Những yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay .... Nếu không đặt vấn đề giáo dục truyền
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ DUYÊN
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ KẾ THỪA NÓ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT Ở HƯNG YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
BÙI THỊ DUYÊN
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ KẾ THỪA NÓ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT Ở HƯNG YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS HOÀNG ĐÌNH CÚC
HÀ NỘI - 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,
TS Hoàng Đình Cúc
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Tác giả luận văn
Bùi Thị Duyên
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1 Giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam 6
1.1 Cơ sở hình thành giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam 6
1.1.1 Những khái niệm cơ sở 6
1.1.2 Những cơ sở hình thành nên giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam 11
1.2 Hệ giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam 23
1.2.1 Giá trị đạo đức trong quan hệ vợ chồng 23
1.2.2 Giá trị đạo đức trong quan hệ cha mẹ và con cái 25
1.2.3 Giá trị đạo đức truyền thống trong quan hệ giữa anh chị em ruột 28
1.2.4 Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình trong quan hệ với dòng họ 30
1.2.5 Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình trong quan hệ làng xã 32
Chương 2 Những yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay 35
2.1 Yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống 35
2.1.1 Cơ sở khách quan phủ nhận những giá trị đạo đức truyền thống 35
2.1.2 Những biến đổi trong nội dung giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam 38
2.1.3 Những yêu cầu 47
2.2 Gia đình văn hoá và việc kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay 50
2.2.1 Gia đình văn hoá và phong trào xây dựng gia đình văn hoá 50
Trang 52.2.2 Kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng gia
đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay 53
Chương 3 Gia đình Hưng Yên và giải pháp kế thừa giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên 57
3.1 Gia đình Hưng Yên trong nền kinh tế thị trường 57
3.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội Hưng Yên hiện nay 57
3.1.2 Thực trạng gia đình Hưng Yên hiện nay 60
3.2 Giải pháp kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay 67
3.2.1 Những khó khăn cơ bản với vấn đề giáo dục gia đình Hưng Yên hiện nay 67
3.2.2 Những giải pháp 69
Kết luận 80
Danh mục tài liệu tham khảo 82
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam đã trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước Quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc đã hình thành nên một hệ thống các giá
Trang 6trọng trong giáo dục con người, duy trì trật tự xã hội Việt Nam trước đây và ngày nay chúng ta phải biết kế thừa vào việc xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay
Gia đình, tế bào của xã hội và chất lượng gia đình là nhân tố quan trọng đảm bảo sự phát triển và bền vững của xã hội
Gia đình ở nước ta hiện nay đang có những biến đổi mạnh mẽ và phức tạp do tác động của kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường do những biến đổi của xã hội đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đang chuyển từ mô hình phát triển cũ sang mô hình phát triển mới cùng với sự tác động của thế giới hiện nay Mặc dù vậy, những nền tảng tinh thần, đạo lý của gia đình truyền thống vẫn phát huy tác dụng và có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình Việt Nam
Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với những mặt trái của nó đang tác động tiêu cực tới sự phát triển văn hoá và con người Việt Nam Một trong những biểu hiện rõ nét của xu hướng dẫn tới sự suy giảm nhân cách con người Việt Nam hiện nay là đời sống gia đình, chất lượng gia đình, đặc biệt là giá trị đạo đức và lối sống gia đình, ở nhà trường và xã hội Nếu không đặt vấn đề giáo dục truyền thống, giáo dục lối sống một cách đúng mực, đúng với tầm quan trọng của nó đối với tồn tại xã hội thì sự suy thoái đạo đức của con người từ trong gia đình, nhà trường, xã hội tiếp tục gia tăng
