũng là một nguồn lực góp phần tạo nên nguồn lực con người, hay trí tuệ cũng được coi là một nguồn lực trong nguồn lực con người; theo quan hệ nhân - quả, thì tất cả những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội đều được coi là nguồn lực [32, tr.59-60]
Trong thời đại ngày nay, đối với tất cả các quốc gia, việc huy động, xác định một cách đúng đắn và hiệu quả các nguồn lực đều có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, nó có vai trò quyết định, điều này càng có ý nghĩa hơn khi mà ở nước ta nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp Hơn nữa, các nguồn lực khác đều có thể bị khai thác cạn kiệt chỉ có con người - một nguồn lực gần như vô tận, đặc biệt là tri thức của con người
Nguồn lực lao động quan trọng nhất của ngành Hàng hải Việt Nam hiện nay là đội ngũ thuyền viên làm việc trên các tàu biển Đây là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, nó là động lực chủ yếu tác động trực tiếp nhất đến hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp vận tải biển nói riêng và toàn ngành Hàng hải nói chung Trên thực tế, đội ngũ này so với yêu cầu phát triển trong tương lai còn thiếu hụt lớn và xét về cơ cấu, trong đội ngũ này đang có tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa
Ở nước ta, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường với cơ chế “mở”
theo phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước” thì ngành
Hàng hải cũng được đặc biệt quan tâm, được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế tổng thể của đất nước Trong chiến lược phát triển ngành Hàng hải Việt Nam, Đảng và Nhà nước đang từng bước triển khai thực hiện, trong đó chính sách “phát triển nguồn nhân lực” là vấn đề được quan tâm hàng đầu Điều đó là tất yếu bởi lẽ đội ngũ
sĩ quan, thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam là yếu tố quan trọng và
Trang 14không thể thiếu, nó là động lực chủ yếu tác động đến hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp vận tải biển nói riêng và toàn ngành Hàng hải nói chung Hàng hải là một ngành hoạt động trong môi trường khắc nghiệt - môi trường biển Lịch sử đã chứng kiến rất nhiều tai nạn Hàng hải nghiêm trọng, có thể gọi là những thảm hoạ Biển đã nuốt trôi những con tàu khổng lồ, cuốn theo nhiều sinh mạng, của cải và gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường Để ngăn ngừa những thảm hoạ này, trước hết người ta cho rằng cách tốt nhất phải có tàu và trang thiết bị tốt Do đó, tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã đưa ra những luật lệ, qui định, yêu cầu… đối với tàu và trang thiết bị trên tàu nhằm giúp cho “Hàng hải an toàn hơn, biển cả trong sạch hơn” Tuy nhiên, bản thân mỗi con tàu chỉ là những khối sắt thép vô tri, vô giác, dù có hiện đại nhất thì con người mới chính là “linh hồn” thổi sức sống cho mỗi con tàu, làm cho nó hoạt động được Theo thống kê của các chuyên gia thì khoảng 80% tai nạn Hàng hải là do có sai sót của con người Hầu như (nếu không muốn nói là tất cả) các vụ đâm, va và mắc cạn đều do sai sót của con người Các vụ cháy nổ cũng chủ yếu do thiếu sót của con người gây ra Việc chìm và đắm tàu do thời tiết có thể coi là bất khả kháng, nhưng cũng có thể hạn chế được nếu sử dụng dịch vụ dẫn đường để tránh thời tiết xấu Ngay cả các vụ tai nạn liên quan đến hỏng hóc
cơ khí đôi khi cũng có thể do lỗi bảo dưỡng thiết bị gây nên Quan tâm đến yếu
tố con người trong an toàn Hàng hải, IMO đã có những bộ luật mang tính nhân văn như Công ước Quốc tế về Tiêu chuẩn huấn luyện, cấp giấy chứng nhận và trực ca của thuyền viên (STCW) Một Bộ luật về yếu tố con người (Bộ luật Quản
lý an toàn quốc tế ISM Code) cũng đã được thử nghiệm Ngoài ra, IMO cũng chuẩn hóa chương trình đào tạo cho các trường và các viện Hàng hải theo các chương trình mẫu (model course), được biên soạn bởi các chuyên gia có kinh nghiệm, để cung cấp tài liệu đào tạo thuyền viên, phổ biến những nghiên cứu về Hàng hải
Trang 15Các trường Hàng hải các cấp của các quốc gia trên thế giới có nhiệm vụ đào tạo và huấn luyện cho các sĩ quan, thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển của đội tàu biển quốc gia và phục vụ cho xuất khẩu thuyền viên ra nước ngoài Ngoài ra, các trung tâm huấn luyện thuyền viên của các trường Hàng hải ở các quốc gia còn được giao nhiệm vụ huấn luyện và cấp các chứng chỉ chuyên môn đi biển cho thuyền viên theo công ước của IMO bao gồm: Chứng chỉ an toàn cơ bản; Chứng chỉ nghiệp vụ; Chứng chỉ đặc biệt
Do đó, trách nhiệm của các trường Hàng hải các cấp của mỗi quốc gia hiện nay rất nặng nề Vì chất lượng một con tàu đi biển phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn của đội ngũ sĩ quan, thuyền viên trên tàu, mặt khác, trình
