Kết quả nghiên cứu cho thấy: có tất cả 8 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến sự sẵn sàng tham gia WTJcủa nông hộ về việc có mua bảo hiểm cây lúa hay không.Đồng thời cũng xác định đượ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG CÔNG ĐỊNH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM
VÀ GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO BẢO HIỂM CÂY LÚA
Ở HUYỆN CHÂU PHÚ – AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG CÔNG ĐỊNH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM
VÀ GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO BẢO HIỂM CÂY LÚA
Ở HUYỆN CHÂU PHÚ – AN GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ NGUYỄN HỮU DŨNG
Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Bộ số liệu trong nghiên cứu là được sự đồng ý của Thầy Phùng Thanh Bình – Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Các nội dung nghiên cứu cũng như các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố ra bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP.HCM, ngày 30 tháng 6 năm 2014
Tác giả
Dương Công Định
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH BẢNG
DANH SÁCH HÌNH, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.4 BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 LÝ THUYẾT VỀ LỰA CHỌN BẤT LỢI VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC.10 2.2 BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC RỦI RO DỄ GẶP PHẢI 11
2.2.1 Rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp 11
2.2.2 Bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển 12
2.2.3 Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số 13
2.2.4 Những rủi ro cơ bản 14
Trang 52.3 THÁI ĐỘ VỚI RỦI RO, NHẬN THỨC RỦI RO VÀ NHU CẦU BẢO
HIỂM 15
2.2.1 Thái độ với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm 15
2.2.2 Sự nhận thức đối với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm 15
2.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU BẢO HIỂM.16 2.3.1 Các chiến lược quản trị rủi ro 16
2.3.2 Những nhân tố khác ảnh hưởng đến WTJ và WTP 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN (CVM) 23
3.2 DỮ LIỆU KHOẢNG ĐỂ XÁC ĐỊNH GIÁ SẴN LÒNG TRẢ (WTP) 24
3.3 MÔ HÌNH VỀ WTP 27
3.3.1 Mô hình lý thuyết về WTP 27
3.3.2 Mô hình phân tích dữ liệu nhị phân (dichotomous) CV 29
3.3.2.1 Mô hình thoả dụng ngẫu nhiên (Random Utility Model - RUM) 29
3.3.2.2 Mô hình giá sẵn lòng trả ngẫu nhiên (The Random WTP Model) 30
3.3.3 Ứng dụng Stata xử lý dữ liệu CV theo phương pháp của Alejandro López-Feldman 31
3.4 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CHỌN MẪU 33
3.4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 34
Trang 63.4.2 Chọn mẫu 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 38
4.1.1 Phân tích các biến kinh tế - xã hội 38
4.1.2 Sản xuất lúa và những rủi ro gặp phải trong quá khứ 39
4.1.3 Thái độ với rủi ro và kinh nghiệm về bảo hiểm 43
4.1.4 Sẵn sàng tham gia (WTJ) và giá sẵn lòng trả (WTP) 45
4.2 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH WTJ 48
4.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH WTP 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 SXNN Sản xuất nông nghiệp
2 BHNN Bảo hiểm nông nghiệp
9 CV Đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation)
10 PPP Quan hệ đối tác công tư
11 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
2 Bảng 3.2: 4 trường hợp trong trả lời WTP 28
3 Bảng 4.1: Bảng thống kê đặc điểm kinh tế - xã hội của nông
7 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các biến độc lập tới WTJ 45
8 Bảng 4.6: Tác động biên của các biến độc lập đến WTJ 46
9 Bảng 4.7: Kết quả hồi quy WTP (không có biến kiểm soát) 49
10 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các biến độc lập đến WTP 50
11 Bảng 4.9: Giá trị trung bình của các biến độc lập tác động
đến WTP
52
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
1 Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất WTJ 18
2 Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu WTP trong đề tài 19
7 Hình 4.6: Tỷ lệ % chấp nhận mứa giá Bid1 44
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra được giá sẵn lòng trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất ở huyện Châu Phú - tỉnh An Giang và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm Xem xét các yếu tố nào tác động đến sự sẵn sàng tham gia (WTJ) mua bảo hiểm cây lúa, những yếu tố nào ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) của nông hộ về việc mua bảo hiểm cây lúa
và đề ra các gợi ý chính sách nhằm góp phần tăng số người tham gia mua bảo hiểm cây lúa
Kết quả nghiên cứu cho thấy: có tất cả 8 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến sự sẵn sàng tham gia (WTJ)của nông hộ về việc có mua bảo hiểm cây lúa hay không.Đồng thời cũng xác định được 4 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến giá sẵn lòng trả (WTP) của nông hộ để từ đó tính toán được mức giá sẵn lòng trảcho việc mua bảo hiểm cây lúa của nông hộ khu vực nghiên cứu là 43.300 VNĐ, mức giá này cao hơn mức giá tham khảo trước khi thu thập số liệu và cao hơn mức giá của Trang (2013) nghiên cứu tương tự ở tỉnh Đồng Tháp
Hai trong số những gợi ý chính sách mà tác giả đưa ra để tăng số người tham gia mua bảo hiểm cây lúa là: thứ nhất là tăng cường công tác tuyên truyền đến các nông hộ về BHNN thông qua các hình thức trên đài phát thanh địa phương, các tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ trưởng, tờ rơi, các công ty vật tư nông nghiệp để tăng cường sự hiểu biết của nông hộ về những ích lợi của việc tham gia mua bảo hiểm; thứ hai là tạo lòng tin cho nông hộ và có cơ chế đền bù linh hoạt theo thực tế
ở xã thay vì sử dụng chỉ số năng suất để xác định mức độ thiệt hại dùng chung của huyện khi có thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh xảy ra
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Nội dung chương 1 trình bày cáchđặt vấn đề chọn đề tài nghiên cứu, nêu các câu hỏi mục tiêu nghiên cứu, sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu và trình bày bố cục của luận văn
