1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh hưng yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006

49 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 503,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoà trong tình hình chung của cả nước, nhiều năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự nghiệp giáo dục và đào tạo Hưng Yên cũng có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thà

Trang 1

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của

TS Nguyễn Hữu Cát

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2009

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Thiết

Trang 3

3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục- đào tạo

của Hưng Yên trước khi tái lập tỉnh 7

1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hưng Yên 7

1.1.1 Một số đặc điểm về tự nhiên 7

1.1.2 Dân cư và hoạt động kinh tế - xã hội 12

1.1.3 Truyền thống hiếu học của người Hưng Yên 15

1.2 Giáo dục- đào tạo tỉnh Hưng Yên trước 1997 18

1.2.1 Trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 - 1975) 18

1.2.2 Thời kỳ thống nhất đất nước, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975-1996) 28

Chương 2 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng đường lối phát triển giáo dục-đào tạo của Đảng vào thực tiễn địa phương trong những năm 1997- 2006 39

2.1 Quan điểm, đường lối phát triển giáo dục- đào tạo của ĐCSVN thời kỳ đổi mới 39

2.1.1 Bước đầu đổi mới tư duy giáo dục - đào tạo (bắt kịp công cuộc đổi mới toàn diện đất nước) (1986 - 1996) 39

2.1.2 Đổi mới mạnh mẽ đường lối phát triển giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996-2006) 42

2.2 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục-đào tạo trong những năm 1997- 2006 46

2.2.1 Giáo dục - đào tạo tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2000 48

Trang 4

4

2.2.2 Giáo dục đào tạo Hưng Yên giai đoạn 2001 - 2006 60

Chương 3 Kết quả, và một số kinh nghiệm bước đầu qua thực tiễn 10 năm phát triển giáo dục - đào tạo 74

3.1 Kết quả 74

3.1.1.Thành tựu 74

3.1.2 Hạn chế, tồn tại 80

3.2 Một số kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn 10 năm phát triển giáo dục - đào tạo Hưng Yên 83

3.2.1 Về nhận thức 83

3.2.2 Về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 86

3.2.3 Về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị 89

3.2.4 Về xã hội hoá giáo dục 90

3.3 Một số khuyến nghị 92

3.3.1 Bộ Giáo dục và Đào tạo cần quan tâm hơn nữa đối với ngành giáo dục đào tạo Hưng Yên 92

3.3.2 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo 92

3.3.3 Sở giáo dục - đào tạo cần tích cực tham mưu cho tỉnh về việc xây dựng đội ngũ nhà giáo 92

3.3.4 Cần xây dựng chế độ tuyển dụng giáo viên với hệ thống tiêu chí rõ ràng, công khai 93

3.3.5 Cần tăng cường đầu tư hơn nữa cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục - đào tạo 93

Kết luận 94

Trang 5

5

Danh mục tài liệu tham khảo 96 Phụ lục 102

Trang 6

Xây dựng chiến lược giáo dục - đào tạo là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Thực hiện chiến lược đó nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn thử thách: chống lại nền giáo dục thực dân, từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng tiến tới đánh đổ các kẻ thù xâm lược, giữ vững nền độc lập dân tộc và từng bước đưa đất nước đi lên

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, thành tựu của nó đã tác động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội và đưa lịch sử nhân loại chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh tin học và kinh

tế tri thức Khoa học - công nghệ mà nền tảng của nó là giáo dục - đào tạo có vai trò, sức mạnh to lớn đối với sự phát triển của mỗi nước Lịch sử thế kỷ XX đã chứng minh bất cứ nước nào muốn phát triển, muốn vươn lên hàng ngũ những nước tiên tiến đều phải quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo vì đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho sự phát triển

Trước những đòi hỏi cấp bách của đời sống kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển đất nước, Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai Vì vậy, các Nghị quyết của Đảng trong những

Trang 7

7

năm gần đây đã khẳng định: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu “nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Với vai trò ấy, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhất trong chiến lược con người của Đảng, là hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gần 80 năm qua, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực Trong đó sự nghiệp giáo dục - đào tạo cũng đạt được thành tựu to lớn góp phần giữ vững và đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hoà trong tình hình chung của cả nước, nhiều năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự nghiệp giáo dục và đào tạo Hưng Yên cũng có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2000, là một trong 8 tỉnh của cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục THCS năm 2001 Năm học 2003 - 2004, giáo dục Hưng Yên được Bộ GD&ĐT tặng cờ đơn vị dẫn đầu toàn quốc Từ năm 2000 đến năm 2005, giáo dục Hưng Yên 2 lần được Chính phủ tặng cờ đơn vị xuất sắc; năm 2006 được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba Cùng với sự phát triển về quy mô, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, chất lượng giáo dục của tỉnh đã có nhiều tiến bộ; cơ sở vật chất được tăng cường Nhìn chung, toàn ngành giáo dục tỉnh Hưng Yên đã có những bước phát triển mạnh mẽ