độ chuyên môn của đội ngũ sĩ quan, thuyền viên trên các con tàu vận tải biển lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đào tạo, huấn luyện của các cơ sở đào tạo, huấn luyện Hàng hải Chính vì lẽ đó mà chất lượng đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền viên tại các cơ sở đào tạo, huấn luyện Hàng hải đang được Chính phủ của các quốc gia có ngành Hàng hải nói chung và Việt Nam nói riêng rất quan tâm
1.2 Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển nguồn lực thuyền viên hiện nay
1.2.1 Giáo dục và đào tạo định hướng chiến lược đào tạo cho các cơ sở đào tạo thuyền viên Việt Nam
“Giáo dục - đào tạo” là những hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện và
phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Ngay từ trong xã hội nguyên thuỷ đã xuất hiện nhu cầu truyền cho nhau những hoạt động sống nói chung để chống lại những nguy hiểm do tự nhiên đem lại Quá trình đó ngày càng phát triển và trở thành một hoạt động tất yếu, cơ bản hình thành nên nhân cách con người và được thực hiện một cách có tổ chức, có định hướng
với tư cách là một nền giáo dục xã hội
Trang 16Thời kì hiện nay được coi là bắt đầu kỷ nguyên phát triển mới của loài người Nguồn lực cho thời kì này tuy được đề cập rất nhiều nhưng nguồn lực con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất hiện nay Tất cả các nước khi bước vào thế kỷ XXI đều nhận thức rằng sự phát triển của quốc gia nhờ vào nguồn lực số một là nguồn lực con người, trong đó chất lượng của nguồn lực này được nâng lên không thể bằng con đường nào khác ngoài việc đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo
Theo Từ điển Hán Việt:“Giáo dục là hoạt động có tổ chức nhằm mục
đích đào tạo con người”
Trong quan niệm của Giáo dục học, “giáo dục theo nghĩa rộng là quá
trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có ý thức, có kế hoạch thông qua các hoạt động, các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội của loài người đã tích luỹ được”
“Khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp là công tác giáo dục chuyên biệt
do nhà giáo dục tiến hành, nhằm hình thành hệ thống các phẩm chất nhất định như: đạo đức, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, quan điểm thẩm mỹ, động cơ, thái độ, và những nét tính cách của nhân cách”
Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người lĩnh hội
và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đã thích nghi với cuộc sống và khả năng tiếp nhận sự phân công lao động nhất định, hoàn thành tốt công việc được giao
Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
"Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”;
Trang 17Đầu tư đào tạo phát triển nguồn lực con người được hiểu ở cả ba lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo, nhưng trong đó giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng nhất, đặc biệt là đào tạo trong giai đoạn hiện nay Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm đào tạo được hiểu là:
“Đào tạo, quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người
đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường phải gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn
do việc tự đào tạo của người đã thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật và văn hoá của đất nước Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên môn, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa” [52, tr.735]
1.2.2 Giáo dục và đào tạo góp phần quyết định chất lượng nguồn lực thuyền viên
Giáo dục và đào tạo là hai khái niệm khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau “Giáo dục” theo nghĩa rộng bao hàm cả đào tạo
vì một mục đích chung là bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực và các
Trang 18phẩm chất của con người nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, góp phần tích cực vào việc phát huy nguồn lực con người với tư cách là một nguồn nội lực của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác, giáo dục là một trong những biện pháp cơ bản của đào tạo, tức là muốn đào tạo một con người thì nhất thiết phải thông qua con đường giáo dục, ngược lại, giáo dục cũng nhằm vào mục tiêu đào tạo con người, coi con người là mục tiêu cơ bản nhất Vì thế mà trong quá trình giáo dục đã bao hàm yếu tố của đào tạo và trong bất cứ một hoạt động đào tạo nào cũng phải chứa đựng hiện tượng giáo dục
Ngày nay, khi nói đến việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lực con người, bên cạnh những giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của người lao động người ta nói nhiều đến những giải pháp nhằm phát triển nguồn lực