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sản xuất nông nghiệp (SXNN) là ngành sản xuất đối mặt với nhiều vấn đề không chắc chắn như giá cả yếu tố đầu vào, giá nông sản và nhất là tình hình dịch bệnh, tình hình thời tiết không ổn định Điều này ảnh hưởng lớn đến năng suất thu hoạch và thu nhập sau cùng của nông dân Những điều không chắc chắn trong sản xuất có thể gây ra những rủi ro đáng kể trong thu nhập và đặc biệt gây bất lợi cho những hộ sản xuất nhỏ hoặc những hộ nghèo sống bằng nghề nông nghiệp ở các nước đang phát triển (Sarris và cộng sự, 2006) Hầu hết các nông hộ đều tự đầu tư vào quản lý rủi ro và sử dụng những chiến lược quản trị rủi ro như tự bảo hiểm (tiết kiệm phòng bị), đa dạng hoá cây trồng,vay mượn (có thể là vay mượn của người thân, hàng xóm) Tuy nhiên, những nông hộ này có thể thất bại trong việc đối phó với những cú sốc nghiêm trọng trong sản xuất nông nghiệp (Ramasubramanian, 2012).Bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) là công cụ tài chính cần thiết góp phần quan trọng vào sự duy trì ổn định phát triển trong sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Quốc Nghi,2011) Do đó, việc thiết kế một sản phẩm BHNN tốt sẽ giúp cho những hộ sản xuất nông nghiệp quản lý được rủi ro tiềm năng trong sản xuất là mục tiêu quan trọng ở các nước đang phát triển (Miranda và Farrin, 2012 )
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị và xã hội của Việt Nam với 70% dân số sống ở nông thôn và 44,8% dân số cả nước sống bằng nghề nông nghiệp (Kết quả điều tra NN-NT năm 2011, Tổng Cục Thống kê Việt Nam) và lúa là cây trồng chủ yếu tạo ra thu nhập trong nông nghiệp (Ninh, 2007) Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam manh
Trang 12múnlà chủ yếu, ruộng đất bị xé lẻ, phần lớn nông hộ có quy mô diện tích đất sản xuất nhỏ (diện tích ruộng đất bình quân chỉ có 0,6 ha/hộ vào loại thấp nhất thế giới), rải rác (Nguyễn Duy Vĩnh, 2013) Bên cạnh đó, việc sản xuất nông nghiệp của Việt Nam thường phải đối mặt với nhiều rủi ro từ thời tiết, dịch bệnh,… những rủi ro này đã gây ra thiệt hại cho Việt Nam mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng và xu hướng phát triển nông nghiệp theo hướng tập trung như hiện nay thì nhu cầu bảo hiểm cho nông nghiệp để đối phó với những rủi ro như vậy là rất cấp bách (Nguyễn Quốc Nghi, 2011)
Chương trình bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam được triển khai khá sớm, năm 1983 Công ty Bảo hiểm Bảo Việt đã triển khai bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa ở hai huyện Vụ Bản và Nam Ninh thuộc tỉnh Nam Định, thực hiệnbảo hiểm theo phương pháp tiếp cận truyền thống;đến năm 1998 đã mở rộng dịch vụ bảo hiểm tới
26 tỉnh, thành trong cả nước với 200.000 ha lúa được bảo hiểm;đến năm 1999, Bảo Việt phải loại bỏ lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp này vì chi phí quản lý cao và rủi ro nên không mang lại lợi nhuận Đến năm 2001, Công ty Bảo hiểm Groupama có 100% vốn đầu tư nước ngoài, đã rút kinh nghiệm của Công ty Bảo Việt nên chỉ triển khai dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi ở những trang trại, hộ chăn nuôi lớn và vừa để giảm chi phí quản lý, chủ yếu thực hiện ở thị trường đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL), nhưng đến năm 2006 Công
ty cũng ngừng hoạt động bảo hiểm nông nghiệp này Thất bại của hai đợt bảo hiểm trong quá khứ chủ yếu do chi phí quản lý bảo hiểm quá cao; rủi ro về trục lợi; nông dân Việt Nam sống chủ yếu theo tình làng nghĩa xóm nên khi có rủi ro xảy ra thường bảo vệ quyền lợi cho nhau; sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chủ yếu với qui mô diện tích/nông hộ không lớn nên chi phí quản lý rủi ro cao; kỹ thuật canh tác nông nghiệp của người dân chủ yếu là theo kinh nghiệm, trình độ chuyên môn còn yếu, chủ yếu lao động chưa qua đào tạo Bên cạnh đó, doanh thu BHNN chiếm tỷ trọng không đáng kể so tổng doanh thu từ bảo hiểm phi nhân thọ và chỉ có khoảng 1% cây trồng, vật nuôi được bảo hiểm, chiếm tỷ trọng quá nhỏ đối với một nước
Trang 13nông nghiệp như Việt Nam trong khi thiệt hại mỗi năm do dịch bệnh, thiên tai lên tới hàng ngàn tỷ đồng (Nguyễn Quốc Nghi, 2011)
Có hai phương pháp tiếp cận BHNN nói chung, bảo hiểm cây trồng nói riêng, đó là phương pháp bảo hiểm truyền thống (hay còn gọi là bảo hiểm bồi thường) và phương pháp tiếp cận mới làbảo hiểm theo chỉ số Nét đặc trưng của bảo hiểm bồi thường là lấy mức độ thiệt hại, tổn thất của nông hộ, tổ chức làm căn cứ xét bồi thường (Nguyễn Tuấn Sơn, 2008).Theo Hazell và Pomareda (1986), bảo hiểm truyền thống đòi hỏi cần phải giám định mức độ thiệt hại để tiến hành bồi thường.Phương pháp này có ưu điểm là bám sát tổn thất thực tế của nông hộ; tuy nhiên nó gặp phải khó khăn khi đòi hỏi phải có số liệu thống kê năng suất cây trồng nhiều năm của nông hộ, cũng như khó khăn trong xác định mức độ thiệt hại và tốn kém chi phí.Bảo hiểm bồi thường không phát huy tính cộng đồng và phát sinh rủi ro đạo đức, dễ dẫn đến trục lợi bảo hiểm
Phương pháp bảo hiểm theo chỉ số khắc phục được các nhược điểm của bảo hiểm truyền thống, bồi thường dựa trên các chỉ số khách quan và mức bồi thường tương ứng với mỗi chỉ số nên không cần giám định mức độ thiệt hại của từng cá nhân; mức độ bồi thường được tính trên cơ sở năng suất bình quân nhiều năm chung của cả vùng hay tiểu vùng(Nguyễn Tuấn Sơn, 2008) Để đảm bảo mức bồi thường hợp lý thì mức độ bồi thường được tính trên cơ sở năng suất bình quân trong nhiều năm của cả vùng hay tiểu vùng sinh thái (Đài Tiếng nói Việt Nam, 2010) Phương pháp bảo hiểm theo chỉ số này dễ hiểu, dễ xác định mức bồi thường, khách quan và không chịu tác động từ một cá nhân nào và giúp giảm chi phí quản lý vì không cần giám định tổn thất từng nông hộ; tuy nhiên, bảo hiểm theo chỉ số vẫn còn một số nhược điểm như: những nông hộ tham gia bảo hiểm có thể không được bồi khi có thiệt hại hoặc được bồi thường ngay cả khi không có thiệt hại cũng như số tiền bồi thường có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức thiệt hại (Nguyễn Tuấn Sơn, 2008)
Hiện nay có hai dòng bảo hiểm theo chỉ số chính áp dụng trong BHNN nói chung, bảo hiểm cây trồng nói riêng, đó là: bảo hiểm theo chỉ số thời tiết và bảo
Trang 14hiểm theo chỉ số năng suất.Theo (Nguyễn Tuấn Sơn, 2008),bảo hiểm theo chỉ số thời tiết vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi bảo hiểm bị hạn chế (chỉ bảo hiểm rủi
ro do thời tiết, các vấn đề khác gây thiệt hại thì không được bảo hiểm), lập bản đồ các vùng rủi ro đồng nhất để làm cơ sở cho việc xác định chỉ số thời tiết; và theo Trang (2013), BHNN theo chỉ số thời tiết còn có một số nhược điểm như khó khăn trong thiết kế chỉ số để đo lường bảo hiểm, tốn kém chi phí ban đầu thực hiện, khó
đo lường ở các khu vực xa trạm thời tiết,bảo hiểm theo chỉ số năng suất khu vực khắc phục được các hạn chế của bảo hiểm theo chỉ số thời tiết