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, sự nghiệp GD-ĐT của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần phải tích cực nghiên cứu tháo

gỡ, khắc phục nhằm phát huy mạnh mẽ truyền thống hiếu học của nhân dân Hưng Yên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng tỉnh nhà và đất nước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 8

8

Xuất phát từ lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh

Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006"

làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Trong tiến trình cách mạng XHCN và sự nghiệp đổi mới, giáo dục - đào tạo luôn giữ vị trí quan trọng được Đảng ta quan tâm chỉ đạo Do đó, chủ trương, đường lối của Đảng trên mặt trận giáo dục - đào tạo luôn được chú ý nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đề cập đến vấn đề này

ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn một cách khái quát, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:

- Nhóm thứ nhất: Những quan điểm, chủ trương, chính sách cùng với những tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về phát triển giáo dục - đào tạo ở nước

ta Sự tổng kết, đánh giá đó được phản ánh trong các Văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X và các Hội nghị chuyên đề của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Bộ giáo dục - đào tạo… Đây là những đánh giá chính thức và quan trọng của Đảng ta Nó phản ánh nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng về lãnh đạo Giáo dục - đào tạo trong quá trình đổi mới

- Nhóm thứ hai: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo đã xuất bản: + Đỗ Mười: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

+ Trần Hồng Quân: Giáo dục 10 năm đổi mới và chặng đường trước mắt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996

+ Phạm Văn Đồng: Về vấn đề giáo dục - đào tạo, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1999

+ Phạm Minh Hạc (chủ biên): Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2002)

Trang 9

9

- Nhóm thứ ba: Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học lịch sử đã bảo vệ nghiên cứu về quá trình thực hiện đường lối phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng như:

+ Lương Thị Hoè: Đảng bộ tỉnh Hoà Bình lãnh đạo sự nghiệp Giáo dục - đào tạo (1991 - 1996), Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998

+ Nguyễn Thị Lâm Sính: Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo xây dựng phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1986 - 1996, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998

+ Trần Văn Tĩnh: Đảng bộ Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo sự nghiệp Giáo dục - đào tạo những năm 1991 - 2000, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004

+ Nguyễn Ánh: GDPT ở Hưng Yên trong những năm kháng chiến chống

Mỹ (1954 - 1968), Đại học Sư phạm Hà Nội, 2001

Ngoài ra còn có nhiều bài đăng trên các tạp chí của ngành đã đề cập tới vấn đề giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đổi mới

Những công trình trên đã nghiên cứu về giáo dục - đào tạo ở những góc độ khác nhau, ở từng giai đoạn nhất định hoặc khẳng định những thành tựu, truyền thống hiếu học của nhân dân Hưng Yên Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong việc lãnh đạo phát triển

sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh, đặc biệt là trong 10 năm tái lập tỉnh (1997 - 2006)

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích nghiên cứu:

Luận văn làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ Hưng Yên trong việc phát triển giáo dục - đào tạo của địa phương từ năm 1997 đến năm 2006, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm và đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh phát triển cao hơn trong thời kỳ mới

Trang 10

10

* Nhiệm vụ của luận văn:

- Luận văn trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng đường lối phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng vào thực tiễn địa phương từ 1997 đến 2006

- Đánh giá khách quan, chân thực những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh Hưng Yên trong 10 năm tái lập

- Rút ra một số kinh nghiệm bước đầu và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ Hưng Yên trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hưng Yên trong lĩnh vực phát triển giáo dục - đào tạo thể hiện ở những chủ trương, biện pháp và tổ chức thực hiện từ năm 1997 đến năm 2006 của Đảng bộ tỉnh

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:

* Nguồn tài liệu:

- Những tư liệu của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo

- Hệ thống Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 - 2006 liên quan đến đề tài

- Các Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên; Báo cáo hàng năm của UBND, Sở Giáo dục - đào tạo tỉnh Hưng Yên; Báo cáo hàng năm của các huyện, thị tiêu biểu…

Trang 11

11

- Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo, đánh giá có liên quan

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử - logic và các phương pháp khác như: So sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp…

6 Đóng góp của luận văn:

- Góp phần khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vào thực tiễn địa phương từ 1997 - 2006

- Khẳng định những thành tựu về giáo dục - đào tạo của Hưng Yên trong

Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm

và giảng dạy lịch sử Đảng bộ Hưng Yên

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục -đào tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trước năm 1997

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng đường lối phát triển Giáo dục

- đào tạo của Đảng vào thực tiễn địa phương trong những năm 1997 - 2006

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận dụng đường lối phát triển Giáo dục

