1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng tiền và khả năng sinh lợi của công ty

71 587 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 697 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, một chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn hơn sẽ làm tăng khả năng sinh lợi của công ty vì nó cải thiện hiệu quả của trạng thiếu hụt hàng tồn kho, điều đó có thể làm cho khách hàng ch

Trang 1

  

BÙI KIM PHƯƠNG

NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY

Trang 2

  

BÙI KIM PHƯƠNG

NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY

Chuyên ngành: Kinh t ế tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS.NGUYỄN ĐỨC THANH

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trên bất kỳ phương tiện nào Nguồn dữ liệu sử dụng để phân tích trong đề tài này là báo cáo tài chính của các công ty niêm yết lấy từ trang web của các công ty chứng khoán và tôi bảo đảm nội dung luận văn

là độc lập, không sao chép từ bất kỳ một công trình nào khác

Người thực hiện

BÙI KIM PHƯƠNG

Học viên cao học lớp TCDN Đêm 1 – K18 Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học của tôi: Tiến sĩ Nguyễn Đức Thanh vì những lời khuyên bổ ích và những hướng

dẫn tận tình của Thầy trong suốt quá trình thực hiện bài nghiên cứu này

Ngoài ra, tôi xin được cảm ơn tất cả các Thầy Cô trong khoa Tài chính doanh nghiệp và khoa Sau Đại học trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian theo học chương trình cao học tại trường

Trang 5

DANH M ỤC CÁC BẢNG BIẾU

Bảng I: Thống kê mô tả 31

Bảng II: Giá trị trung bình theo nhóm ngành 33

Bảng III: Ma trận tương quan 35

Bảng IV:Tác động của quản trị vốn luân chuyển lên dòng tiền hoạt động 37

Bảng V: Tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi 40

Trang 6

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ICP (Inventory Conversion Period): Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho

LTDE (Long-Term Debt to Equity): Nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu

OCFTS (Operating Cash Flow To Sales): Dòng tiền hoạt động trên doanh thu

RCP (Receivable Collection Period): Kỳ thu tiền khách hàng

Trang 7

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIẾU iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

1.1 QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 5

1.1.1 Quản trị khoản phải thu khách hàng (quản trị tín dụng) 5

1.1.1.1 Các điều kiện bán hàng 5

1.1.1.2 Phân tích tín dụng 7

1.1.1.3 Quyết định cấp tín dụng 8

1.1.1.4 Chính sách thu nợ 10

1.1.2 Quản trị hàng tồn kho 11

1.1.3 Quản trị tiền mặt 13

1.2 DÒNG TIỀN HOẠT ĐỘNG 14

1.3 KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY 17

1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ CÓ 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 25

2.1 DỮ LIỆU 25

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.3 GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 26

2.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 31

Trang 8

3.2 MA TRẬN TƯƠNG QUAN PEARSON 35

3.3 KẾT QUẢ HỒI QUY OLS 36

3.3.1 Mô hình 1 37

3.3.2 Mô hình 2 40

3.4 KIỂM ĐỊNH THỐNG KÊ 43

3.4.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình (Phân tích phương sai) 43

3.4.2 Kiểm định vấn đề đa cộng tuyến 43

3.4.3 Kiểm định d của Durbin – Watson 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN, MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 46

4.1 KẾT LUẬN 46

4.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 49

4.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 56

Trang 9

mục trên bảng cân đối kế toán của công ty Do đó, quản trị vốn luân chuyển

là một vấn đề rất quan trọng đối với hầu hết các công ty, đặc biệt là ở các công ty vừa và nhỏ vì phần lớn tài sản của các công ty này là tài sản ngắn

hạn Tương tự, nợ ngắn hạn là một trong những nguồn tài trợ bên ngoài chủ

yếu của họ do những khó khăn họ gặp phải trên thị trường vốn dài hạn

Vấn đề chính trong quản lý vốn luân chuyển là các hoạt động kinh doanh

và tài trợ ngắn hạn của công ty, những hoạt động ngắn hạn này liên quan đến việc trả tiền mua nguyên vật liệu thô, sản xuất, bán sản phẩm và thu

tiền từ việc bán sản phẩm đó Một nguyên tắc của quản lý vốn luân chuyển

là thu tiền càng nhanh càng tốt và trì hoãn các khoản phải trả cho nhà cung

cấp càng lâu càng tốt, nguyên tắc này dựa trên khái niệm chu kỳ chuyển đổi

tiền mặt (Cash conversion cycle) Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của một công ty được định nghĩa là khoảng thời gian từ khi trả tiền mua nguyên vật

liệu thô đến khi thu tiền bán thành phẩm

Cách quản lý vốn luân chuyển có thể tác động đáng kể lên cả dòng tiền và

hiệu quả hoạt động của công ty Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt làm tăng khả năng sinh lợi của công ty bởi vì chu kỳ chuyển đổi tiền mặt càng dài thì nhu cầu tài trợ từ bên ngoài với chi phí cao càng lớn Do đó, bằng cách giảm thời gian tiền mặt bị ứ đọng trong vốn luân chuyển, công ty có

Trang 10

thể hoạt động hiệu quả hơn Như vậy, một chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn hơn sẽ làm tăng khả năng sinh lợi của công ty vì nó cải thiện hiệu quả của

trạng thiếu hụt hàng tồn kho, điều đó có thể làm cho khách hàng chuyển sang mua sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Khi giảm thời gian thu tiền, công ty có thể sẽ bị mất các khách hàng tín dụng tốt và khi kéo dài thời gian trả nợ cho nhà cung cấp, công ty không chỉ bị mất đi các khoản chiết

khấu thanh toán mà còn có thể gây tổn hại đến uy tín của chính công ty Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng là một cách hữu dụng để đánh giá dòng

tiền của công ty bởi vì nó đo lường khoảng thời gian đã đầu tư vào vốn luân chuyển, cách đo lường tính thanh khoản này hiệu quả và toàn diện hơn

so với phương pháp truyền thống là sử dụng tỉ số thanh toán hiện hành và tỉ

số thanh toán nhanh vốn chỉ tập trung vào các giá trị cố định trên bảng cân đối kế toán

Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam thường phải đối mặt

với tình trạng thiếu vốn để nâng cao năng lực cạnh tranh Trong điều kiện

đó, quản trị tài chính nhất là vấn đề quản lý vốn luân chuyển có vai trò hết

sức quan trọng và được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm Đó cũng là lý

Trang 11

do tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng

tiền và khả năng sinh lợi của công ty” làm luận văn tốt nghiệp

2 M ục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều dài của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền khách hàng, kỳ chuyển đổi hàng tồn kho và kỳ thanh toán cho người bán với khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động, tác

giả đề xuất một số giải pháp quản lý vốn luân chuyển nhằm nâng cao hiệu

quả kinh doanh của các công ty

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:

 Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản lý vốn luân chuyển lên dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi

 Thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi

tiền mặt và các thành phần của nó với dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi

 Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền và

cải thiện khả năng sinh lợi của các công ty

Luận văn tập trung phân tích mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần, song nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao

dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2010

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng hai phương pháp chủ yếu là:

 Phương pháp tư duy trừu tượng nhằm nghiên cứu tổng quan về quản

lý vốn luân chuyển, khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động

 Phương pháp nghiên cứu định lượng theo phương pháp OLS để phân tích tác động của quản lý vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi và dòng

tiền hoạt động của các công ty cổ phần

Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp diễn dịch trừu tượng, phương pháp phân tích thống kê…

Ngoài phần mở đầu, kết cấu luận văn bao gồm bốn chương với nội dung cụ

thể như sau:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về quản lý vốn luân chuyển, dòng

tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của công ty

Chương 2: Xây dựng mô hình nghiên cứu

Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận bài nghiên cứu, đưa ra một số gợi ý chính sách

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần ở Việt nam và

những hạn chế của đề tài

Trang 13

Quản trị vốn luân chuyển là quản trị các tài sản ngắn hạn chủ yếu của công

ty, bao gồm các khoản mục phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tiền mặt

1.1.1 Qu ản trị khoản phải thu khách hàng (quản trị tín dụng)

Khi một công ty bán hàng cho một công ty khác, thường thì họ không được thanh toán ngay Những hóa đơn chưa thanh toán này được gọi là tín dụng thương mại (trade credit) chiếm phần chủ yếu trên tài khoản phải thu khách hàng, phần còn lại là tín dụng tiêu dùng (consumer credit) Các công ty không thanh toán tiền mua hàng ngay, tức là trên thực tế đã vay tiền của các nhà sản xuất để đáp ứng nhu cầu tài chính ngắn hạn của mình

1.1.1.1 Các điều kiện bán hàng

Không phải tất cả hàng hóa bán ra đều là bán chịu Khách hàng có thể thanh toán ngay khi nhận hàng (COD – Cash On Delivery), thậm chí họ còn trả trước cho món hàng đó (CBD – Cash Before Delivery) Một công ty

phải quyết định những điều kiện cụ thể khi bán chịu hàng hóa và dịch vụ, bao gồm kỳ tín dụng, chiết khấu tiền mặt và các công cụ tín dụng

K ỳ tín dụng: Các ngành khác nhau có chính sách bán chịu khác nhau

nhưng nói chung, một công ty thường cân nhắc ba yếu tố sau để quyết định

kỳ tín dụng:

Trang 14

1 Khả năng khách hàng không trả nợ: Nếu khách hàng là doanh nghiệp có

rủi ro kinh doanh cao, công ty sẽ có những điều khoản tín dụng hạn chế Ngược lại, người bán có thể kéo dài thêm thời hạn thanh toán nếu khách hàng có rủi ro kinh doanh thấp hoặc họ mua với số lượng lớn hoặc họ cần

thời gian để kiểm tra chất lượng hàng hóa hoặc đó là loại hàng không dễ dàng được bán lại trong thời gian ngắn

2 Khối lượng hàng mua: Nếu khối lượng hàng mua ít, kỳ tín dụng sẽ ngắn hơn vì những khoản phải thu có giá trị nhỏ sẽ tốn nhiều chi phí hơn để quản

lý và những khách hàng nhỏ thì cũng ít quan trọng hơn

3 Loại hàng hóa: Nếu giá trị hàng hóa thấp và không thể giữ được trong

thời gian dài thì kỳ tín dụng sẽ ngắn hơn Các công ty bán hàng tiêu dùng lâu bền có thể cho người mua một tháng để thanh toán, trong khi các công

ty bán hàng dễ hỏng như pho mát và nước trái cây thì thường yêu cầu phải thanh toán trong vòng một tuần

Chiết khấu tiền mặt: Để khuyến khích khách hàng thanh toán trước

hạn, người bán thường đề nghị một khoản chiết khấu bằng tiền mặt khi họ

trả ngay

Các công c ụ tín dụng: Tín dụng thương mại hầu hết đều dựa trên tài

khoản mua bán chịu (open account) Điều đó có nghĩa là công cụ tín dụng

chính thức duy nhất là hóa đơn, sẽ được gửi cùng hàng hóa và chữ ký của khách hàng chứng tỏ hàng hóa đã được nhận Sau đó, công ty và khách hàng sẽ tiến hành ghi chép vào sổ sách kế toán

Công ty có thể yêu cầu khách hàng ký một lệnh phiếu (promissory note) khi đơn hàng lớn hoặc khi công ty dự đoán sẽ gặp khó khăn trong việc thu

hồi nợ Lệnh phiếu có thể giải quyết các tranh cãi sau đó về hợp đồng tín

dụng giữa hai bên

Trang 15

Có một vấn đề với lệnh phiếu là nó được ký sau khi đã giao hàng Do đó,

để nhận được cam kết tín dụng từ khách hàng trước khi hàng hóa được giao, người bán có thể sử dụng hối phiếu (commercial draft/bills of exchange), yêu cầu khách hàng trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định Hối phiếu sau đó được gửi đến ngân hàng của khách hàng cùng với các hóa đơn vận chuyển Ngân hàng yêu cầu người mua ký lên hối phiếu trước khi đưa các hóa đơn Sau đó, hàng hóa sẽ được chuyển đến cho người mua Nếu cần trả tiền ngay, hối phiếu này được gọi là hối phiếu trả ngay (sight draft), ngược lại, nó được gọi là hối phiếu trả chậm (time draft) Thông thường, người bán vẫn chưa yên tâm ngay cả khi hối phiếu đã được

ký Trong trường hợp này, họ có thể yêu cầu ngân hàng trả tiền cho hàng hóa và sẽ thu lại từ khách hàng Nếu đồng ý, ngân hàng sẽ viết giấy chấp

nhận thanh toán nghĩa là ngân hàng chịu trách nhiệm trả nợ Bởi vì ngân hàng thường là những tổ chức uy tín và có danh tiếng nên giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng là một chứng từ có tính thanh khoản Người bán

có thể bán (chiết khấu) chứng từ này trên thị trường thứ cấp

Công ty cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiện như là một công cụ tín dụng Trong trường hợp này, công ty vẫn giữ quyền sở hữu hàng hóa hợp pháp cho đến khi khách hàng hoàn tất việc thanh toán Hợp đồng bán hàng có điều kiện thường được sử dụng khi hàng hóa được mua theo phương thức trả góp

1.1.1.2 Phân tích tín d ụng

Các công ty không được phép phân biệt khách hàng bằng các mức giá khác nhau và họ cũng không được phân biệt bằng cách cung cấp cùng một mức giá nhưng với các điều khoản tín dụng khác nhau Họ có thể có những điều khoản bán hàng khác nhau đối với các nhóm khách hàng khác nhau Chẳng

hạn, các công ty có thể chiết khấu theo khối lượng hàng mua cho những

Trang 16

khách hàng sẵn sàng ký hợp đồng mua dài hạn Nhưng theo quy luật, đối

với khách hàng có tình trạng tín dụng đáng ngờ thì công ty sẽ áp dụng

những điều khoản bán hàng thông thường và hạn chế khối lượng hàng bán chịu

Có nhiều cách để biết liệu khách hàng có muốn trả nợ hay không Đối với các khách hàng hiện tại chỉ cần xem xét lịch sử tín dụng của họ Đối với khách hàng mới, có thể sử dụng báo cáo tài chính của công ty để đưa ra

nhận xét hoặc nhìn vào cách các nhà đầu tư đánh giá công ty đó như thế nào Tuy nhiên, cách đơn giản nhất để đánh giá tình trạng tín dụng của một khách hàng là tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá tín nhiệm Cuối cùng, các công ty cũng có thể yêu cầu ngân hàng của mình tìm

hiểu dùm Họ sẽ liên hệ với ngân hàng của khách hàng và hỏi thông tin về

số dư trung bình, lịch sử tín dụng với ngân hàng và uy tín của khách hàng đó

1.1.1.3 Quyết định cấp tín dụng

Có nhiều khách hàng luôn luôn trả nợ trễ, công ty có thể lấy được tiền nhưng phải mất nhiều chi phí hơn để thu nợ và lại mất tiền lãi của nhiều tháng Thêm vào đó là sự không chắc chắn về những thương vụ kế tiếp Đó

có thể là một cơ hội tốt khi khách hàng tiếp tục kinh doanh với công ty nhưng điều này cũng không chắc chắn và không biết bao lâu nữa họ mới

tiếp tục mua hàng

Giống như hầu hết các quyết định tài chính, việc phân bổ tín dụng đòi hỏi

sự phán đoán tốt Có ba điều cơ bản cần phải nhớ khi ra quyết định cấp tín dụng:

Một giám đốc tín dụng không nên chỉ tập trung vào việc tối thiểu hóa

số lượng các tài khoản xấu mà còn phải tối đa hóa lợi nhuận mong đợi Anh ta phải đối mặt với hai khả năng: hoặc là khách hàng trả nợ đúng hạn hoặc là khách hàng bị vỡ nợ Trong trường hợp đầu tiên, công ty sẽ nhận được đủ tiền trừ các chi phí phát sinh, còn trong

Trang 17

trường hợp xấu, công ty sẽ không nhận được gì và còn phải mất thêm chi phí Anh ta phải cân nhắc kỹ lưỡng các cơ hội này Nếu công ty có lợi nhuận biên cao thì anh ta có chính sách tín dụng tự do hơn nhưng nếu lợi nhuận biên thấp thì anh ta không được để công ty

phải gánh chịu thêm nhiều khoản nợ xấu

Hầu hết các giám đốc tín dụng không đưa ra quyết định trên từng đơn đặt hàng Thay vì vậy, họ thiết lập một hạn mức tín dụng cho

mỗi khách hàng Đại diện kinh doanh được yêu cầu chuyển đơn đặt hàng để phê duyệt chỉ trong trường hợp khách hàng vượt quá hạn

mức tín dụng này

Doanh nghiệp không thể chỉ nhìn vào hiện tại mà đôi khi cần chấp

nhận rủi ro miễn là có cơ hội khách hàng sẽ trở thành một người mua thường xuyên và đáng tin cậy Do đó, những doanh nghiệp mới cần

phải chuẩn bị để gánh chịu nhiều nợ xấu hơn so với những doanh nghiệp đã thành lập trước đó Đây là một phần chi phí để xây dựng

một danh sách khách hàng tốt

Trong những thị trường tài chính hoàn hảo không có chính sách tín dụng

tối ưu Các chính sách tín dụng khác nhau không ảnh hưởng đến giá trị công ty Còn trong thị trường tài chính không hoàn hảo, thuế, sức mạnh độc quyền, chi phí phá sản và chi phí đại diện là những nhân tố quan trọng có tác động đến chính sách tín dụng tối ưu Nói chung, một công ty sẽ mở

rộng tín dụng thương mại nếu nó có lợi thế tương đối so với những công ty

tiềm năng khác

Trang 18

1.1.1.4 Chính sách thu n ợ

Bước cuối cùng trong việc quản lý tín dụng là thu nợ Khi một khách hàng

chậm trả nợ, qui trình thông thường là gửi cho họ một báo cáo số dư nợ, sau đó gửi thư và gọi điện liên tục để nhắc về việc thanh toán Nếu những

nỗ lực trên không hiệu quả, hầu hết các công ty sẽ chuyển khoản nợ đó cho

một công ty chuyên thu nợ hoặc chuyển cho luật sư

Một doanh nghiệp nhỏ không thể thuê mướn hay huấn luyện một cán bộ tín

dụng chuyên môn Tuy nhiên, họ có thể giao việc này cho bên bao thanh toán Bên bao thanh toán và công ty thống nhất về các hạn mức tín dụng đối với mỗi khách hàng và về kỳ thu tiền bình quân Sau đó, công ty thông báo cho mỗi khách hàng biết rằng bên bao thanh toán đã mua nợ Từ đó trở

về sau, khi bán hàng, công ty gửi một bản sao hóa đơn cho bên bao thanh toán, khách hàng trả tiền trực tiếp cho bên bao thanh toán và bên bao thanh toán thanh toán cho công ty trên cơ sở kỳ thu tiền bình quân đã thống nhất

mà không cần biết liệu khách hàng đã trả tiền chưa Dĩ nhiên, công ty phải

trả cho bên bao thanh toán một khoản phí từ 1 đến 2% giá trị hóa đơn

Nếu công ty không cần hỗ trợ trong việc thu nợ nhưng muốn được bảo vệ

khỏi những khoản nợ xấu, họ có thể dùng bảo hiểm tín dụng Hầu hết các chính phủ đều đã thành lập các cơ quan để bảo đảm cho các doanh nghiệp

xuất khẩu và các ngân hàng sẵn sàng cho vay khi xuất khẩu được bảo đảm Luôn luôn có mâu thuẫn lợi ích tiềm tàng giữa hoạt động thu nợ và phòng kinh doanh Các nhân viên kinh doanh thường phàn nàn rằng ngay sau khi

họ vừa tìm được khách hàng mới thì phòng thu nợ đã làm các khách hàng này hoảng sợ với những lá thư hăm dọa Mặt khác, trưởng phòng thu nợ lại kêu ca rằng lực lượng kinh doanh chỉ quan tâm đến việc tìm kiếm đơn hàng

mà không bận tâm liệu hàng hóa sau đó có được thanh toán hay không

Tín dụng thương mại có thể là một nguồn vốn quan trọng đối với những khách hàng ít vốn lại không vay được từ ngân hàng Tuy nhiên, người bán

Trang 19

lại cung cấp tín dụng thương mại cho những khách hàng này bởi vì họ có

thể có nhiều thông tin về tình hình kinh doanh của khách hàng hơn ngân hàng

1.1.2 Qu ản trị hàng tồn kho

Tài sản lưu động quan trọng thứ hai là hàng tồn kho Đây là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Hàng tồn kho bao

gồm nguyên vật liệu thô, sản phẩm dở dang hoặc thành phẩm đang chờ bán

và vận chuyển đi Công ty không bắt buộc phải tích trữ hàng tồn kho Họ

có thể mua nguyên vật liệu từng ngày khi cần Nhưng sau đó họ sẽ phải trả giá cao hơn để đặt mua những lô hàng nhỏ và họ sẽ gặp rủi ro trì trệ sản

xuất nếu nguyên vật liệu không được giao đúng hạn Họ có thể tránh rủi ro này bằng cách đặt mua nhiều hơn nhu cầu trước mắt của công ty Tương tự, công ty có thể tránh tồn kho thành phẩm bằng cách chỉ sản xuất vừa đủ hàng để bán Nhưng đó cũng có thể là một chiến lược nguy hiểm Một nhà

sản xuất chỉ có một lượng nhỏ thành phẩm tồn kho có thể lâm vào tình

trạng thiếu hụt và không thể đáp ứng đơn đặt hàng nếu có nhu cầu cao bất

ngờ Hơn nữa, một lượng thành phẩm tồn kho lớn có thể làm cho sản xuất

tiết kiệm hơn và lâu dài hơn

Việc lưu trữ hàng tồn kho sẽ làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp như chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hàng tồn kho hay chi phí hao hụt, cải tiến sản phẩm lỗi thời… Tồn kho lớn cũng khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian mới xử lý hết hàng tồn Vì thế, nhiều doanh nghiệp đã lơ là việc đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu hay sản xuất thành phẩm Kết quả là khi các đơn hàng tăng trở lại, các công ty phải chật vật tìm kiếm nguồn cung ứng Họ sẵn sàng trả giá cao nhưng vẫn không tìm đủ nguồn hàng nên đành chấp nhận chỉ sản xuất một phần công suất và tiếc rẻ nhìn cơ hội đi qua

Hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề và không phải tồn kho thấp

là tốt hay tồn kho cao là xấu Vấn đề ở chỗ mức tồn kho như thế nào là hợp

lý, vừa giảm được chi phí vừa đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng Do đó rất khó để xác định mức tồn kho bao nhiêu là vừa vì tùy đặc

Trang 20

điểm ngành nghề, tùy chiến lược kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp sẽ có những mức tồn kho riêng

Sơ đồ dưới đây trình bày tóm tắt hậu quả của việc tồn kho hàng hóa quá ít hoặc quá nhiều:

Tiền bị ứ đọng trong hàng tồn kho không sinh lãi trong khi chi phí tích trữ

và bảo hiểm phải thanh toán chưa kể đến rủi ro hàng hóa bị hư hỏng hoặc

lỗi thời Do đó, các nhà quản lý sản xuất phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc trữ hàng tồn kho

Các công ty ngày nay có mức hàng tồn kho thấp hơn nhiều so với trước đây Về nguyên tắc, tồn kho càng ít càng tốt, như phương châm của hệ thống quản lý hàng tồn kho Just In Time (JIT) là “chỉ sản xuất đúng sản phẩm, với đúng số lượng, tại đúng nơi, vào đúng thời điểm” Tuy nhiên,

mô hình JIT chỉ hiệu quả đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất lặp đi lặp lại, có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp Còn đối với những doanh nghiệp dựa vào mùa vụ, cần đầu vào ổn định, muốn tranh thủ cơ hội từ khan hiếm hàng hóa thì việc dự trữ hàng tồn

Trang 21

kho lại rất cần thiết Phương pháp JIT được vận dụng đầu tiên bởi công ty Toyota ở Nhật Bản Toyota tồn kho phụ tùng ô tô ở mức tối thiểu bằng cách chỉ đặt mua khi cần Sở dĩ Toyota có thể thành công với mức tồn kho

thấp như vậy bởi vì nó có một hệ thống các nhà máy đảm bảo cho việc sản

xuất không bị gián đoạn

Các công ty cũng có thể giảm lượng thành phẩm tồn kho bằng cách sản

xuất theo đơn đặt hàng Công ty máy tính Dell không cần phải giữ một lượng lớn máy trong kho Các khách hàng có thể dùng Internet để yêu cầu

những đặc điểm về PC Sau đó, máy tính sẽ được lắp ráp theo đơn đặt hàng

và giao đến cho khách hàng

1.1.3 Qu ản trị tiền mặt

Quản trị tiền mặt là quá trình quản lý lượng tiền mặt tại quỹ và tiền mặt trong tài khoản thanh toán của ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tình hình chi tiêu tiền mặt, xác định nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, từng bước khắc phục tình trạng

thừa thiếu lượng tiền mặt trong ngắn hạn và dài hạn

Ở trạng thái cân bằng, tất cả các tài sản có cùng mức độ rủi ro sẽ tạo ra cùng một lợi nhuận biên mong đợi Lợi ích của việc nắm giữ trái phiếu kho

bạc là lãi suất còn lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt là tính thanh khoản trong thanh toán Ở trạng thái cân bằng, giá trị biên của khả năng thanh khoản này bằng với giá trị biên của lãi suất trên trái phiếu kho bạc Tuy nhiên, giá trị biên của khả năng thanh khoản giảm xuống khi lượng tiền mặt được nắm giữ tăng lên Do đó, một giám đốc tài chính sẽ quyết định giữ

một lượng tiền mặt mà ở đó giá trị biên của khả năng thanh khoản bằng với giá trị biên của lãi suất trái phiếu

Khi lựa chọn giữa tiền mặt và trái phiếu ngắn hạn, nhiệm vụ của giám đốc tài chính cũng giống như của giám đốc sản xuất Nếu tiền mặt được đầu tư

Trang 22

vào chứng khoán, nó sẽ tạo ra lợi nhuận Mặt khác, công ty không thể sử

dụng những chứng khoán này để thanh toán hóa đơn Nếu bán chúng để lấy

tiền trả nợ, công ty phải gánh chịu các chi phí giao dịch cao Giám đốc tài chính phải cân đối giữa chi phí nắm giữ tiền mặt (lãi suất bị mất đi) và lợi ích (chi phí giao dịch tiết kiệm được) Đối với những công ty nhỏ, sự cân đối này có thể rất quan trọng nhưng với những công ty lớn, chi phí giao

dịch của việc mua và bán chứng khoán lại không đáng kể so với chi phí cơ

hội của việc nắm giữ một lượng tiền nhàn rỗi

Tiền mặt cần cho công việc kinh doanh Nhu cầu này liên quan đến các

hoạt động thu và chi thông thường của công ty Công ty chi tiền để trả lương, thanh toán các khoản nợ, nộp thuế và trả cổ tức Tiền được thu từ

việc bán hàng, bán các tài sản và từ tài trợ mới Dòng tiền vào và ra thường không xảy ra đồng thời Nếu duy trì một số dư tiền quá ít, công ty có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt Khi đó, công ty phải bán chứng khoán hoặc đi vay và phải chịu chi phí giao dịch

Các công ty lớn giữ một lượng tiền mặt đáng kể vì tiền mặt được giữ trong

những tài khoản không lãi suất như một khoản bù đắp cho các dịch vụ mà ngân hàng đã cung cấp Một số dư yêu cầu tối thiểu ở các ngân hàng cung

cấp dịch vụ tín dụng có thể làm giảm số tiền mặt nắm giữ của công ty

Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, các doanh nghiệp

cần phải có một lượng tiền mặt dự trữ Nếu dự trữ quá nhiều so với nhu cầu

thực tế sẽ làm vốn tiền mặt bị ứ đọng Mặt khác, lạm phát ngày càng tăng

sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức mua của đồng tiền Ngược lại, nếu dự trữ quá ít sẽ làm giảm khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp

Dòng tiền của doanh nghiệp được hình thành từ ba hoạt động:

1 Hoạt động kinh doanh – Dòng tiền hoạt động

Trang 23

2 Hoạt động đầu tư – Dòng tiền đầu tư

3 Hoạt động tài trợ – Dòng tiền tài trợ

Trong đó, dòng tiền hoạt động là một trong những chỉ tiêu được quan tâm nhiều nhất trên các báo cáo tài chính của công ty, cụ thể chỉ tiêu này được

thể hiện trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo này cho thấy sự thay đổi

về mặt kế toán của tiền và các khoản tương đương tiền

Dòng tiền hoạt động được định nghĩa là các khoản thu nhập trước khi chi

trả lãi vay và khấu hao trừ đi các khoản thuế phải nộp, đó là dòng tiền được

tạo ra từ việc sản xuất kinh doanh bình thường của công ty như bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ Nói cách khác, dòng tiền hoạt động là dòng tiền vào và ra, có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa hoặc

dịch vụ của doanh nghiệp Những dòng tiền này có thể thu thập được từ báo cáo thu nhập hoặc trên các giao dịch hiện tại trên tài khoản kế toán phát sinh trong một thời kỳ Mặc dù việc vay nợ thuộc dòng tiền tài trợ nhưng chi phí trả lãi vay thì lại nằm trong dòng tiền hoạt động Sở dĩ như

thế là do chi phí trả lãi vay được xem như là các chi phí để duy trì các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và được hạch toán vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp Lưu ý là trong chuẩn mực kế toán Việt Nam, các dòng tiền liên quan đến các hoạt động mua bán chứng khoán vì

mục đích thương mại được phân loại là các dòng tiền từ hoạt động kinh doanh1

1 Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: Dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là dòng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá kh ả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các ho ạt động, chi trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến nguồn tiền từ bên ngoài

Trang 24

Nội dung phân định dòng tiền từ hoạt động kinh doanh như sau:

Dòng chi:

• Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ

• Tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng, trả hộ người lao động về bảo hiểm, trợ cấp

• Tiền chi trả lãi vay

• Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

• Tiền chi trả công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, tiền bồi thường và các khoản tiền khác theo hợp đồng bảo hiểm

• Tiền chi trả do bị phạt, bị bồi thường do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế

Dòng thu:

• Tiền thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ

• Tiền thu được từ doanh thu khác (tiền thu bản quyền, phí, hoa hồng

và các khoản khấu trừ các khoản thu được được xác định là luồng tiền từ

hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ)

• Tiền thu do được hoàn thuế

• Tiền thu do được khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế bồi thường

Một công ty sẽ rơi vào tình trạng khó khăn nếu dòng tiền hoạt động liên tục

âm trong một thời gian dài bởi vì khi đó, công ty không tạo ra đủ tiền để trang trải các chi phí hoạt động Cần lưu ý rằng dòng tiền không phải là vốn luân chuyển ròng Chẳng hạn, việc tăng mức tồn kho đòi hỏi phải sử dụng

tiền mặt Tuy nhiên, vì cả hai khoản mục hàng tồn kho và tiền mặt đều là tài sản lưu động nên điều này không ảnh hưởng đến vốn luân chuyển ròng

Trang 25

1.3 KH Ả NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY

Một trong những vấn đề khó nhất của công ty là tính toán khả năng sinh

lợi Một cách tổng quát, lợi nhuận kế toán là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí nhưng làm sao để biết khi nào công ty có khả năng sinh lợi? Cách tốt nhất mà một nhà phân tích tài chính có thể làm là tính toán khả năng sinh lợi trong hiện tại hoặc quá khứ dựa trên các số liệu kế toán Tuy nhiên, có nhiều cơ hội kinh doanh buộc doanh nghiệp phải hy sinh lợi ích

hiện tại để đạt được lợi ích trong tương lai Chẳng hạn, một sản phẩm mới đòi hỏi một chi phí ban đầu lớn và kết quả là lợi nhuận đầu tiên mà sản

phẩm đó đem lại sẽ không cao Do đó, lợi nhuận hiện tại có thể phản ánh không chính xác khả năng sinh lợi thực sự trong tương lai Một vấn đề nữa đối với cách tính toán khả năng sinh lợi dựa trên các số liệu kế toán là nó

đã bỏ qua rủi ro Điều đó sẽ dẫn đến sai lầm khi kết luận rằng hai công ty

có lợi nhuận hiện tại giống nhau sẽ có khả năng sinh lợi như nhau nếu một công ty có rủi ro cao hơn công ty kia Ngoài ra, cách tính này không cho ta

một tiêu chuẩn để so sánh Nói chung, một công ty có khả năng sinh lợi nếu

nó có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn các nhà đầu tư khác trên các thị trường vốn

Các chỉ tiêu dùng để tính khả năng sinh lợi:

L ợi nhuận biên

Lợi nhuận biên được tính bằng cách lấy lợi nhuận chia cho tổng doanh thu

hoạt động, do đó, nó cho thấy tỉ lệ phần trăm của lợi nhuận trong tổng doanh thu hoạt động Chỉ tiêu lợi nhuận biên quan trọng nhất là lợi nhuận ròng biên, chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho

tổng doanh thu hoạt động Ngoài ra, người ta cũng hay sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận gộp biên để tính toán khả năng sinh lợi Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng doanh thu

hoạt động

Trang 26

Nói chung, lợi nhuận biên phản ánh khả năng một công ty có thể sản xuất

ra một sản phẩm hoặc dịch vụ với chi phí thấp hoặc bán được với giá cao

Lợi nhuận biên không phải là cách tính trực tiếp khả năng sinh lợi bởi vì cách tính này dựa trên tổng doanh thu hoạt động chứ không phải dựa trên các khoản đầu tư vào tài sản của công ty Các công ty thương mại thường

có lợi nhuận biên thấp trong khi các công ty dịch vụ có lợi nhuận biên rất cao

T ỉ suất sinh lợi trên tài sản (ROA – Return On Assets)

ROA là một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tư vào công ty Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản trung bình Cách tính toán hiệu quả hoạt động này tương đối phổ biến

Theo hệ thống kiểm soát tài chính Dupont thì:

ROA = Lợi nhuận biên x Vòng quay tài sản

Do đó, các công ty có thể tăng ROA bằng cách tăng lợi nhuận biên hoặc tăng vòng quay tài sản

ROA cho biết lợi nhuận sinh ra từ vốn đã đầu tư ROA của các công ty niêm yết có thể khác nhau một cách đáng kể và sẽ phụ thuộc nhiều vào ngành Khi sử dụng ROA như là một thước đo so sánh, tốt nhất là so sánh

nó với ROA của các năm trước hoặc ROA của một công ty tương tự

Tài sản của công ty gồm có cả nợ và vốn chủ sở hữu Cả hai loại này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Con số ROA cho nhà đầu tư biết hiệu quả của việc chuyển đổi số tiền công ty đã đầu tư thành thu nhập ròng ROA càng cao càng tốt bởi vì điều đó chứng tỏ công

ty tạo ra nhiều lợi nhuận hơn trên số vốn đã đầu tư Ví dụ, nếu một công ty

có thu nhập ròng là 1 triệu USD và tổng tài sản là 5 triệu USD thì ROA là 20%; tuy nhiên, nếu một công ty khác có lợi nhuận tương tự nhưng có tổng tài sản là 10 triệu USD, nó có ROA là 10% Vậy công ty đầu tiên đã làm tốt

Trang 27

hơn trong việc chuyển đổi vốn đầu tư thành lợi nhuận Công việc quan

trọng nhất của nhà quản lý là đưa ra sự lựa chọn sáng suốt trong việc phân

bổ nguồn lực công ty Người ta có thể tạo ra lợi nhuận khi đầu tư hàng đống tiền nhưng rất ít nhà quản lý thành công trong việc tạo ra lợi nhuận

lớn với số tiền đầu tư nhỏ

T ỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equity)

ROE là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện khả năng tạo ra

lợi nhuận của 1 đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty ROE từ 15% đến 20% được xem là tốt Lợi ích từ lợi nhuận được tái đầu tư trong công ty có

tỉ lệ ROE cao sẽ tạo ra một tốc độ tăng trưởng cao cho công ty

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng (sau thuế và lãi vay) chia cho vốn cổ đông thường Lợi nhuận ròng được tính trước khi trả cổ tức cho cổ đông thường nhưng sau khi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi và vốn cổ đông thường không bao gồm cổ phiếu ưu đãi ROE còn được gọi là lợi nhuận trên tài sản ròng (RONW – Return On Net Worth) So với nhiều tỉ số tài chính, ROE rất hữu ích cho việc so sánh khả năng sinh lợi của một công

ty với các công ty khác trong cùng một ngành

Nhà đầu tư có thể sử dụng nhiều cách biến đổi công thức tính như sau:

1 Nếu họ muốn thấy lợi nhuận trên vốn cổ phần thường thì có thể thay đổi công thức trên bằng cách trừ cổ tức ưu đãi khỏi thu nhập ròng và trừ vốn cổ phần ưu đãi khỏi vốn cổ đông sẽ tính được lợi nhuận trên vốn cổ phần thường (ROCE – Return On Common Equity) theo công thức sau:

ROCE = (Thu nhập ròng – Cổ tức ưu đãi)/ Vốn cổ phần thường

2 ROE cũng có thể được tính bằng cách chia thu nhập ròng cho vốn cổ đông bình quân Vốn cổ đông bình quân được tính bằng cách cộng vốn cổ đông ở thời điểm đầu kỳ với vốn cổ đông ở thời điểm cuối kỳ rồi chia 2

Trang 28

3 Nhà đầu tư cũng có thể tính sự thay đổi của ROE trong một kỳ bằng cách sử dụng số liệu vốn cổ đông ở đầu kỳ làm mẫu số để xác định ROE đầu kỳ Sau đó, vốn cổ đông cuối kỳ sẽ được sử dụng làm mẫu số để xác định ROE cuối kỳ Tính toán cả ROE đầu kỳ và cuối kỳ sẽ cho phép nhà đầu tư xác định sự thay đổi về khả năng sinh lợi trong kỳ

Sự khác nhau giữa ROA và ROE tùy thuộc vào việc công ty có sử dụng

vốn vay hay không vì đòn bẩy tài chính làm khuếch đại ROE Nếu công ty không có vốn vay thì hai tỉ số này sẽ bằng nhau

Các quyết định về lượng hàng hóa tồn kho và kỳ hạn thu nợ khách hàng cũng như kỳ hạn trả nợ cho người bán được phản ánh trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của công ty Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng chỉ tiêu này

để phân tích xem liệu rằng việc rút ngắn chu kỳ tiền mặt có tác động tiêu

cực hay tích cực lên khả năng sinh lợi của công ty Nội dung chính của

những bài nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

 Trong bài “Quản lý vốn luân chuyển, dòng tiền hoạt động và hiệu

quả hoạt động của công ty”[6], hai tác giả Haitham Nobanee và Maryam AlHajjar đã tiến hành phân tích 5.802 công ty phi tài chính niêm yết trên

thị trường chứng khoán New York, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, thị trường chứng khoán NASDAQ và thị trường OTC trong giai đoạn từ năm

1990 đến năm 2004 (87.030 quan sát) Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển, dòng tiền hoạt động và hiệu quả hoạt động của công ty được kiểm định bằng cách sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng năng động

Kết quả nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng khả năng sinh

lợi và dòng tiền hoạt động của công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và kỳ thu tiền khách hàng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy

việc rút ngắn thời gian tồn kho hàng hóa và kéo dài thời gian thanh toán

Trang 29

cho nhà cung cấp sẽ làm giảm khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động của công ty thay vì làm gia tăng chúng

Nhóm tác giả này cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự về mối quan hệ

giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty Nhật

Bản [7] Họ đã tiến hành phân tích 2.123 công ty phi tài chính niêm yết trên

thị trường chứng khoán Tokyo trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 Nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, thời gian thu tiền khách hàng và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho Ngoài ra, các nhà quản

lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách kéo dài thời gian

trả tiền cho nhà cung cấp Tuy nhiên, các nhà quản lý nên cẩn thận khi kéo dài thời gian thanh toán này vì có thể gây tổn hại đến uy tín và khả năng sinh lợi của công ty trong dài hạn Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả

đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và ROI, kỳ thu tiền khách hàng và ROI, kỳ tồn kho hàng hóa và ROI Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty kéo dài thời gian thanh toán cho nhà cung cấp sẽ có vị thế dòng tiền tốt hơn và khả năng sinh lợi cao Tuy nhiên, kết quả này có thể chỉ đúng trong ngắn hạn Nếu công ty tiếp tục trì trệ trong thanh toán thì uy tín và lợi nhuận của công ty

sẽ bị tác động tiêu cực trong dài hạn

 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens [8], các tác giả Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis đã sử dụng một

mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens (ASE – Athens Stock Exchange) trong giai đoạn 2001 – 2004 Mục đích của bài nghiên cứu này là thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó đối với

những công ty niêm yết trên ASE Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan

Trang 30

hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi, được đo lường bởi lợi nhuận hoạt động gộp và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, được sử

dụng để đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển Do đó, dường như

khả năng sinh lợi cho thấy cách các nhà quản lý quản lý vốn luân chuyển

của công ty như thế nào Kết quả nghiên cứu còn cho thấy lợi nhuận hoạt động gộp thấp hơn có liên quan đến sự kéo dài thời gian trả nợ Như vậy,

có thể kết luận rằng những công ty có khả năng sinh lợi thấp hơn sẽ kéo dài hơn thời gian thanh toán hóa đơn để chiếm dụng vốn của nhà cung cấp Ngoài ra, mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ phải thu khách hàng và khả năng sinh lợi của công ty cho thấy những công ty có khả năng sinh lợi thấp

sẽ giảm thời gian thu tiền khách hàng nhằm rút ngắn khoảng cách tiền mặt trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Tương tự, mối quan hệ nghịch biến giữa

kỳ tồn kho hàng hóa và khả năng sinh lợi của công ty cho thấy trong trường

hợp doanh thu sụt giảm đột ngột kèm theo một sự quản trị tồi hàng tồn kho

sẽ dẫn đến ứ đọng vốn hoạt động Do đó, các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty bằng cách quản lý chu kỳ chuyển đổi tiền mặt một cách phù hợp và duy trì mỗi thành phần (tài khoản phải thu khách hàng, phải trả người bán và hàng tồn kho) ở mức tối ưu

 Trong bài nghiên cứu “Tác động của quản lý vốn luân chuyển lên

khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ” [10], nhóm tác giả Pedro Juan Garcia-Teruel và Pedro Martinez-Solano đã tiến hành khảo sát 8.872 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha từ năm 1996 đến năm

2002 Mục tiêu của bài nghiên cứu được trình bày ở đây là nhằm cung cấp

bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của một mẫu các công ty có qui mô vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha Kết quả nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho công ty bằng cách giảm số ngày thu tiền khách hàng và giảm thời gian tồn kho hàng hóa Tương tự, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng làm tăng khả năng sinh lợi của công ty Quản trị vốn luân chuyển đặc biệt

Trang 31

quan trọng trong trường hợp các công ty có qui mô vừa và nhỏ Hầu hết tài

sản của những công ty này ở hình thức tài sản lưu động Tương tư, nợ ngắn

hạn là một trong những nguồn tài trợ từ bên ngoài chủ yếu của công ty

Những nghiên cứu trước đây thường tập trung vào những công ty lớn còn bài nghiên cứu này phân tích vai trò quan trọng của quản trị vốn luân chuyển trong việc tạo ra giá trị ở các công ty có qui mô vừa và nhỏ Kết

quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch biến và có ý nghĩa thống

kê giữa khả năng sinh lợi của các công ty có qui mô vừa và nhỏ với thời gian thu tiền khách hàng và thời gian tồn kho hàng hóa Tuy nhiên, nhóm tác giả chưa thể khẳng định kỳ thanh toán cho người bán có tác động lên ROA của các công ty có qui mô vừa và nhỏ vì mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê khi kiểm soát những vấn đề nội sinh

Trang 32

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản trị vốn luân chuyển có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho công ty Vốn luân chuyển bao gồm các tài sản ngắn hạn chủ yếu của công ty chẳng hạn như các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tiền

mặt Các công ty thường bán chịu hàng hóa, do đó, họ phải mất nhiều tuần

thậm chí nhiều tháng mới được khách hàng thanh toán Các nhà quản lý

phải thiết lập các điều kiện bán chịu, quyết định sẽ cấp tín dụng cho khách hàng nào và bảo đảm rằng họ sẽ thanh toán đúng hạn Bên cạnh đó, để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, công ty phải dự trữ nguyên

vật liệu thô, bán thành phẩm và thành phẩm Tuy nhiên, việc dự trữ các loại hàng tồn kho này đòi hỏi một chi phí đáng kể đồng thời làm ứ đọng vốn

Do đó, quản trị hàng tồn kho là sự cân đối giữa lợi ích và chi phí của việc

nắm giữ một lượng lớn hàng tồn kho Ngoài ra, để đảm bảo cho nhu cầu thanh toán, công ty phải duy trì một số dư tiền mặt hợp lý Các quyết định

về tín dụng thương mại, sản xuất và tiền mặt có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc quản trị vốn luân chuyển nhằm tạo ra một tổng thể tốt cho công ty

Trang 33

CHƯƠNG 2

Dựa trên phương pháp luận đã trình bày ở chương trước, phần thiết kế nghiên cứu bao gồm cách thức thu thập và xử lý dữ liệu để có được mẫu hoàn chỉnh dùng cho nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu, cách thức xây dựng mô hình kinh tế lượng và mô tả các biến

được sử dụng trong mô hình

2.1 DỮ LIỆU

Nguồn dữ liệu sử dụng cho đề tài này được lấy từ trang web của các công

ty chứng khoán: Công ty cổ phần chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (www.hsc.com.vn), Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (www.sbsc.com.vn), Công ty cổ phần chứng khoán FPT (www.fpts.com.vn) và Công ty cổ phần Vinabull (www.vinabull.com)

Dữ liệu dùng cho nghiên cứu được trích từ các báo cáo tài chính hàng năm

của các công ty niêm yết gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Cụ thể, dữ liệu bao gồm các chỉ tiêu tài chính sau: tổng tài sản, tài sản lưu động, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, phải

trả người bán, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu, doanh thu, giá vốn hàng bán, lợi nhuận ròng và dòng tiền hoạt động

Dữ liệu này được sử dụng để tính toán thời gian thu tiền khách hàng, thời gian chuyển đổi hàng tồn kho, thời gian thanh toán cho người bán, chu kỳ

tiền mặt, tỉ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, tỉ lệ dòng tiền hoạt động trên doanh thu, tỉ số thanh toán nhanh, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng doanh thu và quy mô công ty

Trang 34

Các công ty thuộc nhóm ngành “Các dịch vụ và sản phẩm tài chính” hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, các dịch vụ tài chính cho thị trường vốn và

hoạt động kinh doanh bất động sản không nằm trong phạm vi nghiên cứu

của bài này Ngoài ra, các quan sát thiếu số liệu hoặc có giá trị dị biệt, không có tính đại diện bị loại ra khỏi mẫu

Mẫu nghiên cứu cuối cùng bao gồm 365 công ty phi tài chính niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể gồm 178 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và 187 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2008 đến năm 2010

Bài nghiên cứu này là một nghiên cứu định lượng dựa trên phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS – Ordinary Least Square) Bộ dữ

liệu nghiên cứu sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 để chạy ra mô hình hồi quy ước lượng mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của công ty Sau đó, dựa trên kết

quả hồi quy nhận được, tác giả đưa ra một số đề xuất chính sách nhằm cải thiện dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết

Bài nghiên cứu này dựa trên hai nhóm giả thiết sau:

Nhóm 1:

H1: Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) sẽ làm tăng dòng tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của CCC có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

Trang 35

H2: Rút ngắn kỳ thu tiền khách hàng (RCP) sẽ làm tăng dòng tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của RCP có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

H3: Rút ngắn kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (ICP) sẽ làm tăng dòng tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của ICP có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

H4: Rút ngắn kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (PDP) sẽ làm tăng dòng tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của PDP có ý nghĩa thống

kê và mang dấu (-)

Nhóm 2:

H5: Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của CCC có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

H6: Rút ngắn kỳ thu tiền khách hàng (RCP) sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của RCP có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

H7: Rút ngắn kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (ICP) sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của ICP có ý nghĩa thống kê và mang dấu (-)

H8: Rút ngắn kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (PDP) sẽ làm tăng

hiệu quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của PDP có ý nghĩa thống

kê và mang dấu (-)

Mô hình 1:

Để phân tích tác động của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần

của nó lên dòng tiền hoạt động của công ty, tác giả sử dụng tỉ số dòng tiền

hoạt động trên doanh thu (OCFTS) làm biến phụ thuộc Sau đó, tiến hành

hồi quy lần lượt các biến độc lập gồm: chu kỳ tiền mặt (CCC), kỳ phải thu

Ngày đăng: 06/04/2017, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph ạm Trí Cao, Vũ Minh Châu (2009), Kinh t ế lượng ứng dụng , Nhà xu ất b ản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế lượng ứng dụng
Tác giả: Ph ạm Trí Cao, Vũ Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2009
2. Hoàng Ng ọc Nhậm (2009), Giáo trình kinh t ế lượng , Nhà xu ất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lượng
Tác giả: Hoàng Ng ọc Nhậm
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2009
3. Hoàng Tr ọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích d ữ liệu nghiên c ứu với SPSS , Nhà xu ất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Tr ọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
4. Tr ần Ngọc Thơ (2007), Tài chính doanh nghi ệp hiện đại , Nhà xu ất bản Th ống Kê.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Tr ần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê. Tiếng Anh
Năm: 2007
5. Brealey/Myers/Allen (2006), Corporate finance, 8 th edition, Mc Graw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate finance
Tác giả: Brealey/Myers/Allen
Năm: 2006
6. Haitham Nobanee and Maryam AlHajjar (2009), Working capital management, operating cash flow and corporate perfomance, Social Science Research Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working capital management, operating cash flow and corporate perfomance
Tác giả: Haitham Nobanee and Maryam AlHajjar
Năm: 2009
7. Haitham Nobanee and Maryam AlHajjar (2009), A note on working capital management and corporate profitability of Japanese firms, Social Science Research Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: A note on working capital management and corporate profitability of Japanese firms
Tác giả: Haitham Nobanee and Maryam AlHajjar
Năm: 2009
8. Ioannis Lazaridis and Dimitrios Tryfonidis (2006), Relationship between working capital management and profitability of listed companies in the Athens stock exchange, Social Science Research Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship between working capital management and profitability of listed companies in the Athens stock exchange
Tác giả: Ioannis Lazaridis and Dimitrios Tryfonidis
Năm: 2006
9. Ross/Westerfield/Jaffe (2005), Corporate finance, 7 th edition, Mc Graw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate finance
Tác giả: Ross/Westerfield/Jaffe
Năm: 2005
10. Pedro Juan Garcia-Teruel and Pedro Martinez-Solano (2006), Effects of working capital management on SME profitability, Social Science Research Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of working capital management on SME profitability
Tác giả: Pedro Juan Garcia-Teruel and Pedro Martinez-Solano
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ dưới đây trình bày tóm tắt hậu quả của việc tồn kho hàng hóa quá ít  hoặc quá nhiều: - Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng tiền và khả năng sinh lợi của công ty
Sơ đồ d ưới đây trình bày tóm tắt hậu quả của việc tồn kho hàng hóa quá ít hoặc quá nhiều: (Trang 20)
Bảng III: Ma trận tương quan - Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với dòng tiền và khả năng sinh lợi của công ty
ng III: Ma trận tương quan (Trang 43)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w