Vì vậy, để đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ hội nhập, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ phát triển bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của gia đình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [5, tr.104-106]
Như thế việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống của gia đình là việc làm không thể thiếu trong việc xây dựng một chiến lược gia đình hiện nay
Trang 7Hưng Yên hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá cả chiều rộng lẫn chiều sâu với tốc độ ngày càng gia tăng Sự chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp đô thị đã tác động đến toàn bộ đời sống các thành viên trong gia đình Do đó, việc kế thừa những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống để xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay ở Hưng Yên
là vô cùng cần thiết Xuất phát từ yêu cầu ấy, tôi chọn đề tài: “Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay (qua khảo sát ở Hưng Yên)”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề gia đình và giáo dục gia đình ở nước
ta ngày càng được quan tâm, chú ý từ nhiều ngành, nhiều giới: Từ các bậc cha
mẹ đến các nhà giáo, từ cơ quan chính quyền tới các tổ chức đoàn thể xã hội,
từ các nhà khoa học, nhà giáo dục học, đến các cơ quan thông tin đại chúng Đặc biệt, từ năm 1994 khi Liên hợp quốc chọn là năm quốc tế gia đình thì việc nghiên cứu này mới thực sự bùng nổ, cho đến nay hàng loạt các cuộc hội thảo, các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu về gia đình được công
bố, trong đó đề cập rất nhiều về vấn đề gia đình truyền thống: Nhìn một cách khái quát, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm thứ nhất: Những quan điểm, chủ chương, chính sách về xây dựng gia đình văn hóa Sự tổng kết đánh giá đó được phản ánh trong các Văn kiện Đại hội của Đảng VI, VII, VIII, IX, X Nó phản ánh nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng về vai trò của những giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
- Nhóm thứ 2: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo đã được xuất bản
+ Lê Thi (chủ nhiệm): Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát
Trang 8gia đình Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và chỉ ra một số giá trị tích cực trong quan hệ gia đình với những hạn chế của nó
+ Nguyễn Đình Hựu: Gia đình truyền thống với ảnh hưởng của nho giáo, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1991; “Gia đình truyền thống và chuyển đổi đã thích ứng với thời đại”, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1994
+ Trần Thùy Anh: “Thế ứng xử trong xã hội cổ truyền”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000
+ Nguyễn Minh Hoà: Hôn nhân và gia đình trong xã hội hiện nay, NXB trẻ, 2000
+ Nguyễn Linh Khiều: Gia đình và phụ nữ trong những biến đổi văn hoá xã hội nông thôn, NXB Khoa học Xã hội, 2001
+ Nguyễn Trọng Chuẩn: Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia, 2001
Ngoài ra còn có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí đã đề cập tới vấn đề Tất cả các công trình trên đã phác họa nên chân dung một mô hình gia đình truyền thống Việt Nam khá thống nhất và chỉ ra một số giá trị đạo đức cơ bản trong gia đình
Tuy nhiên trong các công trình ấy chưa có công trình nào đề cập đến việc kế thừa các giá trị ấy trong xây dựng gia đình văn hoá Việt Nam nói chung và Hưng Yên nói riêng như là một tất yếu khách quan và cần thiết trong nền kinh tế thị trường
Luận văn này nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở, hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam, luận văn khẳng định sự cần thiết phải kế thừa những giá trị đạo đức tốt đẹp đó
Trang 9Đồng thời chỉ ra giải pháp kế thừa những giá trị ấy trong xây dựng gia đình Hưng Yên đáp ứng được yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn phải giải quyết được những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
Thứ hai, yêu cầu khách quan của việc kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá (qua khảo sát ở Hưng Yên hiện nay)
