5.2 Dữ liệu nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, bao gồm: Các chỉ số như tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ lệ v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
******
NGUYỄN THỊ VÂN HIỀN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
******
NGUYỄN THỊ VÂN HIỀN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN HOÀNG NGÂN
TP Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Hoàng Ngân
Các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn này đều có nguồn gốc, trung thực và được phép công bố
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Hiền
Trang 5MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ v
Bảng biểu: v
Biểu đồ v
Hình vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Vấn đề nghiên cứu: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Câu hỏi nghiên cứu: 2
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 2
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: 2
5.1 Phương pháp nghiên cứu: 2
5.2 Dữ liệu nghiên cứu: 3
6 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu: 3
7 Kết cấu của luận văn: 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Khái niệm nợ xấu (Non Performing Loans, NPLs): 5
1.1.1 Khái niệm: 5
1.1.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới: 7
1.2 Lý thuyết về quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: 11
1.2.1 Quản trị rủi ro tín dụng: 11
1.2.2 Quản trị rủi ro lãi suất: 14
1.2.3 Quản trị rủi ro tỷ giá: 15
1.2.4 Quản trị rủi ro thanh khoản: 16
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng: 18
Trang 61.3.1 Các yếu tố vĩ mô: 18
1.3.2 Các yếu tố vi mô: 19
1.4 Khảo sát các nghiên cứu trước: 22
1.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất: 30
1.6 Tóm tắt: 31
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Thiết kế nghiên cứu: 32
2.1.1 Quy trình nghiên cứu: 32
2.1.2 Nghiên cứu định tính: 32
2.1.3 Nghiên cứu định lượng: 33
2.2 Mô hình nghiên cứu và các giải thuyết nghiên cứu: 33
2.2.1 Mô hình nghiên cứu: 33
1.2.2 Mô tả các biến và các giả thuyết nghiên cứu: 33
2.3 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 41
2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu: 42
2.4.1 Phân tích hồi qui: 42
2.4.2 Lựa chọn mô hình hồi quy 45
2.4.3 Tiến hành các thủ tục kiểm định 46
2.4 Tóm tắt: 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam: 48
3.2 Phân tích thống kê mô tả: 58
3.2.1 Phân tích các yếu tố bên trong ngân hàng: 60
3.2.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài: 67
3.3 Phân tích tương quan: 70
3.4 Kết quả thực nghiệm: 71
3.4.1 Hồi quy biến NPL theo các biến độc lập bên trong: 71
3.4.4 Thực hiện các kiểm định cho hai mô hình đã lựa chọn: 77
3.4.5 Phân tích kết quả nghiên cứu: 80
Trang 73.5 Kết luận: 84
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
4.1 Kết luận 85
4.2 Đóng góp của luận văn 86
4.3 Kiến nghị 87
4.3.1 Kiến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu: 87
4.3.2 Kiến nghị chung: 87
4.4 Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 95
4.4.1 Hạn chế của đề tài: 95
4.4.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo: 96
KẾT LUẬN CHUNG 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
PHỤ LỤC 6
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Bảng biểu:
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước 28
Bảng 2.1 Mô tả biến của mô hình nghiên cứu 40
Bảng 3 1 - Số lượng các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 49
Bảng 3 2 Bảng thống kê mô tả giá trị các biến ban đầu trong mô hình 58
Bảng 3 3 Ma trận tương quan giữa các biến 70
Bảng 3 4 Hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF) của 2 mô hình 71
Bảng 3 5 Kết quả hồi quy biến NPL theo các biến độc lập bên trong 72
Bảng 3 6 Kiểm định Wald test để lựa chọn giữa mô hình Pool và Fem theo các biến độc lập bên trong 73
Bảng 3 7 Kiểm định Hausman test để lựa chọn giữa mô hình Rem và Fem theo các biến độc lập bên trong 74
Bảng 3 8 Kết quả hồi quy biến NPL theo các biến độc lập bên trong và bên ngoài 74 Bảng 3 9 Kiểm định Wald test để lựa chọn giữa mô hình Pool và Fem theo các biến độc lập bên trong và bên ngoài 76
Bảng 3 10 Kiểm định Hausman test để lựa chọn giữa mô hình Rem và Fem theo các biến độc lập bên trong và bên ngoài 76
Bảng 3 11 Kết quả lựa chọn mô hình phù hợp 77
Bảng 3 12 Kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình 1 78
Bảng 3 13 Kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi cho mô hình 1 78
Bảng 3 14 Kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình 2 79
Bảng 3 15 Kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi cho mô hình 2 79
Biểu đồ Biểu đồ 3 1 Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng từ năm 2008 – 2013 50
Biểu đồ 3 2 Tình hình huy động vốn của các NHTM từ năm 2006 – 2013 53
Biểu đồ 3 3 Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng 54
Biểu đồ 3 4 Tổng hợp nợ xấu của 29 NHTM 59
Trang 9Biểu đồ 3 5 Tổng hợp qui mô của 29 NHTM 60
Biểu đồ 3 6 Tổng hợp tỷ lệ vốn chủ sở hữu của 29 NHTM 62
Biểu đồ 3 7 Tổng hợp tốc độ tăng trưởng tín dụng của 29 NHTM 63
Biểu đồ 3 8 Tổng hợp Lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu của 29 NHTM 64
Biểu đồ 3 9 Tổng hợp tỷ lệ cho vay/vốn huy động của 29 NHTM 65
Biểu đồ 3 10 Tổng hợp tỷ lệ cho vay ngắn hạn của 29 NHTM 67
Biểu đồ 3 11 Tổng hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2006 – 2013 68
Biểu đồ 3 12 Tổng hợp tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế từ năm 2006 – 2013 69
Hình Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 31
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTMVN : Ngân hàng thương mại Việt Nam
NHTMNN : Ngân hàng thương mại Nhà nước
Vietinbank : Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Trang 11EAB : Ngân hàng TMCP Đông Á
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
về Tài chính – Ngân hàng cho khách hàng
Trong thời gian vừa qua cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cũng có được sự tăng trưởng nhanh chóng với tốc
độ tăng trưởng tín dụng thường xuyên đạt mức hai con số Tuy nhiên, chính sự tăng trưởng nóng trong thời gian vừa qua đã khiến các ngân hàng gặp phải vấn đề trong công tác quản trị chất lượng tín dụng mà điển hình là tỷ lệ nợ xấu tăng cao Nợ xấu tăng cho thấy khả năng thu hồi nợ gốc và nợ lãi của ngân hàng giảm sút, giảm hiệu quả hoạt động, vốn luân chuyển chậm, gây áp lực lên thanh khoản của hệ thống Do nền kinh tế hiện nay đang biến động liên tục, giá cả tăng cao, lãi suất không ổn định
đã ảnh hưởng tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại (NHTM), làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của ngân hàng (NH), của các doanh nghiệp (DN) và các cá thể khác trong nền kinh tế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTMVN) hiện nay, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, cũng như nguyên nhân bên trong và bên ngoài hệ thống ngân hàng Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTMVN sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề nợ xấu hiện đang tồn tại, qua đó giúp các nhà làm chính sách, các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra được các giải pháp nhằm kiềm chế nợ xấu trong hệ thống NHTMVN hiện nay Đây chính là lý do để tác giả chọn nghiên cứu đề tài
Trang 13“Phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của tác giả
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định bao gồm:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
- Thứ hai, xác định mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố đó tác động đến tỷ lệ nợ xấu tại NHTMVN
- Thứ ba, đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục và giải quyết vấn đề nợ xấu
tại các NHTMVN hiện nay
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài này trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTMVN?
(2) Các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ nợ xấu tại NHTMVN?
