+ Vai trò của Đảng : vai trò CM của Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân * Con đường cách mạng hiện nay ở nước ta : Đại hội IV của Đảng đề ra : đường lối chung của cách mạng xã hội chủ n
Trang 1Hoàn cảnh lịch sử thế giới cuối TK19 đầu TK20 :
- Từ nửa sau thế kỷ 19, CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh phát triển sang giai đoạn CNĐQ, tiến hành xâm chiếm các nước thuộc địa Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân ra đời Mâu thuẫn mới xuất hiện : >< giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ
- Phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh
mẽ, tác động sâu sắc đến nước ta
- Thắng lợi của cuộc CM tháng 10 Nga (1917) và sự ra đời của QTCS (Quốc tế III-1919) làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, mở đầu thời đại mới – thời đại quá độ
từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Tình hình trong nước :
Ngày 1-9-1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược VN Đến năm 1897, thực dân Phoàn thành công cuộc xâm chiếm Bình Định VN và bắt đầu xác lập chế độ cai trị, khaithác thuộc địa ở VN trên tất cả các lĩnh vực :
- Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân P, xã hội VN đã
có những biến chuyển sâu sắc
Về tính chất xã hội : từ xã hội phong kiến thành XH thuộc địa nửa phong kiến Về >< cơ bản trong xã hội : nổi bật 2 >< : >< giữa toàn thể dân tộc VN với thực dân P và tay sau, >< giữa nông dân với địa chủ phong kiến
Trang 2Về cơ cấu giai cấp trong XH : giai cấp cũ (địa chủ phong kiến và nông dân) bị phân hóa; xuất hiện những giai cấp mới (công nhân, TS và tiểu TS)
- Phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân VN trước 1930 rất sôi nổi nhưng đều thất bại mặc dù đã được thử nghiệm theo các hệ tư tưởng khác nhau như : + Các phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến :
Phong trào Cần Vương với các cuộc khởi nghĩa : khởi nghĩa Ba Đình 1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892), khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896)…
Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo ở miền núi phía Bắc (1897-1913)
+ Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ TS/;
Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và xu hướng cải lương của Phan Chu Trinh
Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận TS và địa chủ lớp trên (1919-1923) Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu TS thành thị và TS lớp dưới (1925-1926)
Phong trào CM quốc gia TS của VN quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứngđầu (1927-1930) và cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)
Nguyên nhân các phong trào đấu tranh thất bại :
+ Chưa thấy được tính chất thời đại đã thay đổi sau Cách mạng tháng Mười, mở
ra thời đại mới
+ Chưa thấy được giai cấp lãnh đạo cách mạng đã thay đổi
+ Chưa thấy được mối quan hệ dân tộc và giai cấp
+ Chưa thấy được mối quan hệ dân tộc và quốc tế
+ Chưa thấy được bản chất của chủ nghĩa tư bản
+ Chưa thấy được sức mạnh, vai trò của quần chúng nhân dân khi có Đảng cộng sản lãnh đạo
Trước yêu cầu cấp bách phải tìm 1 con đường cứu nước mới, ngày 5-6-1911 Nguyễn Ai Quốc đã lên đường sang các nước phương tây nơi có KHKT phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do, xem xác nước làm thế nào để rồi trở về giúp đồng bào mình thoát khỏi ách nô lệ Người đã gặp đc Chủ nghĩa Mác-Lenin cũng là thời điểm người thấy được những >< trên và đã được giải quyết khi ĐCSVN ra đời
ĐCSVN ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở VN trong thời đại mới, đó là sp của sự kết hợp CN Mac – Lenin với p/trào công nhân và p/trào yêu nước VN
Trang 3Sự ra đời của Đảng với hệ thống tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh CM đúng đắn
đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và lãnh đạo của các p/trào yêu nước đầu thế
kỷ XX Sự kiện thành lập Đảng là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử
CMVN Nó chứng tỏ giai cấp vô sản VN trưởng thành và đủ sức lãnh đạo CM Đảng
ra đời làm cho CMVN trở thành 1 bộ phận khăng khít của CMTG
Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu cầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc VN
Sự ra đời của Đảng khẳng định con đường đi lên của dân tộc VN từ năm 1930 làcon đường CMVS, gắn mục tiêu độc lập dân tộc với CNXH là con đường đúng đắn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử
Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
+ Phương hướng CM : là làm TS dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản
+ Mục tiêu : Độc lập dân tộc gắn liền CNXH
+ Nhiệm vụ : chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất chod ân cày, nhưng nhiệm vụ giành độc lập cho dân tộc được đưa lên hàng đầu
+ Lực lượng cách mạng : phải đoàn kết công nhân, nông dân đây là lực lượng cơbản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai
+ Phương pháp cách mạng : sử dụng bạo lực CM của quần chúng để đánh đổ đế quốc phong kiến
+ Quan hệ quốc tế : CMVN là một bộ phận của CM thế giới
+ Vai trò của Đảng : vai trò CM của Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân
* Con đường cách mạng hiện nay ở nước ta :