Thứ ba, luận văn chỉ ra một số giải pháp kế thừa những giá trị đó để xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các giá trị đạo đức truyền thống cuả gia đình Việt Nam và việc kế thừa các giá trị đạo đức ấy vào việc xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn này chỉ đề cập đến những giá trị đạo đức truyền thống tích cực của gia đình và sự kế thừa những giá trị ấy trong việc xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và logic kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đồng thời sử dụng một số kết quả điều tra
xã hội học hoặc các số liệu thống kê của các cơ quan nghiên cứu đã công bố
6 Đóng góp của luận văn
Nêu lên hệ các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam và khẳng định vai trò của đạo đức truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa
ở Hưng Yên
Nêu ra những thách thức, yêu cầu trong giáo dục gia đình Hưng Yên hiện nay và đề xuất một số giải pháp để kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường
Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm và giảng dậy môn giáo dục gia đình ở Hưng Yên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1 Giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam
Chương 2 Những yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay
Chương 3 Gia đình Hưng Yên và giải pháp kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên
Trang 11Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
1.1 Cơ sở hình thành giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
1.1.1 Những khái niệm cơ sở
Để nghiên cứu đề tài cần làm sáng tỏ một số khái niêm sau đây:
- Gia đình và gia đình truyền thống
- Đạo đức, giá tri đạo đức truyền thống của gia đình
1.1.1.1 Gia đình và gia đình truyền thống
Khi nói về gia đình, C.Mác viết “Hàng ngày khi tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở -
đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [20, tr.288]
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, từ xã hội còn lạc hậu đến xã hội văn minh, mỗi cá nhân đều được sinh ra, trưởng thành, cho đến khi từ biệt cõi đời đều gắn bó với gia đình Gia đình là tổ chức cơ sở, đầu tiên, đối với mỗi
cá nhân, là tế bào hợp thành đời sống xã hội Không có gia đình để tái tạo ra con người, ra sức lao động thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được
Trên thế giới tồn tại rất nhiều hình thức gia đình với cấu trúc khác nhau Vì vậy khó có thể đưa ra một định nghĩa chung và khoa học về gia đình Liên hợp quốc đã đặc biệt nhấn mạnh tính đa dạng của gia đình trong một thế giới có nhiều lối sống, nhiều nền văn hoá khác nhau
Nên khi bàn về khái niệm gia đình, văn bản liên hợp quốc có lưu ý rằng: Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu nhưng lại có những hình thức, vai trò khác nhau thay đổi từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, dân
Trang 12tộc này so với dân tộc kia Do đó, không thể đưa ra một định nghĩa chung áp dụng cho toàn cầu
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về gia đình, mỗi khái niệm đều nhằm mục đích khái quát lên những yếu tố cơ bản, đặc thù Sau đây là một số khái niệm:
a Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái
b Gia đình là nhóm người chung sống với nhau dưới một mái nhà có quan hệ hôn nhân huyết thống và nền kinh tế chung
c Theo Levi strauss thì gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi
ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn từ hôn nhân bao gồm vợ chồng, con cái phát sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ, tuy nhiên trong gia đình có mặt của những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi, họ gắn bó với nhau bởi các nghĩa vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấm đoán tình dục giữa các thành viên
Ở Việt Nam, từ xưa đến nay gia đình luôn luôn là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, gia đình được coi là tế bào của xã hội Căn cứ vào tình hình chung của hôn nhân và gia đình nước ta thì: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại) cùng chung sống Đồng thời gia đình có thể gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ có những điều kiện rằng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình nước ta) Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép
và cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [27, tr.16-17]
Trang 13Như vậy, dù gia đình được định nghĩa ở khía cạnh nào thì trong đời sống hàng ngày, khi nói đến gia đình thì điều chủ yếu là nói đến một nhóm người cùng chung sống trong một mái nhà và giữa họ có mối quan hệ với nhau bởi quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, đó là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em ruột với nhau và giữa ông bà (nội, ngoại) với các cháu
Nếu như khái niệm gia đình khó xác định trên diện rộng thì khái niệm
“gia đình truyền thống” cũng là một khái niệm khó xác định không kém
Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để chỉ loại gia đình đã hình thành và tồn tại trong quá khứ mà trong đó chứa đựng nhiều yếu tố vững bền, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, những yếu tố đó phản ánh nền văn hóa bản địa và tạo nên nét đặc sắc của văn hóa dân tộc Ở Việt Nam, gia đình truyền thống được coi là một khái niệm mang nhiều nghĩa khác nhau và thực tế khái niệm này thường được hiểu chỉ là một phần trong các nghĩa của nó Ví dụ: người ta có thể hiểu gia đình truyền thống là một gia đình nho giáo hoặc gia đình phong kiến Một số khác muốn nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam lại có ý đò gạt yếu tố “Nho giáo” hoặc “Phong kiến” ra khỏi khái niệm và muốn đồng nhất khái niệm gia đình truyền thống với hình thái gia đình Việt Nam cổ xưa, trước khi nho giáo xâm nhập, khi ấy gia đình được coi là tổ ấm của mỗi người, trong đó sự thủy chung, lòng yêu thương và ý thức trách nhiệm là những giá
trị cơ bản Có lẽ chúng ta cũng sẽ nhất trí của giáo sư Đỗ Thái Đồng: “Gia đình truyền thống chắc hẳn là hình thái gia đình ở nông thôn, là gia đình ở những xã hội nông nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh Như vậy, đó cũng là kiểu gia đình nông nghiệp, là một định chế gắn liền với nền nông nghiệp cổ truyền, sự nhất trí về khái niệm gia đình truyền thống có lẽ chỉ giới hạn đến đó ” [5, tr.72]
Trang 14Có thể còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm nhưng với điều kiện cụ thể ở Việt Nam, gia đình truyền thống có thể được hiểu là loại hình gia đình gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông với đặc trưng sản xuất lúa nước, ít biến đổi qua những thay đổi của lịch sử, tồn tại cho đến thế kỷ XIX (trước khi tiếp xúc với phương Tây), đó là một loại gia đình hạt nhân và nửa hạt nhân hóa (gia đình mở rộng ba thế hệ), gia đình này gắn chặt với nền kinh
tế cộng đòng làng xã, với chế độ ruộng công phân chia định kỳ, là một đơn vị sản xuất nông nghiệp kết hợp với sản xuất thủ công và tiểu thương nghiệp, tự thỏa mãn các nhu cầu sống của các thành viên Đó là gia đình phụ hệ, coi trọng thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng rất lớn của nho giáo, dù vậy trong gia đình, người phụ nữ vẫn được tôn trọng, đây là sự chi phối của văn hóa bản địa và tác động của Phật giáo, Đạo giáo và những tác động này đã làm mền hóa các nguyên tắc cứng nhắc của nho giáo trong gia đình
1.1.1.2 Đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực, hình thành từ trong cuộc sống nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển Đạo đức là một phạm trù thuộc về đời sống tinh thần Trong triết học, đạo đức được coi là một trong những hình thái ý thức xã hội
Trong hiện thực, hành vi đạo đức của con người chỉ có thể diễn ra trong các mối quan hệ cụ thể khi các chủ thể đạo đức ý thức một cách đầy đủ về mối quan hệ ấy và tự nguyện hành động vì lợi ích và hạnh phúc chân chính của con người vì yêu cầu của tiến bộ xã hội G.Bandzeladze - một nhà đạo đức học Xô viết trước đây cho rằng: “Đạo đức là một hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung Bản chất của đạo
Trang 15đức là sự quan tâm tự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi ích của xã hội”
Hiện nay, khái niệm đạo đức thường được sử dụng là khái niệm của nhà nghiên cứu đạo đức học Trần Hậu Kiêm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và
sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân với xã hội” [15, tr.6]