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
và phạm vi nghiên cứu là tỷ lệ nợ xấu của 29 ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2013
Dữ liệu thứ cấp (theo năm) được thu thập chủ yếu từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 29 ngân hàng nói trên trong giai đoạn 2006 – 2013
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu:
5.1 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau đây:
(i) Phương pháp định tính: dựa vào kết quả và mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu trước để dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại NHTMVN
(ii) Phương pháp định lượng: đây là phương pháp chính dùng trong nghiên cứu Trước tiên, tác giả thống kê các số liệu về tỷ lệ nợ xấu và các số liệu ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu trên các BCTC của các NHTMVN Sau đó, tác giả sử dụng
Trang 14kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng để xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đặt ra nhằm xem xét ảnh hưởng của các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các NHTMVN
5.2 Dữ liệu nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, bao gồm: Các chỉ số như tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ
lệ vốn chủ sở hữu, suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu được tính toán từ Báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo thường niên của các ngân hàng Trong khi đó, các chỉ số
vĩ mô như: Tỷ lệ lạm phát (INF) và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được thu thập dựa trên số liệu thống kê tài chính (International Financial Statistic - IFS) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF)
(www.imf.org)
6 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu:
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTMVN Vì vậy, nghiên cứu này có một số
ý nghĩa và đóng góp như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu sẽ cung cấp thêm sự hiểu biết về mối quan hệ và sự tác
động của các yếu tố bên ngoài và nội tại ngân hàng đến nợ xấu tại Việt Nam bên cạnh nhiều nghiên cứu tương tự tại các quốc gia trên thế giới
Thứ hai, sau khi phân tích mối tương quan và mức độ tác động của các yếu
tố đến nợ xấu, nghiên cứu này có thể giúp các nhà quản trị ngân hàng hoặc các nhà làm chính sách có thêm một góc nhìn để đề ra chiến lược, chính sách phù hợp nhằm nâng cao khả năng quản trị rủi ro ngân hàng, đặc biệt trong vấn đề kiểm soát nợ xấu
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết cấu của luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, trình bày cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên
quan đến đề tài, phân tích các yếu tố quyết định nợ xấu để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Trang 15Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, dựa trên những
nghiên cứu trước để đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài, xác định các biến trong
mô hình và nêu ra quy trình nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu, trình bày việc phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trên đây là nội dung tổng quan của nghiên cứu, bao gồm mục tiêu, câu hỏi,
dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu chính của luận văn Kế tiếp chương 1, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan, khảo sát các nghiên cứu đã thực hiện và công bố liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu mà đề tài này sẽ thực hiện
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Nội dung chương này sẽ trình bày khái niệm nợ xấu, lý thuyết về quản trị rủi
ro, các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu, khảo sát các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài
1.1 Khái niệm nợ xấu (Non Performing Loans, NPLs):
1.1.1 Khái niệm:
Theo IMF‟s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004: Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản
vay thay thế”
Theo Phòng Thống kê – Liên Hiệp Quốc, 2002, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”
Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày Dựa trên hướng
Trang 17dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ
Từ những khái niệm nêu trên, có thể nhận thấy sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, một khoản
nợ được coi là nợ xấu nếu xuất hiện một trong hai dấu hiệu: (i) quá hạn trả nợ gốc
và lãi và (ii) khách hàng vay vốn bị TCTD coi là không có khả năng trả nợ
Nợ xấu có tác động trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng, gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Những tác động tiêu cực của nợ xấu đến bản thân các ngân hàng được liệt kê bên dưới củng cố thêm sự cần thiết phải phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM:
- Giảm khả năng thanh toán: Tình trạng mất khả năng thanh toán tạm thời có
thể làm giảm uy tín của ngân hàng một cách nghiêm trọng, đánh mất lòng tin của người gửi tiền Các khoản nợ xấu luôn chứa đựng khả năng không thu hồi được vốn (một phần hoặc toàn bộ) và đặt NHTM trước tình trạng mất vốn
- Giảm lợi nhuận: Khi ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi
cho vay, nhưng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng, mất cân đối trong thu chi Mặt khác, chi phí phát sinh nợ xấu là rất lớn, chi phí tăng cao ngoài dự kiến và những chi phí này làm giảm đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh
- Giảm hiệu quả sử dụng vốn: Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một
phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ, ngân hàng mất
đi cơ hội làm ăn khác, giảm vòng quay vốn, giảm doanh số cho vay của ngân hàng,
từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Mặt khác, nợ xấu tác động trực tiếp đến khả năng tài chính của TCTD khi phân tích, đánh giá tình hình tài chính hoạt động của ngân hàng, gây bất lợi cho khả năng cạnh tranh và quá trình hội nhập, phát triển của ngân hàng
- Giảm uy tín của ngân hàng: Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền
của người khác nên khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng
Trang 18của ngân hàng càng thấp Ngân hàng gặp vấn đề thiếu thanh khoản, làm mất lòng tin đối với người gởi tiền, gây áp lực cho việc thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng, gây áp lực nguồn vốn huy động để cho vay là rất nặng nề Đối với NHTM cổ phần có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, với tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị tài sản của ngân hàng trên thị trường, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư Điều đó làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng, giảm uy tín của hệ thống NHTM trong nước
1.1.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới:
Các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng tài chính châu
Á 1997 - 1998 đều thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) để tập trung xử lý nợ, thu hồi và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng
Các công ty đó là: KAMCO - Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc, TAMC - Công ty quản lý tài sản Thái Lan, IBRA - Cơ quan Tái cấu trúc ngân hàng Indonesia, DANAHARTA - Tổ chức xử lý nợ quốc gia Malaysia Các AMC đều có điểm chung là được Chính phủ tài trợ vốn và tổ chức tập trung Chính phủ các nước này áp dụng hình thức mua sỉ tất cả các khoản cho vay có vấn đề và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng Mô hình AMC tập trung có tính hiệu quả cao do nhiều ngân hàng không đủ nguồn lực để tự xử lý các khoản nợ xấu khổng lồ của mình
Các AMC tập trung được trao quyền hạn đặc biệt để cắt giảm các thủ tục pháp lý Chẳng hạn, TAMC sử dụng quyền hạn của mình để buộc các con nợ phải ngồi đàm phán cho việc thanh toán các khoản nợ vay, DANAHARTA có quyền xử
lý tất cả các khoản nợ xấu chuyển giao mà không cần xin phép chủ tài sản IBRA tiếp nhận tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng theo chỉ định của Chính phủ trong chương trình hỗ trợ các ngân hàng vượt qua khủng hoảng Riêng KAMCO không
có nhiều đặc quyền do cơ sở pháp lý của Hàn Quốc đã tương đối hoàn thiện AMC mỗi nước có cách lựa chọn tài sản để xử lý theo cách riêng của mình:
1.1.2.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc
Trang 19Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia
KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ ở mức giá chiết khấu cao, ưu tiên các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ Sau đó, KAMCO nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc
tế cạnh tranh Bên cạnh đó, KAMCO cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản
nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty
Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17,7% vào năm 1998 xuống còn 14,9%, 10,4%, 5,6%, và 3,9% vào các năm 1999,
2000, 2001 và 2002, Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái
cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính góp phần ổn định nền kinh tế
1.1.2.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Malaysia
DANAHARTA là công ty quản lý tài sản của Malaysia, thuộc sở hữu nhà nước nhưng ít chịu áp lực phải xử lý tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng DANAHARTA phát hành trái phiếu không trả lãi (zero - coupon bonds) để đổi cho
nợ xấu của các ngân hàng
Nợ xấu được định giá một cách độc lập: đối với các khoản nợ có khả năng được hoàn trả, DANAHARTA tái cấu trúc và giãn nợ Đối với các khoản nợ không
có khả năng được hoàn trả, doanh nghiệp vay nợ được thanh lý theo trình tự phá sản
Để tạo khuyến khích cho các ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu, nếu giá trị thu hồi của khoản nợ lớn hơn chi phí mua lại nợ của DANAHARTA, thì các ngân
Trang 20hàng bán nợ được hưởng 80% giá trị chênh lệch Mức giá mua lại nợ bình quân của DANAHARTA là 30 - 50% mệnh giá Tỷ lệ giá trị thu hồi nợ theo mục tiêu là 57%
1.1.2.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Trung Quốc
Nếu nợ xấu ở Nhật Bản và Thái Lan là kết quả của những vụ sụp đổ thị trường tài chính và bong bóng tài sản, thì ở Trung Quốc nhân tố gây ra nợ xấu chính
là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung: khi hoạt động của các NHTMNN lớn, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ, không qua quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ
Quá trình xử lý nợ xấu của Trung Quốc có thể chia thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn thứ nhất, giữa những năm 1990 quá trình tái cấu trúc tài chính
nhằm chuyển đổi hệ thống ngân hàng, cụ thể tách cho vay chính sách khỏi cho vay thương mại bằng cách thành lập 3 ngân hàng chính sách chịu trách nhiệm xử lý các khoản vay chính sách
Giai đoạn thứ hai, từ 1999 đến 2003, 04 AMC tương ứng với 04 NHTMNN
lớn (chiếm tới 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng) được Chính phủ tài trợ nhằm giải quyết những khoản nợ xấu của 4 NHTMNN này từ trước năm 1996 có tổng giá trị lên tới 1,4 nghìn tỷ NDT (tương đương 169 tỷ USD)
Giai đoạn thứ ba, Trung Quốc tập trung tái cấu trúc các NHTMNN bằng
cách mời gọi sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có chọn lọc và niêm yết ra công chúng nhằm tăng tính minh bạch và nâng cao năng lực quản trị của
cổ phần và tái cấu trúc doanh nghiệp
Kết quả của việc xử lý nợ xấu là chất lượng tài sản tại 4 NHTMNN được cải thiện đáng kể và đã tiến hành niêm yết ra công chúng sau khi được tái cơ cấu vốn Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này không hề biến mất khỏi hệ thống tài chính
Trang 21Trung Quốc, được chuyển giao từ tổ chức này sang tổ chức khác, những nguy cơ tiềm ẩn gây ra cho hệ thống tài chính Trung Quốc không có nghĩa là được giảm bớt
1.1.2.4 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hungary
Xử lý nợ xấu tại Hungary chia làm hai nhóm: Các khoản nợ lớn và phức tạp được giao cho một cơ quan trực thuộc Chính phủ và Ngân hàng Phát triển Hungary (HDB) giải quyết Khoản nợ còn lại do các ngân hàng tự giải quyết theo thỏa thuận với Bộ Tài chính Quá trình xử lý nợ xấu tại Hungary gồm 3 quá trình nối tiếp nhau:
Làm sạch danh mục vốn đầu tư của các ngân hàng: ngân hàng chuyển các
khoản nợ xấu hoặc nợ cũ sang trái phiếu kỳ hạn 20 năm Một cơ quan thu hồi nợ xấu dùng trái phiếu chính phủ để đổi lấy các khoản nợ xấu Đối với những khoản nợ xấu không thể giải quyết và không thể bán cuối cùng lại chuyển giao cho HDB và trong hầu hết trường hợp, HDB đã phải xóa nợ các khoản nợ xấu này
Xóa nợ cho DNNN quan trọng: khoản nợ xấu được xóa trên bảng cân đối
của ngân hàng; đổi lại ngân hàng sẽ được nhận trái phiếu chính phủ kỳ hạn 20 năm
Tái cấp vốn cho các ngân hàng: Chính phủ dùng trái phiếu Chính phủ để
mua các cổ phiếu mới phát hành của các ngân hàng trong chương trình tái cấp vốn Kết quả là sở hữu Nhà nước trong ngân hàng tăng tạm thời Sau đó, Hungary gia hạn cho các khoản vay phụ cho các ngân hàng nhằm không làm gia tăng sở hữu Nhà nước trong hệ thống ngân hàng Tiếp theo, ngân hàng phải tự giải quyết nợ xấu
Bằng cách xử lý các khoản nợ xấu lớn thông qua một cơ quan chuyên biệt, các khoản nợ xấu còn lại do ngân hàng tự giải quyết; kết hợp cùng công tác giải quyết nợ xấu trực tiếp từ phía các DNNN và tái cấp vốn cho ngân hàng, Hungary đã thành công trong công tác xử lý nợ xấu
Nhìn chung, AMC của các nước châu Á hoạt động tương đối hiệu quả, xử lý
nợ nhanh hơn các đơn vị tái cấu trúc tài sản Các điều kiện cần thiết cho hoạt động hiệu quả của AMC là sự độc lập về chính trị, đủ vốn, khung pháp lý hoàn thiện, nguồn nhân lực phát triển
Trang 22Trên đây là khái niệm và bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu – một loại rủi ro
mà ngân hàng gặp phải Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng luôn phải đối diện với rất nhiều rủi ro khác nhau Về bản chất, nợ xấu là một dạng rủi ro tín dụng ngân hàng Về nguyên nhân, nợ xấu có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau Nợ xấu có thể bắt nguồn từ khách hàng vay tiền như: tình hình kinh doanh kém hiệu quả, khả năng quản trị dòng tiền yếu, ý thức trả nợ kém… Nợ xấu cũng có thể phát sinh từ bản thân ngân hàng như: công tác thẩm định cho vay kém, kiểm soát sau cho vay không hiệu quả, đạo đức nhân viên ngân hàng, thông tin bất cân xứng giữa khách hàng và ngân hàng… Nói cách khác, bất kỳ rủi ro nào xảy ra trong quá trình hoạt động cho vay đều dẫn đến hệ quả làm nợ xấu gia tăng Do đó, cần thiết phải tìm hiểu lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng để có cái nhìn tổng quan trước khi tiến hàng giải quyết mục tiêu nghiên cứu liên quan đến nợ xấu