- đào tạo của Đảng vào thực tiễn địa phương trong những năm 1997 - 2006

Trang 12

12

Chương 1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN TRƯỚC NĂM 1997

1.1 Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội Hưng Yên

1.1.1 Một số đặc điểm về tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có ranh giới tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, địa phận huyện Thuận Thành, địa giới dài 16km Phía Đông giáp Hải Dương, chiều dài 93km Phía Đông Nam giáp tỉnh Thái Bình, chiều dài 26km, có sông Luộc làm giới hạn Phía Tây Bắc và Tây Nam giáp Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam với chiều dài 67km, có sông Hồng làm giới hạn Đây là vùng đất phù sa màu mỡ và có truyền thống văn hiến của nước

ta

* Diện tích

Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 923.093km2, đứng thứ 58 so với cả nước (rộng hơn Hà Nội, trước khi hợp nhất với Hà Tây, Hà Nam, Bắc Ninh) Trong đó huyện Khoái Châu có diện tích lớn nhất: 130.861km2 Thị xã Hưng Yên có diện tích nhỏ nhất: 20.151km2

* Dân số

Theo điều tra dân số năm 1999, tỉnh Hưng Yên có 1.071.973 người Mật

độ dân số là 1161 người/km2

, cao hơn mật độ trung bình đồng bằng sông Hồng

và gấp hơn 5 lần trung bình của cả nước Hơn 90% dân số Hưng Yên sống ở nông thôn

Trong số 10 huyện thị, dân số đông nhất là huyện Khoái Châu: 179.119 người Thị xã Hưng Yên có dân số ít nhất: 41.228 người và mật độ dân số lớn

Trang 13

Độ cao trung bình so với mực nứớc biển là +4m Trong đó nơi có độ cao nhất là Thiện Phiến (Tiên Lữ) + 8m, Tống Trân (Phù Cừ) + 6m30 Nơi thấp nhất

là Hạ Lễ (Ân Thi) + 2m40, Toàn Thắng (Kim Động) + 2m60

Địa hình cao chủ yếu ở phía Tây Bắc tỉnh, gồm các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Văn Lâm; địa hình thấp tập trung ở các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi

Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ, không được bồi lắng: Đất màu nâu nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hoá mạnh, chất hữu cơ phân huỷ chậm, thường bị chua

Trang 14

14

* Khí hậu

Cũng như các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu của địa phương chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23oC, lượng mưa trung bình dao động từ 1800 đến 2200mm/năm, tập trung chủ yếu tới 70% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8 Thời kỳ khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Độ ẩm bình quân các tháng trong năm là 85,5%

Như vậy, khí hậu của Hưng Yên rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, thích hợp để bố trí một cơ cấu cây trồng và vật nuôi đa dạng có nguồn gốc nhiệt đới và một số cây trồng có nguồn gốc ôn đới (đặc biệt là lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp…) Tuy nhiên khí hậu như vậy cũng có một số hạn chế, mùa mưa thường tập trung vào một thời gian ngắn nên dễ gây úng ngập và thường kèm theo bão, mùa lạnh cũng thường xuất hiện những đợt rét hại Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh

* Sông ngòi

Tỉnh Hưng Yên có nhiều sông ngòi Quanh tỉnh, ba phía đều liền sông Phía Tây có sông Hồng chảy qua tỉnh dài xấp xỉ 60km Phía Nam có sông Luộc, chi lưu của sông Hồng bắt nguồn từ xã Tân Hưng (Tiên Lữ), chảy qua địa phận Hưng Yên dài khoảng 21km Sông Tử Dương - còn gọi là sông Nghĩa Trụ, chảy đến giữa tỉnh thì chia làm hai chi lưu Hoan ái và Thổ Hoàng rồi đổ vào sông Văn Trương (Thanh Miện - Hải Dương) Phía Đông là sông Cửu An - dòng cũ đã bị bồi lấp, dòng mới từ phía Đông huyện Phù Cừ đến phía Đông huyện Ân Thi, qua cầu Sặt sang Hải Dương

Hệ thống các sông nội đồng như Kim Sơn, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt trong hệ thống Bắc - Hưng - Hải (được khởi công vào năm 1956) đã hoà cùng hệ thống sông ngòi trước đó tạo thành một hệ thống thuỷ nông, giao thông phong phú

Trang 15

15

Các sông có đoạn chảy theo chiều ngang, có đoạn chảy xuôi dòng, có đoạn như ngược chiều, nhưng cuối cùng đều chảy vào dòng chính, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