đó Bởi vì, nói đến nguồn lực con người không chỉ nói đến số lượng, mà điều quan trọng hơn là chất lượng của nó, tức là những con người đã qua giáo dục
và đào tạo Nếu chỉ có lao động dồi dào, nguồn nhân công rẻ không thôi sẽ không đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế như hiện nay Những năm qua, kinh tế nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định nhưng cơ bản Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo Vì thế, yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo cả
về số lượng và chất lượng ngày càng mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của nước ta hiện nay Tốc độ phát triển đất nước phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nguồn lực con người Chất lượng nguồn nhân lực lại phụ thuộc vào chất lượng và hiệu quả đào tạo Để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo cần nâng cao hiệu quả đào tạo trong đó có việc đổi mới phương thức tổ chức đào tạo, chương trình và phương pháp đào tạo, kiên quyết ngăn chặn và
xử lý nghiêm những hiện tượng tiêu cực trong môi trường giáo dục, tăng cường đầu tư phương tiện giảng dạy và học tập, song, quan trọng hơn là chăm
lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, có đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tạo hiệu quả trong sự nghiệp trồng người
Trang 19Với nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò nguồn lực con người - yếu tố cơ bản, quan trọng bậc nhất quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; cũng như mục đích, ý nghĩa, nhu cầu của việc không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo là nhiệm vụ cốt lõi, hệ thống đào tạo huấn luyện Hàng hải Việt nam đã được hình thành theo nhiều giai đoạn Tuy nhiên, chỉ khi Công ước quốc tế về huấn luyện, cấp chứng chỉ
cho thuyền viên sửa đổi ra đời (Công ước STCW 78/95), thì hệ thống đào tạo
huấn luyện Hàng hải của Việt Nam mới thực sự có hệ thống và tuân thủ hoàn toàn theo đòi hỏi của Công ước Trong giai đoạn gần đây, chúng ta đã đào tạo
và huấn luyện được số lượng lớn sĩ quan thuyền viên có trình độ phục vụ cho ngành Hàng hải trong nước và xuất khẩu thuyền viên Mặc dù vậy, sau khi tham gia thị trường thuyền viên quốc tế, đội ngũ thuyền viên của chúng ta còn nhiều điểm yếu cần phải khắc phục Trước tình hình mới của thị trường lao động Hàng hải thế giới, ngành đào tạo - huấn luyện Hàng hải Việt Nam đang đứng trước vận hội to lớn chiếm lĩnh thị trường lao động trình độ cao đầy tiềm năng này Cùng với vận hội này, thách thức đặt ra là phải nhanh chóng nâng cao được số lượng sĩ quan, thuyền viên có trình độ đáp ứng được yêu cầu quốc tế Điều đặc biệt đó càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh hiện nay với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, khi mà khoa học và công nghệ
đã và đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão, những thành tựu của nó được ứng dụng vào mọi lĩnh vực trong đó có ngành Hàng hải, đặc biệt, trên tàu biển hiện nay công nghệ thông tin đang được ứng dụng rộng rãi, mức độ tự động hoá ngày càng cao Do đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan, thuyền viên Việt Nam không những tăng về số lượng, mà còn giỏi về chất lượng, tinh thông về nghiệp vụ và ngoại ngữ… đạt chuẩn quốc tế; nhằm đáp ứng, thoả mãn nhu cầu của sự phát triển nền kinh tế đất nước; làm chủ được sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, đảm đương điều khiển được đội tàu biển quốc gia và cung cấp thuyền viên cho đội tàu thế giới
Trang 20Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN LỰC THUYỀN VIÊN
NGÀNH HÀNG HẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng năng lực đào tạo của các cơ sơ ̉ đào tạo , huấn luyện
thuyền viên Việt Nam
2.1.1 Đánh giá thực trạng hệ thống cơ sơ ̉ đào tạo, huấn luyện
thuyền viên Việt Nam
Hiện nay, đội ngũ sĩ quan, thuyền viên của nước ta được cung cấp từ
nhiều nguồn khác nhau ngoài hệ thống đào tạo huấn luyện chính thống trực
thuộc Bộ Giao thông Vận tải,cụ thể như:
Hình 2.1.1 Hệ thống cơ sở cung cấp sĩ quan, thuyền viên hiện tại ở Việt Nam
Qua sơ đồ này ta thấy: có nhiều bộ, ngành tham gia cung cấp thuyền
viên cho ngành Hàng hải Việt Nam Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng từ
Bộ Thủy sản
Cục Hàng hải Việt Nam
Chính phủ
Bộ Giao thông Vận tải
Bộ Quốc phòng
Đào tạo nước ngoài
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Trường Đại học GTVT
Liên kết đào tạo
Quân chủng Hải quân
Trường Cao đẳng Hàng hải I
Trường
CĐ Nghề Hàng hải II
Học viện Hải quân
Các trường
TH Hải quân
Trường
CĐ nghề Bách nghệ
HP
Bộ LĐ TB&XH