Theo http://webbaohiem.net (2011), kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc thiết kế sản phẩm BH và xử lý các hạn chế như sau: để đảm bảo quy luật số đông trong BH các nước đã hỗ trợ phí BH khá cao hoặc như ở Nhật triển khai mô hình BH tương hỗ, khi đó nông hộ không những nhận được bồi thường khi xảy ra rủi ro mà còn có quyền nhận lãi suất từ hoạt động đầu tư của tổ chức tương hỗ; để hạn chế trong việc lựa chọn bất lợi, ở Mỹ và Nhật quy định bắt buộc các nông hộ mua BH hoặc ở Ấn Độ và Philippin quy định bắt buộc mua BH đối với nông hộ vay ngân hàngSXNN Việc thiết kế sản phẩm BH ở các nước khá đa dạng và linh hoạt như BH sản lượng cho từng cá nhân riêng lẻ, BH sản lượng theo chỉ số vùng nhằm tiết kiệm chi phí, BH doanh thu, BH thu nhập cho người sản xuất, BH thiên tai,… tuỳ theo đặc thù SXNN của mỗi nước mà họ thiết kế sản phẩm phù hợp
Theo Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011), hiện nay ĐBSCL là vựa lúa và thuỷ sản lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong phát triển SXNN (Theo website Tổng cục Thống kê, năm 2011 diện tích cây lúachiếm 53,5% và diện tích nuôi trồng thuỷ sản chiếm 70,1% so cả nước), nhưng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu Theo Nguyễn Thị Lang (2012), sản xuất lúa ở ĐBSCL gặp nhiều thách thức do thay đổi khí hậu, nước biển dâng, nước mặn xâm nhập, diện tích đất nông nghiệp giảm, sâu bệnh gây hại ngày càng nghiêm trọng,…; trong đó, An Giang là một trong những tỉnh nằm trong khu vực ĐBSCL bị ngập sâu, chủ yếu gieo trồng lúa trong mùa khô và đầu mùa mưa trước khi lũ tràn về; nhưng được phù sa bồi đắp
và là một trong những tỉnh cung cấp lúa gạo chủ yếu của cho khu vực ĐBSCL, nhất
Trang 15là cho xuất khẩu nên khi có biến động sản lượng sẽ ảnh hưởng sản lượng chung cả vùng ĐBSCL Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đang đứng trước sức ép đòi giảm bớt trợ cấp nông nghiệp Do đó, việc tìm ra giải pháp hỗ trợ nông dân trong sản xuất lúa hiện nay khá cần thiết
Ngày 01/3/2011 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, bảo hiểm theo chỉ số năng suất này nhằm giúp cho những hộ sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục
và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra và sự biến động của giá lúa trong thời gian qua có ảnh hưởng đến thu nhập của hàng triệu nông dân vùng ĐBSCL, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Thí điểm bảo hiểm này thực hiện trên trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản Với mức hỗ trợ của Nhà nước và đối tượng được hỗ trợ (đính kèm ở Phụ lục A) Theo báo cáo sơ bộ kết thúc một năm triển khai thực hiện thí điểm BHNN theo chỉ số này tại Nghệ An (ngày 06/7/2012) thì số hộ tham gia mua bảo hiểm khoảng trên 150 nghìn hộ tham gia với 37 nghìn ha được bảo hiểm, chưa được 3% diện tích lúa cả nước; nhìn chung, việc triển khai thí điểm bảo hiểm còn gặp nhiều khó khăn do việc xác định mức phí bảo hiểm và những hiểu biết của nông hộ về bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số
Vấn đề đặt ra là xác định được mức phí bảo hiểm mà nông hộ sẵn sàng trả để mua bảo hiểm và xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia mua bảo hiểm của nông hộ Từ đó có giải pháp cho gia tăng việc tham gia mua bảo hiểm của nông hộ
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa, cũng như nghiên cứu về ảnh hưởng lũ đến các nông hộ sản xuất lúa như nghiên cứu của Phạm Lê Thông (2013) về Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ; nghiên cứu của Võ Hồng Tú và cộng sự (2012) về Tính tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại An Giang và các giải pháp ứng phó (nghiên cứu tại địa bàn huyện An Phú); nghiên cứu của Trang (2013) thực hiện về Những nhân tố ảnh hưởng đến việc mua bảo hiểm và xác định giá sẵn lòng trả cho
Trang 16bảo hiểm cây lúa cùng thực hiện ở 02 huyện Tân Hồng, Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp; trong khi chưa có nghiên cứu nào thực hiện ở huyện Châu Phú tỉnh An Giang Như vậy, ở khu vực phía Nam sông Hậu và ở tiếp tỉnh An Giang đã có nghiên cứu về mức giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của nông hộ nhưng chưa
có nghiên cứu về mức giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm rủi ro thiên tai, lũ lụt
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn địa bàn huyện Châu Phú – An
Giang để nghiên cứu đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo
hiểm và giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa ở huyện Châu Phú - An Giang
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: ước tính được giá sẵn lòng trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất ở tỉnh An Giang và xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để giải thích những thách thức mà sản phẩm bảo hiểm cây lúa hiện nay đang đối mặt
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, thì nghiên cứu này cần trả lời được các câu hỏi sau:
+ Nông hộ trồng lúa có sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm nông nghiệp không?
+Có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng đến việc sẵn sàngtham gia (WTJ) mua bảo hiểm cây lúa của nông hộ?
+ Ước lượng được giá sẵn lòng trả (WTP) cho bảo hiểm cây lúa của nông hộ?
+Những người tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) hay không?
Trang 171.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Số liệu sơ cấp của đề tài được trích xuất từ bộ dữ liệu nghiên cứu thực tiễn các huyện tại Đồng bằng song Cửu Long phục vụ dự án nghiên cứu của nghiên cứu sinh (Thầy) Phùng Thanh Bình, Khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh, với sự đồng ý của tác giả Số liệu tại huyện Châu Phú sử dụng trong
đề tài này bao gồm: 169 hộ, tại 02 xã, được điều tra phỏng vấn vào thời điểm tháng
1.4 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu đề tài viết trong luận văn này được chia thành 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu những vấn đề cơ bản của luận văn bao gồm: đặt vấn
đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, tổng quát về phương pháp thực hiện
- Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm, mô hình lý thuyết về giá sẵn lòng trả, tổng quan về địa bàn nghiên cứu và chọn mẫu
- Chương 3: mô tả chi tiết thực hiện nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên về giá sẵn lòng trả theo phương pháp của López-Feldman
- Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứutheo trình tự các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra
- Chương 5: Kết luận
Tóm lược Chương 1: SXNN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
của Việt Nam, đặc biệt ở vùng ĐBSCL thì lúa là cây trồng chủ yếu tạo ra thu nhập trong SXNN Những rủi ro trong SXNN đã gây thiệt hại mỗi năm hàng nhìn tỷ đồng
Trang 18BHNN theo chỉ số khắc phục được những rủi ro đó Hiện nay chưa có nghiên cứu nào thực hiện ở huyện Châu Phú về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến WTJ và xác định WTP trong BH cây lúa.Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến WTJ và xác định WTP cho BH cây lúa Số liệu từ dự án nghiên cứu của Thầy Phùng Thanh Bình Sử dụng mô hình giá sẵn lòng trả trong nghiên cứu.Phương pháp xử lý là thống kê mô tả, đánh giá ngẫu nhiên CVM và phương pháp xây dựng câu hỏi IB
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu Trong đó có hai mô hình nghiên cứu khác nhau: (i) Mô hình sẵn sàng tham gia (WTJ) mua bảo hiểmvới biến phụ thuộc WTJ xác định việc tham gia mua bảo hiểm của nông hộ trồng lúa và các yếu tố có ảnh hưởng tăng hay giảm đến quyết định tham gia này; (ii) Mô hình sẵn sàng trả (WTP) cho việc mua bảo hiểm với biến phụ thuộc WTP là ý định xác định mức phí bảo hiểm mà nông hộ có thể sẵn sàng chi trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa và các yếu tố có ảnh hưởng tăng hay giảm đến quyết định này.Đồng thời trình bày bảng câu hỏi điều tra khảo sát, thu thập số liệu, số lượng mẫu
2.1 LÝ THUYẾT VỀ LỰA CHỌN BẤT LỢI VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
Thuật ngữ lựa chọn bất lợi (adverse selection) thường được sử dụng trong ngành bảo hiểm.Bảo hiểm rủi ro về các loại cây trồng ở Mỹvà một số nước khác trên thế giới thường bị thất bại trên khía cạnh thương mại, do các khoản bồi thường bảo hiểm vượt quá thu nhập và chi phí hành chính, thậm chí trong những năm thời tiết tốt, sự thất bại của rủi ro bảo hiểm cây trồng này chủ yếu vấn đề lựa chọn bất lợi
và rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) Rủi ro đạo đức có nghĩa là người mua bảo hiểm có thể thay đổi hành vi sau khi đã mua bảo hiểm sao cho vẫn đạt được mức tối ưu cần thiết, bởi vì bảo hiểm là làm giảm sự mất mát liên quan, những sự thay đổi đó có thể làm tăng xác suất xảy ra sự cố hoặc làm tăng mức độ nghiêm trọng của sự mất mát; trong khi lựa chọn bất lợi có nghĩa là những người thường có khả năng xảy ra những rủi ro, mất mát thì sẵn sàng cho việc mua bảo hiểm Nếu công ty không phát hiện những người như vậy thì thiệt hại sẽ xảy ra.Ví dụ: một nông dân trì hoãn ngày trồng cây để chờ thông tin về thời tiết, nếu họ có thông tin về thời tiết tốt họ sẽ triển khai trồng cây mà không cần mua bảo hiểm; ngược lại họ vẫn sẽ triển khai trồng cây nhưng có mua bảo hiểm cây trồng (lựa chọn bất lợi); nhưng khi đã lựa chọn
Trang 20mua bảo hiểm rồi, nông hộ có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp
né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm (rủi ro đạo đức)(Quiggin và cộng sự, 1993)
2.2 BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC RỦI RO THƯỜNG XẢY RA
2.2.1 Rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp
Cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống hàng ngày,hầu hết trong số họ có liên quan đến sinh kế nông nghiệp; trong khi việc sản xuất nông nghiệp thì thường phải đối mặt với nhiều rủi ro chủ yếu do thời tiết gây ra như sâu bệnh, ngập lụt, giông bão, hạn hán,… và thu nhập không chắc chắn do ảnh hưởng giá cả đầu ra (Trang, 2013) Trọng tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những rủi ro nói trên và việc bảo hiểm cây lúa
Theo Smith and Watts (2009), những hộ giàu có khả năng tự đảm bảo cuộc sống của họ thông qua những tài sản dự trữ như tiền tiết kiệm gửi ngân hàng, việc kinh doanh khác,… trong khi những hộ nông dân sống phụ thuộc chủ yếu vào SXNN như cây trồng và thường đối mặt với giảm năng suất cây trồng do rủi ro về thời tiết hoặc những cú sốc trong sản xuất nên gây thiệt hại lớn về thu nhập Những
hộ nông dân này sẵn sàng bỏ ra một số chi phí để đối phó hoặc giảm thiểu những rủi ro và các cú sốc gây thiệt hại cho thu nhập của họ Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc những hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra chi phí để giảm thiểumột phần hoặc hoàn toàn những thiệt hại do rủi ro về thời tiết hoặc các cú sốc khác như:
(i) Quy mô, kích thước của những mất mát tiềm năng có thể xảy ra gây tổn thất lớn đến thu nhập, tài sản của hộ dân Ví dụ: ở các nước giàu như Nhật, Úc thì
họ có thể sẽ không mua bảo hiểm cho chiếc xe đạp vì giá trị không lớn đối với thu nhập của họ, nhưng họ sẵn sàng bỏ ra chi phí mua bảo hiểm cho việc rò rỉ khí gas gây cháy nhà vì ảnh hưởng lớn đến thu nhập của họ
Trang 21(ii) Một yếu tố quan trọng thứ hai là tần suất xảy ra những thiệt hại làm biến động sản lượng cây trồng.Khi thiệt hại không xảy ra thường xuyên (khoảng 20-30 năm xảy ra một lần), mặc dù xảy ra thiệt hại lớn thì những hộ nông dân không muốn bỏ ra những chi phí để giảm thiểu những rủi ro, thiệt hại tiềm năng này; nhưng khi những thiệt hại xảy ra thường xuyên, mặc dù gây thiệt hại nhỏ thì những
hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra một mức phí để giảm nhẹ thiệt hại
(iii) Mức độ nghiêm trọng dự kiến xảy ra gây tổn thất đáng kể Những hộ dân có khả năng sẽ tìm cách để giảm thiểu rủi ro, mất mát khi những thiệt hại xảy ra lớn
(iv) Chi phí để giảm thiểu rủi ro Trong quyết định về việc có nên bỏ ra khoảng chi phí để mua bảo hiểm cho việc giảm thiểu rủi ro hay không, thì hộ nông dân sẽ cân nhắc chi phí bỏ ra có đem lại lợi ích mong muốn của họ không?
(v) Phần thu nhập mà những hộ nông dân sẽ nhận lại được bao nhiêu khi bỏ
ra khoản phí cho việc giảm thiểu rủi ro Những hộ dân thích được bồi thường căn cứ vào những tổn thất thực tế họ phải gặp phải, tức là sản lượng và doanh thu của họ ở mức thấp Một phần quan trọng khác là khi xảy ra thiệt hại thì họ cần được khoản bồi thường kịp thời
(vi) Cân nhắc giữa khoản phí bỏ ro để giảm thiểu rủi ro so với những chiến lược quản trị rủi ro thay thế Những nông hộ, trang trại nông nghiệp sẽ xem xét các chiến lược quản trị rủi ro của họ như đa dạng hoá cây trồng, đầu tư vào lĩnh vực khác trồng trọt như chăn nuôi, đầu tư thuỷ lợi, hoặc trồng ở những nơi khác nhau,…
có rẻ tiền và hiệu quả hơn so với khoản phí bỏ ra để giảm thiểu rủi ro không?
2.2.2 Bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển
Những người ủng hộ bảo hiểm nông nghiệp như là một chiến lược đối phó rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nó góp phần giúp nông dân có cách nhìn tốt hơn
về thay đổi mô hình sản xuất sao cho có lợi, tăng đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư nhiều hơn cho sản xuất, cải thiện thu nhập và đảm bảo nguồn cung cấp lương thực