* Địa danh và cương vực

Vùng đất Hưng Yên có con người cư trú từ rất sớm, theo quá trình bồi tụ của sông Hồng Thời Hùng Vương, Hưng Yên thuộc bộ Giao Chỉ, huyện Chu Diên Thời Ngô gọi là châu Đằng Thời Tiền Lê đổi làm phủ Thái Bình Đời Lý gọi là châu Đằng, châu Khoái Sang thời nhà Trần đặt là lộ Long Hưng và lộ Khoái Thời Hậu Lê thuộc trấn Sơn Nam, sau lại chia làm hai lộ là Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thi hành cải cách hành chính bỏ các trấn lập ra các tỉnh, tách 5 huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu của trấn Sơn Nam thượng và 3 huyện Thần Khê, Hưng Hà, Hưng Nhân thuộc phủ Tiên Hưng của trấn Nam Định, trấn Sơn Nam hạ đặt làm tỉnh Hưng Yên Tỉnh lỵ lúc đầu đóng ở hai xã An Vũ và Lương Điền, sau chuyển về bãi Nhị Tân xã Xích Đằng (thành phố Hưng Yên ngày nay) Nơi đây giao thông thuỷ bộ thuận tiện, thôn làng bến chợ tiếp nhau, việc buôn bán ngày thêm phồn thịnh, tạo nên Phố Hiến một thời -

“thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”

Địa danh Hưng Yên chính thức có tên trong danh bạ đất nước từ năm

1831 Như vậy, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở

cả hai phía sông Luộc Sau thành lập tỉnh, địa giới của tỉnh đã nhiều lần thay đổi Ngày 27/3/1883 quân Pháp từ Hà Nội theo sông Hồng hạ thành Nam Định rồi đưa quân đánh thành Hưng Yên Chiếm được thành một mặt chúng ra sức củng

cố chính quyền tay sai, đặt nhiều đồn binh, một mặt xúc tiến việc đo đạc lập địa

đồ để nắm sâu vào các làng xóm, nhưng gặp khó khăn vì vấp phải sự chống trả của nghĩa quân Bãi Sậy Năm 1890, Pháp thành lập đạo Bãi Sậy gồm bốn huyện

Trang 16

16

Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm và Cẩm Lương để tiện đánh dẹp Sau khởi nghĩa Bãi Sậy tan rã, chúng sáp nhập ba huyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào vào tỉnh Hưng Yên, còn huyện Cẩm Lương (phần thuộc Cẩm Giàng ngày nay) trả về tỉnh Hải Dương Cũng trong năm 1890, Pháp cắt huyện Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng của Hưng Yên cùng phủ Thái Bình và phủ Kiến Xương của Nam Định lập tỉnh mới là tỉnh Thái Bình Sau đó cắt 2 huyện Hưng Nhân, Duyên Hà và chuyển huyện Tiên Lữ trước thuộc phủ Tiên Hưng về phủ Khoái Châu Kể từ đây sông Luộc trở thành ranh giới tự nhiên giữa Hưng Yên và Thái Bình Giai đoạn này kéo dài suốt thời kỳ thống trị của thực dân Pháp cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Thực dân Pháp trở lại xâm lược đánh chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ Để thuận tiện cho việc chỉ đạo kháng chiến, tháng 10 năm 1947, Trung ương đã giao huyện Văn Lâm về với tỉnh Bắc Ninh, đồng thời cũng chuyển huyện Văn Giang của Bắc Ninh về Hưng Yên, thời gian sau đó việc chỉ đạo đánh phá đường xe lửa gặp khó khăn nên huyện Văn Lâm được Bắc Ninh trao trả lại

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại trên miền Bắc, các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh vẫn được giữ nguyên chỉ thay đổi địa danh hành chính của một số xã phường

Ngày 26/1/1968, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng Sau đó lần lượt hợp nhất các huyện Văn Giang với Yên Mỹ thành huyện Văn Yên; huyện Tiên Lữ với Phù Cừ thành huyện Phù Tiên; huyện Văn Lâm với Mỹ Hào thành huyện Văn Mỹ; huyện Kim Động với Ân Thi thành huyện Kim Thi; huyện Văn Yên với huyện Văn Mỹ thành Mỹ Văn; huyện Khoái Châu với một phần của Văn Giang thành huyện Châu Giang

Trang 17

17

Sau 29 năm hợp nhất, ngày 6/11/1996 Quốc hội đã phê chuẩn việc tách tỉnh Hải Hưng thành tỉnh Hải Dương và Hưng Yên Tiếp đó các huyện hợp nhất trước kia được tách ra theo địa giới hành chính cũ

Hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị là: Thị xã Hưng Yên (nay là Thành phố Hưng Yên), các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, với 161 xã, phường, thị trấn

1.1.2 Dân cư và hoạt động kinh tế - xã hội

Hưng Yên có con người cư trú từ thời các vua Hùng dựng nước Các di tích mộ cũi khai quật được tại Nội Mạc (An Viên - Tiên Lữ), mộ thuyền tại Đống Lương (Kim Động), trống đồng tại Cửu Cao (Văn Giang) cùng các huyền tích - huyền sử về Chử Đồng Tử - Tiên Dung (Khoái Châu)… đã minh chứng điều đó Nhân dân Hưng Yên cần cù lao động, ngoài trồng trọt, đánh bắt thuỷ sản còn xuất hiện nghề trồng dâu nuôi tằm ở Tế Giang (Văn Giang) và nhiều ngành nghề thủ công Qua quá trình phát triển, Hưng Yên dần trở thành một vựa lúa và cư dân ngày một đông đúc và trù mật