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh các quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp nhất định Vì vậy, với mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi phương thức sản xuất khác nhau sẽ tương ứng với một nền đạo đức khác nhau Tuy nhiên, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đạo đức không chỉ mang tính lịch sử, tính giai cấp mà còn mang tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội Tức là, bên cạnh bộ phận đạo đức đặc trưng của mỗi thời đại, phản ánh quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội đương thời còn một bộ phận đạo đức truyền thống của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển
Đạo đức truyền thống được thể hiện trong nhiều lĩnh vực, môi trường khác nhau trong đó đạo đức truyền thống của gia đình có nhiều nét đặc sắc mà ngày nay cần phải có thái độ trân trọng
Đạo đức truyền thống của gia đình là hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức về hôn nhân và gia đình được lưu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác
Đạo đức truyền thống của gia đình là những quan niệm, chuẩn mực đạo đức có từ xa xưa và hiện đang tồn tại trong xã hội hiện đại, nó có thể còn phù
Trang 16đạo đức truyền thống của gia đình là nói đến quan niệm, qui tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống của gia đình vẫn còn phù hợp với ngày nay và là các giá trị đạo đức cần phải kế thừa, phát huy
1.1.2 Những cơ sở hình thành nên giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
Các quan hệ đạo đức của gia đình truyền thống là một bộ phận của truyền thống Việt Nam Các giá trị ấy không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của các điều kiện tự nhiên, xã hội và đặc điểm của gia đình truyền thống
1.1.2.1 Những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tác động đến sự hình thành truyền thống đạo đức của gia đình Việt Nam
Sự tác động của điều kiện tự nhiên và điệu kiện địa lý Địa bàn cư trú của tổ tiên người Việt là một vùng đất bồi lấp của phù sa, nằm giữa núi và biển cả Môi trường sông nước ảnh hưởng rất lớn đến truyền thống của người Việt và dấu ấn của nó in đậm lên tư duy, thói quen của con người Vì
lẽ đó các nhà nghiên cứu đã kết luận “người Việt có một truyền thống với sông nước và quen với sông nước, thạo nghề sông nước, có tư duy của một
cư dân sông nước” [6, tr.17] Chính yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trồng lúa nước nhờ khí hậu nhiệt đới gió mùa: Nóng, ấm, mưa nhiều Trong quá khứ người Việt đã từng tạo dựng nên một nền văn minh lúa nước nổi tiếng ở Đông Nam Á Tuy nhiên, thiên nhiên Việt Nam lại vô cùng khắc nghiệt với nhiều thiên tai như lũ lụt, bão tố, hạn hán, sâu bệnh phá hoại mùa màng Chính điều này đã rèn luyện cho con người Việt Nam những phẩm chất đặc biệt để có thể tồn tại và phát triển
Một điểm đặc biệt nữa ảnh hưởng đến truyền thống Việt Nam là do vị trí địa lý chiến lược Việt Nam trong qúa khứ cũng như hiện tại luôn là miếng mồi hấp dẫn đối với những kẻ xâm lược nói chung cũng như đế chế Trung
Trang 17Hoa láng giềng hùng mạnh nói riêng Theo dòng lịch sử từ đế chế Tần đến Mãn Thanh không một triều đại Trung Hoa nào mà không có một vài lần xâm lược nước ta Có những thời kỳ đô hộ kéo dài mà điển hình là thời kỳ Bắc thuộc hơn ngàn năm Tính từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên với sự xâm lược của quân Tần đến khi đánh thắng đế quốc Mỹ ở thế kỷ thứ 20 người Việt có thời gian chống ngoại xâm lên đến 12 thế kỷ, chiếm hơn nửa thời gian của lịch sử Một đặc điểm đáng lưu ý là không chỉ nhiều lần có chiến tranh mà còn ở chỗ các cuộc chiến tranh thường không cân sức, cân lực, lực lượng nghiêng về phía kẻ xâm lược do đó các cuộc chiến tranh giành hoặc bảo vệ độc lập của nhân dân Việt Nam thường diễn ra rất ác liệt phải huy động tối đa sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc Người đàn ông không chỉ là một người lao động chính mà còn là những chiến binh, thậm chí phụ nữ cũng tham gia đánh giặc Vì vậy người Việt có câu “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Điều này làm nên một đặc điểm đặc sắc trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Một yếu tố ảnh hưởng đến truyền thống Việt Nam là tác động của môi trường văn hóa của khu vực và thế giới: Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á, đây là khu vực tuy mỗi nước có một sắc thái riêng nhưng có mẫu số chung về văn hóa Đây là khu vực tiếp xúc giữa hải đảo và đại lục, là nơi gặp gỡ của nhiều tộc người, là nơi giao lưu rộng rãi của nhiều nền văn hóa lớn của thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ
Ở Việt Nam, ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa rõ ràng và đậm nét nhất là nho giáo Có thể nói các quan niệm của nho giáo chi phối rất lớn đến đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Tuy nhiên người Việt theo nho nhưng không sùng nho vì vậy các chuẩn mực của nho giáo khi du nhập đã được pha trộn điều chỉnh lại bởi các giá trị vốn có của văn hoá bản địa
Bên cạnh ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa là văn minh Ấn Độ mà
Trang 18phật giáo Ấn Độ Sự truyền bá rộng rãi tư tưởng phật giáo đã góp phần làm nên những truyền thống quý báu của người Việt như lòng nhân ái vị tha và bao dung độ lượng
Có thể nói môi trường thiên nhiên, tập quán sản xuất cùng với ảnh hưởng của văn hóa khu vực đó tạo lờn đạo đức truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam Các giá trị đạo đức truyền thống ấy đó tạo nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, bản sắc Việt Nam
1.1.2.2 Đặc điểm của gia đình truyền thống
Đạo đức truyền thống của gia đình được hình thành và chịu sự quy định trực tiếp từ những đặc điểm của gia đình truyền thống, đó là đặc điểm về kinh
tế xã hội, văn hoá gia đình và bản sắc văn hoá gia đình truyền thống
Trước hết là đặc điểm kinh tế xã hội của gia đình
Gia đình truyền thống là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp Các hộ gia đình tự sản xuất những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình mình Có thể nói, gia đình truyền thống là một hộ nông - công - thương kết hợp trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo Ngoài công việc cày cấy ra mỗi gia đình làm thêm một số nghề thủ công như đan lát, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải để tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho cả gia đình
Trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện sản xuất lạc hậu, công cụ thô sơ, với chế độ ruộng công phân chia theo định kỳ Với đặc thù sản xuất lúa nước,
có sự phân công lao động cụ thể giữa đàn ông và đàn bà, thể hiện qua câu ca dao sau:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”
Công lao đóng góp của cả đàn ông và đàn bà là như nhau trong việc tạo
ra sản phẩm nuôi sống cả gia đình Điều này dẫn đến một hệ quả kinh tế là việc quản lý các sản phẩm ấy nằm trong tay người vợ Người đàn ông trong
Trang 19chế độ phụ hệ - Gia trưởng là người chủ gia đình về hình thức nhưng lại không am hiểu tình hình kinh tế của gia đình bằng người vợ Vì thế, người đàn bà (người mẹ, người vợ) là người quyết định mọi thứ chi tiêu và quản lí tiền bạc, tài sản trong nhà
Những công việc tiểu thủ công như đan lát, dệt vải, xe sợi, trồng dâu, nuôi tằm thường được tiến hành trong những ngày nông nhàn để tạo ra các sản phẩm tiêu dùng cho cả gia đình Việc trao đổi mua bán chỉ diễn ra ở địa phương, qua các chợ phiên
Về cơ cấu gia đình truyền thống Việt Nam là gia đình hạt nhân và bán hạt nhân hoá (gia đình mở rộng ba thế hệ) Cơ cấu nhỏ của gia đình là do đặc điểm loại hình sản xuất nông nghiệp lúa nước quy định Trong gia đình truyền thống phần lớn bao gồm một cặp vợ chồng và con cái của họ Các con lớn lên lập gia đình thì con gái sẽ về nhà chồng, con trai thứ chỉ ở trong nhà ít lâu là
ra ở riêng (thành một gia đình mới), và theo thông lệ sẽ được chia một phần tài sản gồm cả ruộng đất gọi là để làm vốn Con trai cả ở lại trong gia đình với cha mẹ già, thừa hưởng ngôi nhà và phần tài sản lớn nhất Gia đình người con trai cả không phải là gia đình hạt nhân nhưng vẫn mang tính hạt nhân (vì thế gọi là bán hạt nhân hoá) Tức là, ngoài vợ chồng con cái người con cả còn có cha mẹ già với một vài người em (trai và gái) chưa lập gia đình và gia đình này trở thành hạt nhân khi cha mẹ qua đời, các em đã yên bề gia thất
Đặc điểm thứ 2 của gia đình truyền thống là phong tục thờ cúng tổ tiên Việc thờ cúng này chủ yếu được thực hiện ở nhà người con trai cả và nhằm vào tổ tiên trực tiếp về phía cha (nội) trong phạm vi 5 đời trở lại, những người con thứ cũng thờ cúng ông bà nhưng đơn giản theo kiểu “thờ vong”, thờ từ