1.2 Lý thuyết về quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Định nghĩa rủi ro: Hiểu theo cách định tính, một sự kiện hoặc một hoạt
động nào đó được gọi là có rủi ro khi nó có sự không chắc chắn với một xác suất có thể ước đoán được hoặc có tình trạng bất ổn Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức tài chính đối diện với ba loại rủi ro cơ bản: (i) rủi ro tín dụng, (ii) rủi ro lãi suất, (iii) rủi
ro tỷ giá Bên cạnh ba loại rủi ro nêu trên, Nguyễn Văn Tiến (2010) phát biểu rằng ngân hàng hiện đại còn đối diện với các loại rủi ro như sau: (iv) rủi ro thanh khoản, (v) rủi ro hoạt động ngoại bảng, (vi) rủi ro công nghệ và hoạt động, (vii) rủi ro quốc gia và những rủi ro khác
1.2.1 Quản trị rủi ro tín dụng:
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn hoặc nhận khoản tín dụng (người có nghĩa vụ trả nợ) mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thanh toán Đối với doanh nghiệp phi tài chính, rủi ro tín dụng phát sinh trong chính sách bán chịu của doanh nghiệp, nó xảy ra khi khách hàng mua chịu mất khả năng trả nợ Đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính, rủi
Trang 23ro tín dụng phát sinh khi khách hàng vay tiền mất khả năng chi trả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ (gốc và lãi) đến hạn thanh toán Khi quyết định cho vay, mặc dù
có thẩm định kỹ đến đâu hoặc có đầy đủ tài sản thế chấp, các ngân hàng đều chưa biết chắc có thể thu hồi được khoản tín dụng đó hay không vì nó chưa đến hạn thanh toán Do đó có thể nói tất cả các khoản cho vay của ngân hàng đều chứa đựng rủi ro tín dụng Theo đó, nợ xấu là một dạng rủi ro tín dụng của ngân hàng vì nợ xấu
là khoản nợ quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên (kể cả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ gốc và lãi) và khả năng trả nợ của khách hàng là đáng nghi ngờ hoặc không còn khả năng thanh toán
Trong quá trình hoạt động của mình, giữa doanh nhiệp với ngân hàng và giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác xuất hiện mối quan hệ tín dụng chằng chịt lẫn nhau Do đó khi rủi ro tín dụng xuất hiện ở một khâu nào đó trong mối quan hệ
ấy đều có khả năng ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các đối tượng có mặt trong mối quan hệ tín dụng Xét về nguyên nhân, rủi ro tín dụng có thể phát sinh một cách khách quan hoặc chủ quan và đến từ cả hai phía: bên cấp tín dụng (ngân hàng) và bên nhận tín dụng (bên vay vốn).Vì vậy, việc quản trị rủi ro tín dụng là rất cần thiết
kể cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đóng vai trò là khách hàng nhận khoản tín dụng Một số biện pháp quản trị rủi ro tín dụng mà ngân hàng thường áp dụng:
như: chính sách bán chịu, kỹ năng quản trị khoản phải thu
để qua đó cũng hạn chế được rủi ro cho chính sách ngân hàng như: công cụ bao thanh toán trong nước và xuất khẩu
thống của ngân hàng Chính sách này là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy định và công cụ do hội đồng tín dụng hoặc hội đồng quản trị hoặc đại hội đồng cổ đông đề ra, thông qua và được thực thi thống nhất khi cấp tín dụng nhằm quản lý tốt dư nợ và rủi ro tín dụng
Trang 24(iv) Xây dựng quy trình phân tích và thẩm định tín dụng một cách chặt chẽ
nhằm đánh giá và dự báo sức khỏe của khách hàng vay vốn, đánh giá
độ tin cậy của phương án sản xuất kinh doanh trước khi duyệt cấp tín dụng cho khách hàng Thẩm định tín dụng chú trọng vào: xem xét dòng tiền kỳ vọng, đánh giá chi phí sử dụng vốn, thẩm định hiệu quả tài chính: hiện giá ròng của dòng tiền (NPV), suất sinh lời nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn (PP, DPP)
cấp tín dụng cho khách hàng trước khi cấp tín dụng Ở Mỹ có các tổ chức xếp hạn tín dụng uy tín như: S&P, Moody, Fitch Ở Việt Nam, các ngân hàng thường tự xếp hạng tín dụng cho khách hàng vay vốn hoặc tham khảo Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN để đánh giá, quyết định cấp tín dụng và lãi suất cho vay
thanh toán nợ, giá trị dư nợ, thời hạn tín dụng, lịch sử quan hệ tín dụng, loại hình tín dụng, tình trạng việc làm, tuổi tác, … để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng từ đó chấm điểm tín dụng cho khách hàng đó Căn cứ vào điểm tín dụng, ngân hàng sẽ quyết định hạn mức tín dụng, thời gian và lãi suất cho vay đối với khách hàng Ở những nước có thị trường tài chính phát triển mạnh, các ngân hàng hoặc cơ quan quản lý tín dụng đều xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng để phục vụ quá trình hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống chấm điểm tín dụng chưa được quan tâm xây dựng một cách bài bản, thống nhất và mỗi ngân hàng đều có tiêu chí chấm điểm khác nhau
(vii) Bảo đảm tín dụng: là hình thức phòng ngừa rủi ro được áp dụng rộng
rãi trong ngành ngân hàng, tạo tiền đề về mặt kinh tế và pháp lý để ngân hàng có thể thu hồi được các khoản nợ khi xảy ra rủi ro tín dụng Một số hình thức đảm bảo tín dụng như: thế chấp tài sản, cầm cố tài
Trang 25sản, bảo lãnh, Bảo đảm tín dụng chỉ phòng ngừa chứ chưa loại bỏ được rủi ro tín dụng, vì khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn tại tòa án, thi hành án và khó khăn khi thanh lý tài sản, chưa kể trường hợp giá trị thanh lý không đủ bù khoản nợ
(viii) Mua bảo hiểm tín dụng: trong trường hợp cần thiết, ngân hàng có thể
yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm tín dụng trước khi quyết định cấp tín dụng Có bảo hiểm tín dụng, nếu khách hàng mất khả năng thanh toán thì công ty bảo hiểm sẽ thay mặt khách hàng để trả nợ cho ngân hàng
để bù đắp cho các khoản nợ không thu hồi được từ thu nhập của ngân hàng trước khi nộp thuế (và trước khi chia cổ tức cho cổ đông) Tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là bắt buộc và được NHNN quy định tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, quyết định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007 và thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 12/01/2013
Trên đây là một số biện pháp quản lý rủi ro tín dụng mà các ngân hàng thường áp dụng, trong đó biện pháp thẩm định và phân tích tín dụng là rất quan trọng Ngoài ra, khâu hậu kiểm sau khi cấp tín dụng như: kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay, hoạt động kinh doanh của khách hàng, kiểm soát thu nhập của khách hàng… cũng rất cần thiết Nếu kiểm soát tốt tình trạng khách hàng thì ngân hàng sẽ tối thiểu hóa được rủi ro tín dụng có thể gặp trong tương lai Tuy nhiên, vấn đề này lại không được các ngân hàng chú trọng trong thời gian vừa qua khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng trong hệ thống ngân hàng
1.2.2 Quản trị rủi ro lãi suất:
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro lãi suất là loại rủi ro xảy ra khi sự