Giống như nhiều vùng khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Hưng Yên là một tỉnh đất chật, người đông Nhờ chính sách trọng nông của nhà nước phong kiến, vùng đất Hưng Yên được khai thác rất sớm Nhà Trần đã cho phép vương hầu được chiêu mộ dân phiêu tán đến khai hoang, lập ấp, dựng điền trang dọc theo sông Hồng Hệ thống đê quai vạc dọc sông Hồng được xây đắp cùng với việc đào nắn nhiều mương ngòi dẫn nước để tiêu úng, chống hạn Thời Lê, đội ngũ hà đê chánh, phó sứ giúp nhiều cho công việc đê điều, thuỷ lợi

Tuy nhiên, việc độc canh cây lúa và việc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên khắc nghiệt không đủ đảm bảo cuộc sống thường nhật của người dân Do đó, nhiều nghề phụ đã ra đời tạo ra các làng thủ công, phường thủ công nổi tiếng: Về

Trang 18

18

rèn đúc kim loại có nghề đúc đồng ở làng Cầu Nôm (Đại Đồng - Văn Lâm), nghề làm khuôn đúc ở Đông Mai (Văn Lâm), nghề khai thác nguyên liệu ở Yên Lịch (Khoái Châu), nghề làm bừa ở Muồng (Vân Dương - Mỹ Hào) Việc chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa trở nên nổi tiếng ở các làng Vân Phương (Tiên Lữ), Phú Thị (Khoái Châu), Như Lân, Cửu Cao (Văn Giang), Phương Tòng, Duyên Yên (Kim Động) Một số làng lại có nghề trồng chàm, nhuộm thâm như Đồng Tỉnh, Huê Cầu (Văn Giang), Nghĩa Trang, Sài Trang (Yên Mỹ) Việc làm nhà cửa, nổi tiếng

có thợ làng Vị (Phương Chiểu - Tiên Lữ) và sản xuất vật liệu xây dựng Mai Viên, Dốc Lã (Kim Động), Mễ Sở (Văn Giang) Ngoài ra còn phải kể đến làng trồng thuốc nam Nghĩa Trai (Văn Lâm), nghề sơn mài Bình Sơn (Yên Mỹ), nghề làm quạt (Hới - Tiên Lữ), Đào Xá (Ân Thi), nghề nặn nồi Đạo Khê (Yên Mỹ), nghề làm tương ở Bần Yên Nhân (Mỹ Hào), nghề đan thuyền Nội Lễ (Ân Thi), nghề trồng mía nấu mật ở Phú Cường, Hùng Cường (Kim Động), nghề nấu rượu Trương Xá (Kim Động)

Hoạt động thương mại, buôn bán của Hưng Yên phát triển khá mạnh mẽ Ngoài "truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung được coi như tổ sư nghề buôn" [22, tr.20], ta còn thấy xuất hiện nhiều làng chuyên buôn bán, bến chợ bên bờ sông Hồng từ Mễ Sở xuống tận thị xã Hưng Yên Làng Huê Cầu (Nghĩa Trụ - Văn Giang) có người buôn bán khắp các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hải Dương Làng Đa Ngưu (Văn Giang) có tới hơn 70% số

hộ buôn bán thuốc bắc, cung cấp 9 phần 10 thuốc bắc cho các hiệu ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh bắc Trung Bộ Làng Đồng Tỉnh (Nghĩa Trụ - Văn Giang), cả làng đi buôn thuốc lào và cau có nhiều cơ sở ở Nghệ An, Hà Đông, Thái Nguyên Đặc biệt, với Phố Hiến - tiền cảng, cảng sông, cảng chợ của Thăng Long vô cùng sầm uất đã biến vùng đất này thành trung tâm buôn bán và đô hội

từ rất sớm Nếu hồi đầu thế kỉ XIII, nơi đây mới xuất hiện làng Hoa Dương của

Trang 19

19

quan quân nhà Tống lánh nạn Nguyên - Mông thì đến thế kỉ XVII, dưới thời Lê - Trịnh, nó đã trở thành Phố Hiến với cảng sông Vạn Lai Triều, tấp nập tàu thuyền của ngoại quốc vào ra buôn bán Các nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp… đã dựng nhiều thương điếm làm cho phố xá càng tấp nập đông vui, đúng như câu ca “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”