Đại hội IV của Đảng đề ra : đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta là “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành động thời ba cuộc cách mạng : cách mạng
về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của các thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng
đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật
tự xã hội”
Trang 4Câu 2 : Anh (chị) hãy cho biết sự vận dụng đúng đắn sáng tạo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng cộng sản; sự phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta trong việc thành lập Đảng CSVN? Liên hệ với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay là nhiệm vụ then chốt?
Trả lời:
Sự vận dụng đúng đắn sáng tạo học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin về Đảng cộng sản; sự phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong việc thành lập Đảng CSVN :
Giữa lúc dân tộc Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối cứu nước thì với bảnlĩnh và tư duy độc lập, tháng 6/1911 Nguyễn Ai Quốc đã lên đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học – kỹ thuật phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do để tìm đường cứu dân tộc thoát khỏi ách nô lệ
Năm 1917, với sự thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Đồng thời đã có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ai Quốc
Tháng 7-1920, được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo nhân đạo đã giải đáp cho Nguyễn
Ai Quốc con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc
Ngày 30-12-1920, Nguyễn Ai Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, sau đó tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự chuyển biến về tư tưởng chính trị của Nguyễn Ai Quốc, gắn liền tư tưởng yêu nước với lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin Người quyết định đặt cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
Với sự chuẩn bị công phu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về các mặt như : Hoạt động thực tiễn vừa tích cực nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phongtrào cách mạng trong nước; trực tiếp chuẩn bị những điều kiện về tư tưởng – chính trị; viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa thực dân và thực dân Pháp, vạch trần bản chất xâm lược phản động, bóc lột đàn áp nhằm đánh thức lòng yêu nước, ý chí phản kháng của dân tộc Đặt biệt Người nghiên cứu lý luận Mác – Lê nin và phát triển thêm để trởthành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động, là cơ sở để hoạch định đường lối cho Đảng sau này Trong đó quan điểm cách mạng của Nguyễn Ai Quốc còn được thể hiện qua :
Trang 5- Chuẩn bị lực lượng cách mạng : Giai cấp công-nông là chủ yếu.
- Mục tiêu của cách mạng là quyền lực phải về tay nhân dân
- Đảng phải có Đảng cộng sản lãnh đạo và phải lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng
- Thực hiện đoàn kết quốc tế, liên minh quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới
- Cùng với một số nhà cách mạng trong và ngoài nước, Người đã thành lập : HộiLiên hiệp các dân tộc thuộc địa, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, Hội Việt Nam thanh niên CM,… đồng thời trực tiếp chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam dẫn đến sự ra đời của 3 tổ chứccộng sản : Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (7-1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930) Và điều tất yếu đã xảy ra, tháng 2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam đã được thành lập Đảng ra đời là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam Dựa trên sự đúc kết các kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã xác định để có đường lối đúng đắn sáng tạo Chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Xuất phát từ thực tiễn của đất nước ta, tôn trọng và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan đồng thời nắm vững xu thế phát triển của thời đại; trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc
Thực tế lịch sử đã chứng minh sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm kết hợp giữa lý luận cách mạng với phong trào công nhân, phong trào yêu nước
Vì thế sự phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và lãnh đạo của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
Việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay là nhiệm vụ then chốt :
Học thuyết Mác – Lê nin về Đảng cộng sản có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với xâydựng Đảng ta vững mạnh về tổ chức trong các thời kỳ cách mạng Vận dụng các nguyên lý Đảng kiểu mới của học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản vào xây dựng Đảng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khái quát thành những nguyên lý chủ yếu như : tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm túc và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng; đức và tài, quan hệ giữa đức
Trang 6và tài của cán bộ; liên hệ mật thiết với nhân dân; xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở và đội ngũ đảng viên;lề lối, phong cách làm việc… Đồng thời, Người cũng chỉ ra việc thực hiện các nguyên lý đó đối với Đảng ta.