biến động lãi suất làm giảm thu nhập hoặc làm tăng chi phí phải trả Nếu ngân hàng huy động vốn cho vay hoặc đầu tư tài chính theo lãi suất thả nổi thì ngân hàng sẽ dễ gặp rủi ro khi lãi suất biến động theo chiều hướng không thuận lợi Trường hợp đi
Trang 26vay hoặc huy động vốn, khi lãi suất tăng sẽ làm ngân hàng mất thêm chi phí lãi vay Trường hợp cho vay hoặc đầu tư tài chính, nếu lãi suất giảm sẽ làm thu nhập của ngân hàng giảm đi
Đối với doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng hoặc có đầu tư tài chính thì doanh nghiệp cũng đối diện với rủi ro lãi suất Nếu doanh nghiệp đi vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất tăng, doanh nghiệp sẽ phải trả thêm chi phí lãi vay Nếu doanh nghiệp đầu tư tài chính vào các công cụ như: trái phiếu, tín phiếu… Khi lãi suất biến động thì giá của các loại tài sản tài chính này sẽ thay đổi
Mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất là giảm thiểu những tổn thất từ việc biến động lãi suất nhằm tối đa hóa thu nhập hoặc tối thiểu hóa chi phí phải trả trong các giao dịch liên quan đến lãi suất Một trong những công cụ được các ngân hàng áp dụng là giao dịch hoán đổi lãi suất – một cam kết giữa hai bên, trong đó một bên cam kết sẽ thanh toán cho bên kia khoản tiền lãi theo lãi suất cố định hoặc thả nổi tính trên dư nợ gốc trong cùng khoảng thời gian
1.2.3 Quản trị rủi ro tỷ giá:
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro tỷ giá là loại rủi ro phát sinh khi tỷ giá thay đổi làm ảnh hưởng đến dòng tiền kỳ vọng của doanh nghiệp hoặc ngân hàng Rủi ro tỷ giá có thể xuất hiện trong rất nhiều các hoạt động, giao dịch khác nhau của doanh nghiệp cũng như của ngân hàng, đặc biệt trong ba hoạt động chủ yếu như sau: hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng
Đối với hoạt động đầu tư: khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường nội địa sẽ đối mặt với rủi ro tỷ giá Nguyên nhân là do các doanh nghiệp đem ngoại tệ vào để đầu tư, lúc ban đầu thì tỷ giá đã biết trước nhưng khi bán sản phẩm và dịch vụ bằng đồng nội tệ trong tương lai thì tỷ giá có khả năng thay đổi Vì vậy, hoạt động này luôn chứa đựng rủi ro tỷ giá nếu các doanh nghiệp muốn chuyển lợi nhuận về nước
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu: với mức độ cạnh tranh cao, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải thường xuyên mua bán trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định nào đó Tại thời điểm ký kết hợp đồng
Trang 27xuất khẩu, tỷ giá hối đoái đã biết nhưng tại thời điểm thanh toán trong tương lai, tỷ giá có thể thay đổi so với thời điểm hiện tại Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, nếu
tỷ giá giảm thì thu nhập kỳ vọng của doanh nghiệp sẽ giảm theo Sự biến động tỷ giá hối đoái làm tăng dòng tiền ra hoặc giảm dòng tiền vào chính là rủi ro tỷ giá mà các doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt trong quá trình hoạt động
Đối với hoạt động tín dụng: hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ luôn luôn chứa đựng rủi ro tỷ giá rất lớn Khi doanh nghiệp đi vay ngoại tệ, nếu tỷ giá tại thời điểm đáo hạn trong tương lai tăng lên có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tốn thêm chi phí chênh lệch tỷ giá bên cạnh chi phí lãi vay phải trả Đối với ngân hàng cho vay, tại thời điểm thu hồi nợ bằng ngoại tệ, nếu tỷ giá giảm sẽ làm giảm dòng tiền của ngân hàng Mức độ tăng, giảm của dòng tiền tùy thuộc vào mức độ biến động tỷ giá và giá trị hợp đồng tín dụng bằng ngoại tệ
Doanh nghiệp và ngân hàng có thể sử dụng các công cụ tài chính phái sinh sau đây để phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong các giao dịch ngoại tệ:
Hầu hết công cụ phái sinh nêu trên đều do ngân hàng cung cấp trong điều kiện thị trường tài chính có công cụ phái sinh phát triển mạnh mẽ Ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thể tự thiết kế hệ thống phòng ngừa rủi ro cho riêng mình bằng cách: giao dịch vay, gửi ngoại tệ trên thị trường tiền tệ kết hợp với mua và bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Mục đích để biết trước giá trị hợp đồng quy đổi
ra nội tệ bất chấp tỷ giá trong tương lai như thế nào Tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện trong thị trường tài chính với điều kiện vay, mua và bán ngoại tệ một cách
dễ dàng và tự do
1.2.4 Quản trị rủi ro thanh khoản:
Trong quá trình hoạt động, nếu ngân hàng không có đủ khả năng hoặc bị giảm khả năng đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nghĩa vụ tài chính như: chi trả tiền gửi,
Trang 28cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác thì ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra có thể làm ngân hàng đình trệ hoạt động, thua lỗ, mất uy tín thậm chí có thể dẫn đến sụp đổ và phá sản
Có nhiều nguyên nhân làm cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản như: (i) ngân hàng huy động hoặc đi vay vốn với kỳ hạn ngắn để cho vay kỳ hạn dài, (ii) cam kết cho người gửi tiền được rút toàn bộ tiền bất kỳ thời điểm nào trong kỳ hạn, (iii) chính sách lãi suất thay đổi đột ngột hoặc lãi suất chênh lệch quá lớn giữa các tổ chức tín dụng làm dòng tiền sẽ chảy về nơi có lãi suất cao, (iv) ngân hàng đầu tư quá nhiều vào tài sản kém thanh khoản ngoài tiền mặt, (v) tác động tâm
lý từ thông tin bất cân xứng của đám đông làm dòng tiền bị rút ồ ạt khỏi ngân hàng
và nhiều nguyên nhân khác
Theo Nguyễn Văn Tiến (2010), trong quản trị rủi ro thanh khoản, điều quan trọng nhất là quản lý trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position, NLP) Ngân hàng phải đảm bảo NLP luôn lớn hơn giá trị 0 để không bị mất thanh khoản Theo đó NLP là hiệu số giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định nào đó
Theo Peter S Rose (2001), thanh khoản ngân hàng có thể gói gọn theo cung cầu thanh khoản như sau:
Cung thanh khoản: bao gồm các khoản tiền gửi sẽ nhận (S1), thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2), các khoản tín dụng sẽ thu về (S3), bán các tài sản đang kinh doanh, sử dụng (S4) và cuối cùng là vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5)
Cầu thanh khoản: Những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản: Khách hàng rút tiền (D1), đề nghị vay vốn của khách hàng (D2), thanh toán các khoản phải trả khác (D3), chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4) và cuối cùng là thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5)
Trạng thái thanh khoản: Dựa vào cung và cầu thanh khoản nêu trên, bất cứ thời điểm nào các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc tạo thành trạng
NLP t = (S1+ S2 + S3 + S4 + S5) – (D1 + D2 + D3 + D4 + D5)
Trang 29Trạng thái thanh khoản ròng có thể xảy ra một trong hai trường hợp là:
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống ngân hàng Nếu như các yếu tố bên trong bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại của các ngân hàng như: tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng quản trị … thì yếu tố bên ngoài là các yếu tố vĩ mô đo lường sức khỏe của nền kinh tế đến nợ xấu của ngân hàng Trong phần này, tác giả trình bày sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống NHTM như sau:
1.3.1 Các yếu tố vĩ mô:
1.3.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ chính sách vĩ mô nào Đó là nền tảng cho mọi sự ổn định Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ đảm bảo cho các chính sách xã hội được thoả mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế Phấn đấu tăng trưởng kinh tế thể hiện ở chỉ số GDP bình quân hàng năm tăng lên và nằm trong kế hoạch đã dự kiến của Chính phủ (Lê Thị Mận, 2012)
Theo Salas và Saurina (2002), Rajan và Dhal (2003), Jiménez và Saurina (2005), Fofack (2005) thì tăng trưởng GDP và nợ xấu có quan hệ ngược chiều Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng sẽ làm giảm khả năng tài chính của các hộ gia đình và doanh nghiệp Khi nền kinh tế tăng tưởng mạnh mẽ, thu nhập của các hộ gia đình và công ty có sự cải thiện, tăng khả năng thanh toán nợ, giảm nợ xấu
Trang 301.3.1.2 Tỷ lệ lạm phát:
Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài
Có thể nói lạm phát là một trong số những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống NHTM Khi nền kinh tế có lạm phát cao sẽ ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế như: lãi suất cơ bản tăng, đồng nội tệ bị mất giá, khả năng tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp khó khăn hơn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các khoản vay cũ … Qua đó làm cho nợ xấu của NHTM tăng lên Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ, vì thế chúng ta không thể tránh khỏi mà chỉ có kiềm chế
ở mức ít hay nhiều (Nguyễn Văn Tiến và cộng sự, 2010)
Theo Fofack (2005) thì tỷ lệ lạm phát góp phần làm tăng tỷ lệ nợ xấu tại các nước châu Phi trong khu vực cận Sahara Tuy nhiên, Dash & Kabra (2010) không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ này
1.3.2 Các yếu tố vi mô:
1.3.2.1 Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ:
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu, có nghiên cứu về tác động của các yếu tố vi mô (thuộc tính của ngân hàng) đến nợ xấu,
có nghiên cứu cho thấy nợ xấu bị tác động bởi cả yếu tố vi mô nội tại của ngân hàng
và yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Trong đó có tác giả cũng cho thấy chính nợ xấu trong
và Saurina (2010), …
1.3.2.2 Suất sinh lời (ROE, ROA):
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được định nghĩa qua hai biến số quan
trọng là ROE (tỷ suất lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu) và ROA (tỷ suất lợi nhuận
ròng/tổng tài sản) Nếu ROA và ROE cao cho thấy việc sử dụng tài sản và vốn chủ
sở hữu của ngân hàng một cách hiệu quả Ngược lại sẽ làm giảm tính cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư, hạn chế việc tăng trưởng của ngân hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2012)
Trang 31Chỉ số ROE và ROA được dùng làm các biến độc lập trong các nghiên cứu về rủi ro và nợ xấu ngân hàng, có thể kể tên một số nghiên cứu như: Louzis và ctg (2010), Saurina (2010)… Trong đó, nghiên cứu của Louzis và ctg (2010) đã tìm thấy mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh kém và nợ xấu Điều này có nghĩa là kết quả kinh doanh yếu kém có quan hệ tiêu cực đối với các khoản nợ xấu Lợi nhuận hiện nay của hệ thống NHTMVN chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng, chính vì vậy khi nợ xấu gia tăng, ngân hàng chẳng những thất thu nguồn thu nhập từ lãi vay mà còn có khả năng mất vốn đã cho vay nên phải trích lập dự phòng rủi ro qua từng giai đoạn, tác động ngược trở lại làm cho lợi nhuận của ngân hàng suy giảm, sức khỏe tài chính của ngân hàng yếu đi
1.3.2.3 Quy mô ngân hàng (Size):
Quy mô ngân hàng thường được đánh giá dựa trên tổng tài sản của ngân hàng
Tài sản nợ: Các chỉ tiêu ở phần tài sản nợ phản ánh toàn bộ giá trị tiền tệ
hiện có của ngân hàng do huy động, tạo lập được, dùng để cho vay, đầu tư hay thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác tại thời điểm báo cáo Tài sản nợ được chia làm các loại sau:
+ Vốn huy động: Là những phương tiện tiền tệ mà ngân hàng thu nhận được
từ nền kinh tế, thông qua nghiệp vụ ký thác và các nghiệp vụ khác dùng làm vốn kinh doanh Đây là nguồn vốn mà ngân hàng chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những người ký thác, bao gồm các loại sau: tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu…
+ Vốn vay: Là nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại vay mượn từ thị
trường liên ngân hàng hoặc vay mượn từ NHNN
+ Vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư
đóng góp khi thành lập đơn vị và được bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh được thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại
Trang 32Tài sản có: Tài sản có là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng Các
tài sản có sinh lời là phần tạo ra lợi nhuận chủ yếu của đơn vị Tài sản có bao gồm các khoản sau:
+ Tiền dự trữ: Bao gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư Dự trữ bắt buộc
là khoản tiền ngân hàng nhà nước yêu cầu các NHTM phải duy trì một tỷ lệ nhất định nhằm đảm bảo cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng Tỷ lệ dự trữ này phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHNN Dự trữ thặng dư là khoản tiền luôn có sẵn trong các ngân hàng ngoài khoản dự trữ bắt buộc để đảm bảo cho nhu cầu rút tiền của khách hàng và cho vay trong kỳ
+ Các khoản đầu tư chứng khoán: Là giá trị của những chứng khoán mà
ngân hàng sở hữu Đây là khoản đầu tư của đơn vị nhằm đa dạng hóa khoản mục kinh doanh
+ Các khoản mục tín dụng: Là toàn bộ giá trị các khoản mà ngân hàng cho
các đối tượng trong nền kinh tế vay nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
+ Tài sản cố định: Là những tư liệu lao động cần thiết có thời gian luân
chuyển dài, trên một năm Đây là cơ sở vật chất quan trọng không thể thiếu trong quá trình hoạt động của đơn vị
Theo Rajan và Dhal (2003), Dash và Kabra (2010), quy mô ngân hàng tác động thuận chiều lên tỷ lệ nợ xấu Trong khi đó, Salas và Saurina (2002), Hu và ctg (2004) lại cho rằng quy mô ngân hàng tác động ngược chiều lên tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng
1.3.2.4 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu:
Trong các nghiên cứu liên quan đến vốn chủ sở hữu của ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản thường được sử dụng hơn là giá trị tuyệt đối của vốn chủ sở hữu Theo cách tiếp cận trên có các tác giả sau đã dùng biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trong nghiên cứu của mình như: Fofack (2005) nghiên cứu nợ xấu các ngân hàng ở khu vực Châu Phi; Louzis, Vouldis và Metaxas (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu tại Hy lạp
Trang 331.3.2.5 Tỷ lệ dư nợ cho vay (LTA, LTD và STL):
Các nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng, khi đề cập đến dư nợ cho vay, các tác giả thường sử dụng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (Loan to total Asset, LTA) hoặc tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn huy động (Loan to Deposit, LTD) Điển hình cho cách sử dụng biến này là: Jimenez và Saurina (2005), Pasha và Khemraj (2010) Cũng liên quan đến dư nợ cho vay, một vài tác giả còn xem xét kỳ hạn cho vay (dư nợ cho vay ngắn hạn hoặc dư nợ cho vay dài hạn) tác động đến nợ xấu như thế nào Theo Ranjan và Dahal (2003) nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu có
sử dụng biến dư nợ cho vay ngắn hạn (Short term Loan, STL) làm biến độc lập để nghiên cứu
1.3.2.6 Tốc độ tăng trưởng tín dụng:
Trong nghiên cứu về nợ xấu, có nhiều tác giả xem xét mối quan hệ của tăng trưởng tín dụng và nợ xấu, cụ thể có: Mario (2006), Dash và Kabra (2010), Espinoza
và Prasad (2010) Ngoài ra một số tác giả như: Jimenez và Saurina (2005) xem xét
tốc độ tăng trưởng tín dụng của hai năm trước (Creditgrt-2 hay Lag2Creditgr) với nợ xấu
1.4 Khảo sát các nghiên cứu trước:
Với mục đích đi tìm mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và nợ xấu, Keeton (1999) dùng bộ dữ liệu các ngân hàng thương mại ở Hoa Kỳ giai đoạn
1982 – 1996 để nghiên cứu Tác giả đi đến kết luận: tốc độ tăng trưởng tín dụng (credit growth) càng nhanh thì nợ xấu (NPL) càng lớn
Trong quá trình nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM ở Châu Âu, Salas và Saurina (2002) đã cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng (credit growth) và nợ xấu có mối tương quan thuận ở các độ trễ theo thời gian, tức
là nếu các năm trước có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao thì năm nay tỷ lệ nợ xấu sẽ tăng Tác giả cũng nêu lên rằng đây là vấn đề chung của các nền kinh tế đang trên
đà phát triển Trong nghiên cứu này, tác giả cho thấy nợ xấu của hệ thống NHTM ở
Trang 34Tây Ban Nha có tính xu hướng: nợ xấu năm nay cao sẽ có xu hướng làm nợ xấu các
hiện tại để tránh xu hướng này
Bên cạnh các nghiên cứu tìm mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu thì nghiên cứu của hai tác giả Rajan và Dhal (2003) về mối tương quan giữa kỳ hạn tín dụng và nợ xấu khi sử dụng dữ liệu của các NHTM ở Ấn Độ đã cho thấy kỳ hạn tín dụng (Loan Maturity) có tác động có ý nghĩa lên tỷ lệ nợ xấu: kỳ hạn tín dụng càng dài thì tỷ lệ nợ xấu càng giảm, hay nói cách khác tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay (Short term Loans, STL) càng tăng thì nợ xấu (NPL) càng tăng Bên cạnh đó, hai tác giả cũng chỉ ra rằng chi phí lãi vay (biểu hiện qua biến lãi vay) tăng 2,5% sẽ làm tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1%
Ngoài ra còn có các nghiên cứu về nợ xấu gián tiếp thông qua biến dự phòng rủi ro, trong số đó có Hasan và Wall (2003) nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi phí dự phòng cho vay khách hàng (Loan Loss Allowance, LLA) của các ngân hàng Hoa Kỳ Nghiên cứu này chỉ ra rằng: giữa NPL và LLA có mối tương quan thuận Đồng thời tìm ra được mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nợ không thu hồi được (Net charge – off Ratio) và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (Loan to Asset Ratio, LTA) với biến LLA
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại 16 quốc gia thuộc vùng cận Sahara thuộc Châu Phi từ năm 1993 – 2002, Fofack (2005) đã cho thấy rằng tỷ lệ cho vay liên ngân hàng có tác động nghịch biến với nợ xấu, trong khi các biến vi mô khác như ROE, ROA, tỷ lệ thu nhập thuần, … cũng có tác động đến nợ xấu Ngoài ra tác giả còn cho thấy các biến vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất thực, cung tiền M2 cũng tác động có ý nghĩa lên
nợ xấu
Tiếp nối nghiên cứu vào năm 2002, Jiménez và Saurina (2006) khi nghiên cứu lại về nợ xấu đã cho thấy sự tác động của nhiều biến khác nhau lên nợ xấu ngân hàng Tác giả chỉ ra rằng trong danh mục cho vay (loans portfolio), biến HERFR đại diện
Trang 35cho sự đa dạng hóa danh mục cho vay theo khu vực địa lý (region) và nợ xấu có tương quan thuận, điều này có nghĩa là nếu ngân hàng càng đa dạng hóa danh mục cho vay theo khu vực địa lý thì càng giảm thiểu được rủi ro tín dụng Ngược lại sự đa dạng hóa danh mục cho vay theo ngành nghề (Industrial), biến HERFI lại không có ý nghĩa đến
nợ xấu Bên cạnh đó tác giả cũng khẳng định lại kết quả nghiên cứu hồi năm 2002 rằng nợ xấu trong quá khứ có mối tương quan thuận với nợ xấu hiện tại
Nghiên cứu của Mario (2006) về rủi ro của hệ thống ngân hàng ở Italia trong giai đoạn từ 1985-2002 cho rằng qua chu kỳ kinh tế, đặc biệt là qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, tác giả chỉ ra mối tương quan thuận giữa nợ xấu, tốc độ tăng nợ xấu và ROA với tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) Còn tốc độ tăng trưởng tín dụng (Creditgr) tăng 1% thì LLP lại giảm 1,09%, điều này trái ngược với các nghiên cứu trước cho thấy giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và LLP có tương quan thuận Cũng với bộ dữ liệu này, tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng nợ xấu (Flow of New Bad Debts) thì thấy rằng tỷ lệ tổng chi phí trên tổng thu nhập (CIRatio) càng tăng thì nợ xấu càng tăng nhưng tỷ lệ CIRatio năm trước (lag1CIRatio) thì ngược lại Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng năm trước (Lag1Creditgr) cao thì tốc độ tăng nợ xấu càng giảm
Ở vùng lãnh thổ Đài Loan, khi phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và cấu trúc
sở hữu của các NHTM trong giai đoạn từ 1996 – 1999, Hu và ctg (2006) đã thấy rằng những ngân hàng nào do chính phủ nắm cổ phần chi phối thì ngân hàng đó có tỷ lệ nợ xấu thấp, tức chính phủ càng tăng tỷ lệ cổ phần nắm giữ thì tỷ lệ nợ xấu càng giảm Ngoài ra Hu và ctg (2006) còn chỉ ra rằng qui mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu càng thấp
Với bộ dữ liệu của 14 NHTM ở Hàn Quốc từ năm 1995-2005, nghiên cứu về những rủi ro có thể xảy ra nếu nợ xấu tăng cao hơn mức dự kiến, Banker, Chang và Lee (2008) đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực rất lớn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (với mức ý nghĩa thống kê là 1%) Còn theo Ali, Akhtar và Ahmed (2011) khi nghiên cứu các ngân hàng ở Pakistan (số liệu được lấy trên Sở giao
Trang 36dịch chứng khoán Lahore giai đoạn từ 2006 – 2009), các tác giả thấy rằng nợ xấu càng tăng cao thì cổ đông càng chịu thiệt vì nợ xấu đã ăn mòn vào lợi nhuận
Tiếp theo các nghiên cứu đã thực hiện ở các năm 2002, 2006, Jiménnez, Lopez
và Saurina (2010) đã có nghiên cứu cho thấy thị phần (market share) của các ngân hàng Châu Âu cũng có tác động đến nợ xấu của chính ngân hàng đó theo chiều hướng ngược Đồng thời, tác giả cũng cho thấy mối tương quan nghịch giữa NPL và các chỉ
số lợi nhuận (ROA) mặc dù không mạnh mẽ lắm Bên cạnh đó, tác giả còn cho thấy
nợ xấu có tính xu hướng, đồng thời nếu các ngân hàng tăng tỷ lệ tín dụng cho các công ty phi tài chính sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và từ đó giảm nợ xấu
Cũng dựa trên nền tảng nghiên cứu của Jimenez và Saurina (2006), hai tác giả
là Pasha và Khemraj (2010) xem xét các yếu tố tác động đến nợ xấu hệ thống ngân hàng ở Guyana đã tìm thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng ở hiện tại và trong quá khứ tác động ngược chiều có ý nghĩa đến NPL, đồng thời chỉ ra tác động cũng chiều của nợ xấu trong quá khứ, tác động cùng chiều của các biến tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, lãi suất thực và biến quy mô ngân hàng lên NPL, mặc dù không phải là biến giải thích tốt Ngoài ra, tác giả còn cho thấy mối tương quan thuận giữa tỷ giá hối đoái thực với nợ xấu, mối tương quan nghịch giữa lạm phát năm trước với nợ xấu
Khi đánh giá về nợ xấu tại Ấn Độ thì Dash và Kabra (2010) thấy rằng giữa nợ xấu và GDP thực có mối tương quan nghịch, tức khi GDP thực càng tăng thì nợ xấu của hệ thống ngân hàng Ấn Độ lại giảm xuống đáng kể Bên cạnh đó Dash và Kabra còn thấy rằng lãi suất thực (real interest rate, RIR) càng tăng thì nợ xấu càng tăng, còn quy mô ngân hàng (size) lại không có tác động đến nợ xấu Đồng thời tác giả cũng chứng minh lãi suất thực và tỷ lệ cho vay tăng thì nợ xấu càng cao, tức chúng có mối tương quan thuận Cũng từ bộ dữ liệu bảng của các ngân hàng Ấn Độ trong giai đoạn
1998 – 2008, các tác giả còn thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng (credit growth) và nợ xấu có tương quan nghịch ở các năm t, t-1, t-2, điều này trái ngược với kết quả của một số nghiên cứu trước như: Salas và Saurina (2002), Jiménes và Saurina (2006) Ngoài ra các tác giả còn cho thấy giữa tỷ giá hối đoái thực (real effective exchange rate) với nợ xấu có mối quan hệ đồng biến
Trang 37Ở Hy Lạp, trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công của Châu Âu, các tác giả Louzis, Vouldis và Metaxas (2010) khi nghiên cứu nợ xấu của từng khoản cho vay thế chấp (Mortage), kinh doanh (Bussiness) và tiêu dùng (Consumer) của hệ thống ngân hàng cũng chỉ ra rằng nợ xấu bị tác động bởi 02 nhóm nhân tố: các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế và các nhân tố nội tại của ngân hàng Kết quả của ba tác giả này cho thấy các biến vĩ mô như GDP thực, tỷ lệ thất nghiệp (unemployment) và lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate, RLR) có tác động rất mạnh đến nợ xấu, trong đó GDP thì tác động ngược chiều còn tỷ lệ thất nghiệp (UNEMP) và lãi suất cho vay thực (RLR) thì tác động cùng chiều Các tác giả cũng chỉ ra rằng có thể nhìn vào hiệu quả hoạt động của ngân hàng, thông qua ROA và ROE, để đánh giá xu hướng nợ xấu trong tương lai
vì chúng có tương quan nghịch với nợ xấu Bên cạnh đó trong nghiên cứu của mình, các tác giả còn cho thấy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động (Loan to Deposit Ratio, LTD) tác động cùng chiều lên tỷ lệ nợ xấu đối với các khoản cho vay thương mại và tiêu dùng, còn đối với các khoản cho vay thế chấp thì LTD có mối tương quan nghịch với NPL Trong nhóm biến vi mô của ngân hàng còn có hiệu quả hoạt động (INEF, được đo lường bằng chi phí hoạt động/thu nhập) có mối tương quan thuận với
tỷ lệ nợ xấu, tuy nhiên tác động này không mạnh mẽ lắm Ngoài ra tác giả cũng cho rằng biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản (Equity, Own Capital/Total Asset) càng tăng sẽ làm cho tỷ lệ nợ xấu (NPL) càng giảm, tức Equity có tác động ngược chiều lên NPL
Gần đây có nghiên cứu của Klein (2013) về nợ xấu của các ngân hàng tại khu vực Eurozoné, với bộ dữ liệu từ năm 1998 đến năm 2011 Kết quả cho thấy ở những nước mà trong quá khứ có GDP cao sẽ càng làm giảm nợ xấu của năm nay Điều này diễn ra ngược lại với tỷ lệ thất nghiệp Bên cạnh đó, đối với từng ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity) và ROE càng tăng càng làm giảm nợ xấu, trong khi dư nợ cho vay (LTA) có xu hướng khuếch đại nợ xấu
Hiện ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại cả bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Thăng (2013), dựa trên ý tưởng nghiên cứu của
Trang 38các tác giả Jiménez và Saurina (2006); Jiménez, Lopez và Saurina (2010) và các nghiên cứu có liên quan, đã nêu ra các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMVN bằng việc sử dụng số liệu từ 39 NHTMVN từ năm 2005 – 2011 đã cho thấy các yếu tố
vi mô thuộc về thuộc tính ngân hàng tác động đến nợ xấu bao gồm: nợ xấu trong quá khứ, qui mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong quá khứ, tỷ lệ cho vay ngắn hạn, tỷ lệ cho vay ngắn hạn trong quá khứ
Các mô hình nghiên cứu trước:
Khi Jiménez và Saurina (2006) nghiên cứu về rủi ro ngân hàng ở khu vực Châu
Âu, các tác giả đã phân tích hai nhóm biến tác động đến tỷ lệ nợ xấu là nhóm biến vĩ
mô và nhóm biến vi mô của ngân hàng theo mô hình như sau:
Ln
= β0it + β1 + β2GDPt + β 3GDPt-1 + β 4RIRt + β 5RIRt-1 +
β6LOANt-2 + β7LOANt-3 + β8LOANt-4 + β9HERFRt + β10HERFIt + β11COLINDt +
β12COLFIRt + β13SIZEt + ui + εit (2.1)
Trong đó: NPL là tỷ lệ nợ xấu, GDP là tốc độ tăng trưởng kinh tế, RIR là lãi suất thực, LOAN là tốc độ tăng trưởng tín dụng, HERFR và HERFI lần lượt là chỉ số theo khu vực địa lý và theo ngành công nghiệp, COLIND là tỷ lệ dư nợ có thế chấp của hộ gia đình trên tổng dư nợ cho vay (collateralised loans of households over total loans), COLFIR là tỷ lệ dư nợ có thế chấp của các doanh nghiệp trên tổng dư nợ cho vay (collateralized loans of firms over total loans), SIZE là quy mô ngân hàng
Khi thực hiện thủ tục hồi quy, tác giả ước lượng hàm logarit của tỷ lệ nợ xấu:
Ln
tương ứng ở vế trái và phải của mô hình thay thế cho
Sau đó Jiménez, Lopez và Saurina (2010) khi nghiên cứu nợ xấu và rủi ro tín dụng tại Tây Ban Nha, các tác giả sử dụng mô hình tương tự như năm 2005:
Ln
= β0it + β1 + β 2STRUCTUREit + β 3 STRUCTURE2it +
β4GDPt + β 5GDPt-1 + β6ROAt + β7SIZEt + β8LOAN RATIOt + ui + εit (2.2)
Trang 39Trong liên tục các năm từ 2000 đến 2010, nhóm tác giả Saurina và các cộng sự đều nghiên cứu về vấn đề nợ xấu, rủi ro vỡ nợ, dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng Trong những nghiên cứu đã công bố, các tác giả đều tiếp cận theo hướng có hai nhóm vĩ mô và vi mô tác động đến nợ xấu hoặc dự phòng rủi ro tín dụng
Hay nghiên cứu của Espinoza và Prasad (2010) về nợ xấu của hệ thống ngân hàng các nước vùng vịnh, các tác giả đã sử dụng mô hình với hai nhóm biến tác động đến nợ xấu là vi mô và vĩ mô như sau:
Ln
= β0it + β1
+ β 2ln Equityit-1 + β 3
+ β 4LOANGit-2+ β5 non – oil GDPt-1 + β 6interest rateit-1 + β7VIXit + εit (2.3)
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Công Thăng (2013) về phân tích các yếu
tố tác động đến nợ xấu của hệ thống NHTMVN, tác giả sử dụng mô hình chỉ bao gồm các biến vi mô thuộc về thuộc tính ngân hàng như sau:
Salas và Saurina (2002),
Hu và ctg (2004);
Rajan và Dhal (2003), Dash và Kabra (2010)
Equity
Tỷ lệ vốn
chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu/tổng
Metaxas (2010); Klein 2013);
Trang 40Fofack (2005)
ROE
Suất sinh
lợi trên vốn chủ
sở hữu
Lợi nhuận sau
Altumbas và ctg (2000); Fofack (2005); Klein (2013)
ROA
Suất sinh
lời trên tổng tài sản
Lợi nhuận sau
Fofack (2005), Jiménez, Lopez và Saurina (2010)
dụng
[(Dư nợ)t – (Dư nợ)
Keeton (1999); Salas và Saurina (2002); Klein (2013)
Creditgr
t-1
Tốc độ tăng trưởng tín
Tăng trưởng GDP thực trong 12 tháng gần nhất tính đến thời
-
(2010); Dash và Kabra (2010); Louzis, Vouldis