xa
Việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình người Việt rất quan trọng, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng việc thờ cúng tổ tiên là một chức năng của gia
Trang 20việc nối dõi tông đường Tức là chỉ thực hiện được khi có con trai nên trong nội bộ gia đình con trai được quý hơn con gái Người cha, người con trai cả, cháu đích tôn, giữ vị trí quan trọng hơn các thành viên khác, con gái sẽ về nhà chồng nên coi là “ngoại tộc”, nếu như họ ngoại có giúp đỡ và quan hệ mật thiết hơn thì kết quả vẫn là “ăn bên ngoại, vải bên nội” Con dâu, đặc biệt là dâu trưởng có vị trí cao, nhưng địa vị này chỉ được xác định khi đã sinh được con trai nối dõi
Phong tục thờ cúng tổ tiên có tác động rất lớn đến đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Đồng thời nó là sợi dây nối kết các thành viên trong gia đình qua các thế hệ khác nhau với ý nghĩa thâm thuý là nhớ ơn sinh thành của tổ tiên, lưu truyền nòi giống và làm cho tổ tiên khỏi khổ, mong cho tổ tiên phù
hộ cho con cháu
Thứ 3, chi phối trực tiếp đến đạo đức truyền thống của gia đình là văn hoá gia đình Văn hoá gia đình truyền thống được thể hiện qua các hình thức sau:
Gia giáo là giáo dục gia đình Đây là hình thức giáo dục, của gia đình đối với các thành viên Nội dung chủ yếu là giáo dục đạo đức, phẩm hạnh của con người trong quan hệ với gia đình, xã hội Đối với nam giới, gia giáo đặc biệt chú ý đến giáo dục đạo lý luân thường Luân có ngũ luân, đó là năm mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè và trong đó, nhấn mạnh tam cương là vua tôi, cha con, chồng vợ Thường nghĩa là ngũ thường, là năm đức tính cơ bản của con người gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đối với nữ giới, thì gia giáo giáo dục đạo lý tam tòng, tứ đức Tam tòng, đòi hỏi sự ngoan ngoãn phục tùng từ lúc mới sinh ra cho tới lúc chết “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Còn tứ đức là bốn phẩm chất cần có của phụ nữ, công, dung, ngôn, hạnh
Nhìn chung, gia giáo có nhiệm vụ giáo dục cá nhân ngay từ trong gia đình để hình thành con người phù hợp với xã hội truyền thống trong đó đạo
Trang 21đức là yếu tố đặc biệt được nhấn mạnh Đạo đức được coi là cái gốc của con người, là biểu thị giá trị xã hội của con người
Gia lễ là lễ nghi gia đình Gia lễ là sự quy định cách thức, nề nếp để đảm bảo cho gia đình sinh hoạt theo đúng phép tắc, có lễ nghĩa phân minh trên dưới rõ ràng Lễ thường được diễn ra ở các hình thức sau: quan, hôn, tang, lễ Quan là, lễ để trân trọng sự ra đời và trưởng thành của con người Hôn lễ là sự cưới vợ gả chồng Tang là việc ma chay Tế là việc cúng bái, thờ phụng Gia lễ không chỉ là nghi thức theo thói quen, phong tục mà gia lễ còn được ghi chép thành sách để mọi người cùng xem và thực hiện
Gia pháp là phép tắc (mang tính luật lệ) trong gia đình Gia pháp là những qui định nhằm ngăn ngừa, uốn nắn, trừng phạt những hành vi sai trái của các thành viên trong gia đình Đồng thời gia pháp cũng nhằm mục đích bảo vệ và đề cao uy thế của gia trưởng, gìn giữ sự đoàn kết nhất trí trong nội
bộ gia đình hoặc để giữ những bí mật gia truyền Gia pháp khẳng định sự nghiêm khắc của cha đối với con, của anh đối với em Gia pháp luôn được giữ nghiêm, nếu không sẽ bị thiên hạ chê cười, phê phán Gia pháp là một thứ luật
lệ bất thành văn, ai cũng phải biết, tôn trọng và tự giác tuân theo
Gia phong là phong cách gia đình Đây là nề nếp, lề thói mà người trong gia đình đều phải noi theo trong lời ăn, tiếng nói, hành vi ứng xử trong gia đình cũng như ngoài xã hội Gia phong thể hiện bản sắc văn hoá của từng gia đình và do gia giáo chi phối, nói đến gia phong là nói đến trật tự, kỷ cương của gia đình, nói đến những tính chất đặc biệt của quan hệ gia đình với nhiều thói quen, tập tục sinh hoạt Một gia đình có gia phong lành mạnh là con cháu phải giữ gìn được nề nếp của cha ông “giấy rách phải giữ lấy lề” hoặc giữ tư cách gia đình “đói cho sạch, rách cho thơm” hoặc “trai thì trung hiếu làm đầu, gái thì tiết hạnh làm câu sửa mình” Làm nhục gia phong là phạm vào gia pháp và có thể bị trừng phạt nặng nề Gia phong là nếp sống, là