Học thuyết Mác-Lênin về Đảng cộng sản là cơ sở, nền tảng để Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào xây dựng phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên của Đảng ta Quan điểm của Người là : đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy
tớ thật trung thành của nhân dân
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, song suy đến cùng xây dựng Đảng có vai trò quyết định nhất Học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản vẫn là cẩm nang có giá trị nhất, là ngọn đuốc soi đường để Đảng và nhân dân Việt Nam tiến hành công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, nhất là về Đảng Cộng sản cầm quyền luôn luôn là chỉ dẫn quý báu để Đảng và nhân dân Việt Nam tiến hành công tác xây dựng Đảng, để Đảng
có đủ khả năng đưa đất nước Việt Nam đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội
Câu 3 : CMT8-1945 có phải là “cánh cửa chính trị khép hờ” không hay là khoa học và nghệ thuật “chớp thời cơ” trong lãnh đạo tổng khởi nghĩa của Đảng ta? Bằng sự hiểu biết về LSĐ CSVN, anh (chị) hãy cho biết nhận định nào là đúng hay sai?
Trả lời:
Trang 7- CMT8 – 1945 là khoa học và nghệ thuật “Chớp thời cơ” trong lãnh đạo tổng khởi nghĩa của Đảng ta.
- Nhận định Cách mạng tháng 8 thành công là một quá trình chuẩn bị của Đảng ta
- Cương lĩnh chính trị đầu tiên ra đời đúng đắn phù hợp và điều đó minh chứng qua :
Cao trào cách mạng 1936-1939 (đây được xem là cuộc tổng diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho CMT8-1945)
Cao trào cách mạng 1936-1939 (được Đảng xem là cuộc tổng diễn tập lần thứ 2)
Cao trào cách mạng 1939-1945 là bước chuẩn bị công phu (Hội nghị TW 6 đã đặt vấn đề dân tộc là cốt lõi, tạm gát thành lập chính phủ Xô Viết để thành lập chính phủ cộng hòa dân chủ vào tháng 9/1945)
+ Hội nghị TW7 (11/1940) đ/c Trường Chinh chủ trì đã đưa đấu tranh vũ trang vào chương trình nghị sự
+ Hội nghị TW8 (5/1941) do Nguyễn Ai Quốc chủ trì đã tìm ra con đường khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền mang bản sắc Việt Nam (khởi nghĩa từng phần giànhthắng lợi từng bước tiến tới giành chính quyền) đã được áp dụng thành công trong cách mạng tháng 8
Chủ trương của Đảng ngày 12/3/1945 với bản chỉ thị lịch sử : “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
Đảng xác định thời cơ cách mạng :
- Nhật đã đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng minh vô điều kiện
- Chính phủ tay sai Trần Trọng Kim hoang mang cực độ
- Quân đội các nước đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật
- Đảng xác định, việc giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạu đua nướcrút với quân Đồng minh, sao cho phải giành chính quyền trước khi Đồng minh vào Đông dương
Chính vì chỗ biết vận dụng thời cơ chủ quan – khách quan, xác định tình hình, dưới sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng đã quyết định thắng lợi CMT8 – 1945
Câu 4 : Anh (chị) hãy nêu và phân tích những nét đặc thù chủ yếu trong chủ trương, biện pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thực hiện đưa nước ta ra khỏi thế
Trang 8“ngàn cân treo sợi tóc” năm 1945-1946? Liên hệ thực tiễn cách mạng hiện nay ở nước
- Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo giờ đây đã vững vàng vàdày dặn kinh nghiệm sau 15 năm thử thách, tôi luyện
- Hệ thống chủ nghĩa xã hội đang hình thành, phong trào cách mạng thế giới đang phát triển mạnh mẽ đã cổ vũ nhân dân ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ thành quảcủa cách mạng