Trang 22cho quốc gia Khi có bảo hiểm nông nghiệp, các ngân hàng cũng tự tin hơn trong việc cho vay sản xuất nông nghiệp và có thể tăng tín dụng cho vay xứng đáng với khoảng thu nhập dự kiến của họ
Chương trình bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được thực hiện chủ yếu thông qua sự bao cấp của Chính phủ hoặc thông qua quan hệ đối tác công tư (PPP) Do vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và vấn đề rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nên Chính phủ thường có sự can thiệp quản lý rủi ro Thực tế, bảo hiểm nông nghiệp thường nhận được sự trợ cấp lớn từ Chính phủ và có sự can thiệp mạnh mẽ Các can thiệp bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu nhằm mục đích là: bảo vệ các hộ nông dân nghèo, các tổ chức tài chính cho vay sản xuất nông nghiệp, bảo đảm các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, giảm dự trữ tài chính cho thiên tai cứu trợ và phát triển mạng lưới an sinh xã hội tốt Trong lịch sử, việc thực hiện bảo hiểm cây trồng ở các nước thường bị thất bại do mức phí bảo hiểm thấp, xác định bảo hiểm nông nghiệp chưa rõ ràng giữa mục tiêu thương mại và xã hội, thiếu quản
lý trong kiểm soát rủi ro và giám định tổn thất do thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch cao và khả năng thanh toán của các công ty bao hiểm khi xảy ra các thảm hoạ lớn Tại Việt Nam, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp dựa trên mối quan hệ phát triển đối tác công tư (PPP) và việc thực hiện bảo hiểm dựa vào chỉ số (Trang, 2013)
2.2.3 Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số
Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số được đưa vào thí điểm ở Việt Nam như là một biện pháp bảo vệ thu nhập của người nông và sinh kế của họ trước những tác động không mong muốn từ môi trường bên ngoài Khi xảy ra rủi ro đối với một loại cây trồng cụ thể được bảo hiểm thì khoanh vùng thiệt hại và xác định mức giảm thu nhập(Phạm Khánh Nam, 2013)
Theo website: www.snvworld.org (2013), khi năng suất thực tế sụt giảm ít nhất 90% so với năng suất bình quân trong 3 mùa vụ tương ứng của 3 năm gần nhất
Trang 23và được cơ quan có tính pháp lý xác nhận do thiên tai dịch bệnh quy định trong hợp đồng thì sẽ được công ty bảo hiểm theo chỉ số năng suất bồi thường
Trong đợt thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người nông dân nghèo và mức phí bảo hiểm cũng tương đối phù hợp nhưng số lượng hợp đồng bảo hiểm cho người nghèo vẫn còn thấp do người nông dân không sẵn lòng mua bảo hiểm để đối phó với rủi ro bởi vì: (i) với những người hành xử theo theo kiểu ưa thích rủi ro, họ cho rằng họ có thể ước tính xác suất xảy ra rủi ro một cách chính xác; (ii) đối với những người không ưa thích rủi ro, họ cũng cho rằng xác suất xảy ra rủi ro thấp; hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên khi cho rằng xác suất xảy ra thấp và vừa chấp nhận rủi ro (Phạm Khánh Nam, 2013)
số tiền bảo hiểm cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên, việc bảo hiểm theo chỉ số này được chấp nhận nhằm đánh đổi những rủi ro trên để có chi phí giao dịch thấp Để giảm thiểu những rủi ro này, một chương trình bảo hiểm theo khu vực được đưa ra; trong
đó, nông hộ mua bảo hiểm sẽ trả mức phí và nhận được là như nhau vì năng suất sẽ dao động ở mức trung bình của khu vực Rủi ro của bảo hiểm theo chỉ số thời tiết thường cao hơn bảo hiểm theo chỉ số năng suất, do bảo hiểm theo chỉ số năng suất
có thể có nhiều mối đe doạ hơn (Smith và Watts, 2009)
Trang 242.3 THÁI ĐỘ VỚI RỦI RO, NHẬN THỨC RỦI RO VÀ NHU CẦU BẢO HIỂM
2.3.1 Thái độ với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm
Thái độ đối với rủi ro là một quyết định lựa chọn quan trọng của một cá nhân, hoạt động nông nghiệp ở các nước đang phát triển chịu nhiều rủi ro trong sản xuất.Theo Ellis (1988), mô hình lý thuyết về thái độ của nông hộ đối với rủi ro trong SXNN đã chỉ ra rằng: những nông hộ có mức thu nhập thấp thường sợ rủi ro nên họ thường sử dụng không hiệu quả các nguồn lực trong SXNN và thích sản xuất an toàn hơn là việc chấp nhận đầu tư rủi ro để đạt được tối đa hoá lợi nhuận như sử dụng phân bón, máy móc, đổi mới trong canh tác,… nhằm ổn định thu nhập, điều đó có thể ảnh hưởng đến những nổ lực làm giảm rủi ro trong sản xuất Những nông hộ có chấp nhận đánh đổi những rủi ro gặp phải với lợi ích kỳ vọng hay không phụ thuộc vào thái độ của họ đối với rủi ro
Trong nghiên cứu về cây cacao ở Bờ Biển Ngà, Kouame và Komenan (2012) cho rằng sự lo ngại về rủi ro ảnh hưởng tích cực đến giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cacao của nông hộ; Galarza và Carter (2010), trong một nghiên cứu ở Peru đã chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa sự lựa chọn các loại bảo hiểm và mức độ ưa thích rủi ro của nông hộ Trong khi đó, nghiên cứu của Clarke (2012) về lợi ích mà bảo hiểm mang lại cho người dân nông thôn ở Bangladesh thì không có ý nghĩa thống kê của mối quan hệ giữa sự lo ngại rủi ro và quyết định mua bảo hiểm của nông hộ
2.3.2 Sự nhận thức đối với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm
Những nông hộ có quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro hay không phụ thuộc vào khả năng nhận thức xảy ra và kích thước (mức độ nghiêm trọng) xảy
ra rủi ro, sự nhận thức này thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như kinh nghiệm trong quá khứ, độ tuổi, giới tính, những thông tin hậu quả về rủi ro có thể xảy ra (Zweifel & Eisen, 2012)
Trang 25Nếu cá nhân cho rằng khả năng xảy ra rủi ro là thấp thì họ thường là tự bảo
vệ mình trước những rủi ro, khi đó nhu cầu bảo hiểm thấp dần(Petrolia và cộng sự, 2011)
Hộ gia đình sẽ chi tiêu đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giảm nhẹ sự mất mát tiềm năng nếu như nó ảnh hưởng lớn mức thu nhập của nông hộ, cùng với tần suất xảy ra mất mát (biến động năng suất) và kinh nghiệm trong quá khứ về mất mát do rủi do có thể làm tăng nỗ lực giảm nhẹ sự mất mát đó (Smith & Watts, 2009)
Cách tốt nhất để biết quan điểm của nông hộ về nhận thức những rủi ro trong hoạt động SXNN cũng như việc mua BH giảm nhẹ sự mất mát do rủi ro đó là hỏi trực tiếp họ nhận thức như thế nào về những rủi ro xung quanh họ; đồng thời, Weerdt (2005) cũng đã đưa ra mô-đun về sự nhận thức rủi ro để giúp xác định xác suất sản lượng trong tương lai với các hoạt động cụ thể, trong đó nông hộ được khuyến khích suy nghĩ về những rủi ro liên quan đến từng hoạt động như vậy, việc xây dựng các cận trên và cận dưới của sự nhận thức sẽ giúp biết được nhận thức của một người đối với các rủi ro liên quan đến đời sống sản xuất xung quanh họ” (Weerdt, 2005)
2.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU BẢO HIỂM
2.3.1 Các chiến lược quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là nhằm tìm ra cách quản lý tốt hơn các rủi ro và hạn chế nó, nhất là các nguy cơ tiềm ẩn, từ đó có sự chuẩn bị thích hợp để hạn chế những rủi ro xảy ra ở mức thấp nhất.Theo Ramasubramanian (2012), trong sản xuất nông nghiệp, những nông hộ thường quản lý các rủi ro bằng các biện pháp như đa dạng hoá cây trồng, tổ chức bao đê, thuỷ lợi hoặc làm các công việc khác để có thu nhập thêm ngoài nông nghiệp nếu như họ cảm thấy chi tiền cho các hoạt động này có hiệu quả hơn mua bảo hiểm nông nghiệp Ngoài ra, những nông hộ nào có tham gia vào các
tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ chức cho vay tiết kiệm, cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng mua bảo hiểm của họ (Clarke, 2011)
Trang 262.3.3 Những nhân tố khác ảnh hưởng đến WTJ và WTP
Khi đứng trước những lựa chọn về việc có tham gia mua bảo hiểm hay không?Những nông hộ thường xem xét những khả năng có thể xảy ra thiệt hại để đưa ra quyết định tham gia mua bảo hiểm nhằm tối đa hóa phúc lợi của mình (Phạm
Lê Thông, 2013) Đồng thời trong nghiên cứu về giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất được thực hiện ở tỉnh Đồng Tháp của Trang (2013) cũng cho kết quả tương tự là những nông hộ nào từng bị ảnh hưởng ngập lũ lớn trong quá khứ sẽ tăng khả năng tham gia mua bảo hiểm cây lúa
Những nông hộ có nhu cầu mua BHNN khi họ có nguy cơ đối diện với rủi ro cao trong SXNN, những rủi ro này xuất phát từ thời tiết, khu vực; khi những nông
hộ đã lựa chọn mua bảo hiểm rồi thì có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm (Quiggin và cộng sự, 1993).Đồng thời, trong nghiên cứu khoa học của Trang (2013) cũng đã chỉ ra rằng những nông hộ cho rằng năng suất thấp hơn năng suất trung bình của xã sẽ cho kết quả tích cực trong việc tham gia mua bảo hiểm của nông hộ
Quyết định mua bảo hiểm của nông hộ phụ thuộc vào nhận thức xảy ra, những kinh nghiệm trong quá khứ về qui mô, thông tin hậu quả có thể xảy ra (Zweifel & Eisen, 2012)
Có sự tương quan giữa sự hiểu biết về sản phẩm BHNN và mong muốn tham gia bảo hiểm của nông hộ Khi những nông hộ nhận thấy những mất mát tiềm năngảnh hưởng càng lớn đến thu nhập, tài sản thì càng ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia mua BHNN (Path và cộng sự, 2010)
Ở các nước đang phát triển, những nông hộ có mức thu nhập thấp lại sẵn sàng đầu tư một phần chi phí để chống lại các rủi ro vì nó có thể ảnh hưởng lớn đến tài sản, thu nhập của họ (Smith & Watts, 2009)
Kết quả nghiên cứu của Vandeveer (2001) về cầu đối với bảo hiểm mùa vụ trồng vảicủa nông dân ở miền Bắc Việt Nam chỉ ra rằng: những nông hộ có thu
Trang 27nhập cao và những nông hộ đã từng bị mất mùa trong sản xuất sẵn lòng tham gia mua bảo hiểm nhiều hơn.Trong khi đó, các yếu tố về đặc điểm cá nhân, đặc điểm nông hộ ít có ảnh hưởng đến quyết định tham gia mua bảo hiểm
Trong nghiên cứu của Christiaensen & Sarris (2007) về nhu cầu bảo hiểm hạt điều và cà phê của nông hộ ở Tanzania cho kết quả là tỷ trọng của thu nhập từ các loại cây trồng này trong tổng thu nhập của nông hộ biến đổi cùng chiều với khả năng tham gia mua bảo hiểm
Những nông hộ có tham gia các tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ chức cho vay tiết kiệm cũng có ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm (Clarke, 2011)
Nhưng theoRamasubramanian (2012) thì yếu tố tiền tiết kiệm, khả năng vay mượn và thu nhập khác ngoài thu nhập từ nông nghiệp cũng có ý nghĩa thống kê cao ảnh hưởng đến việc tham gia mua bảo hiểm
Theo Dercon và cộng sự (2008), đối với những nông hộ ở các nước đang phát triển thì sự hiểu biết và tin tưởng về các sản phẩm mới (sản phẩm BHNN theo chỉ số) có thể làm hạn chế mức độ mua bảo hiểm của nông hộ, nhưng khi sự hiểu biết về công ty bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm sẽ làm gia tăng sự tham gia mua bảo hiểm; và cũng trong nghiên cứu của Patt và cộng sự (2010) có mối tương quan giữa mong muốn mua bảo hiểm với mức độ hiểu biết sản phẩm bảo hiểm
Theo Trang (2013), dựa trên những nghiên cứu của Binswanger-Mkhize (2012), Clarke & Kalani (2011), Smith & Watts (2009) cho rằng: những nông hộ xem xét tính hiệu quả, chi phí, lợi ích, chiến lược sẵn có của chiến lược quản trị rủi
ro (như tiết kiệm, vay, ký kết với các công ty NN, tham gia các tổ chức xã hội,…)
so với việc mua BH, sau đó nông hộ mới quyết định đến việc sẵn sàng chi trả mức phí BH
Trong nghiên cứu của Ramasubramanian (2012), ông chỉ ra rằng các yếu tố
về kinh tế - xã hội, qui mô diện tích đất, thái độ với rủi ro, tính năng của sản phẩm ảnh hưởng đáng kể đến WTJ Trong đó, diện tích đất là một yếu tố quan trọng cho việc phân tích sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây trồng ở Ấn Độ Đồng thời, ông
Trang 28cũng cho rằng nếu nông hộ trồng nhiều hơn 1 loại cây trồng sẽ làm tăng khả năng sẵn sàng lên 18,6%
Từ những nghiên cứu của Clarke (2011), Phạm Lê Thông (2013), Path và cộng sự (2010), Quiggin và cộng sự (1993), Ramasubramanian (2012), Smith và Watts (2009), Trang (2013), Vandeveer (2001), Zweifel và Eisen (2012) ở trên, đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia mua bảo hiểm của nông hộ như sau:
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất WTJ
Trong đó:
- WTJ: Sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm
- inufarm2:= 1 nếu ruộng có bị ngập lớn như năm 2000, = 0 ngược lại
- natural20: Biến liên tục: khả năng xảy ra thiên tai/dịch bệnh làm mất mùa
- Rineutral: =1 bàng quan với rủi ro nhưng ghét mất mát, =0 ngược lại
- buyagri51: =1 đã từng ứng phó rủi ro bằng mua BHNN, =0 ngược lại
- riceinsurance: =1 có mua BH cây lúa, =0 ngược lại
- socialnet: Biến liên tục: Tham gia các tổ chức xã hội
inufarm2 natural20 Rineutral
riceinsurance
WTJ
buyagri51
Trang 29- higherpro: =1 nghĩ năng suất cao hơn các hộ khác, =0 ngược lại
- income: Biến liên tục: Thu nhập của nông hộ
- mitigation1: Hộ có biện pháp đối phó lũ lớn không
Từ những tổng quan lý thuyết ở trên có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả của nông hộ như: rủi ro, thu nhập ngoài trồng lúa, sử dụng các biện pháp đối phó rủi ro trong sản xuất nông nghiệp (như tiết kiệm, ký kết với công ty vật tư nông nghiệp), sản xuất 3 vụ sẽ gặp rủi ro hơn 2 vụ, thu nhập có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả mua bảo hiểm và sự hiểu biết của nông hộ về sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số năng suất; cùng với mô hình nghiên cứu trước đã thực hiện về giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa ở Đồng Tháp của Trang (2013) gồm có 7 biến độc lập Đồng thời, trong kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian (2012), ông chỉ ra rằng diện tích đất là một yếu tố quan trọng cho việc phân tích sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây trồng ở Ấn Độ Từ đó, tôi xuất mô hình nghiên cứu bao gồm 8 biến độc lập có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) như sau:
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu WTP trong đề tài
WTP
Trang 30Trong đó:
- WTP: Giá sẵn lòng trả
- risk2: Mức độ chấp nhận rủi ro của nông hộ
- nomfarm: =1 có hoạt động ngoài trồng lúa, =0 ngược lại
- save51: =1 nếu từng tiết kiệm để ứng phó rủi ro, =0 ngược lại
- contactco51: =1 có ký kết với công ty nông nghiệp, =0 ngược lại
- seasons: =1 sản xuất 2 vụ lúa/năm, =0 ngoài ra
- income: Biến liên tục: thu nhập của nông hộ
- knowledge: Mức độ hiểu biết về BH
- landrice: Diện tích đất lúa
Biến độc lập
Dấu
kỳ vọng
Answer1 Biến liên tục: Câu trả lời ở mức giá khởi điểm - Answer2 Biến liên tục: Câu trả lời ở mức giá lần thứ 2 -
Buyagri51 Biến giả: =1 nếu đã từng ứng phó rủi ro bằng mua BHNN,
=0 ngược lại
+
Contactco51 Biến giả: =1 nếu đã từng ứng phó rủi ro bằng ký kết với
công ty nông nghiệp, =0 ngược lại
-
Higherpro Biến giả:nghĩ rằngnăngsuất cao hơn người khác = 1, ngược
lại =0
-
Insured Biến giả: nếu đã từngmuaBH = 1 , ngượclại 0 + Inufarm2 Biến giả: nếuruộngbị ngậplớnnhư năm2000 =1, ngược lại= 0 + knowledge Biến liên tục: mức độ hiểu biết về sản phẩm bảo hiểm + Landrice Biến liêntục: diệntích đấttrồnglúa(công= 1000m2) -
Trang 31Biến độc lập
Dấu
kỳ vọng
Mitigation1 Có biện pháp ứng phó lũ lớn không? = 1 không; = 2 có; = 3
có, nhưng chỉ chuẩn bị khi có lũ lớn xảy ra
Tóm lược Chương 2: Sử dụng lý thuyết về lựa chọn bất lợi và rủi ro trong
đạo đức để tìm kiếm những nhận định ban đầu về rủi ro trong SXNN Tổng quan những nghiên cứu trước về việc xem xét những nông hộ có chấp nhận tốn phí mua
BH để đánh đổi việc giảm thiểu những rủi ro gặp phải trong SXNN như sâu bệnh, ngập lụt, giông bão, hạn hán,… hay không phụ thuộc vào thái độ nhận thức của họ Xác định ban đầu các nhân tố ảnh hưởng đến WTJ, WTP
Trang 32CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài.Trong đó trình bày các phương pháp sử dụng cho việc phân tích mô hình giá sẵn lòng trả và các bước phân tích dữ liệu
3.1 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN
Giá sẵn lòng trả (WTP) cho một sản phẩm là số tiền mà một cá nhân hoặc hộ gia đình sẵn sàng chi trả để mua các sản phẩm hoặc chi tiêu của mình, để xác định WTP người ta thường sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) (Ramasubramanian, 2012)
CVM là phương pháp xác định giá trị của một lợi ích thông qua bảng câu hỏi trực tiếp “Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu để có được sản phẩm/dịch vụ?” và một số câu hỏi khác có liên quan trong quá trình thu thập số liệu Phương pháp đánh giá này bỏ qua thông tin thị trường mà tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình để xác định giá trị sản phẩm/dịch vụ.Từ đó tiến hành xử lý dữ liệu để tìm ra mức sẵn lòng trả (WTP) trung bình và có bao nhiêu người được thụ hưởng sẽ tính ra tổng giá trị sản phẩm/dịch vụ.Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) này biểu thị sự ưu thích, trong đó một tình huống giả định đặt ra cho các đối tượng được phỏng vấn về các tính năng, đặc điểm của các sản phẩm/dịch vụ là rất cần thiết khi mà thông tin về giá sẵn lòng trả không có sẵn trên thị trường.Phương pháp này đòi hỏi phải có bảng câu hỏi về đánh giá ngẫu nhiên (CV) và đề tài này tôi sử dụng bảng câu hỏi CV cho việc xác định WTP của sản phẩm bảo hiểm cây lúa, phương pháp này được nhiều tác giả trong và ngoài nước sử dụng như Ramasubramanian (2012), Trang (2013)
Trang 333.2 XÂY DỰNG BẢNG CÂU HỎI DỮ LIỆU KHOẢNG TRONG XÁC ĐỊNH GIÁ SẴN LÒNG TRẢ (WTP)
Trong cuộc điều tra phỏng vấn CV, người được phỏng vấn có thể biết về bảo hiểm theo chỉ số năng suất hoặc có thể không hiểu biết, nên cần thiết phải thiết kế bảng câu hỏi đơn giản và dễ hiểu dựa trên lý thuyết về bảo hiểm theo chỉ số năng suất (Ramasubramanian, 2012) và trong khi phỏng vấn, người phỏng vấn sẽ giải thích cơ chế cung cấp bảo hiểm, thanh toán cho người được phỏng vấn hiểu
Theo website: www.snvworld.org, người mua bảo hiểm năng suất cây lúa sẽ được bồi thường khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhưng không dựa vào mức thiệt hại
về năng suất ruộng lúa của nông hộ mua bảo hiểm mà dựa vào năng suất bình quân của cả xã Năng suất bình quân thực tế của xã thấp hơn 90% so với năng suất trung bình của xã trong 3 mùa vụ tương ứng gần nhất khi đó người mua bảo hiểm sẽ được bồi thường, mặc dù những nông hộ mua bảo hiểm có bị thiệt hại hoặc không thiệt hại so với mức sụt giảm chung của cả xã
Bảng câu hỏi sẽ được đặt ra phỏng vấn trực tiếp những nông hộvề bảo hiểm cây lúa gồm 6 nhóm chính:
(i) Các câu hỏi có liên quan đến đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ; (ii) Các câu hỏi về kinh nghiệm đối phó với những rủi ro từng trải trong
canh tác lúa của nông hộ và chiến lược quản trị;
(iii) Những kiến thức và sự nhận biết của nông hộ trong các rủi ro canh
tác;
(iv) Những kinh nghiệm trong việc sử dụng bảo hiểm (nếu có);
(v) Một số câu hỏi về nhận thức các rủi ro cơ bản của nông hộ;
(vi) Các câu hỏi về giá sẵn lòng trả (WTP) của nông hộ về mua bảo hiểm Những nông hộ được phỏng vấn (được gọi tắt là đáp viên) sẽ được đặt câu hỏi giả định là nếu có sản phẩm bảo hiểm cây lúa trên thị trường thì họ sẵn sàng trả bao nhiêu để có được sản phẩm đó? Khi đó dạng câu hỏi tương tác (Interactive Bidding - IB) được đặt ra; theo đó, phương pháp này thì người phòng vấn sẽ đưa ra
Trang 34một mức giá cụ thể vả hỏi xem đáp viên trả lời có sẵn sàng chấp nhận mức giá đó hay không?Nếu đáp viên trả lời là có thì giá tiền đưa ra tiếp theo sẽ cao hơn mức giá khởi điểm và quy trình thực hiện này sẽ diễn ra cho đến khi đáp viên trả lời không chấp nhận; ngược lại, nếu ngay từ đầu đáp viên trả lời không chấp nhận mức giá khởi điểm ban đầu thì mức giá thứ 2 thấp hơn sẽ được đưa ra và quy trình này cũng
sẽ diễn ra tương tự cho đến khi đáp viên trả lời chấp nhận Ưu điểm của phương pháp IB này là có thể ước lượng chính xác WTP nhưng nó có thể có sự chênh lệch lớn về khoảng cách WTP, sai lệch do chọn mức giá khởi điểm hoặc sai lệch giả thuyết
Hình 3.1: Kịch bản phương pháp Bidding
WTJ
Không Có
WTP giá khởi điểm
Không Có
WTP giá cao hơn
Hỏi trực tiếp mức giá là bao nhiêu
Trong quá trình thiết kế bảng câu hỏi sao cho WTP gần sát thực tế, thì có nhiều buổi phỏng vấn nhỏ và chuyên sâu với nhiều đối tượng có liên quan, thảo luận nhóm, phỏng vấn thử Có buổi phỏng vấn với đại diện của hai Công ty bảo hiểm Bảo Việt (đang thực hiện thí điểm bảo hiểm cây lúa ở Đồng Tháp), theo đại diện của công ty này thì giá bán sản phẩm bảo hiểm khoảng 37.000 đồng/công
Trang 35ruộng (1 công ruộng tương đương 1.000 m2) và mức giá bán được cho là hoà vốn là 20.000 đồng/công Việc thực hiện thí điểm bảo hiểm cây lúa ở Tân Hồng, Châu Phú được Chính phủ và Công ty Bảo vệ thực vật An Giang hỗ trợ một phần và người dân chỉ trả khoảng 14.000 đồng/công
Đồng thời, cũng tiến hành phỏng vấn với các chuyên gia nông nghiệp của huyện, lãnh đạo địa phương và một số cuộc phỏng vấn thử để điều chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp hơn.Từ việc tham khảo mức phí BH từ công ty và những chính sách hỗ trợ của Chính phủ từ đó đề ra 4 mức giá khởi điểm là 15.000, 20.000, 30.000, 45.000 (VNĐ)
Dựa vào những thông tin trên, kịch bản của bảng câu hỏi theo phương pháp double-bounded dichotomous choice được hình thành như sau:
Bảng 3.1.Bảng câu hỏi Bidding Game
Trang 36(ii) Nếu đáp viên không chấp nhận mức giá khởi điểm thì mức giá thứ hai thấp hơn Bid2 được đưa ra, nếu họ đồng ý Bid2 thì đó là WTP, nếu họ tiếp tục không chấp nhận thì người phỏng vấn sẽ hỏi trực tiếp WTP của đáp viên là bao nhiêu
- Hộ gia đình có sản phẩm bảo hiểm được giả định sẽ mang lại lợi ích cho người mua, tức là mức độ thoả dụng nông hộ (Q1
) sẽ cao hơn khi không có sản phẩm bảo hiểm (Q0), do đó:
U(Y,P,X,Q1) > U(Y,P,X,Q0)
Nông hộ sẽ tự so sánh khi có khi có bảo hiểm và không bảo hiểm để xác định mức độ thoả dụng, khi đó mức giá sẵn lòng trả (WTP) của họ là khi mức độ thoả dụng khi bỏ tiền ra mua bảo hiểm bằng với mức thoả dụng ban đầu, tức là:
Trang 370 ≤ WTP = WTP(Y, P, X, Q0
, Q1) ≤ Y
Theo Mathiyazhagan (1998), thì xác suất của WTJ cao hơn xác suất WTP, bởi vì một số người sẵn sàng tham gia nhưng không muốn trả tiền cho sản phẩm do các yếu tố khách quan như nhà cung ứng sản phẩm, mức giá đưa ra,… Do đó, WTJ
là bước đầu tiên của phương pháp double-bounded dichotomous choice được sử dụng để ước lượng WTP; đáp viên chỉ được tham gia Bidding game nếu họ chấp nhận tham gia
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng mô hình biến nhị phân với 2 lựa chọn:
WTJi* = αX’i + бi (бi là sai số ngẫu nhiên)
Mô hình biến nhị phân:
WTJ = 1 (có tham gia) nếu WTJi*> 0
WTJ = 0 (không có tham gia) nếu WTJi*< 0
Trong bước thứ hai, biến phụ thuộc sẽ là số tiền mà mỗi cá nhân chấp nhận trả cho việc mua sản phẩm, ước tính sẽ sử dụng hàm Ordered profit, trong đó mỗi
cá nhân sẽ có một mức giá khởi điểm khác nhau là BIi cũng như mức giá cao hay thấp (BLi hoặc BUi), khi đó BL
i<BIi< BUi Như vậy sẽ xảy ra 4 kịch bản sau:
Bảng 3.2: 4 trường hợp trong trả lời WTP Trường
hợp
Câu trả lời lần đâu tiên
Trang 383.3.2 Mô hình phân tích dữ liệu nhị phân (dichotomous) CV
3.3.2.1 Mô hình thoả dụng ngẫu nhiên (Random Utility Model - RUM)
Theo Haab và McConnel (2002), thì mức độ thoả dụng gián tiếp của một cá nhân là:
uij = ui (yj, zj, єij) (1)
uij = ui (yj, zj, єij) = vi (yj, zj) + єij (2) Trong đó: i = 1 là có mua bảo hiểm hoặc i = 0 là không có mua bảo hiểm; j là đại diện cho cá nhân được phỏng vấn Các yếu tố quyết định đến hàm thoả dụng: yj
là thu nhập của cá nhân j tham gia phỏng vấn; zj là một véc tơ chỉ các đặc điểm của nông hộ và các yếu tố khác ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm; єij là những đặc điểm không quan sát được của cá nhân được phỏng vấn
Theo mô hình (1), cá nhân j sẽ có mức thoả dụng của việc mua bảo hiểm cao hơn không mua bảo hiểm khi cá nhân đó trả lời là có với mức phí bảo hiểm được hỏi (bid), khi đó:
u1 (yj - tj, zj, є1j) > u0 (yj, zj, є0j) (3)
Do có một số yếu tố không quan sát được nên chúng ta không biết được câu trả lời mà chỉ có thể ước lượng được xác suất của câu trả lời đó Nếu lợi ích từ việc mua bảo hiểm cao hơn không mua bảo hiểm thì xác suất trả lời câu hỏi đó là:
Pr (cój) = Pr[u1 (yj - tj, zj, є1j)) > u0 (yj, zj, є0j)] (4)
Từ (2) và (4), ta có xác suất câu trả lời có của cá nhân j:
Pr (cój) = Pr[v1 (yj - tj, zj) + є1j> v0 (yj, zj) + є0j] (5) Hàm hữu dụng tuyến tính được sử dụng:
Vij = αizj + βi(yj) (6) Trong đó: yj là thu nhập cá nhân j; zj là véc tơ biến giải thích các đặc điểm của cá nhân j; αi là véc tơ chỉ hệ số các biến giải thích Khi đó, αizj = ∑ zjk
Trang 39Giả định mức thoả dụng biên của 2 bước phân tích đánh giá ngẫu nhiên là một hằng
số thì từ phương trình (5) và (6), ta có:
Pr (cój) = Pr(αzj – βtj + єj> 0), với єj = є1j –є0j (7)
Pr (cój) = Pr(αzj – βtj + єj> 0) = Pr(-(αzj - βtj) < єj )
= 1 - Pr(-(αzj - βtj) < єj ) = Pr(єj < αzj - βtj) (8) Giả định єj có phân phối chuẩn, thì:
Vì tính chất của phân phối chuẩn nên є = 0
Vậy ta có giá trị trung bình của WTP là:
Mdє(WTPj|α,β,zj) =
3.3.2.2 Mô hình giá sẵn lòng trả ngẫu nhiên (The Random WTP Model)
Và cũng theo Haab và McConnel (2002), một cá nhân có thể sẵn sàng trả 1 mức giá cao hơn mức giá ban đầu ti trong câu hỏi đánh giá ngẫu nhiên nhị phân, thì WTP của cá nhân đó sẽ là:
WTP(yj, zj, єj) > tj
Trang 40Điều này đúng khi mức độ thoả dụng của cá nhân có mua bảo hiểm cao hơn mức thoả dụng trong trong điều kiện bình thường, hay:
v1 (yj - tj, zj) + є1j > v0 (yj, zj) + є0j
=>Pr[WTP(yj, zj, єj) > tj] = Pr[v1 (yj - tj, zj) + є1j > v0 (yj, zj) + є0j] Giả định việc ước tính WTP có thể được mô hình hoá dưới dạng tuyến tính:
WTP(zj, ŋj) = ɤzj + ŋjTrong đó, zj là các biến giải thích được trình bày ở trong phần phụ lục B; ɤ là
hệ số của các biến giải thích zj; ŋj là 1 số ngẫu nhiên, được giả định có phân phối ngẫu nhiên độc lập và là 1 hằng số Khi câu trả lời là có, thì xác suất sẽ là:
Pr (cój) = Pr(WTP > tj) = Pr((γzj + ŋj)> tj) = Pr((γzj - tj) > ŋj) Với ŋj là phân phối chuẩn, ta có:
Pr((γzj - tj) > ŋj) = Pr((γzj - tj)/б>Ɵj) = 1 – Φ
= Φ
( ) ( )
( )(̂)
3.3.3 Ứng dụng Stata xử lý dữ liệu CV theo phương pháp của Alejandro López-Feldman
Theo López-Feldman (2012), việc đánh giá ngẫu nhiên (CV) sử dụng dữ liệu khoảng hoặc dữ liệu double-bounded là phương pháp ước tính đáng tin cậy trong việc xác định giá sẵn lòng trả (WTP) (với giả định rằng chỉ có một giá trị duy nhất tồn tại sau hai câu trả lời); trong đó, và là câu trả lời của 2 câu hỏi bidding game, vậy xác suất để một người trả lời là có và là không có có thể được thể hiện như sau: