Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ HẢI NGỌC CHÂU
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
HUYỆN CAN LỘC, TĨNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” là sản phẩm do chính tác giả tự nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực tế, thu thập tài liệu, xây dựng nội dung của đề tài nghiên cứu Luận văn là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân tác giả, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Toàn Thắng
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Hải Ngọc Châu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Học viện Hành chính, các Thầy, Cô và tập thể cán bộ công nhân viên chức trường Học viện Hành chính, đã trang bị những tri thức cần thiết để tác giả có thể hoàn thành luận văn của mình Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, sâu sắc và trách nhiệm của TS Lê Toàn Thắng trong suốt quá trình tổ chức nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Đồng thời, xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cán bộ, công chức trong Văn phòng Đảng ủy, UBND, HĐND huyện Can Lộc, phòng Tài chính – Kế hoạch và phòng thanh tra huyện Can Lộc đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn của các thầy, cô giáo và sự góp ý của các bạn để luận văn được bổ sung, hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Hải Ngọc Châu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 7
1.1 Ngân sách nhà nước cấp huyện 7
1.1.1 Ngân sách nhà nước 7
1.1.2 Ngân sách nhà nước cấp huyện 13
1.2Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 17
1.2.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 17
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 33
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện của một số địa phương 37
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước tại một số địa phương 37 1.3.2 Bài học kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước cho huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 42
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 45
2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội huyện Can Lộc 45
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Can Lộc 45
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Can Lộc 45
Trang 62.2 Phân tích thực trạng quản lý ngân sách nhà nước huyện Can Lộc 47
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước của huyện 47
2.2.2 Thực trạng quản lý thu, chi ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc 54
2.2.3 Thực trạng quản lý chu trình ngân sách nhà nước huyện Can Lộc 62
2.2.4 Thực trạng kiểm tra, thanh tra, giám sát tại huyện Can Lộc 80
2.3 Đánh giá quản lý ngân sách nhà nước huyện Can Lộc 83
2.3.1 Đánh giá kết quả đạt được 83
2.3.2 Một số hạn chế trong quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc 88
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 90
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 93
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH 94
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Can Lộc 94
3.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội huyện Can Lộc giai đoạn 2016 – 2020 94
3.1.2 Định hướng về quản lý ngân sách nhà nước huyện Can Lộc 97
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý Ngân sách nhà nước tại Huyện Can Lộc giai đoạn 2016 – 2020 99
3.2.1 Nâng cao việc lập và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước tại huyện 99
3.2.2 Hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước tại huyện 103
3.2.3 Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện 104
3.2.4 Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra tài chính ngân sách nhà nước tại huyện 109
3.2.5 Tăng cường khuyến khích, thu hút đầu tư tại huyện 111
3.2.6 Mở rộng công khai ngân sách nhà nước 113
3.2.7 Hoàn thiện bộ máy và nâng cao trình độ cán bộ quản lý ngân sách nhà nước 114
Trang 73.3 Kiến nghị 115
3.3.1 Đối với Chính phủ 115
3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 115
3.3.3 Đối với tỉnh Hà tĩnh 116
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 119
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý ngân sách nhà nước 13
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Can Lộc 48
Sơ đồ 2.2: Hệ thống tổ chức phòng TC-KH huyện Can Lộc 50
Sơ đồ 2.3: Hệ thống tổ chức Chi cục thuế huyện 53
Sơ đồ 3.1: Các yếu tố cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra 101
Bảng 2.1: Tỷ lệ phân cấp khoản thu giữa ngân các cấp ngân sách tỉnh Hà Tĩnh 56
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước huyện Can Lộc giai đoạn 2013 - 2015 57
Bảng 2.3: Tình hình thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước huyện Can Lộc giai đoạn 2013 – 2015 60
Bảng 2.4: Kết quả chấp hành dự toán thu ngân sách huyện Can Lộc giai đoạn 2013 – 2015 65
Bảng 2.5: Kết quả chấp hành dự toán chi ngân sách huyện Can Lộc giai đoạn 2013 – 2015 72
Bảng 2.6: Kết quả thanh tra ngân sách huyện Can Lộc giai đoạn 2013 – 2015 81 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ so sánh các nguồn thu và xu hướng các khoản thu chính của NSNN huyện giai đoạn 2013 – 2015 58
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu các chi ngân sách nhà nước huyện giai đoạn 2013 – 2015 61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trong hệ thống tài chính, Ngân sách Nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng của Nhà nước do hiến pháp quy định, là công cụ quan trọng của Nhà nước có tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội Vì vậy, việc sử dụng ngân sách một cách hợp lý và có hiệu quả sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho toàn xã hội
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước đã có những bước cải cách, đổi mới và đạt được một số thành tựu đáng kể Đặc biệt là từ khi Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 25/06/2015 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý
và điều hành ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước, quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh, thúc đẩy vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm, hiệu quả Từ đó tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại
Ngân sách nhà nước cấp huyện là một bộ phận cấu thành ngân sách nhà nước, là công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Huyện Can Lộc với vị trí chiến lược của Tỉnh Hà Tĩnh, được đánh gía là đơn
vị phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm của tỉnh Trong nhiều năm qua, công tác quản lý ngân sách Huyện đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn Huyện Can Lộc nói riêng và của tỉnh Hà Tĩnh
Trang 10nhiệm vụ được giao về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trong đó thu ngân sách vượt cao so với kế hoạch Tuy nhiên, trong công tác quản lý ngân sách Huyện đã bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục trong giai đoạn mới và tập trung vào các nội dung: lập dự toán ngân sách, phân cấp ngân sách, việc nâng cao ý thức tiết kiệm, chống lãng phí, ý thức kỹ luật tài chính Cũng như cơ chế, chính sách để khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có đồng thời góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm
tra,… Vì vậy, việc học viên chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý ngân sách nhà
nước tại Huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” làm luận văn Thạc sỹ là phù hợp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Qua tìm hiểu của tác giả cho thấy các tài liệu nghiên cứu nói chung và các công trình khoa học nói riêng về quản lý ngân sách nhà nước đã được quan tâm như:
Sách Phân cấp ngân sách cho chính quyền địa phương, thực trạng và giải pháp, PGS-TS Lê Chi Mai (2006), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội đã đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phân cấp quản lý NSNN cho chính quyền địa phương ở Việt Nam trong đó có chính quyền cấp huyện
Luận văn tiến sỹ kinh tế: “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2020”, tác giả Tô Thiện Hiền (2012) tại Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, đã chỉ ra được bản chất cũng như ý nghĩa về mặt lý luận của công tác quản lý ngân sách cấp tỉnh và phân tích thực trạng quản lý ngân sách tại tỉnh An Giang để từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công: “Quản lý ngân sách nhà nước
ở Huyện Hoằng Hóa, Tỉnh Thanh Hóa”, tác giả: Bùi Thị Minh Thúy (2014), học viện hành chính đã đề cập công tác quản lý ngân sách ở cấp huyện của tỉnh Thanh hóa qua việc đi sâu phân tích chi tiết từng khoản thu ngân sách để đưa ra được những giải pháp phù hợp
Trang 11Luận văn Thạc sỹ Hành chính công: “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Cẩm Giàng – Tỉnh Hải Dương”, Vũ Thị Thuận (2014), Học viện Hành chính đã đề cập tới công tác quản lý ngân sách ở cấp huyện của tỉnh Hải Dương thông qua việc tập trung vào hoạt động thu và chi ngân sách tuy nhiên chưa làm rõ được vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý ngân sách Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Quản lý ngân sách nhà nước tại Huyện Lục Ngạn, Tỉnh Bắc Giang”, Nguyễn Thị Thùy Nhung (2015), Học viện hành chính đã đưa ra được hệ thống lý luận rõ ràng cũng như công tác quản lý ngân sách ở cấp huyện của tỉnh Hải Dương từ đó chỉ được vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong quản lý ngân sách
Trên thực tế, kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên đều đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý thu, chi ngân sách nói chung và công tác quản lý ngân sách ở từng địa phương nhất định Mặc dù cùng tuân thủ hệ thống pháp luật về quản lý NSNN nhưng mỗi địa phương đều có những đặc điểm đặc thù khác nhau và hiệu quả của việc quản lý NSNN các cấp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của từng địa phương Các luận văn trên đã chỉ ra được các khâu chưa hoàn thiện trong quá trình quản lý nhưng chưa nêu rõ, chưa làm rõ được vai trò của từng khâu cũng như vai trò của công tác thanh tra trong quy trình quản lý ngân sách nhà nước hay những vấn đề bất cấp trong quá trình thực hiện…Cho đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn huyện Can Lộc, chưa có công trình nào nghiên cứu về hoàn thiện quản lý NSNN cấp huyện để đưa ra được những giải pháp tối ưu cho công tác quản lý NSNN tại huyện nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của huyện và để phù hợp với
cơ chế quản lý chung của Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Từ những vấn đề lý luận chung về NSNN và NSNN cấp huyện luận văn hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và công tác quản lý NSNN cấp Huyện theo luật NSNN 2002 Từ đó đề xuất một số giải pháp khoa học, hợp lý nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện Can Lộc trong thời gian tới tốt hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu của luật NSNN 2015
Nhiệm vụ:
Hệ thống những vấn đề lý luận về NSNN và NSNN cấp huyện
Tìm hiểu thực trạng quản lý NSNN tại Huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Trên cơ sở thực trạng trong những năm qua, phân tích, đánh giá kết quả đạt được, đưa ra các nguyên nhân, hạn chế và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện nói chung và quản
lý ngân sách nhà nước tại Huyện Can Lộc nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý NSNN Huyện Can Lộc
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: chỉ nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước của huyện Can Lộc
Phạm vi về không gian: địa bàn Huyện Can Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh
Phạm vi về thời gian: tài liệu tổng quan được thu thập trong khoảng thời
Trang 13Phương pháp nghiên cứu: việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương
pháp nghiên cứu lý thuyết và các tài liệu, cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh đối chiếu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, tổng hợp rút kinh nghiệm
Sử dụng phương pháp bổ trợ: sử dụng phương pháp thống kê để tổng hợp, phân tích, xử lý kết quả điều tra
Bên cạnh đó luận văn đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố, cùng các số liệu
do các cơ quan hữu quan công bố
Ngoài ra, luận văn còn dựa vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý tài chính, ngân sách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay; Số liệu sử dụng được thu thập từ các số liệu thống kê, báo cáo tài chính, các biểu mẫu báo cáo kèm theo các năm của phòng Tài chính – Kế hoạch huyện; các Nghị quyết của HĐND tỉnh, huyện, các quyết định của UBND tỉnh,
huyện và các số liệu khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của đề tài luận văn:
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận chung về ngân sách nhà nước, luận văn hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý ngân sách cấp huyện, sự cần thiết khách quan phải nâng cao quản
lý công tác thu – chi của ngân sách cấp huyện, qua đó giúp tác giả nghiên cứu cũng như người đọc nắm được những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước cấp huyện, quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện, nắm được những quy định
cụ thể của Nhà nước, của các cơ quan chính quyền địa phương cũng như thực trạng quản lý ngân sách huyện Can Lộc giai đoạn 2013 – 2015
Trang 14Ý nghĩa thực tiễn của đề tài luận văn:
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng công tác quản lý ngân sách tại huyện Can Lộc, so sánh với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội huyện Can Lộc Từ đó, đề xuất những giải pháp mang tính khả thi đối với huyện Can Lộc để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện Trên cơ sở lý luận và qua thực trạng quản lý ngân sách nhà nước, luận văn chỉ ra một số điểm mới của luật NSNN năm 2015 và từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp Huyện trong thời gian tới, góp phần hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp Huyện trong giai đoạn mới
Và cuối cùng, trước tình hình về luận NSNN được đưa ra, đề tài nghiên cứu nhằm giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp với thực tế trong việc quản lý NSNN tại Huyện Can Lộc trong thời gian tới, từ đó góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi tiêu công của nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt
và mục lục, luận văn chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013 – 2015
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
Thuật ngữ NSNN được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia Trên thực tế người ta đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN không giống nhau và tùy thuộc vào các góc độ xem xét khác nhau Cụ thể:
Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì NSNN là một văn kiện tài chính trong đó mô tả các khoản thu, chi của chính phủ được thiết lập hàng năm
Từ điển bách khoa toàn thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “NSNN là văn kiện được Nghị viện hoặc hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó các nghiệp
vụ tài chính của một tổ chức công hoặc khu vực tư được dự kiến và cho phép”
Trang 16Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện nghiên cứu Tài chính cho rằng: “NSNN được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (thu tiền vào) và chỉ tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Giáo trình lý thuyết tài chính: “NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”[12] Giáo trình quản lý tài chính công: “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước do Hiến pháp
quy định” [13]
Qua đó có thể thấy ngân sách nhà nước, trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học Xét từ góc độ này, ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thường là một năm Từ những định nghĩa này cho thấy NSNN có hai yếu tố:
Một là, ngân sách nhà nước là bản dự toán thu và chi tiền tệ của quốc gia Do đó phải được quốc hội, với tư cách là người đại diện cho toàn thể nhân dân trong quốc gia đó quyết định trước khi chính phủ đem ra thi hành trên thực tế Hơn thế nữa, quốc hội còn là người giám sát chính phủ trong quá trình thi hành ngân sách và có quyền phê chuẩn bản quyết toán ngân sách hàng năm do chính phủ đệ trình khi năm ngân sách đã kết thúc
Trang 17Hai là, ngân sách nhà nước chỉ có giá trị thực hiện trong thời hạn một năm, tính từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày 31 tháng 12 hàng năm Khoảng thời gian này được pháp luật quy định nhằm giới hạn rõ thời gian thực hiện bản dự toán ngân sách nhà nước và được gọi là “năm ngân sách” hay “tài khóa”, thực chất là niên độ ngân sách Ở nước ta, việc soạn thảo dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được chủ trì bởi Bộ tài chính cùng sự phối hợp, hỗ trợ của một số cơ quan nhà nước khác có liên quan như Bộ kế hoạch và đầu
tư, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban ngân sách của Quốc hội,… Các cơ quan này, mặc dù có chức năng nhiệm vụ chuyên môn khác nhau do pháp luật quy định nhưng khi tham gia vào quá trình soạn thảo ngân sách nhà nước thì đều có chung nhiệm vụ là xây dựng một dự toán ngân sách thăng bằng, có tính khả thi và hiệu quả nhất
Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện pháp lý
Không chỉ là thuật ngữ kinh tế, ngân sách nhà nước còn là một khái niệm pháp lý Khái niệm này hàm chứa nhiều nội dung chính trị - pháp lý quan trọng như mối tương quan quyền lực giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thiết lập và thi hành ngân sách; thủ tục soạn thảo, quyết định
và chấp hành ngân sách cũng như sự phân chia giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong việc kiểm soát quá trình ngân sách
Trong pháp luật nước ta, khái niệm NSNN theo điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ II năm 2002: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Về cơ bản, định nghĩa này không có gì khác biệt đáng kể sơ với quan niệm về ngân sách nhà nước dưới góc độ kinh tế Trong khoa học pháp lý, quan niệm về ngân sách nhà nước có phần khác biệt đáng kể so với định
Trang 18nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế Sự khác biệt thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là đạo luật được cơ quan lập pháp làm ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông thường; Thứ hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách bao giờ cũng được xác định trong một thời gian ngắn nhất định thường là một năm, trong khi hiệu lực của các đạo luật thông thường là vô thời hạn hay trong một thời gian rất dài Qua đó có thể thấy:
Về hình thức thể hiện: ngân sách được hiểu là các bản dự toán và quyết toán thu, chi của một đơn vị trong một thời gian xác định
Về hành vi: NSNN được hiểu là việc thực hiện các khoản thu chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Như vậy, về bản chất NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại của cải xã hội, nhằm tập trung một phần nguồn lực tài chính vào trong tay nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước Về hình thức biểu hiện, đó là các dự toán và quyết toán các khoản thu, chi trong quá trình trực hiện chức năng của nhà nước trong một thời gian xác định
1.1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước
Sự tồn tại và phát triển không ngừng của định chế ngân sách nhà nước cho tới ngày nay đã chứng tỏ vai trò không thể thiếu của NSNN trong đời sống xã hội và thế giới đương đại Vai trò ảnh hưởng của ngân sách nhà nước bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực, trong đó đáng kể nhất là sự ảnh hưởng của ngân sách nhà nước tới khu vực công và khu vực tư nhân
Trước hết, đối với khu vực công, ngân sách nhà nước là công cụ để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội Hoạt động điều tiết này được thực hiện thông qua việc huy động các nguồn tài nguyên như thuế,
Trang 19phí, lệ phí hay các khoản vay nợ của Nhà nước từ trái phiếu hoặc vay nợ nước ngoài để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu thiết yếu của nhà nước về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy nhà nước Khi đó, ngân sách nhà nước là công cụ không gì thay thế được để Chính phủ thực hiện thành công các chính sách của mình Trong tương lai NSNN vẫn sẽ đóng vai trò là công cụ, phương tiện hiệu quả, không gì thay thế được để thực thi các chương trình hoạt động của Chỉnh phủ
Bên cạnh đó giữa khu vực công và khu vực tư luôn có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, bổ trợ cho nhau nên việc vận hành hệ thống ngân sách của Chính phú tất yếu sẽ tác động mạnh mẽ tới khu vực tư nhân mà ở đó các cá nhân, hộ gia đình hay các doanh nghiệp là những chủ thể bị điều tiết thu nhập Thông qua công cụ ngân sách, Chính phủ điều tiết một phần thu nhập của một nhóm người này để san sẽ cho một nhóm người khác, góp phần đem lại sự công bằng tương đối về thu nhập giữa các giai tầng xã hội, đồng thời xây dựng hệ thống đường sá, cầu cống, công trình phúc lợi công cộng, hệ thống quốc phòng, an ninh mà khu vực tư nhân không thể cung cấp hoặc không muốn cung cấp Nói cách khác, ngân sách nhà nước như một cái “máy lọc” mà qua đó các nguồn tài nguyên như (lợi tức quốc gia) sẽ được phân phối (thông qua chính sách thu ngân sách) và phân phối lại (thông qua chính sách chi tiêu của Chính phủ) theo một kế hoạch chi tiết, cụ thể và rất hoàn hảo