- Nạn dốt với hơn 90% dân số không biết chữ Các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc tràn lan
- Ngân sách quốc gia trống rỗng: Còn 1.230.000 đồng, trong đó có đến một nửa là tiền rách không dùng được Hệ thống ngân hàng vẫn còn bị Nhật kiểm soát Quân Tưởng đưa vào lưu hành đồng “Quốc tệ”, “Quan kim” làm rối loạn nền tài chính nước ta
Về đối ngoại
- Miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 trở ra) 20 vạn quân Tưởng và các đảng phái tay sai của chúng như: Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng chí hội (Việt Cách) tràn vào nước ta với mưu đồ tiêu diệt Đảng Cộng Sản Đông Dương, lập nên chính quyền tay sai của chúng Dựa vào quân Tưởng, các đảng phái này đã lập nênchính quyền phản động ở Yên Bái, Móng Cái, Vĩnh Yên
- Miền Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào) Quân đội Anh đã dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam Các lực lượng phản động thân Pháp như Đảng
Trang 9Đại Việt, một số giáo phái hoạt động trở lại và chống phá cách mạng Ngoài ra, còn
có 6 vạn quân Nhật trên khắp đất nước
Những khó khăn về đối nội và đối ngoại trên là một thách thức quá lớn đối với Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đang còn non trẻ lúc bấy giờ Việt Nam lúc này nhưđang trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
B Những chủ trương và biện pháp khắc phục khó khăn, củng cố chính quyền nhằm giữ vững nền độc lập
1 Củng cố chính quyền dân chủ nhân dân:
- Một tuần lễ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Chính phủ lâm thời đã công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước Ngày 06/01/1946, hơn 90% cử tri cảnước tham gia bỏ phiếu bầu cử Quốc hội và đã bầu ra 333 đại biểu Ngày 02/03/1946, Quốc hội khoá I họp phiên đầu tiên và đã quyết định thành lập Chính phủ chính thức
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Sau ngày bầu cử Quốc hội, cử tri cả nước cũng đãtiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và sau đó Ủy ban hành chính các cấp cũng được thành lập Quốc Hội ban hành hiến pháp, pháp luật
- Việt Nam giải phóng quân được củng cố và phát triển sau đó đổi tên thành vệ quốc đoàn (9/1945) và đến tháng 5/1946 đổi thành Quân đội quốc gia Việt Nam
Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Khẳng định lòng ủng hộ son sắc của cả dân tộc đối với Đảng
và Chính phủ cách mạng trước những âm mưu chia rẽ của bọn đế quốc và tay sai Trênđây là những điều kiện ban đầu để Đảng và Nhà nước vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” lúc bấy giờ
2 Giải quyết khó khăn về đối nội
· Diệt giặc đói:
- Biện pháp trước mắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào lập “hũ gạo tiết kiệm”, không dùng gạo, ngô nấu rượu để đem cứu dân nghèo Tổ chức “ngày đồng tâm”, thực hiện “nhường cơm sẽ áo” để cứu đói
- Biện pháp lâu dài: Phát động phong trào thi đua tăng gia sản xuất với khẩu hiệu:
“không một tất đất bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng” Củng cố đê điều, Chia ruộng cho dân cày nghèo, giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác
Kết quả: Đến cuối năm 1946, nền nông nghiệp được phục hồi, sản lượng lương thực tăng lên và nạn đói được đẩy lùi
· Diệt giặc dốt: Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập
cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi nhân dân tham gia xóa nạn mù chữ Đến đầu
Trang 10tháng 3/1946, ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ có gần 3 vạn lớp học với 81 vạn học viên, cáctrường tiểu học, trung học phát triển mạnh.
· Giải quyết khó khăn về tài chính: Chính phủ đã thành lập quỹ độc lập, phát động tuần lễ vàng để kêu gọi nhân dân tự nguyện đóng góp giúp Chính phủ
- Nhân dân đã hăng hái đóng góp Sau một thời gian ngắn Chính phủ đã thu được
20 triệu bạc và 370 kg vàng
- Ngày 31/01/1946, Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam
- Ngày 23/11/1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trên toàn quốc
3 Giải quyết khó khăn về đối ngoại:
Trong giai đoạn trước ngày 28/2/1946
- Nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược:Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, chính phủ Pháp đã có kế hoạch tái chiếm Đông
Dương Ngày 2/9/1945, thực dân Pháp đã xả súng vào nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn đang tham dự mit-tinh mừng ngày độc lập Ngày 6/9/1945, quân Anh đến Sài Gòn và
đã thả hết quân Pháp bị Nhật bắt giam trước đó; trang bị vũ khí cho chúng và tiến hànhchiếm đóng nhiều nơi Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công trụ sở Ủy Ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai Trước tình thế đó, nhân dân Nam bộ đã chủ động kháng chiến chống thực dân Pháp Ngày 5/10/1945, sau khi có viện binh thực dân Pháp đẩy mạnh đánh chiếm các tỉnh Nam bộ và Nam Trung bộ Trước tinh thần kháng Pháp của nhân dân Nam bộ, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã ra sức ủng hộ và phát động phong trào ủng hộ Nam bộ kháng chiến để giam chân địch
- Biện pháp hòa hoãn với Tưởng Giới Thạch Để tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, đồng thời tranh thủ điều kiện hòa bình để xây dựng và củng cố chính quyền, Đảng đã chủ trương hòa hoãn và tránh xung đột với quân Tưởng Giới Thạch: Chấp nhận tăng thêm 70 ghế không qua bầu cử cho tay sai của
Tưởng Dành 4 ghế Bộ Trưởng cho bọn Việt Quốc, Việt Cách Cho Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch nước Chấp nhận cung cấp một phần lương thực thực phẩm cho quân Tưởng Đồng ý để Tưởng đưa đồng “Quan kim”, “Quốc tệ” vào lưu hành ở miền Bắc.Giai đoạn từ 28/2/1946 trở đi
- Hiệp ước Hoa – Pháp và âm mưu của Pháp: Sau khi chiếm đóng Nam bộ và NamTrung bộ, thực dân Pháp chuẩn bị mở rộng xâm lược ra miền Bắc Nhưng do lực lượng còn yếu (3,5 vạn), chúng không thể đương đầu nổi với nhân dân miền Bắc và sựcản trở của 20 vạn quân Tưởngở đây Để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách “hòa
Trang 11bình”, Pháp đã thương lượng và ký với Tưởng Hiệp ước Hoa – Pháp vào ngày
28/2/1946 với nội dung:
ü Pháp trả lại một số quyền lợi cho Tưởng ở Trung Quốc và cho Trung Quốc vận chuyển hàng hoá qua cảng Hải Phòng miễn thuế
ü Tưởng đồng ý cho Pháp đưa quân ra miền Bắc thay thế Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật
- Mặt khác, Pháp tìm cách điều đình với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Như vậy, sau 28/2/1946, ta đang đứng trước hai con đường:
- Hoặc chống lại thực dân Pháp ngay sau khi chúng đưa quân ra miền Bắc
- Hoặc tạm thời hòa hoãn với Pháp để nhanh chóng đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏiđất nước ta, sau đó mới chống lại Pháp
Chủ trương của ta sau ngày 28/2/1946
- Chính phủ của ta đã chọn giải pháp thứ hai – hòa hoãn với Pháp:
Kí Hiệp định sơ bộ: Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ với nội dung:
ü Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do,
có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và Tài chính riêng nằm trong khối Liên Hiệp Pháp
ü Chính phủ Việt Nam thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay Tưởng, và
số quân này sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm
ü Hai bên thực hiện ngừng bắn ngay ở Nam Bộ; Tạo điều thuận lợi cho việc mở cuộc đàm phán ở Paris
Hiệp định sơ bộ đã đẩy được 20 vạn quân Tưởng và tay sai ra khỏi miền Bắc, tạo ra được một giai đoạn hòa bình để củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp
Ký tạm ước 14/9/1946
Ta tranh thủ điều kiện hòa bình để ra sức củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị để đối phó với thực dân Pháp Thực dân Pháp liên tiếp vi phạm Hiệp định: Gây xung đột ở Nam Bộ, tìm cách trì hoãn và phá hoại các cuộc đàm phán, làm cho cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-blô giữa hai Chính phủ bị thất bại Nguy cơ bùng nổ chiến tranh đến gần.Trước tình hình đó, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp một bản Tạm ước, tiếp tục nhượng bộ một số quyền lợi ở Việt Nam cho Pháp để kéo dài thời gian hòa hoãn nhằm củng cố và xây dựng lực lượng
Trang 12Nội dung bản Tạm ước gồm những điểm chủ yếu như sau: Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác như Hiệp định Sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán sẽ được triển khai chậm nhất vào tháng Giêng 1947.
ü Chính phủ Việt Nam bảo đảm các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế - văn hoá của người Pháp ở Việt Nam
ü Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bảo đảm các quyền
tự do dân chủ cho nhân dân
ü Việt Nam và Pháp thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện
ü Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên quy định thời gian và cách thức
Tạm ước 14-9-1946 là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế hết sứckhó khăn của đất nước lúc bấy giờ Ngày 20-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến
Tổ quốc trong sự chờ đón đầy tin tưởng của toàn dân ta Cuộc hành trình ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đất Pháp tuy chưa giải quyết được mục tiêu cơ bản của cuộc đàm phán, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới hiểu rõ hơn vấn đề Việt Nam, biểu thị sự đồngtình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam
Trải qua hơn một năm đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, những khó khăn ban đầu đã được đẩy lùi Tiềm lực của Nhà nước cách mạng được tăng cường một bước, tạo nên thế và lực mới cho toàn dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước Có được những thắng lợi đó là do toàn dân
ta đoàn kết chặt chẽ, thực hiện sự nghiệp vẻ vang "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc" dưới sự lãnh đạo của Đảng "Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, với đường lối chính trị
vô cùng sáng suất, vừa cứng rắn về nguyên tắc, đã đưa nước nhà vượt qua muôn vàn khó khăn tưởng như không sao vượt qua nổi Lúc thì hoà hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm thời hoà hoãn với Pháp để đuổi cổ quân Tưởng
và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, giành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, điều mà Đảng ta đã biết chắc là không thể nào tránh khỏi"
Câu 5 : Căn cứ vào đâu mà Đảng ta đề ra đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ? Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến 1945-1954? Liên
hệ với việc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay?
Trả lời:
Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Kết thúc chiến tranh thế giới thứ II, tương quan lực lượng trên thế giới có
Trang 13nhiều thay đổi, hệ thống các nước XHCN hình thành tạo một dòng thác cách mạng phối hợp phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình tiến bộ trên thế giới tiến công đẩy lùi CNĐQ Chủ nghĩa thực dân cũ thất bại, Pháp suy yếu do chiến tranh TGII
và lệ thuộc Mĩ về nhiều phương diện CNĐQ dưới sự điều khiển của Mĩ coi Việt Nam
là trọng điểm, thỏa thuận với nhau về quan điểm bao vây tiêu diệt CMVN
Ở trong nước, lực lượng mọi mặt của Nhà nước còn non yếu, các nước đế quốc
và các thế lực phản động quốc tế và trong nước liên kết bao vây chống phá quyết liệt Miền Bắc, quân Tưởng kéo vào với danh nghĩa quân đồng minh tước vũ khí Nhật, nhưng thực chất là âm mưu “cầm hồ, diệt cộng” tạo lập một chính phủ tay sai tranh giành quyền lực gây khó khăn cho cách mạng Ngoài ra còn có 2 vạn quân Anh dưới danh nghĩa đồng minh dọn đường cho Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam Ngày
23/8/1945, quân Pháp đã nổ súng đánh chiếm : Sài Gòn, Gia Đình, Chợ Lớn Bên cạnh
đó, Chính phủ cách mạng phải đương đầu với nhiều tổ chức và giáo phái phản động ở miền Nam do Pháp viện trợ để tranh chấp quyền lực với Việt Minh… Mặt khác, chính quyền cách mạng phải đương đầu với nền kinh tế nghèo nàn, các di sản văn hóa nô dịch văn hóa nặng nề, đất nước lâm vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”
Trước tình hình khó khăn, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, huy động mọi sức mạnh của cả dân tộc, dung sách lược đấu tranh linh hoạt và khôn khéo với địch, từng bước vượt qua mọi hiểm nguy, chủ động trước mọi tình thế để giữ vững chính quyền, đưa cách mạng tiến lên Lúc này, Ban thường vụ TW Đảng ta xác định : “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa hoàn toàn độc lập, phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Đảng ta nêu rõ : “Kẻ thù chính của dân tộc lúc này là thực dân Pháp xâm lăng”, “phải trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” Vì vậy, phải “lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược, mở rộng Việt Minh… Kiên quyết giànhđộc lập, tự do, hạnh phúc cho dân độc lập về chính trị, thực hiện chế độ dân chủ cộng hòa, cải thiện đời sống nhân dân”
Những chủ trương trên của Ban thường vụ TW Đảng được nêu trong chỉ thị kháng chiến kiến quốc” Ngoài ra, chỉ thị kháng chiến kiến quốc cũng nêu rõ : cách mạng muốn đứng vững phải biết bảo vệ, phải đồng thời thực hiện hai mặt song song”
- Kiến quốc để phát triển thực lực cách mạng nhằm đủ mạnh để thắng kẻ thù
- Thực hiện sách lược hòa mãn, nhân nhượng kẻ thù để nhằm hòa hoãn những kẻ
có thể hòa hoãn để tập trung lực lượng chống Pháp
Phát động toàn quốc kháng chiến; đường lối kháng chiến của Đảng :
Trang 14Sau khi Hiệp định sơ bộ, thực dân Pháp đem quân ra miền Bắc liên tục khiêu khích và lấn chiếm, gởi tối hậu thư Chính phủ ta đòi tước vũ khí lực lượng tự vệ Hà Nội, kiểm soát an ninh thủ đô Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trước một tình thế không thể nhân nhượng, lịch sử dân tộc đã đặt trước một sự lựa chọn mới : phải đứng lên kháng chiến trong toàn quốc để bảo vệ độc lập, đêm ngày
19/12/1946, Ban thường vụ TW Đảng đã phát động cuộc kháng chiến trên quy mô cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, là lời hịch làm thấu động tình cảm sâu xa và cao đẹp nhất trong mọi lòng người dân Việt anh hùng bất khuất, làm cho cả nước sôi sục đứng lên chiến đấu bằng mọi vũ khí có trong tay, với ý chí : “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh”, với một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định, vì độc lập tự do của tổ quốc, lời kêu gọi đó là một cương lĩnh kháng chiến, khái quát ở trình độ cao, chứa đựng những tư tưởng quan điểm và đường lối chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, ngày 22/12/1946, Ban thường
vụ TW Đảng ra bảng chỉ thị toàn quốc kháng chiến, tóm tắt những nội dung cơ bản đường lối kháng chiến của Đảng như sau :
Về tính chất và mục tiêu của cuộc kháng chiến : nhân dân Việt Nam xác định cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa xâm lược của thực dân Pháp; chiến tranh chống Pháp là sự tiếp tục của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, giành ruộng đất cho dân cày và xây dựng cơ sở đi lên CNXH
Về xác định phương châm kháng chiến : kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện; kháng chiến trên tinh thần tự lực cánh sinh, kháng chei61n lâu dài và trãi qua 3 giai đoạn này, tác phẩm : “kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh đã nêu rõ quan điểm của Đảng là : “cuộc kháng chiến chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ Cộng hòa dân chủ, không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày, chỉ tịch thu ruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản động để bổ sung ngân quỹ kháng chiến hay ủng hộ các gia đình chiến sĩ
hy sinh”
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II triệu tập từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 tại Tuyên Quang Đại hội quyết định tách ba Đảng bộ Đảng cộng sản ở Đông Dương để lập ra mỗi nước một Đảng cách mạng riêng Đảng cộng sản Đông Dương được đổi tên là Đảng lao động Việt Nam
Tại đại hội Đảng, báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh đã vạch rõ khẩu hiệu chính của ta
là tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàntoàn, đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam Báo cáo chính trị bàn về cách mạng Việt Nam của Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam Đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên
Trang 15CNXH ở Việt Nam Nội dung cốt lõi của bản báo cáo bàn về CMVN là cương lĩnh thứ
3 của Đảng ta
Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản hiện nay của CMVN là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửaphong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ
sở cho CNXH Ba nhiệm vụ đó khắng khít với nhau, song nhiệm vụ chính trước mắt làhoàn thành giải phóng dân tộc Đại hội xác định lực lượng CMDTDCND ở Việt Nam
là : GCCN, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc, ngoài ra còn có những than sĩ yêu nước và tiến bộ Những giai cấp tầng lớp và phần tử đó hợp thành nhân dân Nền tảng của nhân dân là công nông và lao động trí thức, người lãnh đạo cách mạng là GCCN
Đảng lãnh đạo thực hiện cải cách ruộng đất trong vùng tự do Đầu năm 1953, Hội nghị
TW lần 3, 4 của Đảng chủ trương tổ chức cải cách ruộng đất, xóa bỏ giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho nhân dân ở vùng tự do Kết quả : trong một thời gian ngắn đã xóa
bỏ hoàn toàn giai cấp địa chủ, chia ruộng đất (đất địa chủ và đất làng xã) cho nông dân Đây là cuộc cách mạng đổi đời của nông dân, lúc này nhân dân chỉ đóng một sắc thuế duy nhất là thuế kháng chiến, không còn phải nộp tô thuế cho địa chủ
Do tương quan lực lượng giữa địch và ta, phương châm chiến lược của ta là đánh lâu dài Là một quá trình vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, từng bước làm biến đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta Vì thế phải đánh địch trên tất cả các lĩnh vực : quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, trong đó Đảng xác định quân sự là mặt trận hàng đầu, nhằmtiêu diệt lực lượng địch trên toàn bộ đất nước
Về chính trị : Đảng chủ trương tiếp tục củng cố chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng
tự do, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc chống Pháp bằng việc duy trì mặt trận Việt Minh và xây dựng thêm mặt trận Liên Việt để thu hút mọi lực lượng chống Pháp; tuyên truyền tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến để cô lập và hạn chế tối đa những hoạt động của bọn Việt gian
Về kinh tế : xây dựng kinh tế tự cung tự cấp ở cùng tự do, đảm bảo đời sống nhân dân
và nuôi quân đánh Pháp, thực hiện sách lược tiêu thổ kháng chiến ở vùng tự do Xây dựng các nhà máy quốc phòng, chế tạo vũ khí với phương châm phục vụ trước mắt cho kháng chiến và khi kháng chiến thành công sẽ phục vụ chuyển sang xây dựng CNXH, ở cùng tạm chiến : đưa lực lượng phá hoại nền kinh tế bằng lực lượng du kích,đặc công, đẩy mạnh sách lược làm chảy máu nền kinh tế của Pháp
Mặt trận tư tưởng văn hóa : tuyên truyền đấu tranh xóa bỏ những tàn dư phong kiến, lạc hậu, tư tưởng thực dân xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa khoa học đại chúng