Từ khi lập tỉnh Hưng Yên (1831) đến nay, thế mạnh về thương mại - buôn bán của Hưng Yên không sầm uất được như trước nữa nhưng nơi đây vẫn còn nhiều tiềm năng, nhất là về giao thông vận tải Ngoài đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và quốc lộ 5 chạy qua, Hưng Yên còn có mạng lưới đường bộ, đường thuỷ khác khá thuận tiện Đường 39A từ Phố Nối qua Mỹ Văn, Khoái Châu, Kim Động tới thị xã Hưng Yên, rẽ trái qua cầu Triều Dương sang Thái Bình, còn rẽ phải qua cầu Yên Lệnh sang Duy Tiên - Hà Nam, tới Đồng Văn gặp quốc lộ 1A Đường 39B bắt đầu từ phường Hiến Nam (thị xã Hưng Yên) đi qua Tiên Lữ, Phù

Cừ tới Cầu Tràng sang Hải Dương Đường 38 xuất phát từ Trương Xá qua Thổ Hoàng (Ân Thi) tới Kẻ Sặt gặp quốc lộ 5 ở Quán Gỏi Đường 200 đi từ Giai Phạm (Mỹ Văn) qua Thổ Hoàng đến Hải Triều (Tiên Lữ) gặp đê sông Luộc và đường 39A Còn phải kể đến các đường: 99, 179, 199, 201, 202, 204, 205, 206 và hàng trăm km đê đại hà đã liên kết các xã, huyện với nhau và nối thông với mạng lưới giao thông quốc gia

Với 80km đường thuỷ trên sông Hồng, sông Luộc và hàng trăm km đường sông khác được phân bố khá đều trong tỉnh nên việc vận chuyển và đi lại ở địa phương được tiện lợi, nhanh chóng và giá thành thấp Tiềm năng giao thông thuỷ

bộ của Hưng Yên có nhiều hứa hẹn cho sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hoá,

xã hội

Trang 20

20

1.1.3 Truyền thống hiếu học của người Hưng Yên

Vốn là vùng “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống văn hiến, từ xa xưa, Hưng Yên đã có nhiều nhân vật kiệt xuất về học hành Có nhân vật đã đi vào huyền thoại và trở thành niềm tự hào của cả dân tộc như Trạng nguyên Tống Trân với danh hiệu “Quốc sĩ vô song”, “ tướng tài quả nhị” và “ Lưỡng quốc Trạng nguyên” mãi mãi là biểu tượng cao đẹp về tài năng và đạo đức của người Việt Nam nói chung và Hưng Yên nói riêng (tại Văn Miếu Xích Đằng - Hưng Yên còn tấm bia ghi tên Tống Trân)

Trong 845 năm Hán học, cả tỉnh Hưng Yên có 214 người đỗ đại khoa trong tổng số 2.898 vị đỗ đại khoa của cả nước, gấp 5,5 lần tỷ lệ bình quân của các tỉnh trong cả nước Trong số đó có 8 trạng nguyên, 4 bảng nhãn, 6 thám hoa,

47 hoàng giáp Hưng Yên được xếp là tỉnh thứ 4 về cử nghiệp [38, tr.10-11] Ở Hưng Yên rất nhiều dòng họ có người đỗ đạt cao như: Họ Đỗ, họ Hoàng, họ Lê,

họ Dương, họ Nguyễn… trong đó họ Dương ở xã Lạc Đạo - huyện Văn Lâm là nhiều hơn cả Riêng dòng họ này đã cống hiến cho đất nước 10 vị tiến sĩ, trong

đó có 1 vị trạng nguyên, đó là trạng nguyên Dương Phúc Tư (1505-1580) năm 43 tuổi đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ, khoa đinh Mùi, niên hiệu Vĩnh Định (1547), đời Mạc Phúc Nguyên [21, tr.75]

Trong tỉnh còn có cả những “làng tiến sĩ” được lưu truyền trong lịch sử Một trong những làng nổi tiếng là làng Đan Nhiễm - xã Văn Phúc - huyện Văn Giang có 11 vị tiến sĩ, trong đó có 1 vị bảng nhãn Đó là bảng nhãn Trần Chu Hinh, đỗ khoa thi thái học sinh năm Bính Thìn, niên hiệu Nguyên Phong thứ VI, đời Trần Thái Tông (1256) [21, tr.34]

Đặc biệt, có những gia đình cả cha con, anh em đỗ đại khoa ở làng Lại ốc

xã Long Hưng, huyện Văn Giang có một ngôi đền gọi là “Đền ông trạng” Thật

ra đền này thờ 3 cha con: Đỗ Nhân (là cha) đỗ Hoàng Giáp năm 20 tuổi, niên

Trang 21

21

hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493); Đỗ Tống (là con) đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ năm 26 tuổi, dự thi khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức thứ III đời Mạc Đăng Dung (1529); Đỗ Tấn (là con, em ruột Đỗ Tống), năm 22 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến

sĩ, khoa ất Mùi, niên hiệu Đại chính thứ 6 (1535), đời Mạc Đăng Doanh [21, tr.36-37]

Với những thành tích đạt được trong những năm Hán học, Hưng Yên có thể coi là vùng quê của khoa bảng, là một trong số ít nơi được xây dựng Văn Miếu (Văn Miếu Xích Đằng, được xây dựng từ năm Minh Mệnh thứ 20, 1839) Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử, các bậc thánh hiền và ghi danh những người Hưng Yên đã đỗ đạt đại khoa Đến nay ở đây còn lưu giữ 9 tấm bia đá ghi tên, tuổi, quê quán và chức danh của 138 vị đỗ đại khoa trong số hơn 200 vị đại khoa của tỉnh, trong đó có những vị nổi tiếng như: Tống Trân, Nguyễn Kỳ, Dương Phúc Tư, Đỗ Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Giáp Hải, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Tư, Đào Công Soạn, Lê Như Hổ, Hoàng Bình Chính, hai cha con Lê Trọng Thứ và

Lê Quý Đôn,… Ngày nay, sổ vàng Văn Miếu Hưng Yên sẽ thay bia đá để lưu danh những người con Hưng Yên có thành tích xuất sắc về giáo dục, khoa học, văn hoá… Có thể nói Hưng Yên đã cống hiến cho nước nhà những danh nhân lỗi lạc trên nhiều lĩnh vực: Trong lĩnh vực quân sự có Triệu Quang phục, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Bình Y học có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Khoa học có Phạm Huy Thông, Nguyễn Công Tiễu Văn học có nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng Sân khấu chèo có Nguyễn Đình Nghị Mỹ thuật có Tô Ngọc Vân, Liên Bích Liên Hoạt động chính trị có Nguyễn Văn Linh, Tô Hiệu, Lê Văn Lương… [39, tr.105] Những con người này đã làm rạng rỡ quê hương Hưng Yên, xây dựng nền truyền thống Văn Hiến của Hưng Yên, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam

Trang 22

22

Trong những năm “Tây học”, mặc dù bị kìm hãm bởi chính sách nô dịch

và điều kiện hết sức khó khăn song với truyền thống hiếu học và tinh thần yêu nước, Hưng Yên vẫn xuất hiện những trí thức uyên bác trên nhiều lĩnh vực và sau này họ đều trở thành những nhà yêu nước Đó là những tấm gương: Dương Quảng Hàm (xã Mễ Sở - Văn Giang); Dương Bá Trạch (anh cả của Dương Quảng Hàm - là một trong những người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục), Nguyễn Công Hoan (làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang), là nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc, sau này ông trở thành nhà văn cách mạng yêu nước [37, tr.126]…

Họ chính là những hạt nhân quý báu, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống hiếu học của nhân dân Hưng Yên

Trong kháng chiến chống Pháp, tuy gặp nhiều khó khăn, Hưng Yên cũng đạt được thành tích đáng tự hào trong phong trào Bình dân học vụ, đã vận động được 205.000 người đi học và đã thi mãn khoá cho 102.000 người, chiếm 20,4% dân số tỉnh Đến tháng 2/1948 toàn tỉnh có 22 thôn, 3 xã đã thanh toán nạn mù chữ trong đó có 4 thôn được Uỷ ban hành chính Bắc Bộ tặng bằng khen [21,tr.48]

Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp và

Mỹ, giáo dục Hưng Yên vẫn phát triển, nền giáo dục quốc dân đã ra đời và không ngừng lớn mạnh Đó là nền móng cơ bản và vững chắc cho sự phát triển của hệ thống GD-ĐT Hưng Yên sau này

Tóm lại, với 214 vị đại khoa và những danh nhân lỗi lạc của thời Hán học, với khí thế tưng bừng của phong trào Bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám và việc giáo dục Hưng Yên trở thành mặt trận vững mạnh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã khẳng định rõ: Hưng Yên thực sự là một vùng “địa linh nhân kiệt”, nơi có truyền thống văn hiến được xếp vào hàng nhất trong các tỉnh có truyền thống văn hiến ở nước ta Thành tích đầy tự hào đó đã khiến cho

Trang 23

23

giáo dục Hưng Yên trở thành một tác nhân tích cực thúc đẩy sự phát triển lịch sử của Hưng Yên Chính thành tích vẻ vang này là cơ sở vững chắc cho phong trào GD-ĐT ở Hưng Yên sau này

1.2 Giáo dục - đào tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trước năm 1997

1.2.1 Trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 - 1975)

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Tuy nhiên, nền độc lập ta giành được chưa được bao lâu thì chúng ta lại bước vào một cuộc kháng chiến mới chống thực dân Pháp xâm lược Giáo dục cũng bước vào một thời kỳ mới, xây dựng nền giáo dục cách mạng, thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, ý thức của người công dân của xã hội mới và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước

Tại Hưng Yên trường học sau một thời gian dài bị đóng cửa, Cách mạng Tháng Tám thành công, học sinh lại được cắp sách tới trường đem lại một niềm vui lớn cho toàn dân Sự nghiệp giáo dục Hưng Yên mở ra một trang mới

1.2.1.1 Giai đoạn 1945 - 1954

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân, gia tài của chế độ cũ để lại cho chúng ta lúc bấy giờ là hai bàn tay trắng Thù trong giặc ngoài, vận mạng dân tộc đang “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng nhà nước cách mạng non trẻ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã quan tâm ngay đến giáo dục, việc diệt giặc dốt được xếp ngay sau diệt giặc đói Người nói: Nạn dốt

là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…” Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì vậy, Người đề nghị mở một chiến dịch chống “nạn mù chữ” Ngày 8/9/1945 Chính Phủ thành lập Nha bình dân học

vụ để đảm trách việc thanh toán nạn mù chữ Từ đó đất nước ta đã dấy lên phong

Trang 24

Sau ba năm cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành dược nhiều thắng lợi Với đà tiến triển nhiều mặt của cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1950 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định cải cách giáo dục lần thứ nhất Tháng 7/1950, Đề án cải cách giáo dục đã được Hội đồng Chính phủ thông qua

Mục tiêu của cải cách giáo dục là xây dựng một nền giáo dục dân chủ nhân dân, trên nguyên tắc dân tộc khoa học, đại chúng Phương châm giáo dục là

“học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” Cơ cấu nhà trường cải cách gồm

hệ thống phổ thông 9 năm và hệ thống giáo dục bình dân, giáo dục chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học Nội dung giáo dục nhằm bồi dưỡng cho con người lòng yêu nước, căm thù giặc, ý thức lao động, học tập, thói quen làm việc khoa học Tiếng Việt được dạy ở tất cả các môn học, bậc học

Ở Hưng Yên, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và các cấp chính quyền đã trực tiếp lãnh đạo và phát động phong trào toàn dân tham gia “diệt giặc dốt”, xoá nạn mù chữ Các ban “diệt dốt” nhanh chóng được thành lập và hoạt động có hiệu quả Đến đầu tháng 10/1945, Đảng bộ Hưng Yên đã thành lập Ban Văn hoá - Xã hội các cấp để hành động, xây dựng phong trào BDHV

Trong một thời gian ngắn phong trào BDHV đã phát triển nhanh chóng ở khắp mọi nơi, các lớp BDHV, BTVH được hình thành , lôi cuốn mọi tầng lớp , mọi lứa tuổi tham gia với tinh thần “đi học là yêu nước”; theo phương châm:

Ngày đăng: 07/04/2017, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ánh (2001), Giáo dục phổ thông ở Hưng Yên trong những năm kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1968), Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục phổ thông ở Hưng Yên trong những năm kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1968)
Tác giả: Nguyễn Ánh
Năm: 2001
7. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997) Nghị quyết số 03/NQTW về "Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VIII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VIII
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị TW2, khoá VIII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị TW2, khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết TW5, khoá IX, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết TW5, khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1986
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Trần Hồng Đức (1999), Các vị Trạng nguyên bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, NXB. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị Trạng nguyên bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: NXB. Văn hoá thông tin
Năm: 1999
17. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Nguyễn Phúc Lai (1997), Danh nhân Hưng Yên, Sở Văn hoá - Thông tin, Hội Văn học nghệ thuật Hưng Yên, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Phúc Lai
Năm: 1997
21. Lịch sử Đảng bộ Hưng Yên (1998), tập I, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Hưng Yên
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ Hưng Yên
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
22. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), tập 4, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
24. Những tìm tòi và đổi mới trên con đường lên chủ nghĩa xã hội (2006), NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tìm tòi và đổi mới trên con đường lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Những tìm tòi và đổi mới trên con đường lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: NXB. Lý luận chính trị
Năm: 2006
25. Nguyễn Thị Lâm Sính (1998), Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo xây dựng phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1986 - 1996, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo xây dựng phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1986 - 1996
Tác giả: Nguyễn Thị Lâm Sính
Năm: 1998
40. Nguyễn Văn Sơn (5/1997), “Xã hội hoá giáo dục - điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá giáo dục - điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
41. Phạm Như Tiên (1968), Sơ lược lịch sử đất Hưng Yên, Ty văn hoá Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược lịch sử đất Hưng Yên
Tác giả: Phạm Như Tiên
Năm: 1968
52. Tỉnh ủy Hưng Yên (28/6/2004), Thông báo số 593 - TB/TU của Ban chấp hành Thường vụ Tỉnh uỷ về “Phát triển mạng lưới THPT, mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học và đề án phát triển giáo dục mầm non đến 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 593 - TB/TU của Ban chấp hành Thường vụ Tỉnh uỷ về “Phát triển mạng lưới THPT, mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học và đề án phát triển giáo dục mầm non đến 2010
2. Chỉ thị số 40 - CT/TU (17/11/2004) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên Về đẩy mạnh xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý Khác
3. Chỉ thị số 08-CT/TU (26/4/2006) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên về đẩy mạnh công tác khuyến học trên địa bàn tỉnh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w