Với các vai trò là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước; là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững; Và là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả thị trường rất mạnh
mẽ cho ta thấy ngân sách nhà nước giữ một vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước
Trang 201.1.1.3 Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống ngân sách nhà nước là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ phận cấu thành là các khâu ngân sách độc lập nhưng giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi của mình
Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước là xác định, sắp xếp, bố trí các bộ phận cấu thành hệ thống ngân sách nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thu, chi của từng cấp ngân sách cũng như của toàn bộ hệ thống ngân sách nhà nước Tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy nhà nước với vị trí và vai trò đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở nước ta, hệ thống NSNN dựa trên các nguyên tắc:
Một là, nguyên tắc thống nhất, tập trung, dân chủ Là một quốc gia thống nhất, nước ta có một hệ thống NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách, Chính phủ thống nhất và quản lý NSNN
Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc tập trung dân chủ NSNN là công cụ của Nhà nước, vì vậy hệ thống NSNN cũng được xây dựng theo nguyên tắc đó Ở mỗi cấp chính quyền, HĐND thảo luận ngân sách cấp mình, nhưng phải được UBND cấp trên và Chính phủ xét duyệt lại để thống nhất vào ngân sách cấp trên và NSNN Ngân sách cấp trên đều phải chấp hành các Luật, các Nghị quyết của Quốc hội, các quyết định của Chính phủ về chế
độ thu chi, các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, mục lục NSNN và các quy định khác có liên quan
Hai là, nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa cấp ngân sách với cấp chính quyền Nhà nước Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nguồn tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền Nhà nước Mỗi cấp chính quyền đều có ngân sách của cấp mình, có nguồn thu
và có khoản chi, có quyền quyết định ngân sách của cấp mình trên cơ sở chấp
Trang 21hành pháp luật của Nhà nước Từ đó giúp phát huy được quyền dân chủ, tính chủ động và tích cực trong khai thác nguồn thu, quản lý chi tiêu nhưng cũng cần đề phòng nảy sinh tính cục bộ địa phương và dễ phân tán nguồn tài chính
có hạn
(Nguồn: Luật ngân sách nhà nước 2002)
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý ngân sách nhà nước
1.1.2 Ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện
Ngày 15/05/1978, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 108/CP xác định quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp quận, huyện về quản
lý tài chính, NS nhằm xây dựng quận, huyện thành một cấp có cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh Ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 138/HĐBT
về cải tiến phân cấp NS địa phương nói rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm NS quận, huyện
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước ta tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
Ngân sách nhà nước
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương Ngân sách
cấp tỉnh
Ngân sách cấp huyện
Ngân sách cấp xã
Trang 22hội chủ nghĩa Cùng với công cuộc CNH – HDH của nước nhà, Ngân sách huyện cũng được xác định lại về vai trò và nhiệm vụ của mình Vào ngày 27/11/1989, Hội đồng bộ trưởng (HĐBT) đã ra nghị quyết số 186/HĐBT về phân cấp quản lý NS địa phương trong đó có NS huyện Tiếp đến vào ngày 16/02/1992, HĐBT ban hành Nghị quyết số 186/HĐBT sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989
Và tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX khẳng định: NS quận, huyện là một cấp NS thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn quận, huyện
Như vậy, NS cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối quan hệ giữa cấp NS huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa
Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Khi xem xét ngân sách huyện không tách rời khỏi NSNN cấp trên nhưng cũng không được coi ngân sách huyện là yếu tố thụ động trong hệ thống ngân sách Theo đó, ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu – chi được quy định đưa vào dự toán trong một năm do HĐND huyện quyết định và giao cho UBND huyện tổ chức chấp hành nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được ngân sách huyện và cơ quan quyết định cũng như cơ quan chấp hành ngân sách huyện Tuy nhiên, quan điểm trên chưa phản ánh được các mối quan hệ tiền tệ mà thực chất là quan hệ lợi ích kinh tế chứa đựng trong ngân sách huyện Thực tiễn chỉ ra rằng khi các khoản thu, chi ngân sách huyện diễn ra tất yếu sẽ nảy sinh sự vận động của nguồn tài chính từ chủ thể (người) nộp đến ngân sách huyện, từ ngân sách huyện đến những mục đích sử dụng nào đó Toàn bộ quá trình thu tác động đến lợi ích, nghĩa vụ của người nộp và toàn bộ các khoản chi sẽ
Trang 23mang lại lợi ích cho dân cư, hộ gia đình Sự vận động của các nguồn tài chính vào ngân sách huyện và từ ngân sách huyện đến các mục đích sử dụng khác nhau chứa đựng các mối quan hệ cụ thể:
Thứ nhất, quan hệ giữa chính quyền cấp huyện với các cấp chính quyền cấp trên thể hiện trong việc xác định cho các huyện nguồn thu được phân chia giữa các cấp ngân sách và thể hiện trong sự hỗ trợ bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp huyện
Thứ hai, quan hệ giữa chính quyền cấp huyện với các tổ chức kinh tế huyện được thể hiện trong việc các tổ chức này nộp thuế, phí - lệ phí cho ngân sách huyện và ngược lại ngân sách huyện cũng phải chi trực tiếp, gián tiếp cho tổ chức này
Thứ ba, quan hệ giữa chính quyền nhà nước với nhân dân trong huyện được thể hiện khi ngân sách cấp trên cấp kinh phí ủy quyền, chuyển giao cho ngân sách huyện thực hiện Đó là chương trình quốc gia như Chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, Chương trình phổ cập giáo dục
Thứ tư, quan hệ giữa cấp chính quyền huyện với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Đó là mối quan hệ thông qua việc biếu, tặng, giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức cá nhân đó đối với huyện và là một khoản thu của ngân sách huyện
Thứ năm, quan hệ giữa cấp chính quyền huyện với tổ chức Đảng và các
tổ chức chính trị xã hội khác trong việc hình thành và sử dụng quỹ ngân sách Quan hệ này được thể hiện ngân sách cấp kinh phí cho các hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong huyện
Tất cả các mối quan hệ được trình bày ở trên phản ánh các nội dung thu
và chi của ngân sách cấp huyện Tóm lại, Ngân sách huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản
Trang 24chi trong phạm vi huyện Nó phản ảnh những mối quan hệ một bên là chính quyền cấp huyện với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền huyện
1.1.2.2 Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện
Từ định nghĩa NS huyện có thể thấy vai trò của NSNN trên địa bàn huyện đó là đảm bảo chức năng nhà nước, an ninh, quốc phòng, thúc đẩy phát triển, ổn định kinh tế, bù đắp khiếm khuyết thị trường, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Điều đó thể hiện trên ba khía cạnh sau:
Một là, NS huyện đảm bảo thực hiện vai trò nhà nước, bảo vệ quốc phòng và an ninh trật tự cấp huyện Là một cấp chính quyền nên Huyện cũng
tổ chức ra cho mình một hệ thống các cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn nhà nước Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cần phải có một quỹ tài chính tập trung đó là NS huyện NS huyện cũng tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng nhà nước ở địa phương Tùy theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội trên từng huyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác nhau Trong các chức năng của nhà nước, chức năng đảm bảo trật tự an ninh, quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Để đảm bảo chức năng đặc biệt quan trọng này, NS huyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết,
có các khoản dự phòng hợp lý
Hai là, NS huyện là công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định kinh tế Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của cấp Trung ương, cấp tỉnh thì cấp huyện cần phải sử dụng các công cụ có sẵn của mình để điều tiết, định hướng Sẽ không có một cơ cấu kinh tế ổn định và phát triển nếu không có
NS làm công cụ Các huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình
để định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển Đồng thời các huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
Trang 25Ba là, NS huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội Đây là vai trò không thể thiếu đối với NS mỗi quốc gia Nó
có tác dụng xoa dịu nền kinh tế thị trường Các vấn đề quan trọng sẽ xảy ra khi chúng ta đi theo con đường kinh tế thị trường như: thất nghiệp, khoảng cách giàu ngheo tăng, không quan tâm tới người già, trẻ em, người tàn tật, ô nhiểm môi trường,… Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế - xã hội các thách thức rất lớn Chính quyền cấp huyện phải tham gia giải quyết các khiếm khuyết nói trên của kinh tế thị trường trên cơ sở sử dụng có hiệu quả công cụ thu chi NSNN trên địa bàn huyện
Bên cạnh việc quan tâm tới đời sống vật chất của người lao động, chính quyền cấp huyện phải thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, cải tạo các sân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ Các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phí cho người dân, làm sao ai cũng được học hành, chăm sóc sức khỏe đầy đủ
1.2 Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.1.1 Khái niệm quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản
lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn
Trang 26Quản lý NSNN là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động thu chi bằng quỹ từ quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Quản lý NSNN cấp huyện là hoạt động của các chủ thể quản lý thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều chỉnh hoạt động của ngân sách cấp huyện nhằm đạt được mục tiêu đã định
Quản lý NSNN cấp huyện phải đảm bảo tạo nguồn thu cho ngân sách, phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện trong từng thời kỳ Đối tượng của quản lý NSNN cấp huyện là các hoạt động của NSNN cấp huyện Cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN cấp huyện Trong quản lý NSNN cấp huyện, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau như:
Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thế quản
lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của NSNN của huyện theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý NSNN
Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý NSNN cấp huyện dựa vào thẩm quyền được giao để ban hành các mệnh lệnh hành chính có tính chất bắt buộc các khách thể quản lý phải tuân thủ
Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh tế để kích thích tính tích cực của khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý NSNN
Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN: được sử dụng để quản
lý và điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 271.2.1.2 Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Ngân sách huyện là một bộ phận hữu cơ của ngân sách địa phương Đóng vai trò Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện, đó là vai trò đảm bảo chức năng của Chính quyền cấp huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo luật định
Ngân sách cấp huyện cùng ra đời và trải qua chặng đường hình thành và phát triển, cùng với sự vận động, biến đổi của hoàn cảnh kinh tế - xã hội, sự tồn tại và phát triển của chính quyền cấp quận - huyện cả về lượng và chất là một thực tế không thể phủ nhận được Vị trí, vai trò của Ngân sách huyện được thể hiện rõ trong Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 2 khoá XI Ngân sách huyện là một cấp ngân sách quan trọng, đóng vai trò là cầu nối giữa các đơn vị cơ sở với các cơ quan quản lý cấp trên Mọi chủ chương, chính sách của Nhà nước, hiệu lực quản lý Nhà nước đều có
sự tham gia của cấp ngân sách này, giúp cho công tác quản lý điều hành đạt hiệu quả tốt hơn Đồng thời cũng phản ánh kết quả của chủ trương chính sách, chế độ đó khi triển khai thực hiện tại cơ sở
Là một cấp chính quyền cơ sở, tổ chức cho mình một bộ máy quản lý với
hệ thống các cơ quan, đoàn thể, hành chính nhằm tổ chức thực hiện các chức năng của Nhà nước Điều này cũng có nghĩa rằng để cho các cơ quan, đoàn thể, tổ chức đó hoạt động được thì cần phải có một quỹ tài chính tập trung, đó chính là Ngân sách huyện Mặc dù không thực hiện các nhiệm vụ quan trọng
và các mục tiêu chiến lược như ngân sách Trung ương nhưng Ngân sách huyện cũng tạo cho mình một vị trí nhất định, nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước tại ở địa phương tuỳ theo địa giới hành chính, tình hình kinh tế xã hội của từng huyện mà nhu cầu đảm bảo này sẽ khác nhau Trong thời gian qua, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và thay đổi của đất nước, sự năng động của Chính quyền các cấp cơ sở đã giúp cho
Trang 28kinh tế nhiều địa phương phát triển mạnh mẽ, đó chính là đóng góp không nhỏ của ngân sách huyện, nguồn thu không ngừng tăng lên, các khoản chi được quản lý ngày một chặt chẽ, điều này khẳng định vai trò quản lý ngân sách huyện
Trong giai đoạn đổi mới hội nhập giao lưu kinh tế quốc tế, tăng cường vai trò, vị trí ngân sách huyện là hết sức cấp thiết, ngoài việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động Nhà nước, ngân sách huyện còn phải hướng cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển đúng đắn, phát huy nội lực, khai thác có hiệu quả những tiềm năng thế mạnh của địa phương, giải quyết các nhu cầu cấp thiết về vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, phát triển cơ sở hạ tầng Đặc biệt là vấn đề xoá đói giảm nghèo tại các huyện vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới của tổ quốc, đảm bảo sự công bằng giữa các vùng miền, giữ vững quốc phòng, an ninh xã hội
Có thể nói công tác triển khai thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, ngân sách huyện ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí của mình nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội địa phương tạo bước phát triển đáng kể góp phần thay đổi diện mạo về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương, tạo đà cho đất nước vững bước trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiến tới công bằng, dân chủ và văn minh
Từ định nghĩa NS huyện có thể thấy vai trò quản lý NSNN trên địa bàn huyện đó là nhằm đảm bảo chức năng nhà nước; đảm bảo an ninh, quốc phòng, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển, ổn định kinh tế, bù đắp khiếm khuyết thị trường, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường của huyện Thể hiện qua các vai trò:
Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các cơ quan công quyền thực hiện các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước
Trang 29Thứ hai, đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nguồn thu của NSNN ngày càng lớn hơn
Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý cần phải coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành Tuy nhiên trong quá trình chi đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý ngân sách cấp huyện
Quản lý ngân sách cấp huyện là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động thu và chi ngân sách cấp huyện nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện trong phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn huyện Vì vậy ngân sách huyện chính là một cấp trong ngân sách địa phương và mang bản chất của NSNN, nên quản lý ngân sách huyện cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc quản lý NSNN Đó là:
Nguyên tắc công khai minh bạch
Về mặt chính sách, thu chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hóa bằng số liệu NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm Nguyên tắc công khai của NSNN được thực hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN
Trang 30Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thế nhìn nhận được chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương Nguyên tắc này đòi hỏi NSNN phải được xây dựng cụ thể, có hệ thống, các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải được đưa vào kế hoạch ngân sách, không được phép lập quỹ đen, ngân sách phụ
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nhu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước thông qua hoạt động thu, chi của NSNN, nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN được thể hiện:
Mọi khoản thu chi của NSNN phải được tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN và phải được dự toán hàng năm, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các khâu trong chu trình NSNN khi được triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của có quan quyền lực nhà nước Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế -
xã hội của Huyện Hoạt động kinh tế - xã hội của Huyện là nền tảng của hoạt động NSNN cấp huyện Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế -xã hội đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
Nguyên tắc cân đối NSNN
Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có
đủ các nguồn thu bù đắp UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan đến các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền tảng kinh tế có khả năng đáp ứng
Trang 31Nội dung quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.2.1 Quản lý thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý thu ngân sách
Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong qua trình nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của nhà nước Thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chi tiêu xác định của nhà nước
Quản lý thu NSNN được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế và NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất
Thu ngân sách cấp huyện hưởng theo phân cấp (chủ yếu là các khoản
thu phí, lệ phí, thu cấp quyền sử dụng đất): Các khoản thu ngân sách nhà nước cấp huyện hưởng 100%; Các khoản thu phân chia ngân sách cấp huyện hưởng theo tỷ lệ phần trăm Tỷ lệ phần trăm phân chia cụ thể các nguồn thu đó do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và được duy trì ổn định trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương từ 3 năm đến 5 năm phù hợp với tình hình của địa phương
Nguồn bổ sung từ ngân sách cấp trên: Thu bổ sung cân đối, được xác định
trên cơ sở chênh lệch giữa số chi lớn hơn nguồn thu ngân sách cấp huyện từ các khoản thu được phân chia giữa các cấp ngân sách địa phương Số thu này được
ổn định trong thời kỳ ổn định ngân sách 3 đến 5 năm, hàng năm được tăng thêm một số phần trăm trên cơ sở trượt giá và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nguồn thu bổ sung có mục tiêu: nhằm hổ trợ cho ngân sách cấp dưới
thực hiện các nhiệm vụ: hỗ trợ thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ
Trang 32ổn định ngân sách; hỗ trợ các chương trình dự án cấp trên giao cho địa phương; hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nằm trong quy hoạch và
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định pháp luật, ngân sách cấp dưới đã bố trí nhưng chưa đủ nguồn; hỗ trợ để xử lý khó khăn đột xuất; hỗ trợ để thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết cấp bách khác…
Quản lý chi NS là việc lập kế hoạch, đề xuất các chính sách chi NS, tổ chức, điều hành và kiểm tra mọi khoản chi tiêu từ NSNN Quản lý chi NSNN đảm bảo quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập
kế hoạch đến khâu sử dụng NS đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước, phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội
Cũng như ngân sách nhà nước, ngân sách nhà nước cấp huyện có những nhiệm vụ chi thể hiện ở những khoản chi sau:
Chi thường xuyên: là quá trình phân phối, sử dụng ngân sách cấp huyện
để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của chính quyền cấp huyện, bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã hội, thông tin liên lạc, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh và trật tự an
Trang 33toàn xã hội, chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, chi cho các hoạt động của các cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị xã hội do huyện quản lý và chi khác
Chi đầu tư phát triển: là quá trình phân phối, sử dụng một phần vốn ngân
sách cấp huyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất của Nhà nước nói chung và của huyện nói riêng nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống xã hội
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới, cấp phát kinh phí, các khoản chi của ngân sách cấp huyện
Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán ngân sách từng quý; căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, phòng Tài chính – Kế hoạch tiến hành cấp phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụng ngân sách và thanh toán trực tiếp từ Kho bạc nhà nước cho đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước
Các hình thức cấp phát kinh phí: cấp phát bằng hạn mức kinh phí, cấp phát hình thức lệnh chi tiền; cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản; cấp phát kinh phí ủy quyền; cấp phát cho các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp
Cân đối ngân sách nhà nước cấp huyện
Cân đối ngân sách là phương hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tạo lập và sử dụng ngân sách Căn cứ vào dự toán thu, cơ chế quản lý ngân sách mới có thể đưa ra được dự toán chi
Tuy nhiên để an toàn, các nhà hoạch định chính sách thường đảm bảo tổng thu lớn hơn tổng chi một lượng hợp lý để đề phòng những rủi ro có những khoản chi đột biến Khoản 3 điều 8 Luật NSNN 2002 có quy định:
“Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng chi không được vượt quá tổng thu” Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định cho ngân sách địa phương
Trang 341.2.2.2 Chu trình quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Chu trình ngân sách là trình tự các bước thực hiện các hoạt động (theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền) của các cơ quan hữu quan trong quá trình chuẩn bị, lập, thẩm tra, quyết định dự toán ngân sách đến phân bổ, thực hiện (chấp hành) và quyết toán ngân sách, trong đó, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn hoàn thành từng công việc cụ thể của từng khâu trong toàn bộ chu trình Chu trình ngân sách càng được quy định cụ thể, rõ ràng thì phạm vị, trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan chức năng trong quản lý và điều hành ngân sách càng đầy đủ, cụ thể Từ đó giúp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan trong quản lý ngân sách
Quá trình quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện qua 3 giai đoạn của chu trình ngân sách: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách cấp huyện
Một là, lập dự toán ngân sách nhà nước cấp huyện
Một chu trình NSNN được bắt đầu khâu lập dự toán NSNN Đây là quá trình phân tích, đánh giá quan hệ giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của cấp huyện để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu, chi dự toán ngân sách
hàng năm một cách phù hợp
Dự toán ngân sách là một bản kế hoạch được đưa ra vào đầu năm ngân sách về nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách trong năm dự toán Lập dự toán ngân sách nhà nước là khâu đầu tiên và là giai đoạn khởi đầu cho chu trình quản lý ngân sách Việc lập dự toán ngân sách là việc xây dựng và quyết định
dự toán thu, chi ngân sách nhằm giữ vai trò tiền đề cho các khâu tiếp theo của quá trình ngân sách
Việc lập dự toán ngân sách nhà nước cấp huyện căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh của địa phương;
Trang 35phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi của NS cấp huyện; các chính sách, chế
độ thu ngân sách, định mức phân bổ ngân sách; chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi ngân sách; tình hình thực hiện dự toán ngân sách cấp huyện năm hiện hành và các năm trước
Chu trình lập dự toán ngân sách cấp huyện như sau: ngân sách cấp xã lập
dự toán thu, chi NSNN năm sau gửi cơ quan tài chính địa phương Cơ quan tài chính huyện tổng hợp dự toán NS cấp xã và các đơn vị dự toán thuộc NS cấp huyện trình UBND huyện UBND huyện xem xét dự toán và phương án phân bổ NS trình HĐND cùng cấp và gửi cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên Sau khi dự toán NS được HĐND cấp tỉnh thông qua, UBND cấp tỉnh quyết định phương án phân bổ NS cho NS cấp huyện UBND huyện lập phương án phân bổ NS trình HĐND cùng cấp thông qua Sau khi HĐND cấp huyện phê duyệt, UBND huyện giao dự toán cho các đơn vị dự toán và ngân sách cấp xã trước ngày 31 tháng 12 hàng năm
Trong quá trình lập dự toán cần đảm bảo các yêu cầu sau: Dự toán NS cấp huyện cần được tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư pháp triển; khi lập dự toán phải đảm bảo tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng chi thường xuyên Việc lập dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào khả năng NS hàng năm, ưu tiên bố trí đủ đầu tư phát triển phải căn cứ vào khả năng NS hàng năm, ưu tiên bố trí đủ nguồn vốn phù hợp với tiến độ triển khai Dự toán phải được lập theo mục lục NSNN và biểu mẫu theo đúng quy định của pháp luật
Việc lập dự toán ngân sách thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho việc chấp hành và quyết toán ngân sách huyện Vấn đề quan trọng hàng đầu của khâu lập dự toán ngân sách là phải tính toán đầy đủ, đúng đắn, có căn cứ các chỉ tiêu thu chi của ngân sách huyện trong kỳ kế hoạch
Trang 36Hai là, chấp hành ngân sách nhà nước cấp huyện
Chấp hành ngân sách là khâu thứ hai của chu trình ngân sách: đó là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch ngân sách năm của huyện trở thành hiện thực
Việc chấp hành NS cấp huyện được tuân thủ theo quy định của Luật NSNN, các văn bản hướng dẫn của các Bộ ngành, Nghị quyết của HĐND tỉnh, dưới sự điều hành của UBND huyện và giám sát của HĐND cùng cấp
Về nguyên tắc, mọi khoản thu chi NS đều được thực hiện thông qua hệ thống KBNN Các khoản thu phải tập trung vào NSNN đầy đủ, chính xác và kịp thời Trên thực tế, vì lý do khách quan mà việc nộp trực tiếp và KBNN gặp khó khăn, cơ quan thu có trách nhiệm giám sát, kiểm tra các khoản thu để đảm bảo các khoản thu này được thực hiện đầy đủ
Chi NS cấp huyện được thực hiện theo tiến độ thu NS và phương án điều hành của cơ quan tài chính cung cấp Mọi khoản chi được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật KBNN cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi theo đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức của nhà nước và dự toán được giao để cấp phát thanh toán
Sau khi ngân sách được phê chuẩn, năm ngân sách bắt đầu thì việc thực hiện ngân sách huyện cũng được triển khai
Đối với vấn đề thu: mục đích chấp hành dự toán thu là không ngừng bồi dưỡng phát triển nguồn thu, tìm mọi bịên pháp động viên, khai thác nguồn thu sao cho đạt và vượt tỷ lệ đã được HĐND huyện phê chuẩn Trên cơ sở nhiệm
vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý có chia ra từng khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu và hình thức thu (thu trực tiếp tại kho bạc nhà nước, thu qua chi cục thuế) gửi phòng tài chính Chi cục thuế lập dự toán thu thuế, phí- lệ phí và các khoản thu thuộc phạm vi quản lý Phòng tài chính và các cơ quan khác được uỷ quyền lập dự toán thu các khoản thu còn lại
Trang 37Đối với vấn đề chi: Mục đích chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách cho hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội đã được hoạch định trong năm kế hoạch Trên cơ sở dự toán chi cả năm được duyệt và nhiệm vụ phải chi trong quý, các đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán chi quý (có chia ra tháng), chi tiết theo các mục chi của mục lục NSNN gửi phòng tài chính trước ngày 10 của tháng cuối quý trước Phòng tài chính căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi trong quý lập dự toán điều hành ngân sách quý, báo cáo UBND huyện Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán ngân sách, căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, phòng tài chính tiến hành phân bổ dự toán theo nguyên tắc phân bổ trực tiếp đến các đơn vị sử dụng ngân sách và thanh toán trực tiếp từ kho bạc nhà nước cho người hưởng lương, người cung cấp hàng hoá, dịch vụ và người nhận thầu
Trong quá trình chấp hành ngân sách, cần thường xuyên kiểm soát thu, chi NSNN: Công tác kiểm soát thu, chi NSNN là một trong những nội dung quan trọng trong việc chấp hành ngân sách Đây là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị, trong đó đặc biệt là cơ quan thanh tra tài chính, cơ quan thu ngân sách, kho bạc nhà nước Chỉ có phòng tài chính, chi cục thuế
và các cơ quan khác được uỷ quyền giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách (gọi là
cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN trên điạ bàn huyện mình quản lý
Ba là, quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện
Quyết toán ngân sách huyện là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Đó là việc tổng hợp lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách khi năm ngân sách kết thúc nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc điều hành NSNN trong những chu trình ngân sách tiếp theo
Trang 38Quyết toán NSNN cấp huyện phải thể hiện được tính tuân thủ trong việc thu, chi ngân sách, đồng thời quyết toán NSNN cấp huyện phải báo cáo được
tính hiệu lực, hiệu quả của các khoản thu, chi ngân sách cấp huyện
Quyết toán NSNN thực hiện theo phương thức cơ quan quản lý cấp trên thẩm tra, quyết toán thu chi của cơ quan tài chính cấp dưới Theo đó, cơ quan tài chính cấp huyện (phòng tài chính – kế hoạch) thẩm tra, quyết toán NS cấp
xã Đồng thời lập quyết toán thu chi NS cấp huyện; tổng hợp, lập quyết toán thu chi NS trên địa bàn (bao gồm quyết toán NS cấp xã và lập quyết toán NS cấp huyện) báo cáo UBND cấp huyện UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp phê duyệt quyết toán để trình cơ quan tài chính cấp tỉnh (Sở tài chính) Ngoài kết quả quyết toán NSNN, công tác quyết toán còn giúp UBND huyện đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn và có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời
1.2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Thanh tra, kiểm tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước Qua thanh tra, kiểm tra để có các kiến nghị khắc phục những sơ hở, yếu kém, đề xuất những biện pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước nhất là trong lĩnh vực tài chính phải có thanh tra, kiểm tra và thanh tra, kiểm tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải có thanh tra Quản lý nhà nước mà không có thanh tra sẽ dẫn tới quan liêu và xa rời thực tiễn
Thanh tra, kiểm tra làm cho chu trình quản lý nhà nước được khép kín, các hoạt động ban hành và tổ chức thực hiện quyết định quản lý được gắn bó
Trang 39chặt chẽ hơn, từ việc xem xét, đánh giá, kiểm chứng việc thực hiện các chủ trương, chính sách của đối tượng bị quản lý, đến việc đề xuất các biện pháp hoàn thiện chủ trương, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý của chủ thể Để thực hiện đổi mới kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia thì vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra ngày càng cần thiết và quan trọng để quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện vai trò này được thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, thanh tra là phương thức bảo đảm trật tự, kỷ cương trong quản
lý tài chính, ngân sách từ đó góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý, bao gồm giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước và công chức nhà nước; việc chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng khác chịu sự quản lý của Nhà nước; thanh tra kịp thời phát hiện những sai phạm và có biện pháp xử lý Với chức năng, nhiệm vụ xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hoặc hành vi hành chính của cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, cũng như trách nhiệm và quyền hạn được giao; kết luận và xử lý kịp thời những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý, làm trong sạch bộ máy nhà nước
Thứ hai, việc thanh tra còn nhằm mở rộng và bảo đảm cho quyền dân chủ của nhân dân được thực thi một cách nghiêm minh Theo lý thuyết, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, cho nên Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân, tạo mọi điều kiện cho họ thực hiện các quyền về dân chủ - chính trị của mình như: quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận, quyền khiếu nại, tố cáo
Trang 40Mặt khác, việc xem xét, kết luận và kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo, các tổ chức Thanh tra giúp Đảng và Nhà nước phát hiện kịp thời những
vi phạm của cán bộ, công chức, loại trừ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mất dân chủ, thiếu công bằng, xa rời lợi ích của nhân dân, từ đó có các biện pháp xử lý, khắc phục, góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, hoạt động Thanh tra còn nhằm tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý tài chính, phát hiện những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý
Thứ ba, khi xem xét vai trò của thanh tra tài chính trong các giai đoạn lịch sử cho thấy, vai trò quan trọng nữa của thanh tra là nhằm thực hiện tham mưu cho các cấp chính quyền huyện trong giải quyết khiếu nại hành chính, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các cấp, các ngành trong việc tiếp công dân, nhận các khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
Như vậy, vai trò của thanh tra trong hoạt động quản lý ngân sách nhà nước ngày càng có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta thực hiện Chương trình cải cách bộ máy nhà nước, trong đó có các cơ quan thanh tra
Công tác thanh tra, kiểm tra quản lý NSNN huyện thực hiện theo quy định nhằm phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong quản lý NSNN để kiến nghị với
cơ quan có thẩm quyền góp phần nâng cao hiệu quả quản lý NSNN Đối với công tác thanh tra ngân sách huyện trực thuộc tỉnh theo Quyết định số 46/QĐ-BTC ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định: